1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ hoạt động tự học trong dạy học vật lý trung học phổ thông vận dụng vào chương ''dao động cơ'' vật lý 12

97 538 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ hoạt động tự học trong dạy học vật lý trung học phổ thông vận dụng vào chương 'dao động cơ' vật lý 12
Tác giả Phạm Long Kiến
Người hướng dẫn PGS.TS. Mai Văn Trinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Vật lý
Thể loại Luận văn thạc sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 8,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuyên bố chung của hội nghị, Bộ trưởng bộ giáo dục các nước thànhviên châu Á – Thái Bình Dương APEC- “giáo dục trong học sinh học tập ởthế kỉ XXI” đã chỉ rõ “giáo dục giữ vai trò quan tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM LONG KIẾN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (Vận dụng vào chương “Dao động cơ ” Vật lí 12)

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

VINH – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM LONG KIẾN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC VẬT

LÝ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (Vận dụng vào chương “Dao động cơ ” Vật lí 12)

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Vật lý

Mã số: 60.14.10

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học:

PGS.TS MAI VĂN TRINH

VINH – 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kếtquả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sửdụng và chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào khác

PHẠM LONG KIẾN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa đào tạo Sau đại học,khoa Vật lí Trường Đại học Vinh, Ban giám hiệu trường THPT Mỹ Quí, ThápMười, Tỉnh Đồng Tháp, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt thờigian học tập, triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cán bộ hướng dẫn khoa

học PGS.TS Mai Văn Trinh đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt thời

gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, đồngnghiệp và bè bạn đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và triểnkhai thực hiện đề tài

Vinh, tháng 03 năm 2011 Tác giả,

PHẠM LONG KIẾN

Trang 5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN PMMNM phần mềm mã nguồn mở PPDH Phương pháp dạy học

CNTT Công nghệ thông tin THPT Trung học phổ thông

MỤC LỤC

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

Trang 6

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

3 1 Đối tượng 3

3.2 Phạm vi 3

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 4

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 4

6.2 Phương pháp thực nghiệm 4

6.3 Phương pháp thống kê toán học 5

7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 5

8 CẤU TRÚC NỘI DUNG 5

CHƯƠNG I 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 6

1.1 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học 6

1.2 Tự học, một trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo 11

1.3 Khái niệm phương pháp tự học, các hình thức tự học 13

1.3.1 Tự học 13

1.3.2 Quy trình tự học 14

1.3.3 Các hình thức của phương pháp tự học 16

1.4 Dạy – tự học 17

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học 17

1.6 Website hỗ trợ dạy học 19

1.6.1 Website hỗ trợ dạy học 19

Trang 7

1.6.2 Một số khái niệm liên quan đến website 19

1.6.3 Vai trò của website đối với việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 23

1.7 Các tiêu chí đánh giá một Website hỗ trợ hoạt động tự học 25

2.1 Nội dung kiến thức và những kỹ năng trong chương “Dao động cơ” 29

2.1.1 Đặc điểm của chương “ Dao động cơ” 29

2.1.2 Cấu trúc logic nội dung chương “ Dao động cơ” 30

2.1.3 Một số kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh trong khi dạy học chương “Dao động cơ” 30

2.2 Website hỗ trợ hoạt động tự học chương “Dao động cơ” 31

2.2.1 Hình thức triển khai Website trong dạy học Vật lý ở trường phổ thông 31

2.2.2 Giới thiệu Website và hướng dẫn sử dụng 31

2.3.Tiến trình dạy học có sự hỗ trợ của website 47

2.4 Kết luận chương 2 57

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 59

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 59

3.3 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 60

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 60

3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 60

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 61

3.4.1 Quan sát giờ học 61

3.4.2 Bài kiểm tra 61

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 62

3.5.1 Kết quả định tính 62

Trang 8

3.5.2 Kết quả định lượng 62

3.6 Kiểm định giả thuyết thống kê 67

3.7 Kết luận chương 3 67

KẾT LUẬN 69

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Những thành tựu khoa học CNTT đầu thế kỉ này cùng với nền kinh tếtri thức và giáo dục điện tử đang phát triển có tính chất toàn cầu hóa, đã làmthay đổi nhiều hoạt động xã hội của loài người Từ sự phát triển mạnh mẽ củaCNTT, nền văn minh công nghiệp đã và đang chuyển thành nền văn minhthông tin Rất nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng sự tiến bộ của công nghệ,đặc biệt là công nghệ thông tin để phát triển và hội nhập Trong xu thế chungcủa thế giới như vậy, Việt Nam cũng đang dần từng bước áp dụng khoa họcCNTT vào nhiều lĩnh vực trong đời sống để phát triển kinh tế xã hội và giaolưu văn hóa với cộng đồng quốc tế

Nhưng để làm được như vậy, chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đề cấpthiết như: phải có một nền tri thức khoa học tiên tiến, xây dựng cơ sở hạ tầng

và trang thiết bị hiện đại Đặc biệt là phải có một nguồn nhân lực năng động,sáng tạo, bản lĩnh và kỹ năng thực hành tốt, có khả năng cạnh tranh trí tuệ trongbối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng đến nền kinh tế tri thức Và nhưvậy chúng ta phải đổi mới từ giáo dục Bởi sản phẩm của giáo dục là conngười Nói như vậy cũng có nghĩa là chúng ta phải đổi mới cả về nội dung vàphương pháp giảng dạy Thay đổi cách truyền thụ một chiều (Thầy giảng-Trònghe, Thầy đọc- trò ghi) sang hoạt động dạy học tích cực, lấy học sinh làmtrung tâm, phát huy vai trò sáng tạo của học sinh Đổi mới cách dạy “chay” học

“vẹt”, sang cách dạy học cụ thể hóa, trực quan sinh động, dạy học phải kết hợpvới các phương tiện dạy học hiện đại (đưa CNTT vào dạy học)

Tuyên bố chung của hội nghị, Bộ trưởng bộ giáo dục các nước thànhviên châu Á – Thái Bình Dương (APEC)- “giáo dục trong học sinh học tập ởthế kỉ XXI” đã chỉ rõ “giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc định hình một

xã hội học tập, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dụcnhằm mở ra một tiềm năng rộng lớn trong việc chuẩn bị tương lai cho học sinh,cung cấp cơ hội học tiếp cho những người lớn tuổi, đổi mới cách dạy học tạođiều kiện cho việc hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo từ xa.”

Trang 10

Ở nước ta, Đảng và nhà nước cũng rất quan tâm đến vấn đề này, rấtnhiều nghị quyết, công văn, chỉ thị…ban hành nhằm đổi mới giáo dục nước tatrở thành một nền giáo dục tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Chỉ thị 22/2005/CT-BGD&ĐT ngày 29 tháng 7 năm 2005 của Bộtrưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo về nhiệm vụ của toàn ngành 2005-2006 đã

nêu “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập…”.[2].

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X của Ban chấp hành Trung ương Đảng

khoá IX đã khẳng định: “Chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém, khả năng chủ động sáng tạo của học sinh, học sinh ít được bồi dưỡng, năng lực thực hành của học sinh, học sinh còn yếu Chương trình, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, nặng nề, chưa thật phù hợp” [9]

“…ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học …phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, học sinh…”.[9]

Thực tế đã chứng minh: MVT đã trở thành công cụ, phương tiện chonhiều môn khoa học, đặc biệt là môn Vật lí ở trường phổ thông, có thể thay thếcác phương tiện đơn thuần như: mô tả bằng tranh ảnh, đồ thị, thí nghiệm… mộtcách sinh động

Để nâng cao chất lượng dạy-học đáp ứng đòi hỏi của thời đại mới, mạngthông tin Internet thông qua dạy học bằng website (một phương tiện dạy họchiện đại), đã và đang chứng tỏ thế mạnh của mình Vì dạy học bằng Websitegiúp cho giáo viên cung cấp cho học sinh nhiều thông tin hơn và có nhiềuthông tin được chứa đựng trong nhiều kênh khác nhau như: văn bản, hình ảnh,

âm thanh, video… Riêng đối với bộ môn Vật lí vì đặc thù bộ môn có nhiều nộidung trừu tượng, thời lượng tiết học hạn chế giáo viên không thể giải thích cặn

kẽ khiến học sinh khó tiếp thu hoặc tiếp thu một cách “mơ hồ” Do vậy đòi hỏicác nội dung này phải được cụ thể hóa, sinh động hóa, để học sinh dễ chiếmlĩnh tri thức và ứng dụng vào thực tiễn Ở khía cạnh này MVT, nhất là Website

Trang 11

dạy học đã giải quyết được vấn đề một cách lí tưởng Đặc biệt là các tiết họcbài tập, ôn tập, kiểm tra, học trực tuyến, diễn đàn trao đổi…Vì vậy sử dụngwebsite dạy học là một vấn đề đáng được quan tâm.

