Lứa tuổi dưới 5 tuổi là thời kỳ phát triển đặc biệt của trẻ với các nhucầu dinh dưỡng và đặc điểm cơ thể khác hẳn với trẻ ngoài lứa tuổi trêncũng như người lớn.. Một sốnghiên cứu cho thấ
Trang 1Dinh dưỡng là một chức năng quan trọng trong đời sống hàng ngày củacon người, nó không chỉ giúp cơ thể sinh trưởng, tồn tại và phát triển
mà còn ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sức khoẻ và bệnh tật củacon người [23] Thiếu dinh dưỡng prôtêin - năng lượng cơ thể phát triểnchậm về thể chất và trí tuệ, thiếu Vitamin A sẽ bị bệnh khô mắt, thiếuIốt sinh bệnh bướu cổ Còn rất nhiều yếu tố dinh dưỡng khác có ý nghĩaquan trọng đối với sức khỏe của cá nhân và cộng đồng nhất là ở cácnước đang phát triển trong đó có Việt Nam [18] Đặc biệt yếu tố dinhdưỡng có vai trò hết sức to lớn đối với nuôi dưỡng trẻ em ở tuổi đanglớn
Tổ chức Y tế Thế giới (1990) ước tính có khoảng 500 triệu trẻ em bịthiếu dinh dưỡng trên phạm vi toàn cầu, khoảng 150 triệu trẻ em dưới 5tuổi bị SDD thể nhẹ cân và hơn 20 triệu trẻ em bị SDD nặng [59] Theokết quả điều tra quốc gia từ năm 1980 - 1992 của 79 nước đang pháttriển cho thấy tỉ lệ trẻ em SDD nhẹ cân là 35,8%, tỉ lệ trẻ em còi cọc là42,7% và tỉ lệ trẻ em gầy còm là 9,2% Trong đó Châu Á có tỉ lệ SDD
Trang 2cao nhất so với các châu lục khác: 42% trẻ SDD thể nhẹ cân, 47,1% trẻ
em còi cọc và 10,8% trẻ em gầy còm [51]
Lứa tuổi dưới 5 tuổi là thời kỳ phát triển đặc biệt của trẻ với các nhucầu dinh dưỡng và đặc điểm cơ thể khác hẳn với trẻ ngoài lứa tuổi trêncũng như người lớn Đây là lứa tuổi phát triển rất nhanh, đồng thời tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ phụ thuộc rất lớn vào sự nuôi dưỡng và chămsóc trẻ [37], [50] Tình trạng SDD ở lứa tuổi này để lại hậu quả nghiêmtrọng đến sự phát triển thể chất và tinh thần, vận động của trẻ Một sốnghiên cứu cho thấy sự phát triển của não trẻ em mạnh nhất vào 3 thángcuối của thời kỳ bào thai và đạt được 75% trọng lượng não so với trẻhai tuổi Do đó, SDD sớm trong thời kỳ bào thai và trong những nămđầu của cuộc đời sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển cơ thể và trí tuệ.Trẻ SDD dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, diễn biến thường nặng và dễdẫn tới tử vong Báo cáo của tổ chức lương thực thế giới FAO cho biết,hiện nay trung bình trên thế giới cứ một giờ đồng hồ có khoảng 800 trẻ
em chết vì SDD, theo tài liệu mới đây của WHO, qua phân tích 10,4triệu trường hợp trẻ em tử vong dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển
có đến 49% (6 triệu trẻ em) có liên quan đến SDD [10] Do đó, tỉ lệSDD trẻ em dưới 5 tuổi hiện nay được coi là một trong những tiêu chíquan trọng bậc nhất phản ánh về mặt chất lượng cuộc sống của xã hội,nhằm đánh giá tiềm năng phát triển của các nước nghèo cũng như cácquốc gia đang phát triển [22], [19]
Ở nước ta, thiếu dinh dưỡng trẻ em vẫn còn tồn tại dưới nhiều dạngnhư: thiếu prôtêin - năng lượng, thiếu Vitamin A, thiếu I ốt và thiếumáu do thiếu sắt SDD thường gặp ở cộng đồng được chia làm ba thể là:thể nhẹ cân, được đánh giá dựa vào chỉ tiêu cân nặng theo tuổi Quá
Trang 3trình chậm phát triển chiều cao ở trẻ em dẫn đến chiều cao thấp hơnbình thường được gọi là SDD thấp còi và căn cứ vào chỉ tiêu cân nặngtheo chiều cao để xác định SDD thể gầy còm [9]
