1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật trong truyền kỳ tân phả của đoàn thị điểm

87 1,9K 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế Giới Nghệ Thuật Trong Truyền Kỳ Tân Phả Của Đoàn Thị Điểm
Tác giả Nguyễn Hữu Hòa
Người hướng dẫn PGS.TS. Trương Xuân Tiếu
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm”, tức là tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người, về thời gian,không gian nghệ thuật, cùn

Trang 1

NguyÔn h÷u hßa

ThÕ giíi nghÖ thuËt trong truyÒn kú t©n ph¶

cña ®oµn thÞ ®iÓm

Chuyªn ngµnh: v¨n häc ViÖt Nam

Trang 2

PGS.TS Trơng Xuân Tiếu - ngời đã tận tình giúp đỡ, hớng dẫn tôi kể từ khi nhận đề tài cho đến khi luận văn đợc hoàn thành

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn

và khoa Đào tạo Sau đại học Trờng Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các bạn bè, gia

đình và những ngời thân thiết đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Nguyễn Hữu Hòa

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Lịch sử nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của luận văn 12

7 Cấu trúc luận văn 12

NỘI DUNG 13

Chương 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM 13

1.1 Giới thuyết khái niệm 13

1.1.1 Thế giới nghệ thuật 13

1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người 14

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm 14

Chương 2 THỜI GIAN NGHỆ THUẬT VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM 24

2.1 Giới thuyết về không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật 24

2.2 Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm 25

2.2.1 Không gian nghệ thuật 25

2.2.2 Thời gian nghệ thuật 32

2.2.3 Mối quan hệ giữa không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm 37

Trang 4

3.1 Giới thuyết khái niệm 40

3.1.1 Phương thức biểu hiện 40

3.1.2 Phương tiện nghệ thuật 41

3.2 Phương thức biểu hiện trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm 43

3.2.1 Bút pháp 43

3.2.2 Kết cấu 45

3.3 Phương tiện biểu hiện trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm 49

3.3.1 Ngôn ngữ 49

3.3.2 Thể loại 67

3.3.3 Hình tượng – Biểu tượng 70

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Truyền kỳ tân phả tác phẩm chữ Hán của nữ nhà văn Việt Nam

Đoàn Thị Điểm, viết theo lối truyện kể, có nhiều bài thơ xen kẻ, (còn có tên là

Tục truyền kỳ lục)

Các truyện trong Truyền kỳ tân phả, đều là những câu chuyện về cuộc

đời, về con người trong buổi xế chiều của xã hội phong kiến Việt Nam, được

biểu hiện dưới màu sắc hoang đường, quái đản Truyền kỳ tân phả, có nhiều

ưu điểm trong việc phản ánh thực trạng thối nát của xã hội phong kiến đươngthời Tuy nhiên, tác giả cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn quen thuộccủa các nhà văn thời đó, trong lập trường phê phán của mình, cũng như trongcách quan niệm về một xã hội lý tưởng

1.2 Bàn về nghệ thuật của Truyền kỳ tân phả, Phan Huy Chú trong Lịch

triều hiến chương loại chí, có viết: “lời văn hoa lệ, nhưng khí cách yếu ớt,

không bằng văn Nguyễn Dữ” Tuy vậy, nhìn chung đây vẫn là một tác phẩm

văn xuôi đặc sắc báo hiệu bước mở đầu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trongvăn học Việt Nam thế kỷ XVIII

Trên đây là những lý do thúc đẩy chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu “Thế giới

nghệ thuật trong “Truyền kỳ tân phả” của Đoàn Thị Điểm ”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị

Điểm”, tức là tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người, về thời gian,không gian nghệ thuật, cùng các phương thức biểu hiện và phương tiện nghệthuật của tác phẩm

Trang 6

3 Phạm vi nghiên cứu

3 1 Đoàn Thị Điểm có nhiều tác phẩm (dịch chữ Hán sang chữ Nôm,

viết bằng chữ Hán …), trong đó có Chinh phụ ngâm khúc, Hồng Hà phu

nhân di văn, Truyền kỳ tân phả.

3 2 Do mục đích nghiên cứu quy định, chúng tôi chỉ tìm hiểu thế giới

nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm (Tác phẩm Truyền kỳ

tân phả, do Nhà xuất bản, Văn học ấn hành năm 2001).

4 Lịch sử nghiên cứu

4.1 Giới thiệu tác giả “Truyền kỳ tân phả” của Đoàn Thị Điểm

Đoàn Thị Điểm tên tự là Hồng Hà, có sách ghi là “Hồng Hà nữ tử” hay

“Hồng Hà phu nhân”, sinh năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705), tại làng GiaiPhạm (nay thuộc huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên), mất năm Cảnh Hưng 9(1748), năm đó bà 44 tuổi

4.1.1 Các giáo trình đại học và cao đẳng

Trong giáo trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế

kỷ XIX), các tác giả Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận, có giải

thích sơ lược về Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), bà có tên hiệu là Hồng Hà,

quê ở làng Giai Phạm (sau đổi là Hiến Phạm), trấn Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh

Hải Hưng) Tác phẩm chính viết bằng chữ Hán còn để lại là tập Truyền kỳ tân

phả [38, 50]

Trong giáo trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ

XIX), Nguyễn Lộc đã giới thiệu tóm tắt về tiểu sử và sự nghiệp văn chương

của Đoàn Thị Điểm Nguyễn Lộc có khái quát so sánh giá trị nghệ thuật giữa

Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, với truyện Truyền kỳ trong văn học

trung đại Việt Nam, nhất là truyện Truyền kỳ của Nguyễn Dữ Tác phẩm của Đoàn Thị Điểm, ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm còn có tập truyện Truyền kỳ

tân phả, kể lại những truyện truyền kỳ, theo truyền thống của Nguyễn Dữ.

Trang 7

Phan Huy Chú khen Truyền kỳ tân phả (còn tên nữa là tục Truyền kỳ là viết tiếp loại truyện Truyền kỳ của Nguyễn Dữ); Lời văn hoa mĩ, dồi dào nhưng chê khí cách hơi yếu, không bằng Nguyễn Dữ, [37,149].

Trong giáo trình Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Phạm

Thế Ngũ, viết tiểu sử Đoàn Thị Điểm rất tỉ mỉ Tuy vậy Phạm Thế Ngũ chỉ

nhắc đến Truyền kỳ tân phả, tác phẩm văn xuôi của bà bằng một câu văn rất ngắn gọn và chỉ tập trung nói về dịch phẩm Chinh phụ ngâm của bà; “Bình

sinh, bà Đoàn hay làm văn làm thơ, lấy hiệu là Hồng Hà nữ sĩ Bà có soạn tập

truyện Truyền kỳ tân phả bằng chữ Hán, về quốc văn bà để lại bản dịch Chinh

phụ ngâm của Đặng Trần Côn”, [47,194].

Trong giáo trình Văn học Việt Nam, (Từ thế kỷ X – thế kỷ XX), Nguyễn

Phạm Hùng giới thiệu sơ lược về Đoàn Thị Điểm, nhấn mạnh thành công bản

dịch Chinh phụ ngâm của bà, mà không hề đề cập đến Truyền kỳ tân phả, tác

phẩm viết bằng chữ Hán của Đoàn Thị Điểm, [30, 117]

Trong Việt Nam thi văn giảng luận, Hà Như Chi đã giới thiệu tiểu sử:

“Bà Đoàn Thị Điểm, về tiểu sử có liệt kê những truyện được bà Điểm sáng

tác trong tập sách Truyền kỳ tân phả ” chỉ dừng lại ở đó, không hề phân tích

một truyện nào: Bà có lẽ đã trước tác nhiều, nhưng phần lớn bằng Hán văn

Bà có soạn sách Tục truyền kỳ, kể những chuyện lạ nước ta như chuyện Hải

khẩu linh từ lục, (Bà thần chế thắng), Vân Cát thần nữ, (Bà chúa liễu Hạnh),

An Ấp liệt nữ, (Vợ bé Đinh Nho Hàn), Yến anh đối thoại, (Yến anh nói chuyện), Mai huyền, Hoành Sơn, Tiên cực, (Cờ tiên ở núi Hoành Sơn), Nghĩa khuyển thập miêu, (Chó nuôi mèo),[10, 151].

Trong Tác gia văn học, Thăng long – Hà Nội, từ thế kỷ XI đến giữa thế

kỷ XX, của Tô Hoài, Nguyễn Vinh Phúc, Hoàng Ngọc Hà, Ngô Văn Phú,

Phan Thị Thanh Nhàn, các tác giả đã giới thiệu đầy đủ về tác giả Đoàn Thị

Điểm, ngoài ra còn nhắc đến tác phẩm Truyền kỳ tân phả Bà hiệu là Hồng Hà

Trang 8

nữ sĩ, là con của Đoàn Doãn Nghi Về sáng tác, ngoài bản dịch Chinh phụ

ngâm, Đoàn Thị Điểm còn là tác giả tập truyện chữ Hán Truyền kỳ tân phả,

chép những chuyện Truyền kỳ ở nước ta, (tiếp tục công việc của Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục) và một ít thơ văn chữ Hán, chữ Nôm chép trong

“Hồng Hà phu nhân di văn” mới được phát hiện gần đây, [28, 91- 92]

4.1.2 Các tài liệu khác có chép tiểu sử của “Đoàn Thị Điểm”

Trong, Từ điển văn học, tập 1, (A – M), Nguyễn Lộc đã giới thiệu, tóm

tắt đầy đủ về Đoàn Thị Điểm, trong đó có nhắc đến chút ít về tác phẩm

Truyền kỳ tân phả, cũng như lời khen của Phan Huy Chú về Truyền kỳ tân phả”: Về sáng tác, ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm còn là

tác giả tập truyện chữ Hán Truyền kỳ tân phả, [24, 216].

Trong cuốn chuyên khảo Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt

Nam, Trần Đình Sử ở mục truyện Truyền kỳ, có giới thiệu và nhận xét về Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, song ông không hề nói đến tiểu sử của

Đoàn Thị Điểm : “Truyền kỳ tân phả đầu thế kỷ XVIII của Đoàn Thị Điểm cùng loại với truyện Truyền kỳ mạn lục, nhưng rườm lời hơn, thơ ca thù tạc

lại quá nhiều làm loãng thú truyện Tuy vậy ta không nên đánh giá thể loạinày thuần túy từ góc độ truyện Có thể xem đây như là một thể loại truyện–thơ hợp thể, trong yếu tố truyện đóng vai trò sáng tạo tình huống để tácgiả thi thố tài thơ, và đặc điểm này phản ánh hứng thú và sinh hoạt văn thơđương thời của các văn sĩ”, [55, 299]

Trong sách, Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Khoa

học xã hội (1997) của nhóm tác giả: Trần Văn Giáp (chủ biên), Tạ PhongChâu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng, Đỗ Thiện, (ở mục 298), cáctác giả viết về Đoàn Thị Điểm, bao gồm năm sinh, năm mất, biệt hiệu, quêquán, cuộc đời, tác phẩm: Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), hiệu Hồng Hà nữ sĩ,còn có họ Lê là theo họ bố nuôi, người làng Giai Phạm (sau là làng Hiến

Trang 9

Phạm, huyện Văn Giang), nay thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Hưng Bà sinhnăm 1705, mất năm 1748.