Tuy nhiên phương tiện dạy học này đối với nền giáo dục nước ta còngặp nhiều hạn chế, nhất là ở vùng còn khó khăn như Đồng Tháp (trang thiết bịthiếu, giáo viên và học sinh chưa bắt kịp CNTT…) Nhưng không vì thế màchúng ta ngại khó và e dè khi ứng dụng CNTT đặt biệt là sử dụng Websitecung cấp thông tin và kiến thức cho học sinh Chúng ta cần phải có một sự đổimới, một sự đột phá để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng của DHVL nhất là trong bối cảnh khoa học côngnghệ phát triển như hiện nay Website dạy học sẽ có nhiều lợi thế để có thểhình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học vật lý

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ hoạt động tự học trong dạy học vật lí” (vận dụng vào chương “Dao động cơ” Vật lí lớp 12)

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ hoạt động tự học trong dạy học vật

lí (vận dụng vào chương “Dao động cơ” Vật lí lớp 12 chương trình chuẩn), gópphần nâng cao chất lượng dạy học môn vật lí ở trường THPT

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3 1 Đối tượng

- Hoạt động dạy và học Vật lí 12 ở trường phổ thông

- Hoạt động tự học của học sinh THPT

3.2 Phạm vi

- Chương “Dao động cơ” Vật lí lớp 12

- Dạy học Vật lý ở trường THPT Mỹ Quí

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Trang 12

Nếu thiết kế và sử dụng website hỗ trợ hoạt động tự học trong dạy họcmột cách thích hợp sẽ có tác dụng hỗ trợ tốt cho các hoạt động dạy của giáoviên, phát huy tính tích cực, tự chủ của học sinh trong học tập từ đó góp phầnnâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí ở trường trung học phổ thông.

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lí luận dạy học hiện đại về tổ chức hoạt động nhậnthức của học sinh trong dạy học vật lí

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về bồi dưỡng năng lực tự học của học sinhtrong dạy học vật lí

- Nghiên cứu chương trình khung, sách giáo khoa, chuẩn kiến thức, kỹnăng của học sinh chương “Dao động cơ”

- Nghiên cứu xây dựng Website hỗ trợ hoạt động tự học của học sinh

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính hiệu quả của lí luận dạy học vật

lí THPT

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu cơ sở lí luận dạy học hiện đại

- Nghiên cứu tài liệu dạy học sử dụng máy vi tính và các phần mềm xâydựng website trong dạy học Vật lí

- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên Vật lí 12chương trình chuẩn

6.2 Phương pháp thực nghiệm

- Xây dựng một số phương án mẫu có sử dụng website hỗ trợ hoạt động

tự học của học sinh trong dạy học vật lí

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Mỹ Quí để kiểm tragiả thuyết khoa học của đề tài

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Trang 13

Dùng thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm, từ đó rút

ra kết luận đồng thời đề xuất việc vận dụng cho các nội dung khác trong dạyhọc vật lí

7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Bổ sung cơ sở lí luận về ứng dụng website và bồi dưỡng năng lực tựhọc cho học sinh trong dạy học vật lí ở trường THPT

- Xây dựng website hỗ trợ hoạt động tự học cho học sinh trong dạy họcchương “Dao động cơ”

- Biên soạn các tiến trình dạy học chương “Dao động cơ” với sự hỗ trợcủa website nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học vật lý

ở trường THPT

8 CẤU TRÚC NỘI DUNG

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG CHÍNH (gồm 3 chương)

Chương I: Cơ sở lý luận của việc sử dụng website hỗ trợ hoạtđộng tự học

Chương II: Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ hoạt động tự họctrong dạy học chương “dao động cơ” vật lí lớp 12 chương trình chuẩn

Chương III: Thực nghiệm sư phạm

- Phần kết luận

- Tài liệu tham khảo

Ngoài các phần nêu trên luận văn còn có phần phụ lục

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ

HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 1.1 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học

- Học là quá trình tự giác, tích cực, chủ động để tiếp thu, lĩnh hội các tri thức

của nhân loại

- Tâm lí học liên tưởng cho rằng: Hoạt động học thực chất là quá trình hình thành các liên tưởng, phát triển trí nhớ của người học Hoạt động học sẽ có

hiệu quả nếu người học có thể hình thành cho mình những mối liên hệ giữa cáckhái niệm, quy luật, cách thức, để từ đó ghi nhớ và tái hiện tài liệu học tập tốthơn

- Tâm lí học hành vi định nghĩa hoạt động học là quá trình hình thành

những hành vi mới, hay tạo nên những thay đổi trong hành vi để đáp ứng lại

những ảnh hưởng tác động từ bên ngoài Qua hoạt động học người học hình

thành mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng trả lời, luyện tập để nối quan hệ

đó mạnh lên, vững chắc hơn Hoạt động học chính là quá trình “củng cố sự trả lời” Với quan niệm về hoạt động học như vậy, việc học ở trạng thái thụ động

và chất lượng hoạt động học phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả sự tác động của giáo viên.

- Hoạt động học được xác định là quá trình người học kiến tạo, xây dựng tri thức “Người học tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ riêng cho mình về những tài liệu học tập, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin dựa trên vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại, bổ sung thêm những thông tin cần thiết để tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới” Lý thuyết kiến tạo quan tâm đến

những đặc điểm tâm lý bên trong của người học và việc thể hiện nó, những yếu

tố được xem là quan trọng hơn là những yếu tố tác động từ môi trường

- Lý thuyết thông tin cho rằng loài người thường xuyên xử lý thông tin Hoạt động học được xem là quá trình xử lý thông tin Người học đóng vai trò

là người tiếp nhận thông tin được đưa đến và xử lý nó Từ đó, giáo trình và tài

Trang 15

liệu tham khảo, các nguồn cung cấp thông tin đóng vai trò rất quan trọng trongquá trình học tập.

- Ngoài ra hoạt động học còn ảnh hưởng bởi yếu tố xã hội – văn hóa Đây là

yếu tố tác động rất mạnh đến tâm lí người học

Vưgôtxki đã phân biệt việc học trong cuộc sống hàng ngày và hoạt động học xảy ra trong nhà trường Việc phân biệt này đã có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với tự học Hoạt động học được coi là một hoạt động đặc biệt, chú trọng đến sự thay đổi của chính bản thân mỗi học sinh Hoạt động học xảy ra một

cách có chủ định, có mục đích và không là yếu tố bổ sung cho bất kỳ một hoạt

động chủ đạo nào khác Hoạt động học có chủ định có bốn đặc điểm cơ bản, đó

là: có đối tượng là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, nhằm phát triển trí tuệ,năng lực người học, làm thay đổi bản thân người học; có tính chất tái tạo vànhằm tiếp thu cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức, được điều khiển một cách có

ý thức Ngoài ra, Vưgôtxki còn phân biệt việc học mang tính chất kinh nghiệm(empirical learning) với việc học mang tính chất lý thuyết (theoreticallearning) Việc học mang tính chất kinh nghiệm dựa trên quá trình so sánh một

số đối tượng khác nhau, tìm ra những đặc điểm chung có thể quan sát được vàtrên cơ sở đó xây dựng khái niệm chung về nhóm đối tượng Như vậy, kháiniệm được hình thành thông qua con đường đi từ cụ thể đến cái khái quát Đây

là hình thức học mang tính chất đặc trưng của trẻ trước khi đến trường và cũngđược sử dụng trong hệ thống nhà trường tuyền thống Hình thức này có thể đạthiệu quả cao, nếu người học thấy việc học hấp dẫn và thật sự muốn học Điểmyếu nhất của hình thức học này là người học có thể hình thành những khái niệmsai lệch Người học hình thành những khái niệm dựa trên những đặc điểmchung của các đối tượng, trong khi đó những đặc điểm chung này chưa chắc đã

là những đặc điểm chủ yếu làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm Đây làhình thức học ở mức độ phát triển thấp Người học thường sử dụng hình thức

học này khi không có hệ thống dạy học được tổ chức một cách phù hợp.

Hình thức học lý thuyết dựa trên việc cung cấp cho người học nhữngphương pháp chung và hòan thiện để giải quyết một nhóm những vấn đề nhất

Trang 16

định Những phương pháp này hướng người học đến những đặc điểm chủ yếu,chứ không phải là những đặc điểm chung của mỗi nhóm Người học dần dầnchiếm lĩnh và nội tâm hóa việc sử dụng những phương pháp đó thông quanhững hoạt động được tổ chức một cách đặc biệt Đây là một quá trình đi từkhái quát đến cụ thể Việc học này giúp hình thành những khái niệm khoa học.Các nhà khoa học Nga đã chứng minh rằng hình thức học này ít đòi hỏi luyệntập và nhớ một cách máy móc nên thường hấp dẫn người học, ít bị lỗi ngoài ra,hình thức học này đưa đến sự chiếm lĩnh hòan tòan, mức độ lưu giữ cao và tri

thức được sử dụng một cách rộng rãi và có ý thức Có thể nói, trường phái tâm

lý học này thấy được rằng vai trò thúc đẩy sự phát triển nhận thức của dạy học phụ thuộc chủ yếu vào loại hoạt động học nào được tổ chức cho người học chứ không phải vào việc môn học nào được dạy trong nhà trường.

Yếu tố văn hóa – xã hội đóng vai trò đặc biệt trong hoạt động học Sự nhận

thức là quá trình của cá nhân và được chia sẽ trong xã hội, được xã hội chuyểntải và chịu ảnh hưởng của những người khác trong giao lưu Văn hóa và xã hội

tác động đến việc học sinh tư duy như thế nào, học cái gì Các chức năng tâm lí

cấp cao đều là những mối quan hệ xã hội đã được nội tâm hóa Việc học, tưduy và tri thức đều có được từ sự hợp tác, năng lực tự học được phát triển caotrong cách học hợp tác với những người khác

- Ngày nay ở phương Tây, tâm lí học xã hội – văn hóa hay tâm lí học – lịch

sử mà Vưgôtxki là một đại biểu xuất sắc được phát triển thành một trong ba hệ

thống quan điểm chính nghiên cứu về tri thức và việc học, với tên gọi là xu hướng tòan cảnh (situated perspective) bên cạnh thuyết hành vi và tâm lí học nhận thức (Greeno và Collin, 1996) Xu hướng này cho rằng, tri thức là kết quả

của kiến tạo xã hội, là kết quả của sự tác động qua lại giữa cá nhân với môitrường Sự hiểu biết là một đặc trưng của nhóm gồm những người cùng thamgia hoạt động và của cá nhân người tham gia trong cộng đồng Nhóm hoặc cácnhân có tri thức sẽ có thể hòa hợp với những điều kiện của hoạt động bao gồmcác qui định và sự ủng hộ của xã hội và hệ thống vật chất, kỹ thuật của môitrường Như vậy, việc học là hoạt động tạo ra sự hòa hợp với những qui định và

Trang 17

sự ủng hộ đó của hệ thống vật chất và xã hội mà con người có quan hệ tác độngqua lại.

- Vận dụng lý thuyết hoạt động trong dạy học:

Theo quan điểm tâm lí học tư duy thì sự học là một sự phát triển về chấtcủa cấu trúc hành động Cùng một biểu hiện hành vi bên ngoài giống nhaunhưng chất lượng hiệu quả của sự học (mức độ lĩnh hội kiến thức cũng như đốivới sự phát triển năng lực của học sinh) là khác nhau, tùy thuộc vào cấu trúccủa hành động học cụ thể, ở đây hành vi được xem như biểu hiện ra ngoài củakết quả hành động, còn cánh thức để đạt tới kết quả đó được xem như cấu trúcbên trong của hành động

Như vậy, sự học phải có quá trình hình thành và phát triển của các dạnghành động xác định, là sự thích ứng của chủ thể

Hoạt động của chủ thể tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó Động

cơ là một cái khách quan hàm chứa nhu cầu Cái khách quan ấy làm cho hoạtđộng có đối tượng và là cái hướng hoạt động (mục đích) vào một kết quả nhấtđịnh Khi đó hoạt động của con người là hoạt động của chủ thể có ý thức baogồm một hệ thống các hành động tương ứng với các điều kiện và phương tiệnhành động, cấu trúc của lý thuyết hoạt động được xây dựng theo sơ đồ sau:

Hoạt động

Hành động

Thao tác Phương tiện, điều kiện

Mục đích

Động cơ

Sơ đồ 1 Sơ đồ cấu trúc lý thuyết hoạt động học

Trang 18

Sự hình thành các biểu tượng, khái niệm, kiến thức được xem là sự hìnhthành các hành động trí tuệ, là hình thức hành động ngôn ngữ trong

Hoạt động dạy học phát triển theo Vưgôtxki cần phải tiến đến “vùng phát triển gần”.

Từ sự phân tích lý thuyết hoạt động và vận dụng nó vào trong dạy học nhưnêu ở trên đều cần hiểu:

Học là hành động của chủ thể thích ứng với tình huống, qua đó chủ thểchiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Mỗi tri thứcmới học được của người học là sản phẩm hoạt động xây dựng tri thức mới

Phương tiện quan trọng để giáo viên định hướng hành động nhận thức của học sinh là câu hỏi

- Định hướng hành động trong dạy học vật lí:

Nghiên cứu sự định hướng hành động nhận thức của học sinh trong dạy

học, ta có thể có ba mức độ định hướng được áp dụng trong quá trình dạy học

cụ thể:

1 Hướng dẫn tái tạo là kiểu định hướng trong đó giáo viên hướng học sinh vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động cái mà học sinh đã nắm được hoặc đã được giáo viên chỉ ra một cách tường minh, học sinh có thể thực hiện được nhiệm vụ mà họ đảm nhận (tiến hành theo angôrit

đã biết trước)

2 Định hướng tìm tòi Đó là kiểu định hướng trong giáo viên không chỉ ra cho học sinh một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động mà học sinh cần áp dụng, mà giáo viên chỉ đưa ra cho học sinh những gợi ý sao cho học sinh có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và

cách thức hoạt động thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận, có

nghĩa đòi hỏi học sinh tự xác nhận hành động thích hợp trong tình huống

không phải đã quen thuộc đối với họ

3 Định hướng khái quát hoá chương trình hoá Đó là kiểu định hướng trong đó giáo viên gợi ý cho học sinh tương tự kiểu định hướng tìm tòi, nhưng

Trang 19

giúp học sinh ý thức được đường lối khái quát của việc tìm tòi giải quyết vấn

đề Sự định hướng được chương trình hoá theo các bước dự định hợp lí Giáo

viên thực hiện từng bước hướng dẫn học sinh giải quyết nhiệm vụ.

- Sự định hướng ban đầu đồi hỏi học sinh tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề

đã đặt ra

- Nếu học sinh không đáp ứng được thì có sự trợ giúp tiếp theo của giáo viên là sự phát triển định hướng khái quát hoá ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hoá

chi tiết hoá thêm một bước) để thu hẹp phạm vi mức độ phải tìm tòi giải quyết

cho vừa sức của học sinh.

- Nếu học sinh vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của giáo viên

chuyển sang kiểu định hướng tái tạo

Trên cơ sở dựa vào ba mức độ (kiểu) định hướng nêu trên, giáo viên cầnchuẩn bị hệ thống câu hỏi định hướng đặt ra cho học sinh, đó là điều kiện tốtnhất tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu của học sinh

1.2 Tự học, một trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo

- Nguyễn Cảnh Tòan, Nguyễn kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo… đãnêu rõ vai trò của tự học với tư cách là nội lực: Học về cơ bản là tự học, nóiđến tự học là nói đến nội lực của người học và ngoại lực của người học Nộilực của người học bao gồm các yếu tố: một nền tảng học vấn nhất định, mụcđích, động cơ, nhu cầu học, ý chí, nghị lực học tập, cách học hiệu quả, khảnăng vận dụng kiến thức, kỹ năng, tận dụng những thuận lợi, khó khăn để tựhọc tốt ngoại lực của người học là tòan bộ các yếu tố của các cơ chế, môitrường, điều kiện, phương tiện,… có liên quan đến tự học Ngoại lực là quátrình những chuyển đổi bên ngoài, nội lực là quá trình những chuyển đổi bêntrong của người học, hai quá trình này thống nhất và đối lập nhau tạo nên sựphát triển của tự học Chất lượng đào tạo cao nhất khi dạy học – ngoại lực cộng

hưởng với tự học – nội lực, tạo ra năng lực tự học của người học.

- Các nhà tâm lí học đã chứng minh rằng năng lực của mỗi cá nhân đượchình thành và phát triển chủ yếu trong quá trình hoạt động và giao lưu của con

Trang 20

người Con đường tối ưu nhất, có hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo và đạt được mục tiêu giáo dục – đào tạo là: học bằng hoạt động tự học, tự nghiên cứu của học sinh, thông qua chính bằng hoạt động tự chiếm lĩnh kiến thức, mà hình thành năng lực và thái độ cho học sinh.