Tác phẩm của bà có Truyền kỳ tân phả (chữ Hán), (văn).

Chinh phụ ngâm khúc (một bản dịch quốc âm, tác phẩm của Đặng Trần

Côn), [ 17, 287- 288]

Cần kể đến bài báo: Một số ý kiến về giá trị của truyện Truyền kỳ:

“Ngọc thân Ảo hóa”, (Từ bản chữ Hán) Nguyễn Thị Hoa Lê, khoa Ngữ Văn

Trường Đại Học Vinh, nói về tác phẩm Truyền kỳ tân phả xuất hiện nhiều thơ, “Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, trong tác phẩm xuất hiện nhiều

thơ: Thơ để thể hiện tâm trạng nhân vật Tài thơ của tác giả chủ yếu được kýthác vào cô gái bán ngọc và chàng thư sinh họ Vương”, [39, 55]

Qua các tài liệu, giáo trình nói trên, chúng tôi nhận thấy Đoàn Thị Điểm

là một nữ sĩ tài ba, được người đời sau chú ý, đề cao sự nghiệp văn học của

bà: ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm rất nổi tiếng, thì không thể không kể đến tác phẩm văn xuôi chữ Hán Truyền kỳ tân phả Thực tế đó tạo điều kiện thuận

lợi cho chúng tôi rất nhiều trong việc thực hiện luận văn này

4.2 Về tác phẩm Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm

Đoàn Thị Điểm nổi tiếng văn thơ Nhiều tác phẩm của bà còn lưu lại đến

ngày nay, trong đó có Truyền kỳ tân phả.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng Truyền kỳ tân phả còn có tên gọi là Tục

truyền kỳ Theo Phan Huy Chú, Tục truyền kỳ do Đoàn Thị Điểm gồm sáu truyện: Bích Câu kỳ ngộ, Hải khẩu linh từ lục, Vân Cát thần nữ, Hoành Sơn tiên cục, An

Ấp liệt nữ và Nghĩa khuyển khuất miêu Nhưng sách ấy ngày nay không còn.

Trang 10

Truyền kỳ tân phả đã được Ngô Lập Chi và Trần Văn Giáp tuyển dịch

bốn truyện: Hải khẩu linh từ lục, Vân Cát thần nữ lục, An Ấp liệt nữ lục và

Bích Câu kỳ ngộ ký, do Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1963.

Bản dịch được sử dụng trong luận văn do Ngô Lập Chi và Trần VănGiáp thực hiện, Phạm Văn Thắm biên tập lại chủ yếu là về mặt chuyển đổi địadanh và kỹ thuật trình bày

4.2.1 Các giáo trình có đề cập đến truyện “Truyền kỳ tân phả”, của

Đoàn Thị Điểm

Sách giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế

kỷ XIX, của Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận, đã dành một số

dòng ngắn gọn để giới thiệu về Truyền kỳ tân phả, đồng thời gợi ý những vấn

đề về tác phẩm này cần nghiên cứu: “Tác phẩm chính viết bằng chữ Hán còn

để lại, là tập Truyền kỳ tân phả Nay còn lưu lại bản in khắc năm 1811, của

Lạc Thiện Đường Sách gồm sáu truyện, ghi rõ Hồng Hà Đoàn phu nhân làm,anh là Tuyết Am Đạm Như phê bình Nếu thật có lời bình của anh, thì nhữngtruyện này đã được viết trước năm 1735, là năm Đoàn Doãn Luân mất Điều

đáng lưu ý là lời văn và ý tứ trong Truyền kỳ tân phả và Chinh phụ ngâm của

Đặng Trần Côn có nhiều chỗ trùng hợp khá sít sao, rõ nhất là trong truyện

cùng đề tài người chinh phu, Truyện An ấp liệt nữ”,[31, 50- 51].

Sách giáo trình: Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ

XIX), Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội (1997) của Nguyễn Lộc ngoài việc nhận

xét thể loại của Truyền kỳ tân phả, còn trích dẫn lời khen của Phan Huy Chú

về Truyền kỳ tân phả, trong sự đối sánh với Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ: “Loại truyện Truyền kỳ sang giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, còn tiếp tục với Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, Đoàn Thị

Điểm có ý thức kế thừa truyền thống Nguyễn Dữ, biểu hiện ngay trong cách

đặt tên tác phẩm của bà Truyền kỳ tân phả còn có tên là Tục Truyền kỳ Về

Trang 11

phương diện nghệ thuật, Truyền kỳ tân phả không đuổi kịp Truyền kỳ mạn

lục, nhưng về phương diện nội dung thì Truyền kỳ tân phả là có phần gần với

cuộc sống, với con người”, [37, 25]

Sách Việt Nam thi văn giảng luận, của Hà Như Chi đã đề cập đến

Truyền kỳ tân phả với cái tên mới Tục truyền kỳ và kể tên các truyện “Bà

Điểm có lẽ đã trước tác nhiều, nhưng phần lớn bằng Hán văn Bà có soạn sách

Tục truyền kỳ, kể những chuyện lạ nước ta như chuyện, Hải khẩu linh từ (Bà thần Chế thắng), Vân Cát thần nữ (Bà chúa liễu Hạnh), An Ấp liệt nữ (Vợ bé Đinh Nho Hàn), Yến anh đối thoại (Yến anh nói chuyện), Mai Huyền, Hoành sơn tiên cực, (Cờ tiên ở núi Hoành Sơn), Nghĩa khuyển thập miêu (Chó nuôi mèo), [10, 151].

Sách Mở rộng điển tích Chinh phụ ngâm của Đoàn Quang Luận đã nói

về cuộc gặp gỡ của Đoàn Thị Điểm với Đặng Trần Côn và tình nghĩa sâu

nặng vợ chồng giữa bà với tiến sĩ Nguyễn Kiều: Có sách cho rằng: Đoàn Thị

Điểm gặp gỡ Đặng Trần Côn ở tại phường Bích Câu Bây giờ chúng ta đi quaphía tây Nam Văn miếu sẽ thấy có ba đường phố gần nhau Đoàn Thị Điểm -Đặng Trần Côn - Bích Câu Ba cái tên ấy hình như có duyên nợ không thểtách rời Ngoài tình nghĩa sâu nặng vợ chồng với tiến sĩ Nguyễn Kiều, Bà có

lẽ còn gửi gắm chút tình gặp gỡ đầu tiên phục tài lẫn nhau của bà đối với cửnhân Đặng Trần Côn ở Bích Câu, [40, 24]

Sách Tổng tập văn học Việt Nam, tập 7, của Bùi Duy Tân (chủ biên), đã nói về tập truyện ký chữ Hán Truyền kỳ tân phả: “Hải khẩu linh từ kể

chuyện nàng Bích Châu, tài sắc là cung phi của vua Trần Duệ Tông đã vì đất

nước dâng vua bản Kê minh thập sách, sau lại vì vua nhảy xuống biển sâu.

Vân Cát thần nữ, kể về Bà chúa Liễu Hạnh vốn là tiên nữ, giáng trần với khát

vọng sống và yêu rất mãnh liệt Cuộc đời Liễu Hạnh với hai lần giáng trần, là

sự khẳng định và thể hiện khát vọng tự do, tình yêu giữa chốn trần gian Liễu

Trang 12

Hạnh là một nhân vật diệu kỳ Trong tín ngưỡng dân gian, bà là một Thánh

mẫu, là một trong tứ bất tử nơi thế giới u linh được nhân dân thờ phụng suốt mấy trăm năm nay Vân Cát thần nữ là một tư liệu quý, có niên đại sớm về

Liễu Hạnh và tín ngưỡng thờ mẫu”, [59, 453- 454]

Sách Lịch sử văn học Việt Nam, tập III, Văn học viết, thời kỳ I – giai

đoạn IV, giữa thế kỷ XVIII – 1858, của các tác giả Lê Trí Viễn, Phan Côn,

Đặng Thanh Lê, Phạm Luận, Lê Hoài Nam, đã nhận xét về tác giả Đoàn ThịĐiểm: “Đoàn Thị Điểm một phụ nữ dòng dõi nho gia, cũng để nhân vật mìnhbào chữa thái độ bất chấp lễ giáo bằng cách trách người đàn ông, người

trượng phu không cần câu chấp lễ nghi lặt vặt, Vân Cát thần nữ”, [75,

33-34]

Sách Văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại, tập1, của Nguyễn Đăng Na, có giải thích nhan đề tác phẩm Truyền kỳ tân phả Nguyễn Đăng Na bằng cách so sánh một số truyện như Đền thiêng cửa bể với bộ sử Đại Việt sử kí toàn thư, để

thấy cốt lõi lịch sử của câu chuyện và những cách tân của Đoàn Thị Điểm,Nguyễn Đăng Na đã làm một bảng so sánh đối chiếu giữa hai tác phẩm sử học

và văn học gồm sáu mục để đi đến nhận xét mọi chi tiết trong truyện, Đền thiêng

cửa bể của Đoàn phu nhân nửa đầu thế kỷ XVIII đều khớp với lịch sử chính xác

đến từng năm, từng tháng và kể cả thời tiết của thế kỷ XIV - XV

Ghi chép trong toàn thư Truyện Đền thiêng cửa bể

1, Long Khánh năm thứ tư

(1376), tháng 12 vua (Trần)

thân đi đánh Chiêm Thành

1, Long Khánh năm thứ 4 (1376) …tháng chạp (vua Trần) kéo quân điđánh giặc ở (phía Nam)

2, Ngự Sự trong tán là Lê Tích, dâng

sớ rằng ngày nay mới dẹp yên được

giặc trong nước, ví như cái nhọt

trong bọc lâu năm chưa khỏi Chúa

không nên nỗi tức giận riêng mà dấy

2, Ngự Sự trung tán: Lê Tích canrằng: Hiện nay mới dẹp yên nổi nạn,

ví như cái nhọt bọc kia chưa khỏihẳn, vua không nên lấy giận riêng màkhởi binh, tướng không nên cần công

Trang 13

quân, Tướng không nên cầu công

mà đánh liều, nếu xa giá mà đi đánh

thần nghĩ là không nên

mà đánh liều cần gì nhà Vua phảithân chinh

3, Đóng (quân) lại ở động ý mang

Bà Ma giả đầu hàng (vua bị lừa vào

chỗ phục binh) … quân tan vỡ, vua

bị hãm trận mà băng

3, Tiến sâu vào cửa động ý mang,trúng phải kế của Bà Ma, toàn quânnhà Vua bị hãm hại ở động ấy

5, Vua xuống chiếu rằng (tờ chiếu

giống lời Vua nói trong truyện của

Đoàn Thị Điểm)

5, Vua bảo tả hữu rằng (lời vua nóigiống tờ chiếu của Vua trong toànthư)

6, Trời mưa nhỏ gió bấc mưa này là

mưa nhuần quân, gió phương bắc là

gió hòa, cho nên khi thuyền vua đi

có câu thơ rằng …

6, Khi ấy gặp mùa xuân, khí trời ấm

áp, buồn gần gió đưa, thuyền rồng

êm sóng, liền ngâm một bài thơ [44,32]

Sách Từ điển văn học Viêt Nam, từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX của tác

giả Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Văn Cường đã nói “Đoàn Thị Điểm sáng

tác cả chữ Hán lẫn chữ Nôm Ngoài bản dịch Chinh phụ ngâm, Bà còn là tác giả tập truyện ký chữ Hán nhan đề Tục Truyền kỳ hoặc Truyền kỳ tân phả”, [2,

148]

Sách Văn học trung đại, dưới góc nhìn văn hóa, của tác giả Trần Nho Thìn, đã nói về không gian, thời gian trong truyện Truyền kỳ và trong Truyền

kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm: Không gian, thời gian của loại truyện Truyền

kỳ có yếu tố kỳ ảo Truyện Thần nữ ở Vân Cát (Truyền kỳ tân phả), kể: Vợ Lê

Thái Công, có mang quá kỳ sinh nở mắc bệnh nặng Một người đạo sĩ nói cóthể giúp cho sinh nở nhanh Cho mời vào, đạo sĩ xõa tóc bước lên đàn Thái

Trang 14

Công ngã ra bất tỉnh, được lực sĩ dẫn đi lên thiên đình Khi ông hồi tỉnh thì vợsinh con gái, [69, 183].