- Hội đồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục cho thế kỷ XXI trong báo cáo “Học tập, một kho báu tiềm ẩn” gửi UNESCO, xuất bản năm 1996, khẳng

định xu thế lớn tòan cầu hóa, kéo theo hàng loạt căng thẳng cần phải khắcphục Báo cáo này đã nêu: Học suốt đời là một trong những chìa khóa nhằm

vượt qua những thách thức của thế kỷ XXI , với đề nghị gắn nó với 4 trụ cột

giáo dục: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người,

hướng về xây dựng một xã hội học tập Quan niệm mới “học tập suốt đời: một động lực xã hội” sẽ giúp con người đáp ứng những yêu cầu thế giới thay đổi

nhanh chóng Điều này thể hiện những đòi hỏi chẳng những có thật mà còn

đang ngày càng mãnh liệt hơn “Không thể thõa mãn những đồi hỏi đó được, nếu mỗi con người không học cách học” Học cách học chính là học cách tự

học

- Hoạt động học của học sinh là quá trình tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri

thức khoa học, nghề nghiệp bằng hành động của chính mình hướng tới để đạtđược những mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức đào tạo phải làm cho

hoạt động học của học sinh thật sự chủ động trong học tập, mà cụ thể là tăng cường nhiều hơn quá trình tự học, tự nghiên cứu của học sinh Hoạt động học của học sinh diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, nội dung chương trình đào

tạo, mục tiêu, phương thức đào tạo, thời gian đào tạo đã được xác định Trong

hình thức dạy học tập trung Người giáo viên trực tiếp tổ chức và hướng dẫn quá trình nhận thức của học sinh, còn học sinh đóng vai trò chủ thể nhận thức, tích cực huy động mọi phẩm chất tâm lí cá nhân của mình để tiến hành hoạt động học nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng và thái độ Nếu học sinh thụ động, không có sự vận động tích cực các thao tác tư duy của bản thân,

thì không thể chiếm lĩnh được tri thức và không thể hòan thành nhân cách

được Một thực trạng hiện nay ở các trường THPT, có giáo viên thường làm

Trang 21

thay học sinh theo kiểu cầm tay chỉ việc, từ khâu xác định nhiệm vụ nhận thức,

trình bày nội dung tri thức, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm,… đến các bước đi, kếhoạch học tập cụ thể Cách dạy học như vậy tất yếu dẫn đến tính ỷ lại của số

đông học sinh, sẽ không phát triển được năng lực tự học cho học sinh.

Hoạt động học nhằm mục tiêu cải tạo, phát triển chính học sinh là hoạt động không ai có thể làm thay Vì thế, đòi hỏi học sinh phải tự giác, tích cực, sáng tạo, phải có năng lực tự học Các nghiện cứu về dạy học phát triển đã cho

kết quả rằng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân đều có tính tích cực bênngoài và tính tích cực bên trong Tính tích cực bên ngoài thể hiện ở ý chí quyết

tâm thực hiện các yêu cầu học tập của giáo viên, nhà trường Các thao tác hành

vi bên ngoài có thể kiểm soát được Tính tích cực bên trong thể hiện ở chổ

người học sinh có động cơ học tập, mục đích học tập tiếp thu các tác động bên

ngoài để biến thành nhu cầu nhận thức, tích cực đào sâu suy nghĩ một cách chủđộng tự giác, tự lực Tính tích cực bên trong dẫn đến sự độc lập phát triển của

mỗi cá nhân học sinh, là cơ sở cho tự học suốt đời Người giáo viên Lí cần quán triệt tư tưởng dạy học là sự hợp tác giữa giáo viên và học sinh.

1.3 Khái niệm phương pháp tự học, các hình thức tự học

Có nhiều hình thức về tự học nhưng có thể nhận thấy: Tự học là quá trình hoạt động có ý thức, tích cực, tự lực, chủ động của người học.

1.3.1 Tự học

Có nhiều quan niệm về tự học

-Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân tự tìm tòi và nắmvững tri thức thông qua giáo viên, sách, báo, internet…

- Tự học là tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm một kiến thức thuộc mộtlĩnh vực nào đó, có thể có thầy hoặc không có thầy, người học có thể tự làmchủ mình, muốn học lúc nào, vấn đề gì thì tùy ý

- Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề,hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, kếtluận khác

Trang 22

- Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và

có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của nình, rồi

cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan (như trung thực, khách quan, có chítiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ýmuốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vựchiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình

- Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn

kỹ năng thực hành có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự huớng dẫntrực tiếp của sở giáo dục, đào tạo

Như vậy, có thể quan niệm về tự học như sau: Tự học là người học tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các họat động học tập và các hình thức phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm.

1.3.2 Quy trình tự học

Từ quan niệm về tự học, có thể hiểu quá trình tự học là quá trình xuất phát từ

sự ham muốn, khát khao nhận thức, người học ấp ủ trong mình những dự

định, dựa vào những phương tiện nhận thức để tích luỹ kinh nghiệm

- Học sinh xây dựng kế hoạch học tập: học sinh là người chủ động trong

lựa chọn cách học, thể hiện ở chổ ngay từ khi bắt đầu học đã tiềm ẩn nhu cầu

tất yếu phải học và trong suốt quá trình học tập, đảm bảo tự học thường xuyên, trách nhiệm Học sinh phải có động cơ học tập, hiểu được nhiệm vụ học tập.

Để học tập có hiệu quả, học sinh phải hoạch định tiến trình học tập, phải chọn

đúng nội dung trọng tâm, sắp xếp thời gian hợp lý, dự định cách học có hiệuquả, lựa chọn tài liệu và các phương tiện thiết bị cho việc học

- Học sinh thực hiện kế hoạch học tập: Đây là giai đoạn hoạt động thực sự của học sinh, quyết định sự thành công của việc học Giai đoạn này bao gồm

các công việc: Làm việc với sách, tài liệu, nghe giảng, làm thí nghiệm, luyệntập xemina, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề Ở giai đoạn này học sinh phải

Trang 23

vận dụng những nhóm kỹ năng học tập có thể có được để thực hiện tốt kếhoạch học tập.

+ Kỹ năng về tri thức: Ghi chép bài học, tóm tắt (hệ thống, tự liên hệthông tin mới với thông tin đã học), xây dựng sơ đồ, phân loại, phân tích, sosánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hoá, tương tự, quy nạp-diễn dịch, vàthay thế tức là tự tìm những thông tin khác để so sánh và dùng mới thay cũ + Những kỹ năng về cảm xúc và những kỹ năng về xã hội, hợp tác trongnhóm và lớp, đặt câu hỏi, tự trao đổi với bản thân mình, tự đánh giá, tập trung,

kỹ năng lựa chọn, tự tin…

+ Kỹ năng chuyển đổi tri thức: đó là các kỹ năng hoạch định, chú ý cóđịnh hướng, chú ý có chọn lọc, tự quản lý, tự đánh giá, phát hiện vấn đề, giảiquyết vấn đề, kỹ năng tự vận dụng cách học thích hợp…

- Tự kiểm tra: Trong tự học, học sinh phải tự chủ động kiểm tra việc thực hiện kế hoạch học tập Tự kiểm tra, đánh giá giúp học sinh tự ý thức về khả năng, cũng cố vững chắc động cơ học tập cá nhân, tạo thêm hứng thú Việc tự kiểm tra, đánh giá của học sinh cần có sự hỗ trợ của nhóm học, của thầy, của phương tiện thiết bị Học sinh phải biết so sánh, đối chiếu các kết luận của bản

thân với kết luận của thầy, của bạn, của tài liệu, biết phân tích, tổng hợp, thểchế hoá, biết kiểm tra tính bền bỉ trong việc thực hiện kế hoạch tự học

- Hoạt động tự điều chỉnh: Là hoạt động rất quan trọng của tự học, học sinh

phải suy nghĩ lại, phải tự sửa sai, phải biết bổ sung thêm cách học, bổ sung

thêm kiến thức cần thiết, tìm kiếm thêm tài liệu, phải biết hệ thống hóa Học sinh phải biết rút kinh nghiệm về cách học, về cách phát hiện vấn đề và giải

quyết vấn đề, cách đánh giá, có thể lật ngược vấn đề để điều chỉnh…

Trang 24

- Có thể biểu diễn quy trình tự học theo sơ đồ sau:

Các giai đoạn nêu trên trong chu trình tự học không tách rời nhau mà đanxen nhau, liên hệ với nhau một cách biện chứng Quá trình tự học ở mỗi người

là một quá trình phủ định biện chứng liên tục, giải quyết các mâu thuẫn tạo nênquá trình biến đổi bên trong người học, là quá trình tích luỹ tri thức để ngườihọc đi đến một trình độ cao hơn

1.3.3 Các hình thức của phương pháp tự học

- Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, người học

không đến trường, không cần sự hướng dẫn của giáo viên, người học tự lựa

chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động học tập và các hình thức

phương pháp kiểm tra, đánh giá, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soáttiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm

- Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không tiếp xúc trực tiếp

với thầy mà chủ yếu nghe giáo viên giảng giải qua phương tiện truyền thông

- Tự học có hướng dẫn qua tài liệu hướng dẫn: Người học trực tiếp làm

việc với tài liệu hướng dẫn Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phươngpháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu tìm kiếm, bổ sung kiến thức

- Tự học trong một giai đọan hay một khâu của quá trình học tập: Học bài

và làm bài ở nhà theo nhiệm vụ học tập là việc thường xuyên của bất kỳ người

học nào

THỰC HIỆN

NGƯỜI HỌC

Trang 25

- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của giáo viên –

biến quá trình tự học thành quá trình tự đào tạo hay nói cách khác là quá trìnhdạy – tự học

- Tự học làm bài tập ở nhà: Người học tự tìm kiếm những bài tập và nghiên

cứu tìm cách giải

Trong luận văn chủ yếu đề cập đến hình thức tự học này, đưa ra một số biện

pháp chủ yếu nhằm bồi dưỡng phát triển năng lực tự học cho học sinh hệ THPT.

- Theo Nguyễn Kỳ: thầy dạy để trò tự học, thầy dạy nhằm mục tiêu giúp

cho trò tự học, biết tự học suốt đời, có năng lực tự học sáng tạo Dạy và tự học

có mối quan hệ về mục tiêu giáo dục” “Thành công trong tự học là mục tiêu

cuối cùng của nhà giáo Tất cả vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh thân yêu” “Thầy dạy như thế nào cho trò biết cách tự học và phát triển năng lực tự học, tác động dạy bên ngoài của thầy vật chất hoá hoạt động tự học bên trong

của trò; dạy và tự học có mối quan hệ về phương pháp dạy và tự học, về ngoạilực và nội lực”

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học

Nhóm nhân tố bên trong:

- Năng lực tự học: Trong các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến quá trình tự học, năng lực tự học của bản thân người học là quan trọng nhất, vì

người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của chínhmình

Trang 26

- Động cơ, hứng thú học tập: Động cơ học tập quyết định kết quả học tập của học sinh.

- Phương pháp tự học: Để tự học mang lại hiệu quả cao đòi hỏi mỗi

người học phải có phương pháp tự học, tự nghiên cứu theo phương pháp củamình

Nhóm nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến tự học, đó là:

- Phương pháp giảng dạy của giáo viên: Qúa trình dạy học ở THPT, dạy học là dạy cho học sinh cách tự học, để học sinh có được tư duy

độc lập và phương pháp công tác độc lập, ngay khi đang học ở trong trường và

cả ngay khi ở giai đoạn hành nghề dạy Lí Chính sự thay đổi cách dạy đòi hỏi

mức độ làm việc độc lập của học sinh rất cao Nếu giáo viên làm thay, ít khuyến khích học sinh làm việc độc lập, không đề ra yêu cầu cao cho học sinh, thì dù giáo viên có tích cực đến đâu mà học sinh không nổ lực học thì dạy học

không có kết quả

- Yêu cầu của xã hội, nhà trường: Xã hội hiện đại, cộng nghệ thông

tin phát triển cần phải có phương tiện, phương pháp giao lưu mới Đồng thời trithức của loài người đang tăng nhanh về khối lượng, đổi mới nhanh về chấtlượng và nội dung Dù kéo dài thời gian học trong nhà trường bao nhiêu cũngchưa đủ để thích ứng với cuộc sống luôn thay đổi, mà phải biết cách học để tiếptục tự học suốt đời

- Cơ sở vật chất: Để tự học, tự nghiên cứu đem lại kết quả tố yếu tố

quan trọng là phải có sách, đồ dùng và trang thiết bị học tập cần thiết

- Thời gian: Trong quá trình dạy học, học sinh phải học nhiều môn,

mỗi môn có vị trí, tính chất, nội dung, khối lượng thông tin khác nhau Để đạt

kết quả tố nhất trong việc tự học, dòi hỏi học sinh phải biết phân phối, sắp xếp,

lập một thời khoá biểu riêng cho mình

Hai nhóm nhân tố trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ, bổsung cho nhau tạo điều kiện để tự học đạt kết quả cao

Tóm lại, học sinh muốn tự học tốt cần có những điều kiện sau:

Trang 27

- Phải được trang bị chuẩn kiến thức môn học, kiến thức ngoại ngữ, tinhọc… làm cơ sở cho việc hiểu biết, luyện tập, hoạt động theo đúng mục đíchyêu cầu.

- Phải được hướng dẫn phương pháp tự học.

- Có tài liệu phục vụ cho tự học.

- Có thời gian cho tự học.

- Có đủ sức khỏe cho tự học

- Có nhận thức đúng và quyết tâm cao trong tự học

- Có cơ sở vật chất, trang thiết bị cho tự học

Qúa trình tự học của học sinh là một quá trình tự thân vận động, tự phát

triển thông qua việc giải quyết các mâu thuẫn bên trong, giữa một bên là nhucầu hiểu biết ngày càng cao, khối lượng học tập ngày càng lớn, đáp ứng nhucầu kiến thức của thực tiễn nghề nghiệp,… với một bên là điều kiện hiện có và

có nhiều hạn chế về năng lực tự học Mâu thuẫn này luôn luôn tồn tại, liên tục xảy ra, liên tục được khắc phục để giải quyết bởi chính bản thân học sinh.

1.6 Website hỗ trợ dạy học

1.6.1 Website hỗ trợ dạy học

Website hỗ trợ dạy học là một PTDH dưới dạng phần mềm máy tínhđược tạo ra bởi các siêu văn bản (đó là các tài liệu điện tử ở dạng văn bản, đồhọa, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động…) để hỗ trợ việc dạy và học vàcung cấp cho những người sử dụng khác trên mạng các máy tính.[34]

1.6.2 Một số khái niệm liên quan đến website

1.6.2.1 Internet

Internet là sự kết nối của hệ thống các mạng máy tính thông qua cácphương tiện viễn thông trên toàn thế giới như vệ tinh viễn thông, cáp quang,đường điện thoại Khả năng truyền tải của những phương tiện này rất lớn, cóthể chứa được nhiều loại thông tin như dữ liệu, hình ảnh, tiếng nói, hình ảnhđộng [11]

Trang 28

1.6.2.2 Công nghệ World Wide Web (WWW)

WWW (world wide web) là một dịch vụ thông tin mới nhất và hấp dẫnnhất trên Internet, nó dựa trên một kỹ thuật biểu diễn thông tin có tên gọi là

“Siêu văn bản” (HyperText) Trên siêu văn bản, các từ được chọn có thể được

mở rộng bất kỳ lúc nào để cung cấp thông tin đầy đủ hơn về từ đó Sự mở rộng

ở đây thực chất là chúng được liên kết tới các tài liệu khác (có thể là văn bản,hình ảnh, âm thanh hay tích hợp của chúng) chứa các thông tin bổ sung Thuậtngữ WWW được dùng để mô tả dự án và được công bố lần đầu tiên vào 8/1991

trên nhóm tin alt.hypertext Từ đó, nhiều nhà phát triển khai thác đã tham gia

vào việc phát triển Web trên các hệ điều hành khác nhau Nói một cách chínhxác thì WWW không phải là một hệ thống cụ thể mà là một tập hợp các công

cụ tiện ích và các siêu giao diện (Meta Interface) giúp người sử dụng có thể tạo

ra các siêu văn bản và cung cấp cho những người sử dụng khác trên Internet, tagọi tắt là công nghệ Web Công nghệ Web cho phép truy cập và xử lý các trang

dữ liệu đa phương tiện (Hypermedia) trên Internet Để xây dựng các trangthông tin đa phương tiện như vậy, Web sử dụng một ngôn ngữ có tên là HTML(HyperText Markup Language) HTML cho phép đọc và liên kết các kiểu dữliệu khác nhau trên cùng một trang thông tin

1.6.2.3 Mã nguồn mở

Mã nguồn mở là phần mềm với mã nguồn được công bố và sử dụng mộtgiấy phép nguồn mở Phổ biến nhất là Giấy phép Công cộng GNU (GeneralPublic License)