Sách Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, của Nguyễn Đăng

Na đã nói về những mối tình say đắm và đau khổ của người phụ nữ trong

Truyền kỳ tân phả: “Một số tác giả chuyển sang miêu tả những mối tình đắm

say, thà chết để được ở bên nhau, còn hơn sống phải ly biệt, An Ấp liệt nữ,

của Đoàn Thị Điểm là một ví dụ điển hình Các tác truyện ngắn thế kỷ XVIII

- XIX ít khai thác những mâu thuẫn, dẫn đến bi kịch khổ đau cho người phụ nữhoặc cả hai Họ thường viết về những mối tình tuy đắm đuối, nhưng thiên về

tình cảm thuần túy, chẳng hạn mối tình Tú Uyên, Giáng Kiều, (Truyện Bích

Câu kỳ ngộ) Đinh Phu Nhân, An Ấp liệt nữ, Ca nữ họ Nguyễn, chàng lái đò

họ Nguyễn- con gái Trần Phú Ông (chuyện tình ở Thanh Trì) … Điều cầnlưu ý là, dường như các cô gái trong truyện ngắn thế kỷ XVIII - XIX đều chủđộng tìm đến tình yêu và đều hy sinh cho người mình yêu”, [46, 397-398]

4.2.2 Các tài liệu khác có đề cập đến truyện “Truyền kỳ tân phả”,

của Đoàn Thị Điểm

Sách: Từ điển văn học, tập 2, (N – Y), của nhiều tác giả phần lớn giới thiệu về Truyền kỳ tân phả Ở mục (185), do Đặng Thị Hảo biên soạn, đã nói

rõ thể loại tên các truyện và có lời nhận xét toàn bộ sáu truyện trong Truyền

kỳ tân phả Đồng thời, Đặng Thị Hảo đã so sánh Truyền kỳ tân phả với Truyền kỳ mạn lục, và Thánh Tông di thảo, để nhận xét so sánh và khẳng

định giá trị Truyền kỳ tân phả: “Ra đời sau Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ

mạn lục ngót hai thế kỷ, nhưng Truyền kỳ tân phả đã không tiến kịp hai tác

phẩm trên về cả nội dung và nghệ thuật Cốt truyện thường tản mạn, rườm rà,kết cấu lỏng lẻo, chú ý nhiều đến trau chuốt câu chữ, lời văn hơn là diễn tiến

Trang 15

nội tại của tác phẩm Bàn về nghệ thuật của Truyền kỳ tân phả, Phan Huy Chú, trong Lịch triều hiến chương loại chí có viết: Lời văn hoa lệ, nhưng khí

cách yếu ớt, không bằng văn Nguyễn Dữ, [25, 448- 449].

Sách: Phùng Khắc Khoan, cuộc đời và thơ văn, của Trần Lê Sáng, mục

II: “Vị thượng thư già, Phùng Khắc Khoan”, ở Kinh Đô và ở quê nhà đã giải

thích rõ một số truyện trong Truyền kỳ tân phả, của Đoàn Thị Điểm, nhất là các truyện: Truyện người liệt nữ ở An Ấp, truyện Nữ thần ở Vân Cát Sứ giả Đinh Hoàn trong Liệt nữ ở An Ấp đã ốm chết khi vừa đến Yên Kinh, người

vợ héo hon vì buồn bã, cuối cùng đã tự tử để đi theo tiếng gọi của chồng, [52,139- 140]

Tác giả “Đoàn Thị Điểm, phu nhân của một vị sứ giả, sau Phùng Khắc

Khoan gần hai thế kỷ, kính trọng và hâm mộ ông đến như vậy Trong Vân

Cát thần nữ, bà nói rõ quan điểm của bà về một nhà nho Đã gọi là nhà nho, học thì phải hành, trước dẫn lấy văn chương tiến thân, sau phải đem tài kinh luân giúp đời”, [52, 147].

Qua những sách và tài liệu nói trên, chúng tôi nhận thấy Truyền kỳ Tân

phả là một tác phẩm văn xuôi bằng chữ Hán, khá nổi tiếng của Đoàn Thị

Điểm Truyền kỳ tân phả được viết theo lối văn Truyền kỳ và viết về đề tài

lịch sử Việt Nam Các nhà nghiên cứu nói chung chưa tìm hiểu toàn bộ những

truyện trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm Nhưng bước đầu họ đã

có nhiều nhận xét tinh tế, về một số truyện, để khẳng định sự sáng tạo củaĐoàn Thị Điểm khi viết về những truyện ấy Đó là những thuận lợi bước đầugiúp chúng tôi thực hiện phần nội dung luận văn này

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phối hợp đan xen, nhiều phương pháp nghiên cứu,khoa học chuyên ngành Đó là phương pháp thống kê, phương pháp miêu tả,

Trang 16

phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu Trong đóphương pháp phân tích tổng hợp là phương pháp nghiên cứu cơ bản, để

nghiên cứu Thế giới nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm.

6 Đóng góp của luận văn

Chúng tôi đã đề cập đến một phương diện nghiên cứu mới, là tìm hiểu về

thế nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm Cụ thể là tìm hiểu

quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian, không gian nghệ thuật, và các

phương thức biểu hiện, phương tiện nghệ thuật, trong Truyền kỳ tân phả, của

Đoàn Thị Điểm

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm bachương

Chương 1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Truyền kỳ tân phả

của Đoàn Thị Điểm

Chương 2 Thời gian, không gian nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả

của Đoàn Thị Điểm

Chương 3 Các phương thức biểu hiện và phương tiện nghệ thuật trong

Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm.

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỀN KỲ

TÂN PHẢ CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM

1.1 Giới thuyết khái niệm

1.1.1 Thế giới nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật là chỉnh thể của hình thức văn học Văn bản ngôn từxét từ một mặt, chỉ là một biểu hiện của hình thức bề ngoài tác phẩm Tácphẩm toàn vẹn xuất hiện như một thế giới nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của con người, về mặt tâm lýhọc, nó phục vụ từng quy luật sau: Con người sống trong thế giới khách thể,bốn chiều (ba chiều không gian và một chiều thời gian) nó phải thích nghi với

ba chiều không gian và sự biến đổi của thời gian Mọi cảm xúc, tri giác đềugắn với thế giới đó, không thể miêu tả sự sống mà không miêu tả thế giới củacon người Thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo mang tính cảm tình cóthế cảm thấy được của nghệ sĩ, là một kiểu tồn tại đặc thù, có trong chất liệu

và trong cảm nhận của người thưởng thức, là sự thống nhất của mọi yếu tố,

đa dạng trong tác phẩm Thế giới nghệ thuật có cấu trúc, có ý nghĩa riêng nóchịu sự chi phối của quan niệm nghệ thuật của tác giả về thế giới như một quyluật tuyệt đối Do có quy luật, nên thế giới nghệ thuật là một cấu tạo hữu hạn,

có tính ước lệ so với thế giới thực tại

Đọc vào một tác phẩm văn học dù là thơ, kịch hay truyện, kí, dù mức độ

cụ thể khác nhau, ta đều có thể bắt gặp trước hết là lời kể, sự bộc bạch miêu

tả, lời thoại, tiếp đó là các chi tiết về con người, môi trường, hành động, vớitừng nhân vật, từng quan hệ, mâu thuẫn, xung đột, nhận ra tính cách, số phận,

Trang 18

nỗi niềm nhân vật, cuối cùng nhận ra con người, cuộc đời, thế giới và ý nghĩanhân sinh.

Trong thế giới nghệ thuật không chỉ có thể giới được miêu tả, mà còn

có thế giới miêu tả, thế giới của những người kể chuyện, của những nhân vậttrữ tình … Bên trong thế giới này lại có con người kể chuyện, và con ngườitrữ tình cần được tìm hiểu

1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người

Là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệthuật, đảm bảo cho khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó.Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện ở điểm nhìnnghệ thuật, ở chủ đề cảm nhận đời sống được hiểu như những hằng số tâm lýcủa chủ thể, ở kiểu nhân vật và biến cố mà tác phẩm cung cấp, ở cách xử lýcác biến cố và quan hệ nhân vật Quan niệm nghệ thuật về thế giới và conngười chẳng những cung cấp một điểm xuất phát để tìm hiểu nội dung của tácphẩm văn học cụ thể, mà còn cung cấp một cơ sở để nghiên cứu sự phát triểntiến hoá của văn học

1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong Truyền kỳ tân phả của

Đoàn Thị Điểm

Nếu như những tác phẩm văn xuôi tự sự viết bằng chữ Hán, theo hình

thức truyện truyền kỳ của văn học trung đại Việt Nam, ở những giai đoạn

trước đều lấy nhân vật nam giới làm hình tượng trung tâm của tác phẩm, thì

đến Đoàn Thị Điểm, ở trong tác phẩm Truyền kỳ tân phả bà lại chọn nhân vật

nữ giới làm hình tượng trung tâm của tác phẩm Qua đó ta thấy được một sựđổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của Đoàn Thị Điểm

Trong truyện Đền thiêng ở cửa bể (Hải khẩu linh từ lục) có nhân vật

trung tâm về nữ giới là nàng Bích Châu Cốt truyện xoay quanh nhân vật BíchChâu, tư dung xinh đẹp, thông hiểu âm luật Lê Viên, được vua Duệ Tông

Trang 19

nghe tiếng cho kén vào hậu cung Nàng cảm thấy chính sự trong nước tiếp

sau đời Hồng Đức ngày càng suy kém, liền thảo Kê minh thập sách dâng lên.

Vua đem quân đi đánh phía Nam Bích Châu biết rõ vua không chịu nghe lời,bèn làm biểu nhờ bà phó mẫu dâng lên và cũng không được vua trả lời Rồisau đó nàng không để lòng đến sự trang điểm nữa, vua cho khởi binh

Việc ngôi đền thiêng liêng kia được phụ lão đã trình bày Trước cái nguysóng gió, chứng nghiệm báo trước oan khiên báo hiệu nàng Bích Châu tự vẫn

để cho gió bể hết nổi sóng

Sau khi ngự giá hồi kinh, vua hạ chiếu cho lập đền, cấp ruộng tế và cấp

người thư tử, sắc phong thần có hai chữ “Chế thắng” Đến nay khói hương

vẫn nghi ngút, vẫn có linh ứng

Truyện thứ hai Truyện người liệt nữ ở An Ấp (An Ấp liệt nữ lục) Ở đây

nhân vật nữ là con gái nhà quan người họ Nguyễn

Cốt truyện xoay quanh chàng Tiến sĩ trẻ, tên là Đinh Hoàn, lấy con gáinhà quan người họ Nguyễn làm vợ thứ, đoan trang, thêu thùa, khâu vá rấtkhéo, lại giỏi văn thơ Có lúc ông ngủ dậy muộn, bà đã làm thơ khuyênchồng Đến năm Ất Mùi triều đình kén sứ thần đi Trung Quốc kết nối banggiao, phu nhân nghe nói thì ngậm ngùi hồi lâu chứa chan nước mắt Và ông đi

sứ rồi mất ở Công quán Yên Kinh Các quan đồng sự và quan tiếp tân làm lễkhâm liệm chu tất, Phu nhân nhận được tin buồn, mê man bất tỉnh, khi tỉnhdậy thì muốn chết theo và cho đến ngày lễ tiểu tường ông, người nhà bậnviệc, phu nhân ở trong buồng xé cái áo mà ông tặng ngày trước tự thắt cổchết và bà được triều đình khắc chữ “Trinh liệt phu nhân tử”

Vài năm sau, có một người họ Hà biết đó là đền liệt nữ, vén áo vào, vừauống rượu, vừa đọc bia, uống hết bầu rượu liền cầm bút đề một bài thơ

Người họ Hà đã đề sai hai câu cuối và Hà nghe phu nhân nói xong, bổngtỉnh nghộ Vì say rượu phóng bút viết bậy, thực sự biết đắc tội rất nặng với

Trang 20

Bậc Tôn linh, nay tình nguyện hoạ lại nguyên vần để chuộc lại cái lỗi nói càn.

Đó hoá ra là một giấc mộng và Hà Sinh liền tắm gội sạch sẽ, đến ngôi đền liệt

nữ sửa lại hai câu cuối của bài thơ này

Truyện thứ ba Truyện nữ thần ở Vân Cát (Vân Cát thần nữ lục) nhân vật

nữ giới ở trong Truyện nữ thần ở Vân Cát thôn An Thái xã Vân Cát Trong

làng ấy có Lê Thái Công chăm làm điều thiện Năm bốn mươi tuổi mới cómột con gái, nhưng đến kỳ sinh nở, tự nhiên mắc bệnh nặng Đêm trung thu,gặp một người khăn áo chỉnh tề, nói có thuật làm cho bà chóng sinh, nói xongliền kéo ông về Khi ông dần dần hồi tỉnh thì bà vợ đã sinh ra một con gái vàđặt tên con là “Giáng Tiên”

Giáng Tiên càng ngày càng xinh đẹp, đọc sách lập chữ, về âm luật lạicàng tinh thông, thổi ống tiêu, gảy đàn rất giỏi và Đào Lang con nuôi của một

vị quan có ý xin làm rể

Sau khi làm lễ cưới, Giáng Tiên về nhà chồng, thờ cha mẹ chồng rất cóhiếu Đối với chồng giữ lễ thừa thuận Năm sau sinh con trai, năm sau nữasinh con gái Ngày tháng thấm thoắt đã ba năm, ngày mồng ba tháng ba Tiên

Trang 21

Tiên Chúa nói xong vụt đi mất Từ đó tung tích như mây nổi lưng trời,không nhất định ở đâu đâu, người nào có lời bỡn cợt tất bị tai vạ, người nàomang lễ cầu đảo tất được phúc lành Tiên Chúa đi đâu không chỗ nào làkhông có bút tích lưu đề ở chùa tháp, danh thắng.

Khi ấy quan Thị Giảng họ Phùng đi sứ Bắc quốc mới về công việc bậnrộn, liền nảy ra ý tưởng tìm một cuộc nhàn du cho khuây khoả tinh thần và đãđến quán của Liễu Nương cùng ngâm thơ Vài tháng sau chỉ thấy hồ nước,chứ chẳng thấy lâu đài gì cả

Tiên Chúa sau khi rời Hồ Tây, lại đến làng Sóc ở Nghệ An, núi phía nambỗng gặp một thư sinh Nhưng đây là chồng cũ của Tiên Chúa và hai ngườilàm thơ mới hiểu được nhau Sau đó nàng khuyên chồng cáo quan về làng,không lấy vợ, chỉ chăm lo việc dạy con

Tiên Chúa sau khi mãn hạn năm năm công cán, nàng lại xin xuống cõitrần lần nữa, để ngao du tuỳ thích Tiên Chúa thường hiển linh, người lànhđược phúc, kẻ ác bị tai vạ, dân trong vùng cùng nhau lập đền thờ Về sau quânnhà vua đi tiễu trừ giặc Tiên chúa giúp sức, được ghi vào tự điển và được thờphụng tôn nghiêm kính cẩn, khói hương nghi ngút ngàn thu

Truyện thứ tư Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu có nhân vật trung tâm Tú

Uyên Tú Uyên tính chăm học, giỏi thơ ca, hạ bút thành văn và tất cả các nơi

đi qua Tú Uyên đều có đề thơ Năm Giáp thìn (1484) có vị sư ni mở hội,chàng Tú Uyên cùng bạn trẻ đi chơi Chàng chợt thấy có một chiếc lá bayđến, nhặt lên xem, thấy đằng sau lá có một bài thơ, nhưng không gặp chủnhân Đang lúc cầu nguyện thì gặp một đoàn người mặc áo đỏ từ trong chùa

đi ra và trong đó có một người trạc độ mười bảy, mười tám tuổi, đưa mắt nhìnchàng và tỏ thái độ yêu mến Hai bên đối thoại, nàng nói xong biến mất Thếrồi, đêm hôm ấy, Tú Uyên không ngủ được và người họ Hà cũng kể vuaThánh Tông cũng gặp tiên Một đêm chàng mộng thấy một ông già mặc áo

Trang 22

hoa gọi rằng: ngày mai chàng đến hàng tranh vẽ trên bến Đông Tân, ta sẽ đưachàng một tin tức tốt Tỉnh dậy, chàng đi tìm nhưng không thấy, định về thìthấy một ông già cầm bức tranh truyền thần, chàng khẩn khoản xin mua Từ

đó nỗi buồn của chàng vơi đi Một hôm chàng đi học về nhà, thấy trên giườngbày sẵn mâm cơm Một hôm khác chàng giả đi học, rồi quay về và thấy một

mĩ nhân ở trong tranh bước ra, từ đó đã trở thành vợ chồng Tính chàng lạihay rượu chè bừa bãi Nàng khuyên răn nhưng không được, còn lấy roi đánhnàng; và nàng đã biến mất Tỉnh dậy không thấy nàng, chàng mấy lần chết đisống lại và chàng đã lấy giải khăn lụa của nàng ra tự vẫn, thì thấy nàng đến

Từ đấy, tình ái ngày càng khăng khít, ở được một năm sinh được một ngườicon trai đặt tên là Trân Sau đó, vợ chàng khuyên chàng trở về cõi tiên và cảcon nữa

Đến năm Niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ nhất (1735) có một người đi thi,đêm đến mộng và gặp Tú Uyên Tú Uyên đã kể lại mọi sự việc và khi tỉnh dậy

đã hỏi nhà sư họ Bùi kể lại đều hợp với những chuyện trong mộng

Bốn truyện của Đoàn Thị Điểm là truyện Đền thiêng ở cửa bể, Truyện

người liệt nữ ở An Ấp, Truyện nữ thần Vân Cát, Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu, thì cốt truyện đều có nhân vật nữ giới

Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm ca ngợi tình yêu đôi lứa, ca ngợi

đạo đức lối sống của con người trong một xã hội phong kiến và đặc biệt là đềcao tài năng của người phụ nữ trong chế độ phong kiến Từ đó, ta có thể nóirằng đây là một nét khá thành công trong nghệ thuật của tác giả ở tập truyệnnày

Các truyện của Đoàn Thị Điểm đã đề cao tài năng của người phụ nữ làmtròn bổn phận của một người mẹ, người vợ, làm tròn thiên chức của người

phụ nữ rõ nhất trong hai truyện: Hải khẩu linh từ lục (Đền thiêng ở cửa bể)

và Vân Cát thần nữ lục (Truyện nữ thần ở Vân Cát) Ở truyện Hải khẩu linh

Trang 23

từ lục kể chuyện nàng Bích Châu là một phụ nữ có tài sắc và là cung phi của

vua Trần Duệ Tông, vì đất nước, mà nàng dâng lên nhà vua tập Kê minh thập

sách, sau đó cũng vì nhà vua mà nàng phải nhảy xuống biển sâu Đây có thể

nói là một phụ nữ tài giỏi, hi sinh vì vua vì nước; là một sự hi sinh cao cả của

người phụ nữ trong xã hội phong kiến này Truyện Vân Cát thần nữ lục thì có

kể về bà chúa Liễu Hạnh Vốn là một tiên nữ giáng trần với khát vọng sống

và có một tình yêu mãnh liệt Từ đó Liễu Hạnh với hai lần giáng trần đã thểhiện một khát vọng tự do và tình yêu giữa trần gian Trong tín ngưỡng dângian, có thể nói bà là một vị thánh mẫu, và là một trong những vị thánh được,người ta gọi là “Tứ bất tử”, được nhân dân thờ phụng trong suốt mấy trăm

năm nay Qua đó, ta thấy Vân Cát thần nữ lục là một tư liệu quý, có niên đại

sớm về Liễu Hạnh và tín ngưỡng thờ mẫu trong văn hóa dân gian Việt Nam

Về truyện Đền thiêng ở cửa bể của Đoàn Thị Điểm tuy xuất hiện giai

đoạn nửa đầu thế kỷ XVIII, nhưng đều khớp với lịch sử, chính xác đến từng

năm, từng tháng và kể cả thời tiết của thế kỷ XIV - XV, thậm chí là bài Kê

minh thập sách của cung nữ Bích Châu, thời Trần Duệ Tông (1373 - 1377) ở

thế kỷ XIV Đây có thể nói là một trong những điểm chính của quan niệm

nghệ thuật về con người trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm

Có thể trước đây, Nguyễn Dữ đã có những dự cảm rằng, ở trong tiên nữrồi cũng còn có những bất hạnh, nếu như họ đã bị cấm lấy chồng Vì thế, ởtrong truyện nhân vật Giáng Hương đã cưới Từ Thức, đã để cho cô tiên mặc

bộ xiêm lụa và nói ra như một sự thật là; “hôm nay màu da hồng hào, chứkhông khô gầy như trước nữa" Đoàn Thị Điểm, đã viết thành công câu

chuyện kỳ thú Bích Câu kỳ ngộ là đã nói lên những khát vọng muốn lấy

chồng và đẻ con của tiên nữ Ở đây tác giả đã cho Giáng Kiều là một tiên nữxuống trần và cùng kết duyên với người trần mắt thịt