Giấy phép GNU cho phép bất cứ ai cũng có thể nghiên cứu, thay đổi vàcải tiến phần mềm và phân phối phần mềm ở dạng chưa thay đổi hoặc đã thayđổi

Mặc dù trong tên gọi chỉ nổi bật chữ “phần mềm”, tuy nhiên trào lưuphần mềm nguồn mở thực chất dựa trên ba yếu tố đó là “mở”: nguồn mở,chuẩn mở và nội dung mở

1.6.2.4 Mã nguồn mở Nukeviet

Trang 29

NukeViet là một hệ quản trị nội dung mã nguồn mở (OpensourceContent Management System), người sử dụng thường gọi NukeViet là portal vì

nó có khả năng tích hợp nhiều ứng dụng trên nền Web

NukeViet có 2 dòng phiên bản chính:

Dòng phiên bản trước năm 2009 (NukeViet 2.0 trở về trước) đượcNguyễn Anh Tú- một lưuhọc sinh người Việt tại Nga - cùng cộng đồng pháttriển thành một ứng dụng thuần Việt từ nền tảng PHP-Nuke

Dòng phiên bản NukeViet 3.0 trở về sau (kể từ năm 2010 trở đi) là dòngphiên bản hoàn toàn mới, được xây dựng từ đầu với nhiều tính năng ưu việt

NukeViet được viết bằng ngôn ngữ PHP và chủ yếu sử dụng cơ sở dữliệu MySQL,cho phép người sử dụng có thể dễ dàng xuất bản & quản trị cácnội dung của họ lên Internet hoặc Intranet

NukeViet được sử dụng ở nhiều website, từ những website cá nhân chotới những hệ thống website doanh nghiệp, nó cung cấp nhiều dịch vụ và ứngdụng nhờ khả năng tăng cường tính năng bằng cách cài thêm các module,block NukeViet có thể dễ dàng cài đặt, dễ dàng quản lý kể cả với nhữngngười mới sử dụng

NukeViet là giải pháp hoàn hảo cho các Website từ cá nhân cho tới cácdoanh nghiệp NukeViet là bộ mã nguồn chất lượng cao, được phát hành theogiấy phép mã nguồn mở nên việc sử dụng NukeViet hoàn toàn miễn phí Vớingười sử dụng cá nhân, tất cả đều có thể tự tạo cho mình một website chuyênnghiệp mà không mất bất cứ chi phí nào Với những nhà phát triển Web, sửdụng NukeViet có thể nhanh chóng xây dựng các hệ thống lớn mà việc lậptrình không đòi hỏi quá nhiều thời gian vì NukeViet đã xây dựng sẵn hệ thốngquản lý ưu việt.[42]

1.6.2.5 Cấu trúc của Site

Trang 30

Website dạy học được phát triển dựa trên những chủ đề cơ bản được xâydựng thành cấu trúc Những cấu trúc này sẽ quyết định giao diện của Site vàtạo nên một dạng định hướng để hướng dẫn người sử dụng tiếp cận nhữngthông tin muốn truyền tải Các cấu trúc cơ bản là: tuần tự, tạo lưới, phân cấp vàmạng.

- Cấu trúc tuần tự: là cách sắp xếp, tổ chức thông tin đơn giản nhất Trật

tự này có thể tuân theo thứ tự thời gian, cũng có thể là một loạt chủ đề được sắpxếp hợp lý từ tổng quát đến cụ thể, hoặc theo bảng chữ cái giống như mục lục.Các liên kết duy nhất trong Site là những liên kết hỗ trợ đường dẫn tuyến tính

- Cấu trúc lưới: là cách hữu hiệu để tạo mối tương quan giữa các biến

số Các khối đơn lẻ trong lưới phải có cấu trúc đồng bộ về các chủ đề chính vàphụ Các chủ đề sắp xếp theo dạng lưới thường không được phân cấp cụ thểtheo mức độ quan trọng Cơ sở dữ liệu dùng cho Website được thiết kế đều rấtnhất quán trong cấu trúc Vì lý do này, cấu trúc lưới chỉ phù hợp với nhữngngười sử dụng có kinh nghiệm, hiểu bản chất của toàn bộ cấu trúc và cách tổchức thông tin

- Cấu trúc hệ thống phân cấp: là cách tổ chức thông tin phức tạp hơnnhưng hữu hiệu nhất Vì các Website luôn được tổ chức quanh một trang chủđơn lẻ nên sơ đồ phân cấp đặc biệt phù hợp với tổ chức Website và hầu hếtngười sử dụng đều nhận thấy đây là một cấu trúc dễ hiểu

- Cấu trúc mạng: tổ chức có các liên kết dày đặc bao gồm các thànhphần thông tin ở trong cùng một Site lẫn thông tin ở Site khác Mặt dù khaithác tối đa sức mạnh của các liên kết và phối hợp với các trang Web là mụcđích của tổ chức mạng, nhưng kiểu cấu trúc có tổ chức phối hợp này củaWebsite lại thiếu tính thực tiễn, lộn xộn gây khó hiểu cho người sử dụng Vớicấu trúc này, Website chỉ hoạt động tốt trong những Site có quy mô nhỏ baogồm danh sách các liên kết và trong những Site có mục đích giáo dục cao hoặcnhững Site dùng cho người sử dụng có kinh nghiệm, có nhu cầu bổ sung kiếnthức

Trang 31

Hầu hết những Website phức tạp đều có đặc điểm chung của bốn loạicấu trúc trên Tuy nhiên, tùy theo điều kiện, mục đích sử dụng để lựa chọn kiểucấu trúc thích hợp Trong thực tế vẫn có thể thiết kế tự do không tuân theo cấutrúc nào, từ đó hình thành nên Website mà không cần thiết kế cơ sở dữ liệu.Cách làm này không đòi hỏi người thiết kế phải am hiểu rõ về lập trình, đồngthời phát huy được khả năng sáng tạo của người thiết kế.[28]

1.6.3 Vai trò của website đối với việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

1.6.3.1 Vai trò của website trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

- Các hình thức tổ chức dạy học phổ biến trong các trường phổ thôngchủ yếu là diễn giảng, không phát huy hoạt động tích cực, chủ động, tự lực của

HS Lại thêm áp lực về điều kiện thời gian quy định cho một tiết học cùng vớinhững yêu cầu cao trong cách tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS, thực sựtrở thành những trở ngại lớn cho GV trong việc thực hiện theo tinh thần đổimới PPDH

Website có khả năng đáp ứng yêu cầu của người sử dụng, hình thànhnhững phương pháp học tập mới, có hiệu quả Với nhiều ưu điểm nổi bật nhưlưu trữ thông tin, cập nhật, trình diễn thông tin, tích hợp được nhiều kiến thứcliên quan đến nội dung bài học, sự liên kết nhanh, mạnh và phong phú giữa cácnội dung kiến thức trong cùng một site hoặc giữa các site khác nhau, website sẽtạo điều kiện thuận lợi cho GV và HS chương trình hóa các hoạt động dạy vàhọc một cách dễ dàng và mất ít thời gian

Dạy học bằng website, GV có thể điều khiển, định hướng người học vàoquá trình tìm kiếm và xử lý thông tin, đưa ra phương án để giải quyết nội dungbài học, tăng thời gian dành cho trao đổi, thảo luận trên lớp, giao tiếp giữa HSvới nhau…đồng thời tạo nên những chuyển biến căn bản trong hoạt động dạy

và học: Chuyển từ hoạt động thông báo và ghi nhớ sang hoạt động độc lập tìmkiếm, khám phá, nổ lực hợp tác; phá bỏ sự ràng buộc về không gian và thờigian đối với QTDH; phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của người học Bên

Trang 32

cạnh đó, HS có thể dễ dàng tìm thấy các kiến thức cần thiết tại mỗi thời điểmhọc tập và tra cứu những kiến thức mở rộng, bổ trợ cho bài học Việc sử dụngwebsite DH sẽ tạo điều kiện thuận lợi để HS chương trình hóa không chỉ nộidung tri thức mà cả con đường tìm tòi và nắm tri thức [29].