Trang 24

Chúng ta sẽ tìm hiểu về nhân vật nữ quái trong Truyền kỳ tân phả của

Đoàn Thị Điểm, để qua đó ta thấy được những phẩm chất cao đẹp của ngườiphụ nữ trong xã hội phong kiến, và thấy được đức hi sinh cao cả của người

phụ nữ trong thời kỳ này Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm bao gồm bốn truyện là Truyện đền thiêng ở cửa bể, Truyện người liệt nữ ở An Ấp, Truyện

Nữ thần ở Vân Cát và Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu Qua bốn truyện này, ta

sẽ đi tìm hiểu nhân vật nữ giới có những phẩm chất cao đẹp trong Truyền kỳ

tân phả

Trong Truyện đền thiêng ở của bể (Hải khẩu linh từ lục) Nhân vật nữ là

nàng Bích Châu con gái nhà quan đều có những phẩm chất tốt, tính tình đứngđắn, về tư dung diện mạo thì xinh đẹp, lại thông hiểu về âm luật và nàng đã

thảo kê minh thập sách dâng vua và đã được nhà vua ghi nhận rằng “không

ngờ một nữ nhi lại thông tuệ đến thế” Qua đây, ta thấy Bích Châu là một phụ

nữ thông minh Một lần, Bích Châu khuyên răn vua đừng đem quân đi đánhphía Nam Nhưng giữa đường đã bị sóng vỗ ngút trời, đã mấy phen thuyềnrồng chực lật úp Bích Châu phải nhảy xuống bể để cho vua và quan quân củatriều đình được bình yên, qua cơn nổi sóng của Thuỷ thần Chết rồi, BíchChâu còn phù hộ cho nhà vua và đất nước Sau đó vua cho lập đền thờ và bà

luôn phù hộ cho đất nước Qua đây ta thấy nhân vật nữ trong Truyện đền

thiêng ở cửa bể là nàng Bích Châu, là một phụ nữ rất thông minh Bên cạnh

đó, nàng còn có một phẩm chất nữa dám hi sinh vì nhà vua, vì đất nước, vàsau khi chết thì thành phúc thần; giúp đỡ đất nước, báo ứng rất thiêng vàđược nhân dân thờ phụng

Ở Truyện người liệt nữ ở An Ấp (An ấp liệt nữ lục) nhân vật nữ giới ở

đây là phu nhân, cũng là con gái nhà quan, về tư dung thanh nhã, cử chỉ đoantrang, thêu thùa rất khéo, lại giỏi văn thơ, khi về nhà chồng thì tu sửa mìnhtheo khuôn phép Một hôm, ông ngủ dậy muộn, bà đã làm bài thơ khuyên

Trang 25

chồng Ông phụng mệnh đi sứ sang Trung Quốc, sau đó ông mất, bà nghe tinbuồn mê man bất tỉnh và đến ngày lễ tiểu tường của ông thì bà đã thắt cổ chết,triều đình lập đền thờ và người làng cầu đảo đều có linh ứng.

Qua truyện này, ta thấy nhân vật nữ phu nhân có một phẩm chất đẹp làthương chồng, giữ trinh tiết Bà vừa có tư dung đoan trang, có tài thơ văn, làngười đã giữ được nếp nho gia và sau khi chết thì được triều đình lập đền thờ

và rất có linh ứng, phù hộ cho dân làng

Truyện nữ thần ở Vân Cát (Vân Cát thần nữ lục) nhân vật nữ là Giáng

Tiên có một tư dung xinh đẹp, chăm lo đọc sách, hiểu về âm luật, thổi ốngtiêu, gảy đàn rất giỏi Giáng Tiên lấy Đào Lang; về nhà chồng thờ cha mẹchồng rất có hiếu, sau đó sinh được một người con trai và một người con gái,

tự nhiên tiên nữ không có bệnh gì mà mất Khi tiên nữ về trời và đựơcThượng đế phong làm “Liễu hạnh công chúa” cho trở xuống trần gian Khi trởxuống trần gian tiên nữ thăm bố mẹ, thăm chồng, thăm con và sau đó đi đây

đi đó để làm phúc và chỗ nào cũng có bút tích lưu đề Công Chúa đi đến đâuthì người lành được hưởng phúc và kẻ ác thì bị tai vạ Về sau, Tiên Chúa giúpquân nhà vua đi tiểu trừ giặc và được triều đình khắc tượng, lập đền thờphụng tôn nghiêm, kính cẩn, khói hương nghi ngút ngàn thu

Nhân vật nữ Giáng Tiên khi sống thì chăm lo cho gia đình, khi mất thìlàm phúc cho nhân dân, đặc biệt là giúp quân nhà vua tiểu trừ giặc và đượctriều đình khắc tượng lập đền thờ

Truyện Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu (Bích Câu kỳ ngộ), nhân vật nữ là

Hà Giáng Kiều tiên nữ kết duyên cùng Tú Uyên Giáng Kiều vừa có tài làmthơ văn, đảm đang việc nhà, thương chồng thương con hết mực và sau đó cả

ba người hoá thành tiên Người trong phường cho là Trần tiên sinh đắc đạothành tiên, lập đền thờ nay là chùa An Quốc chính là di tích còn lại

Trang 26

Ở đây, nhân vật nữ giới là tiên nữ vừa đẹp, vừa có tài thơ văn, một lòngthương yêu chồng con và về sau cả nhà hoá thành tiên, sau đó được nhân dânlập đền thờ và hương lửa quanh năm.

Trong bốn truyện Truyyện đền thiêng ở cửa bể, Truyện người liệt nữ ở

An Ấp, Truyện nữ thần ở Vân Cát, Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu của Đoàn

Thị Điểm, nhân vật nữ ở đây đều có một phẩm chất tốt đẹp, đều là con nhàgia giáo học hành tử tế, đẹp người đẹp nết, tư dung xinh đẹp, có lòng vị tha vàdũng cảm hi sinh vì đất nước, thuỷ chung với chồng, thương yêu con cái Đó

là những nét đẹp về phẩm chất của người phụ nữ trong bốn truyện của ĐoànThị Điểm, Đặc biệt ta thấy nhân vật nữ Bích Châu là một người có tư dungthông minh, giỏi thơ văn, dám hi sinh vì vua, vì nước khi chết thành phúcthần giúp đỡ nhân dân và triều đình

Nhân vật nữ phu nhân trong truyện Người liệt nữ ở An Ấp có phẩm chất

là thương yêu chồng và giữ được lòng tiết nghĩa đối với chồng, khi chồng

chết cũng chết theo để giữ trinh tiết cùng với chồng Truyện Nữ thần ở Vân

Cát nhân vật nữ là Giáng Tiên có những phẩm chất hi sinh dũng cảm, vị tha

và khi chết thì phù hộ cho nhân dân và triều đình Trong truyện Cuộc gặp gỡ

kỳ lạ ở Bích Câu nhân vật nữ là Hà Giáng Kiều, tiên nữ có một phẩm chất

đẹp, lại vừa có tài thơ văn, vừa có lòng vị tha, vừa có nét phi thường Sau đó

cả gia đình hoá thành tiên được nhân dân lập đền thờ và hương lửa quanh

năm Nhân vật nữ trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, sau khi chết

đều được ca ngợi truyền tụng và đều được nhân dân thờ phụng chu đáo Đây

có thể nói là một nét mới của nghệ thuật trong quan niệm con người của ĐoànThị Điểm

Nhân vật nữ ở trong bốn truyện của Đoàn Thị Điểm khi sống thìthường làm thơ, khuyên răn chồng, thêu thùa, đều là giữ trinh tiết cho chồng

và khi chết được nhân dân và triều đình lập đền thờ Thờ ở đây là phục những

Trang 27

cái tài của những người phụ nữ này mà thờ, chứ không phải thương mà thờcúng, thờ ở đây là của những người Việt Nam biết ơn mà thờ họ, ở đây là

“uống nước nhờ nguồn” Sự thiêng hoá về hình tượng người phụ nữ của Đoàn

Thị Điểm được đẩy lên đỉnh cao hơn các truyện Truyền kỳ Đó là biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị

Điểm

Qua đây, ta thấy các nhân vật phụ nữ của Đoàn Thị Điểm là những nhânvật lịch sử, đều được dân gian hoá, thần thoại hoá, vừa bình thường, vừa phithường, vẻ đẹp của họ là một vẻ đẹp cao cả Điểm chung là sau khi mất đềuđược nhân dân và triều đình thờ trong đền miếu quốc gia, đều là nữ thần trongthế giới thần linh Và những người phụ nữ này sau khi chết đều phù hộ chonhân dân và triều đình phồn thịnh, phát triển Đoàn Thị Điểm là một nhà văn

có quan niệm con người gần với dân gian hơn Vai trò của nhà văn Truyền kỳ

Đoàn Thị Điểm ở đây là vô cùng quan trọng, bởi lẽ bà đã thổi vào tác phẩmmột luồng sinh khí mới, khiến cho nó trở thành cơ sở cho văn học dân gian,

tiếp thêm sức mạnh để dòng văn học này sống mãi đến ngày nay

Trang 28

Chương 2 THỜI GIAN NGHỆ THUẬT VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

TRONG TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ CỦA ĐOÀN THỊ ĐIỂM

2.1 Giới thuyết về không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật

Thời gian là hình thái tồn tại của vật chất, diễn biến theo một chiều, theo

ba trạng thái là hiện tại, quá khứ, tương lai

Thời gian nghệ thuật là một phạm trù của nghệ thuật Nghệ thuật là mộtdạng tồn tại đặc thù cũng có thời gian riêng Tác phẩm nghệ thuật cũng tồn tạitrong thời gian vật chất Không có thời gian vật chất, tác phẩm nghệ thuậtkhông tồn tại được Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể nghiệmđược trong tác phẩm nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh haychậm, với chiều thời gian là hiện tại, quá khứ hay tương lai

Là hình thái của hình tượng nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là một trongnhững phạm trù quan trọng nhất của thi pháp học Bởi vì nó thể hiện thựcchất sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ Nghệ sĩ có thể chọn điểm bắt đầu vàkết thúc, có thể kể nhanh hay hay chậm, có thể kể xuôi hay đảo ngược, có thểchọn điểm nhìn từ quá khứ, hiện tại, tương lại, có thể chọn độ dài một khoảngkhắc hay nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời

Không gian nghệ thuật: là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật,không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có nhân vậtnào không có một nền cảnh nào đó Bản thân người kể chuyện hay nhà thơ trữtình nhìn sự vật trong một khoảng cách, góc nhìn nhất định

Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nhằm biểuhiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống, do đókhông thể quy nói về không gian địa lý hay không gian vật lý, vật chất Trongtác phẩm, ta thường bắt gặp sự miêu tả con đường, căn nhà, dòng sông