Tóm lại, website DH với sự trợ giúp của MVT và mạng máy tính đã tỏ

ra có nhiều ưu thế Dạy học bằng website GV có thể thực hiện đổi mới PPDHtheo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức tự lực của HS

1.6.3.2 Website như công cụ hỗ trợ hoạt động tự học

Khi thiết kế Website, người thiết kế phải luôn đặt ra các yêu cầu về mặt

sư phạm và kỹ thuật, ngoài các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Website phảiđảm bảo các cơ sở lý luận dạy học bộ môn Đặc biệt là người thiết kế luôn luônquan tâm đến đối tượng hướng đến đó chính là người học Chính vì lẽ đó,Website luôn có những tác dụng tích cực khi sử dụng với chức năng hỗ trợ hoạtđộng học tập của HS

Với tính năng nổi trội của MVT về màu sắc, âm thanh, hình ảnh, cácmedia… làm cho bài học trở nên sinh động hơn Sử dụng Website hỗ trợ hoạtđộng tự học giúp cho học sinh chủ động hơn trọng việc tiếp cận tri thức Họcsinh không còn nghe, ghi chép một cách thụ động những nội dung giáo viêntruyền đạt Thông qua các phương tiện hỗ trợ trực quan như: tranh ảnh, biểubảng, biểu đồ học sinh sẽ tiếp thu bài nhanh và khắc sâu kiến thức hơn

Một tính năng có tính nổi bật và là đặc thù riêng của Website đó là chứcnăng trình diễn thông tin Multimedia, có tương tác và gây ấn tượng mạnh.Chính nhờ chức năng này mà chúng ta đã phát huy được sức mạnh của MVT

và nâng cao một cách đáng kể hiệu quả của việc sử dụng nó Nhờ đó đã tạo nênđược những thư viện như: thư viện tranh ảnh, thư viện video clip về thínghiệm, hướng dẫn thực hành, thư viện các bài tập, các đề kiểm tra, đề thi Nóichung, tập hợp các thư viện như vậy và sự liên thông giữa chúng cùng với hệthống các BGĐT của giáo viên sẽ giúp cho học sinh dễ dàng tìm kiếm tư liệucần thiết phục vụ tốt cho quá trình học tập của mình

Trang 33

Website, một “trợ giảng” đắc lực cho hoạt động dạy của GV, một “trợthủ” tuyệt vời cho hoạt động học của HS Điều này thật dễ hiểu vì các PTDHgiúp cho GV nâng cao hiệu quả của quá trình truyền thụ thì cũng chính nó sẽ

có tác dụng làm dễ dàng cho quá trình nhận thức của HS Website đã giảiphóng được GV thoát khỏi những công việc chân tay bình thường để tập trungchỉ đạo hoạt động nhận thức của HS Điều này cũng có nghĩa là Website đã cótác dụng tăng cường được hoạt động nhận thức độc lập, chủ động sáng tạocùng với việc nâng cao một cách đáng kể chất lượng của hoạt động đó (vì GV

đã có nhiều thời gian hơn để tổ chức, điều khiển, giám sát, đánh giá và điềuchỉnh hoạt động học tập của từng cá thể HS) Song song với quá trình ấy,Website có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS (kích thích đượchứng thú, tạo được động cơ học tập, nâng cao trách nhiệm trong hoạt động họctập, tăng cường độ bền của trí nhớ, sự sâu sắc của tư duy…); hỗ trợ tốt việc tựhọc, tự đánh giá, ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức (nhờ hệ thống các bàitập luyện tập, kiểm tra của tài liệu tự học, sự liên kết giữa các thư viện, giữacác tài liệu điện tử )

1.6.3.4 Sử dụngWebsite như công cụ quản lý học tập

Các chương trình ứng dụng có khả năng kiểm soát được việc sử dụng,truy cập vào Website của HS, kiểm tra và lưu trữ kết quả học tập,… thuận lợitrong việc quản lý việc học tập của HS Các ứng dụng trên website có khả năngcung cấp thông tin chọn lọc, chính xác, nhanh chóng Điều này càng trở nênquan trọng hơn khi lượng thông tin ngày càng lớn, phức tạp và vượt quá khảnăng bao quát của GV Đặc biệt, Website có tác dụng rất lớn trong công tác

đào tạo từ xa [5]

1.7 Các tiêu chí đánh giá một Website hỗ trợ hoạt động tự học

Qua thực tiễn xây dựng và sử dụng Website, theo tôi các tiêu chí đểđánh giá chất lượng của một Website dạy học gồm có:

Các tiêu chí về mặt khoa học: Tiêu chí này thể hiện ở tính chính xác về

nội dung khoa học chứa đựng trong Website Các nội dung trong Website phảiđáp ứng tính đa dạng phong phú (tài liệu học tập và các tài liệu tra cứu), phù

Trang 34

hợp với chương trình đào tạo, kiến thức và khả năng tiếp thu của người học.Các thuật ngữ khoa học, các khái niệm, định nghĩa… phải chính xác và nhấtquán với giáo trình hiện hành, các nội dung trong Website phải nhằm thực hiệnmục đích dạy học đề ra Đồng thời Phát huy được năng lực tự học tập và khảnăng sáng tạo của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học Nộidung hay, phong phú, đa dạng tự bản thân nó đã có sức hấp dẫn, lôi cuốn ngườihọc Vậy nên khi thiết kế Website giáo viên nên hết sức quan tâm đến tiêu chínày.

Các tiêu chí về LLDH: Website dạy học phải thực hiện được các

chức năng LLDH mà phần mềm đảm nhận, phải thực hiện đầy đủ các giai đoạncủa QTDH, từ khâu củng cố trình độ xuất phát, hình thành tri thức mới, ôn tập,

hệ thống hoá kiến thức cho đến kiểm tra đánh giá kiến thức của người học Có

sự phối hợp giữa lý thuyết, thực tiễn và các PPDH với sự hỗ trợ của Website.Tính chuẩn mực trong Website cho phép GV chủ động về kiến thức và phươngpháp tổ chức lớp học Các BGĐT trong Website phải thể hiện được tiến trìnhcủa một giờ học Bên cạnh đó, kho tài nguyên trên trang web còn giới thiệu các

đề thi, các bài tập trắc nghiệm của chương, các phương pháp giải toán vật lí…

sẽ hỗ trợ tốt cho học sinh trong quá trình tự học tập Từ đó các em có thể tựkhai thác nguồn tư liệu tham khảo, tự giải quyết và củng cố vấn đề một cách cóhiệu quả

Các tiêu chí về mặt sư phạm: Website DH phải thể hiện được

tính ưu việt về mặt tổ chức DH so với hình thức lớp - bài truyền thống Tính ưuviệt của Website DH so với các phần mềm DH khác là khai thác triệt để khảnăng hỗ trợ, truyền tải thông tin đa dạng, trực quan hoá các hiện tượng, quátrình Vật lý, kích thích động cơ học tập, tính tích cực và khả năng sáng tạocủa người học Thông qua việc trình bày kiến thức một cách trực quan, dễ hiểuvới các chương trình mô phỏng giúp người học đào sâu nội dung học tập Cáctài liệu trong Website phải giúp người học khắc sâu kiến thức đã lĩnh hội, rènluyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mở rộng nội dung kiến thức

đã học và đi sâu vào bản chất vấn đề nghiên cứu Giáo viên cần chỉ dẫn cho họcsinh cách tự học tập qua website Cần cho các em thấy được, website là người

Trang 35

bạn đồng hành trong quá trình tự học hỏi, trao đổi và nghiên cứu vấn đề.Website chính là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tự học Vì vậy họcsinh nên hình thành một thói quen học tập qua MVT và mạng internet để tự bồidưỡng và nâng cao năng lực

Các tiêu chí về mặt kỹ thuật: Giao diện trên màn hình thân thiện, cấu

trúc site rõ ràng, các đối tượng phải được sắp xếp hợp lí phù hợp với tiến trìnhcủa một giờ học, có hệ thống liên kết, điều hướng và chỉ dẫn rõ ràng Khả năngtương tác, cập nhật thông tin nhanh chóng, thuận tiện, chính xác và thể hiệnđược tính mở Việc sử dụng các tương tác âm thanh, màu sắc phải khéo léo,không nên lạm dụng khả năng trình diễn thông tin dưới dạng hình ảnh của máytính Đặc biệt Website phải dễ sử dụng, phần mềm thiết kế ổn định và có khảnăng thích ứng cao với các thế hệ máy tính và các hệ điều hành

Các tiêu chí về mặt hỗ trợ hoạt động tự học: Tiêu chí này thể hiện ở việc

kết hợp hài hoà các mặt như; Khoa học, LLDH, sư phạm, kỹ thuật… đảm bảophù hợp với tâm lý, trình độ, năng lực và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, cập nhậtthông tin của học sinh Khi thiết kế website, giáo viên cần hướng dẫn, giớithiệu căn kẽ giúp học sinh truy cập một cách dễ dàng, nhanh chóng, và chínhxác Website phải phát huy được khả năng tư duy, kích thích ý thức tự học, tựsáng tạo của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Ngoài ra cần đảm bảođáp ứng được nhu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, củng cố và khắc sâu vấn