Trang 29

Những sự vật ấy, chưa phải là không gian nghệ thuật, chúng được xem làkhông gian nghệ thuật trong chừng mực biểu hiện mô hình thế giới của conngười

Không gian nghệ thuật còn có thể chia ra không gian bên trong và không gian bên ngoài, bên trong thì không biến đổi, không gian bên ngoài thì đổi

thay

Không gian nghệ thuật tương quan chặt chẽ với thời gian nghệ thuật Khinhà văn dừng lại khắc họa không gian, thì thời gian bị hãm chậm hay triệt

tiêu Người ta có thể không gian hóa thời gian bằng cách miêu tả các sự kiện,

biến đổi theo trật tự liên tưởng, cái này bên cạnh cái kia

2.2 Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm

2.2.1 Không gian nghệ thuật

Không gian của loại truyện Truyền kỳ có yếu tố kỳ ảo, thần ma thuộc về

thế giới bên ngoài, thế giới con người, nên để có thể bước vào thế giới đó, con

người cần có một trạng thái chuyển tiếp (Truyện thần nữ ở Vân Cát) Truyền

kỳ tân phả, kể vợ Lê Thái Công, có mang quá kỳ sinh nở nhanh Cho mời

vào, đạo sĩ xõa tóc bước lên đàn Thái Công ngã ra bất tỉnh, thì vợ sinh congái

Truyện Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu: Tú Uyên- Giáng Kiều cùng con cưỡi hạc trắng bay lên trời, (Bích câu kỳ ngộ) Ranh giới ngăn cách giữa hai

thế giới không thể vượt qua được Để trở lại, một khi đã đi ra khỏi tiên cảnh,

Từ Thức về nhà, muốn quay lại tiên cảnh, thì xe đã hóa thành một con chimloan bay đi mất

Không gian nhà chùa trong một số truyện ngắn trung đại viết về conngười tự nhiên, cũng được trình bày không tách rời với không gian thế tụcbên ngoài Ngôi chùa trong cách cảm nhận của chàng trai Tú Uyên chỉ là một

Trang 30

nơi gặp gỡ của nam thanh nữ tú, (Bích Câu kỳ ngộ), Truyền kỳ tân phả Điều

thú vị là cặp Tú Uyên – Giáng Kiều khi gặp nhau trong chùa Bích Câu đãdùng các thuật ngữ nhà Phật để đưa đẩy ý tứ, trai gái

Ở Truyện đền thiêng ở cửa bể là một không gian cung đình, không gian

ở đây là một không gian rộng lớn, nhìn trông bốn mặt Không gian của mộttòa lâu đài Đây có thể nói không gian sinh hoạt của nhà vua, một không giantrung thu để vua mở yến hội Ở trong truyện này không gian chủ yếu xảy ra ởcung đình nói về những cảnh sinh hoạt của nhà vua, những cảnh họp bàn củanhà vua Từ đó còn có không gian thuyền bè dòng sông, không gian thầnmiếu, không gian thuận buồm xuôi gió Đây là không gian vũ trụ, là khônggian cuối mùa đông mưa tuyết, trời lờ mờ sáng, chim bay về tổ không giancảnh trời bể thiên nhiên, gần nửa đêm, mặt trời đã chiếu vào cửa sổ trongthuyền Không gian đêm khuya, trong tiếng gió gào, sóng cuộn, nghe văngvẳng tiếng nói, tiếng khóc, mùa xuân, khí trời ấm áp, buồm gấm gió đưa,thuyền rồng êm sóng, hai bờ sông chim oanh học nói ngang mặt nước, cò diệcbơi, vua liếc mắt trông xa, cảm thấy có chí nuốt chửng vũ trụ Bỗng nhiênmưa gió mịt mù, sóng bể nổi lên Vua hạ lệnh các chiến thuyền Trông sang

bờ bên kia bờ, cây cổ thụ rợp đất Khí u uất ngang trời, bèn cho thuyền dờigần đến xem thì ra đó là một tòa cổ miếu Hương khói nghi ngút, hương thơmngào ngạt, cáo chuột ra vào trong bụi rậm, chim sẻ ríu rít nơi lau lách, hànhkhách treo giấy tiền trên cây, người làng đậu thuyền con bên cạnh đền, tiếngsóng gió càng mạnh Khi ấy mặt trời đã lặn, bóng trăng lên cao, đêm khuyathỉnh thoảng nghe tiếng người thuyền chài hát văng vẳng ở trong tiểu cảng.Vua băn khoăn không ngủ, ngồi xem sách mãi tới gần lúc gà gáy, trong tiếngchuông

Không gian dưới nước có lầu son gác tía, thành vàng ao nông, con cháungư long cưỡi ngựa đi kiệu, qua lại dưới thành, không lúc nào ngớt bóng

Trang 31

người, khi ấy có “kình hiệu úy” (cá kình), đi tuần tiễu về đến đấy, nhặt đượcbức thư nhà vua, niêm phong cẩn thận, vội vàng đem về tâu Chính lúc ấyQuảng Lợi Vương ngồi ở điện linh đức Đây là không gian dưới nước.

Không gian cách biệt nơi âm dương, nhưng đều nhìn thấy nhau, vua xemxong thư ấy, cho quần thần xem, mọi người đều để mắt trông ra ngoài bể thấyNgạc Tổng binh đi trước, theo sau có các loại cá lớn, các loại rùa, ba ba Nhưsấm như sét tiến thẳng vào hang hải phận Giao thần Sau khi mai táng HoàngHậu, quân đội lên đường, quân đi đến đâu như gió mùa thu, vua kéo quân trở

về, gặp lúc mặt trời xế bóng chiều, lại đi qua nơi cũ, nhân tiện đóng quân ởdưới đền Đêm ấy trăng sao thưa, nước và trời một sắc, vua hồi tưởng lại việcthuồng luồng nổi sóng Đây là không gian cách biệt âm dương

Chúng ta thấy không gian nghệ thuật trong Truyện đền thiêng ở cửa bể

(Hải khẩu linh từ lục) là một không gian cung đình Ở đây có một nét chung

của mô hình nghệ thuật, là không gian vũ trụ được tạo thành bởi không giantồn tại và biểu hiện con người Trong tương quan với không con người, vũ trụ

là luôn luôn là yếu tố chủ đạo trong Truyện đền thiêng ở cửa bể Không gian

con người hoạt động trong một không gian cung đình Không gian con ngườihoạt động lúc thiên nhiên sống cuộc sống tự nhiên sôi động của nó Khônggian này có tính tương đồng, tương cảm giữa con người và vũ trụ Tóm lạiqua câu chuyện này không gian chủ đạo, là không gian sinh hoạt trong cungđình của vua chúa, và không gian xuất quân của vua, không gian cách biệt nơi

âm dương, không gian dưới nước Đây là những nét chủ đạo của không gian

trong Truyện đền thiêng ở cửa bể.

Không gian trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp, (An Ấp liệt nữ) Đây là

một không gian quý tộc, không gian sinh hoạt vợ chồng, không gian gia đình,không gian đi sứ của quan, không gian trong giấc mộng của vợ quan, là không

gian sinh hoạt trong gia đình nhà quan Ông lấy con gái nhà quan làm vợ thứ.

Trang 32

Bà vợ này nghi dung thanh nhã, cử chỉ đoan trang, thêu thùa khâu vá rất khéo,lại giỏi văn thơ, khi về nhà chồng

Truyện người liệt nữ ở An Ấp, chúng ta thấy, không gian sinh hoạt vợ

chồng của Đinh Hoàn Ngoài ra còn có không gian vũ trụ, không gian ngôiđền, không gian tiễn đưa ông đi sứ, cảnh không gian chia tay giữa ông vớitriều đình và vợ, không gian trên đường đi sứ của Đinh Hoàn, không gianhoạt động của con người Không gian vũ trụ được cảm nhận như là giới hạncuối cùng của tồn tại con người

Không gian nghệ thuật trong Truyện nữ thần ở Vân Cát (Vân Cát thần

nữ lục), là không gian gia đình của Lê Thái Công Đó là không gian sinh hoạtgia đình quý tộc, là một không gian “thường ngày đêm đốt hương phụng thờTrời phật” Ngoài ra còn có Không gian thiên giới Lê Thái Công thấy mộtngười lực sĩ, dẫn ông, đi lên được một tầng, sắc trời lờ mờ như bóng trăngnhạt Bỗng đến một nơi, thành vàng đứng sững, cửa ngọc mở toang, rồi ông điqua chín lần cửa Đây là không gian thiên giới

Đêm ấy có hương lạ thơm nức ở trong nhà Đây là không gian vũ trụ màThái Công cảm nhận thấy

Không gian sinh hoạt của Thái Công đi qua chiếc sân vắng nghe tiếngđàn thanh tao nhưng đượm vẻ u buồn Thái Công làm một cái lầu ở trongvườn hoa của Trần Công, cho con gái sang bên ấy

Thời gian sinh hoạt của Đào Sinh là từ khi vợ chết, chàng mang theo convào kinh đô, ở một mình trong phòng, bỏ cả việc học hành Vào tiết đầu thu,cảnh sắc tiêu điều, mưa rơi rả rích, dưới thềm gió thổi vào lá chuối xào xạc,cảnh vật nơi đất khách quê người nỗi niềm lại càng bi thiết

Tiên Chúa sau khi được trở xuống trần gian đã về thăm làng cũ, thăm bố

mẹ đẻ, anh, chồng, con, như vậy không gian Tiên Chúa là không gian giao du,

ai ác thì bị trừng trị, ai thiện thì được phước lành

Trang 33

Tiên Chúa làm thơ với Phùng Khắc Khoan Người ấy nghe xong, vộivàng vái chào, ngẩng đầu lên thì chẳng thấy ai nữa, tìm lùng khắp cả trongchùa, không thấy tung tích gì Đây cũng là không gian Tiên chúa giao du.

Từ đây, ta thấy trong không gian giao du ở dưới trần gian, Tiên Chúatung hoành không định, vờn mưa cưỡi mây, chơi trăng cợt gió, tất cả sônglớn, chùa tháp danh thắng ở các nơi không chỗ nào là không có bút tích lưuđề

Ngoài ra, ta còn thấy không gian du ngoạn của họ Phùng và hai ngườibạn họ Lý, họ Ngô Họ gặp nhau ngày đầu hè, sắc trời sáng sủa, ba người điqua một dải vườn thượng lâm gió mát thoảng đưa hương sen thơm nức, khôngbao lâu đã đến bờ Hồ Tây

Không gian giao du của Tiên Chúa, khi dời Hồ Tây, đến làng Sóc ởNghệ An, có một dải rừng đào, núi vòng phía nam, khe bọc hòn đá trắng Đây

là những không gian vũ trụ mà Tiên Chúa đi qua

Không gian Tiên Chúa giao du ở phố Cát thuộc Thanh Hóa Địa phương

ấy núi non xinh đẹp, cây cỏ xanh tươi, có suối trong nước chảy suốt ngàyđêm, có đường lớn đi qua nam bắc Tiên chúa thường hiển linh, người lànhđược phúc, kẻ ác bị tại vạ

Rõ ràng qua Truyện nữ thần ở Vân Cát, chúng ta thấy không gian ở đây

là không gian sinh hoạt của gia đình, quý tộc Ngoài ra, còn có không giantiên giới, không gian quay lại trần gian của tiên chúa, rồi không gian giao dulàm thơ của Tiên Chúa với Phùng Khắc Khoan Không gian sau này chủ yếu

là không gian giao du của Tiên Chúa giúp đỡ người lành, trừng trị người ác

Không gian nghệ thuật, trong truyện Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu,

(Bích Câu kỳ ngộ) Là không gian lễ hội, không gian cung đình, gia đình

Trang 34

Trước hết là không gian sinh hoạt của Tú Uyên: ngôi nhà tranh nơichàng đọc sách Ngoài ra chàng còn tìm những nơi cổ tích u nhã, đề hoa vịnhnguyệt, khi ngồi trong vườn, khi ra đình sở, khi chơi chùa, khi dạo quán Tiếp đến là không gian lễ hội nơi nhà chùa chàng Tú Uyên, thấy quangcảnh đẹp, chàng đến xem qua Xem chán chàng dừng chân dưới một gốc cây

um tùm, chàng chợt thấy có một chiếc lá bay đến, nhặt lên xem, thấy đằng sau

có một bài thơ

Từ đó, xuất hiện không gian lễ hội nhà chùa, một đoàn năm sáu ngườimặc áo đỏ từ trong chùa đi ra, nhởn nhơ ở dưới cây du, vừa trẻ vừa xinh Đây

là không gian gặp gỡ và giao lưu của Tú Uyên

Sau đó là việc chàng cầm bức tranh xem đi xem lại, trăm chiều Chàngxin mua rồi cuộn lại về văn phòng, treo lên vách, bên cạnh chỗ ngồi Mỗi khigió sáng trăng chiều, tưởng nhớ xa xăm, thì mượn tranh ấy để tiêu sầu

Không gian của Tiên nữ giúp Tú Uyên nội trợ rồi không gian Tiên nữ và

Tú Uyên gặp nhau Đó là việc Tú Uyên đi học được nửa đường quay trở về,nấp ở ngoài cửa sổ, thấy mỹ nhân ở trong tranh bước ra, ăn mặc mộc mạckhông son phấn gì, đi thẳng xuống bếp làm cơm Chàng thình lình bước vào

và gặp Tiên nữ

Không gian của các Tiên nữ ăn mừng ngày Tú Uyên gặp được GiángKiều là bày tiệc rượu đủ các hoa quả, trải chiếu giữa sân Nàng ăn vận tềchỉnh cùng chàng ngồi xem trăng Chợt trông vào chỗ vách, chàng thấy lâuđài đều như gấm, như ngọc, hạnh đào đỏ tươi, cảnh giới khác trần thế, maivàng mận tía, phong quang như ở cõi trời Một lát sau thấy Tiên Dung côngchúa và Ngụy Giáng Hương từ trên mây xuống, các tiên khác tiếp tục đến sau,

có đến hơn trăm vị Bữa tiệc thật to, nem lân chả phượng đủ các món ăn ngon

Trang 35

Tiên nữ từ sau tiệc vui hoa đuốc, phụng thờ gia tiên rất có hiếu, trôngnom việc nhà rất chăm chỉ, nâng niu khăn lược, cung phụng cấp dưỡng,không chỗ nào chàng không vừa ý.

Tiếp tục không gian sinh hoạt Tú Uyên, sau khi uống rượu đã đuổi Tiên

nữ đi, và chàng nước mắt như mưa, mấy lần chết đi sống lại, bỏ ăn bỏ ngủđến một tháng Sau Hà lang bảo chàng rằng: Đền Bạch Mã là chỗ linh ứng,sao không đến đó mà cầu xem sao? Chàng liền nghe lời Hà lang, thân hànhđến đền, soạn bài sớ văn, đốt hương khấn cầu

Không gian Tú Uyên và Tiên nữ gặp nhau trở lại là việc Tú Uyên lấy dảikhăn lụa của nàng để lại từ trước, vẫn vắt ở xà nhà xuống, định tự tử Chợtthấy một trận gió thoảng đưa hương thơm đến Ngang trước cửa sổ thấy rơixuống một chuỗi hoa Chàng vội vàng ra xem, thấy hai thị nữ dìu nàng đến.Chàng vừa thương vừa mừng ôm lấy nàng Đây là không gian gặp nhau củahai vợ chồng Tú Uyên

Như vậy không gian trần thế có mối quan hệ với không gian tiên cảnhcủa vợ chồng Tú Uyên và con trai là qua việc trong đám mây có một con hạctrắng ngậm thư bay xuống Chàng cùng con là Trân và Giáng Kiều đều cưỡihạc bay đi Đây là không gian giữa hai thế giới trần thế và tiên cảnh

Hà lang đến thăm gia đình Tú Uyên và khi đến nơi thì thấy thềm đầy rêuphủ, cây cỏ oanh kêu, hỏi người hàng xóm, đều bảo là nhà ấy cửa đóng mộtnăm

Không gian cõi tiên của người Tú tài cầu mộng thấy lai lịch Tú Uyên làcửa vân gác lộ rất là lộng lẫy, bốn mặt toàn thủy tinh, trong bức rèm treo cóđặt một tấm bình phong vân mẫu, có màn vóc thêu, hương thơm sực nứcchoáng váng cả mắt, thấy một vị đầu đội mũ vân hồng, mình mặc áo vàngsẫm, ngồi ở phía trong bình phong Bên chỗ ngồi ấy có các con gái đẹp trẻtuổi và đồng tử thi nhị, đứng chung quanh tả hữu, người cầm cái quạt che cán

Trang 36

bằng vàng, người cầm đôi giày thêu cánh chim thúy, người bưng trâm ngọc,người cầm lọng hoa, oai như một vị đế vương Đây là không gian sinh hoạt ởcõi tiên của Tú Uyên.

Rõ ràng trong truyện Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu, không gian nghệ

thuật là không gian lễ hội ở nhà chùa, không gian cung đình, không gian giađình, không gian sinh hoạt của các Tiên nữ mừng Tú Uyên và Giáng Kiềungày cưới Tiếp theo là không gian sinh hoạt của vợ chồng Tú Uyên, nơi trầnthế và không gian tiên cảnh giữa Tú Uyên và Giáng Kiều Ngoài ra còn cókhông gian Hà lang đến thăm gia đình Tú Uyên, rồi không gian cõi tiên khingười Tú tài cầu mộng

Tóm lại: trong Truyền kỳ tân phả, Đoàn Thị Điểm, đã sử dụng nhiều yếu

tố không gian trong truyện Truyền kỳ Đây là những đặc điểm của truyện

Truyền kỳ Việt Nam, như không gian phi hiện thực và không gian hiện thực.

Nếu phân loại có không gian long cung, không gian địa giới, không gian thiên

giới và đây là những nét cơ bản về không gian nghệ thuật trong truyện Truyền

kỳ Mặt khác trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, tác giả đã sử dụng

những không gian đó là để cho nhân vật ở trong tác phẩm được bộc lộ nhữngphẩm chất của mình, trong những không gian khác nhau Đó là dụng ý nghệthuật của Đoàn Thị Điểm

2.2.2 Thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật trong Trong Truyền kỳ tân phả, của Đoàn Thị Điểm

là thời gian biên niên sử và đó là nét rất đặc trưng Ỏ đây có thời gian triềuđại, thời gian sinh mệnh của một đời người, thời gian lịch sử, thời gian tiêncảnh, thời gian sinh hoạt hằng ngày, thời gian tuần hoàn Chúng ta sẽ vận

dụng vào từng truyện của Truyền kỳ tân phả, để tìm hiểu thời gian nghệ thuật.

Trang 37

Thời gian nghệ thuật trong Truyện đền thiêng ở cửa bể (Hải khẩu linh từ

lục), là thời gian lịch sử, Triều đại nhà Trần, có Nguyễn Cơ, con gái nhà quan,tiểu tự là Bích Châu

Bích Châu thường hay đối đáp thơ văn với nhà vua, ngoài ra còn giúpnhà vua, khuyên răn nhà vua trong chính sự

Thời gian trong Truyện đền thiêng ở cửa bể chính là thời gian lịch sử của

niên hiệu Long Khánh năm thứ tư (1376), trấn tướng Đỗ Tử Bình, tâu rằng bờcõi phía Nam có giặc muốn xâm lấn

Ngoài ra có thời gian sinh mệnh của Bích Châu: Đó là việc nàng đã hysinh vì nhà vua, liền nhảy xuống bể, chưa đầy một tháng, thủy quân đã kéođến cửa bể Kỳ Hoa, bỗng nhiên mưa gió mịt mù, song bể nổi lên

Bên cạnh còn có thời gian siêu nhiên tức là sau khi chết Bích Châu vẫnhiện lên báo ứng cho nhà vua tìm lại xác của bà ở bến Đỗ Phụ Đấy là thờigian siêu nhiên khi nhà vua bỗng thấy một người con gái nhan sắc rất đẹphiện lên báo mộng Sau khi vớt được xác, vua cho mai táng, làm văn tế, tiến

lễ điện rồi làm một bài thơ đề lên tường bên tả miếu Đề xong, chỉnh đốnquân đội lên đường, quân đi đến đâu như gió mùa thu bẻ gỗ mục, núi thái sơn

đè quả trứng, bắt sống tù trưởng Đây là thời gian siêu nhiên, bà đã hiện lênlinh ứng cho vua Duệ Tông; giúp quân nhà vua diệt trừ giặc

Thời gian siêu nhiên còn là việc sau khi mất, Bích Châu được vua hạ

chiếu cho lập đền thờ, sắc phong thần có hai chữ “Chế thắng”, đến nay khói

hương nghi ngút, rất có linh ứng

Thời gian nghệ thuật ở trong Truyện người liệt nữ ở An Ấp (An Ấp liệt

nữ lục), là thời gian lịch sử Hoàng triều khoảng niên hiệu Vĩnh Thịnh, có một

vị tiến sĩ trẻ tuổi, tên là Đinh Hoàn

Ông mỗi khi rảnh việc trở về, thường cùng với bà xướng họa thơ văn,hâm mộ các trung thần liệt nữ Đây là thời gian sinh hoạt hằng ngày của ông

Trang 38

Thời gian sinh hoạt của ông chấm dứt khi là đến năm Ất Mùi, triều đìnhkén sứ đi Trung Quốc, kết mối bang giao, ông đến kỳ lên đường trăm quanlàm lễ tiến hành Ngày hôm sau lên đường Cả nhà ngậm ngùi bái tiễn Thờigian ông đi sứ bà buồn, miễn cưỡng ăn uống, đau từng khúc ruột Nhưng saukhi ông đến Yên Kinh, ông mất ở Yên Kinh, Khang Hy Hoàng Đế ban lễthiếu lao, Triều đình ta truy tặng Hình bộ Tả thị lang.