đề trọng tâm của học sinh sau mỗi bài học Từ đó hỗ trợ hoạt động tự học tậpcho học sinh một cách tốt nhất

Trên đây là các tiêu chí cơ bản để đánh giá một website dạy học,Giáo viên khi thiết kế một trang web để dạy học, để hỗ trợ hoạt động tự họccho học sinh phải hết sức lưu tâm đến các tiêu chí này

Trang 36

1.8 Kết luận chương I

Qua nghiên cứu cơ sở lí luận về tự học trong quá trình dạy học, cho thấy:

- Trong quá trình dạy – học thì học sinh chính là đối tượng trungtâm, là người chủ động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Chính vì vậy, tự họcđóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, gắn liền với hoạt động tư duy

và hoạt động nhận thức độc lập, tự lực của người học Nên thiết kế website hỗtrợ hoạt động tự học cho học sinh là một việc làm thiết thực mang lại nhiều lợiích Nó rất cần với nhu cầu học tập của học sinh và phù hợp với phương pháphọc tập tích cực trong môi trường học tập hiện đại

- Muốn tự học đạt kết quả cao cần xác định đúng phương pháp tựhọc (phương pháp đọc, phương pháp ghi chép, cách đặt câu hỏi, cách trả lờicâu hỏi,…), đồng thời phải biết phát hiện được vấn đề, biết tìm những tài liệu

và giải quyết vất đề một cách hợp lí Điều này ở các tiết học truyền thống họcsinh khó giải quyết cặn kẽ được Nhưng học tập qua trang web thì khác, họcsinh có thể tự tìm tòi học hỏi và giải quyết vấn đề một cách thoả đáng Nhưvậy, website chính là công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tự học của học sinhtrong việc chinh phục tri thức khoa học

- Nhưng để website dạy học phát huy được vai trò của mình, giáoviên cần hướng dẫn tận tình cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn Họcsinh có thể khai thác tài liệu, học hỏi phương pháp, cách thức thực hành, giảibài tập nhưng tuyệt đối không được ỷ lại mà phải tự mình phát huy khả năngnghiên cứu, sáng tạo một cách nghiêm túc

Qua những kết quả nghiên cứu ở chương 1, tôi cho rằng để việc tự họccủa HS đạt kết quả cao, GV cần phải bồi dưỡng cho HS năng lực tự học Cùngvới sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ máy tính với hệ thống đa phương tiện

GV có thể xậy dựng kho tư liệu trên internet để góp phần nâng cao năng lực tự

và hình thành dần phương pháp tự học cho HS, góp phần đổi mới PPDH ởtrường phổ thông

Trang 37

CHƯƠNG II XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ” VẬT LÍ LỚP 12

CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN 2.1 Nội dung kiến thức và những kỹ năng trong chương “Dao động cơ” 2.1.1 Đặc điểm của chương “ Dao động cơ”

Trong chương trình vật lí 12, gồm có 8 chương:

Chương I Dao động cơ

Chương II Sóng cơ và sóng âm

Chương III Dòng điện xoay chiều

Chương IV Dao động và sóng điện từ

Chương V Sóng ánh sáng

Chương VI Lượng tử ánh sáng

Chương VII Hạt nhân nguyên tử

Chương VIII Từ vi mô đến vĩ mô Các kiến thức cơ bản của chương “Dao động cơ”

- Để học và nắm vững kiến thức chương “ Dao động cơ”, HS cần phảinắm vững một số kiến thức như: đạo hàm, tích phân, công thức lượng giác, giảiphương trình lượng giác Hơn nữa, chương “ Dao động cơ” vừa là nền tảng,vừa là cơ sở cho các chương: “ Sóng cơ và sóng âm”, “ Dòng điện xoay chiều”,

“ Dao động điện từ” Do đó để học tốt chương “ Dao động cơ” học sinh cầnphải tự mình tự nghiên cứu lại các kiến thức toán mà các em đã học

Trang 38

2.1.2 Cấu trúc logic nội dung chương “ Dao động cơ”

Sơ đồ cấu trúc logic chương “Dao động cơ”

2.1.3 Một số kỹ năng cần rèn luyện cho học sinh trong khi dạy học chương

“Dao động cơ”

2.1.3 1 Kỹ năng đọc tài liệu tham khảo

- Để học tốt chương “ Dao động cơ” HS cần phải được trang bị cho mìnhmột lượng kiến thức toán học cần thiết về cách giải phương trình lượng giác,cách tính đạo hàm, công thức lượng giác….Trên cơ sở toán học đó, các em mới

có thể giải được một số bài toán thuộc chương “Dao động cơ”

- Cần phải hướng dẫn HS biết cách tự đọc tài liệu ôn lại các kiến thức toánhọc mà các em đã học để đạt được mục tiêu của bài học

Trang 39

2.1.3 2 Kỹ năng vận dụng kiến thức

- Bên cạnh lý thuyết, những bài giảng trên lớp, cần chú trọng cho HSkhả năng vận dụng vào thực tế Biết vận dụng các kiến thức đã học để giải đểtrả lời các câu hỏi SGK

- Đối với việc giải bài tập, ngoài những bài tập SKG, HS cần phải làmcác bài tập SBT Vật lí 12 chương trình chuẩn Thông qua việc giải bài tập, ta

có thể đánh giá mức độ hiểu và vận dụng lý thuyết của HS Do vậy, khi giảngdạy chương “Dao động cơ”, GV cần hướng dẫn cho HS các phương pháp giảibài tập và cung cấp những kiến thức toán học có liên quan

2.2 Website hỗ trợ hoạt động tự học chương “Dao động cơ”

2.2.1 Hình thức triển khai Website trong dạy học Vật lý ở trường phổ thông

Để đưa Website dạy học hỗ trợ cho tự học chương “Dao động cơ” dựatrên mã nguồn mở Nukeviet vào sử dụng cần phải chuẩn bị một số công việcsau:

- Đăng kí một host free

- Cài đặt Website host free

- Cài đặt các phần mềm như Powerpoint, Macromedia Flash, WindowsMedia Player, Gom Player, FLV Player, Java, duyệt web Firefox cho phòngmáy ở trường Kết nối Projector với máy vi tính và màn chiếu…

2.2.2 Giới thiệu Website và hướng dẫn sử dụng

Website hỗ trợ hoạt động tự học của học sinh trong dạy học vật lý cũngnhư các phần mềm dạy học nói chung đều cần phải khai thác được khả năngthế mạnh của MVT và cần định rõ những khả năng ấy sẽ hỗ trợ giải quyếtnhiệm vụ gì của QTDH

Website hỗ trợ hoạt động tự học chương “Dao động cơ” được xây dựngvới mục đích hỗ trợ hoạt động tự học của học sinh và khắc phục phần nàonhững khó khăn mà GV và HS gặp phải khi DH chương này Các nội dungtrong website được đảm bảo bởi tính chính xác, khoa học, bám sát vào mục tiêu

Trang 40

DH, nội dung chương trình sách giáo khoa, phù hợp với kiến thức và khả năngcủa HS Các nội dung được trình bày ngắn gọn, súc tích khá hấp dẫn, người sửdụng dễ dàng chuyển đổi giữa các nội dung nhờ chức năng liên kết trongwebsite Website khai thác được các khả năng của MVT: khả năng trực quanhóa hiện tượng vật lý, khả năng hiển thị và truyền tải thông tin, nhờ tính “mới”

đó mà website có thể điều khiển được khả năng học tập của HS, giờ học sinhđộng hẳn lên, HS tự giác học tập hơn và do đó chất lượng dạy học được nânglên rõ rệt Hơn thế, điều đó tạo cho HS lòng yêu thích môn học mà điều này làcần thiết để các em học tiếp các phần khác của chương trình Vật lý một cáchthích thú và nghiêm túc Dưới đây tóm tắt nội dung, chức năng, cấu trúc vàcách sử dụng của các site chính trong Website

Trang chủ (Trang nhất )

Đây là trang đầu tiên người sử dụng nhìn thấy khi truy cập vào trangweb kiến thức vật lý Giao diện trang chủ chia thành các phần: menu ngang,menu dọc chứa các mục lục liên kết đến các tài nguyên trong website Từ trangchủ, người sử dụng có thể click chuột vào các mục lục liên kết để đến với cáctài nguyên trong website

Hình 2.1: Trang chủ Trang web kiến thức vật lí

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Sơ đồ cấu trúc lý thuyết hoạt động học - Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ hoạt động tự học trong dạy học vật lý trung học phổ thông vận dụng vào chương ''dao động cơ'' vật lý 12
Sơ đồ 1. Sơ đồ cấu trúc lý thuyết hoạt động học (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w