Vào thời gian ông mất nhận được tin, bà buồn mê man bất tỉnh, khi tỉnhdậy muốn chết theo Một hôm phu nhân đốt đèn ngồi một mình, khi ấy là cuốithu mơ màng thấy chồng về Từ đó phu nhân lại càng có ý chán đời Đếnngày lễ tiểu tường của ông, bà đã thắt cổ chết Cả nhà thương cảm, tống tángtheo lễ Đó là thời gian sinh mệnh đời người Việc ấy tâu lên triều đình cho

lập đền thờ, có treo bảng khen trước cửa, trên khắc chữ Trinh liệt phu nhân

từ, ban cấp ruộng thờ, bốn mùa tế lễ, người làng cầu đảo đều có linh ứng Đây

là thời gian siêu nhiên, (bà chết rồi vẫn hiện lên giúp đỡ người làng)

Thời gian nghệ thuật trong Truyện nữ thần ở Vân Cát (Vân Cát thần nữ

lục), là thời gian lịch sử bắt đầu từ ở An Thái, có xã Vân Cát là một làng nổitiếng ở huyện Thiên Bản Trong làng ấy có Lê Thái Công chăm làm điềuthiện Năm bốn mươi tuổi mới có con Khoảng năm Thiên Hựu bà vợ cómang mới đẻ được con gái là Giáng Tiên

Thời gian đời người của Giáng Tiên là từ khi sinh ra đến khi lớn lên, datrắng như sáp đọng, tóc sáng như gương soi, lông mày cong như mặt trăngmới mọc, mắt long lanh như sóng mùa thu

Thời gian sinh hoạt của Giáng Tiên được tính từ khi nàng ở một mìnhtrong nhà, đọc sách tập chữ, về âm luật lại càng tinh thông Đến tuổi lấychồng, Giáng Tiên về nhà chồng, thờ cha mẹ rất có hiếu Đối với chồng thìgiữ lễ Năm sau sinh con trai, năm sau nữa sinh con gái Ngày tháng thấm

Trang 39

thoắt đã ba năm Ngày mồng ba tháng ba, Tiên nữ tự nhiên không có bệnh gìmất, xuân xanh mới có hai mốt tuổi

Thời gian siêu nhiên là từ khi Giáng Tiên về trời, Thượng Đế thươnglòng phong làm “Liễu Hạnh công chúa” và cho trở xuống trần gian, thăm nhà

cũ, thăm bố mẹ, anh trai, chồng con Từ đó tung tích Tiên nữ không nhất địnhđâu cả Tiên chúa thường hiển linh, người lành được phúc, kẻ ác bị tai vạ.Triều đình cho là thiêng liêng lạ lùng, lập tức hạ lệnh cho phép sửa sang làm

lại đền mới ở trong núi phố Cát sắc phong cho thần Mã Hoàng công chúa

nhân dân nơi ấy cầu phúc đều thấy báo ứng ngay

Về sau, quân nhà vua đi tiễu trừ giặc, Tiên chúa có công giúp sức, Triều

đình gia tặng là Chế Thắng Hòa diệu Đại Vương, được ghi vào từ điển, cho

đến nay mọi nhà khắc tượng, các nơi làm đền, thờ phụng tôn nghiêm kínhcẩn, khói hương nghi ngút Đây là thời gian siêu nhiên của Tiên chúa sau khichết được thờ phụng tôn nghiêm

Qua Truyện nữ thần ở Vân Cát, chúng ta thấy thời gian trong truyện này

là thời gian lịch sử, thời gian đời người, thời gian sinh hoạt hằng ngày, thờigian siêu nhiên

Ở truyện Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu, thời gian nghệ thuật trong

truyện này là thời gian lịch sử về đời Hồng Đức có một người học trò họTrần, tên Uyên, tự là Vưu Ban, vốn con nhà phúc hậu, trọng thi lễ, Cha làmquan huyện, có âm đức mãi về già mới sinh ra Uyên

Thời gian sinh hoạt của Tú Uyên được một năm đã thích sách vở, lên sáutuổi đã hiểu luật làm thơ, lên mười tuổi đã theo học Lương Tiên Sinh nămmười lăm tuổi cha mẹ mất

Thời gian lịch sử còn là năm Giáp Thìn (1484), có vị sư ni họ Ngô ởchùa Ngọc Hồ mở hội

Trang 40

Tú Uyên trong lễ hội nhà chùa là cùng bạn đi đến đám hội và đã gặp mĩnhân, hai người nói chuyện đến chiều thì nàng đã biến mất không thấy đâunữa Tú Uyên đêm ấy đốt đèn ngồi một mình, suốt đêm không ngủ được.Đêm hôm ấy vào cuối canh ba, chàng mộng thấy một ông già cầm cái hốtvàng, gọi rằng đến bến Đông Tân cho chàng một tin rất tốt Hôm sau chàngđến bến Đông Tân và mua được bức tranh tố nữ Một hôm chàng đi học vềnhà thấy có thức ăn ngon vật lạ Hôm khác, chàng giả đi học và quay về, gặp

mĩ nhân và hai người đã kết duyên vợ chồng

Vợ chàng tên là Hà Giáng Kiều, trước nhân gặp gỡ, nay phải xuống trầngian cũng là duyên cũ, cùng chàng kết nghĩa

Nàng từ sau tiệc vui hoa đuốc, phụng thờ gia tiên rất có hiếu, trông nomviệc nhà rất chăm chỉ, nâng niu khăn lược, cung phụng cấp dưỡng, không chỗnào chàng không vừa ý

Thời gian sinh hoạt của vợ chồng Tú Uyên là thấm thoắt đã ba năm, tínhchàng hay uống rượu, thường hay ép nàng cùng uống, nàng khuyên răn màkhông được Trong cơn say, chàng đã đánh nàng và đuổi nàng đi Sau đóchàng định tự vẫn Giáng Kiều ở với Tú Uyên được một năm thì sinh hạ đượcmột con trai

Thời gian siêu nhiên của vợ chồng Tú Uyên là một hôm mây móc bệnquấn ngay giữa sân nhà, trong đám mây ấy có một con hạc trắng ngậm thưbay xuống, chàng cùng con là Trân và Giáng Kiều đến cưỡi hạc bay đi, khôngbiết đi đâu Sau khi Tú Uyên bỏ nhà cũ, trải qua bao năm tháng, vườn hoatường liễu cảnh vật y nguyên Một hôm có con chim to từ phương tây nambay lại thả xuống một tờ giấy đỏ Người trong phường càng cho là lạ, lập đềnquanh năm hương lửa phụng thờ Nay chùa An Quốc chính là di tích còn lại Thời gian lịch sử bắt đầu từ niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ nhất (1735)

Có người Tú tài ở Nam Châu vì đi thi đem cầu mộng Khi tỉnh dậy hỏi các sư

Ngày đăng: 19/12/2013, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đào Duy Anh (2008), Hán Việt từ điển giản yếu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt từ điển giản yếu
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
[2]. Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường (1995), Từ điển văn học Việt Nam, quyển I, (Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ IX), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn họcViệt Nam
Tác giả: Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
[3]. Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường (1997), Từ điển văn học Việt Nam, (Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn họcViệt Nam
Tác giả: Lại Nguyên Ân (chủ biên), Bùi Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
[4]. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2004
[5]. Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabiel Garciá Márquez, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabiel GarciáMárquez
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[6]. Anh Chi (2005), “Vũ Trinh và bước phát phát triển mới của truyện truyền kỳ Việt Nam”, Văn nghệ, (32), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trinh và bước phát phát triển mới của truyệntruyền kỳ Việt Nam”, "Văn nghệ
Tác giả: Anh Chi
Năm: 2005
[7]. Ngô Lập Chi, Trần Văn Giáp, Hoàng Hữu Yên (phiên dịch và chú thích, hiệu đính và giới thiệu) (1962) , Truyền kỳ tân phả, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ tân phả
Nhà XB: Nxb Hà Nội
[8]. Nguyễn Huệ Chi (1999), Truyền kỳ Việt Nam, quyển II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kỳ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[9]. Nguyễn Đổng Chi (sưu tầm, khảo dị) (2000), Sự tích công chúa Liễu Hạnh, trong sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích công chúa LiễuHạnh," trong sách "Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (sưu tầm, khảo dị)
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2000
[10]. Hà Như Chi (2000), Thi văn giảng luận từ khởi thủy đến cuối thế kỷ XIX, tái bản, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi văn giảng luận từ khởi thủy đến cuối thế kỷXIX
Tác giả: Hà Như Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
[11]. Lê Tiến Dũng (2003), Giáo trình lý luận văn học, Nxb, Đại học Quốc gia, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 2003
[12]. Đinh Trí Dũng (2006), “Cái kỳ ảo trong tác phẩm Yêu ngôn của Nguyễn Tuân”, Tạp chí Khoa học, 34 (3B), tr. 5- 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái kỳ ảo trong tác phẩm "Yêu ngôn" của NguyễnTuân”, Tạp chí "Khoa học
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Năm: 2006
[13]. Đinh Trí Dũng (2009), “Màu sắc Liêu Trai trong tác phẩm Yêu ngôn của Nguyễn Tuân (nhìn từ góc độ ngôn từ), Ngữ học toàn quốc 2009, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội, tr. 495- 498 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Màu sắc "Liêu Trai" trong tác phẩm "Yêu ngôn"của Nguyễn Tuân (nhìn từ góc độ ngôn từ)," Ngữ học toàn quốc 2009
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Năm: 2009
[14]. Mai Thị Ngọc Chúc, Đoàn Thị Điểm (1705- 1748), trong sách Từ điển văn hóa Việt Nam-Nhân vật chí (1993), Nxb Văn hóa- thông tin- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnvăn hóa Việt Nam-Nhân vật chí
Tác giả: Mai Thị Ngọc Chúc, Đoàn Thị Điểm (1705- 1748), trong sách Từ điển văn hóa Việt Nam-Nhân vật chí
Nhà XB: Nxb Văn hóa- thông tin- Hà Nội
Năm: 1993
[15]. Trần xuân Đề (1991), Về những bộ tiểu thuyết cổ điển hay nhất của Trung Quốc, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những bộ tiểu thuyết cổ điển hay nhất củaTrung Quốc
Tác giả: Trần xuân Đề
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1991
[16]. Nguyễn Văn Đường (chủ biên), (2007), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 (nâng cao), tập 2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10(nâng cao)
Tác giả: Nguyễn Văn Đường (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
[17]. Trần Văn Giáp (chủ biên), Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng, Đỗ Thiện (1997), Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược truyện các tác gia Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giáp (chủ biên), Tạ Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Tường Phượng, Đỗ Thiện
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
[18]. Nguyễn Thị Bích Hải (2007), “Truyền thống “hiếu kỳ” trong tiểu thuyết Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, (6), tr. 77- 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống “hiếu kỳ” trong tiểuthuyết Trung Quốc”, Tạp chí "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Năm: 2007
[19]. Nguyễn Thị Bích Hải (2009), Đến với tác phẩm văn chương phương Đông (Trung Quốc- Nhật Bản- Ấn Độ), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với tác phẩm văn chương phươngĐông (Trung Quốc- Nhật Bản- Ấn Độ
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
[20]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w