Theo kết quả điều tra của chương trình quốc gia phòng chống SDD, gầnđây vào năm 2000 thì tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 33,8%, thể thấp còi là36,5%, thể gầy còm là 8,6% [29] Như vậy tỷ lệ SDD vẫn còn ở mứccao
Có nhiều yếu tố khác nhau liên quan đến tình trạng SDD như: Tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ, cân nặng sơ sinh, kiến thức và thực hành nuôicon của các bà mẹ…[43], [47] Bên cạnh đó, sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệSDD ở nông thôn và thành thị là kết quả của sự phân hoá xã hội khôngtránh khỏi trong thời kỳ chuyển tiếp của nước ta hiện nay [8] Vì vậyđánh giá đúng mức tỷ lệ SDD và các yếu tố liên quan ở từng vùng khácnhau của huyện Diễn Châu là vấn đề cần thiết và cấp bách, từ đó tìm racác giải pháp chiến lược phù hợp áp dụng cụ thể cho từng khu vựcnhằm từng bước hạ thấp tỷ lệ SDD trẻ em góp phần quan trọng cho sựnghiệp chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ em huyện Diễn Châu Xuấtphát từ tình hình trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng SDD
và ảnh hưởng của nó lên một số chỉ tiêu hình thái sinh lý ở trẻ em dưới
5 tuổi – huyện Diễn Châu – Nghệ An”
II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1 Nghiên cứu sự phát triển các chỉ tiêu hình thái
2 Đánh giá thực trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi
3 Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến tình trạng SDD của trẻ em ở địaphương
Trang 44 Bước đầu đề xuất một số biện pháp cần thiết về chống SDD của trẻ em
ở địa phương
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1 Điều kiện môi trường tự nhiên và xã hội của địa phương nghiên cứu(đặc điểm địa lý, khí hậu, đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân địaphương)
2 Các chỉ số hình thái của trẻ: cân nặng, chiều cao các thời kỳ, độ tuổikhác nhau
3 Các chỉ số sinh lý của trẻ: tấn số tim mạch, huyết áp, hô hấp
4 Phân loại về tình trạng SDD
5 Nguyên nhân của tình trạng SDD
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Sự sinh trưởng và phát triển của trẻ
Sinh trưởng là sự tăng kích thước và khối lượng của sinh vật đang ởgiai đoạn lớn lên và phát triển là sự biến đổi về hình thái và cả chứcnăng sinh lý theo từng giai đoạn
Sinh trưởng và phát triển là quá trình hoạt động vô cùng quan trọng củađời sống cá thể cũng như quần thể Nó diễn ra theo những quy luật nhấtđịnh Tỷ lệ các phần của cơ thể theo lứa tuổi được thay đổi rất khácnhau Chiều cao của trẻ sơ sinh bằng khoảng 1/4 chiều cao cơ thể Ởngười lớn chiều cao chỉ bằng khoảng 1/8 chiều cao cơ thể Ngược lạichân ở trẻ sơ sinh rất ngắn chỉ khoảng 1/3 chiều dài cơ thể, còn ở ngườitrưởng thành thường dài hơn 1/2 chiều dài cơ thể Tỉ lệ khác nhau củacác phần cơ thể chứng tỏ sự sinh trưởng và phát triển không đồng đềutuỳ thuộc vào các giai đoạn và độ tuổi Người ta biết rằng trọng lượngcủa cơ thể trưởng thành bằng khoảng 20 lần trọng lượng của trẻ sơ sinh.Trọng lượng tim, thận và một số cơ quan khác được tăng lên và gần tỷ
lệ thuận với trọng lượng cơ thể, hoặc kém hơn một ít, ví dụ trọng lượngtim được tăng lên khoảng 15 lần Trọng lượng cơ được phát triển mạnhhơn cả, ở người trưởng thành trọng lượng cơ lớn gấp 35÷40 lần sơ vớitrẻ sơ sinh Một số cơ quan lại phát triển rất mạnh trong giai đoạn phôi,sau khi sinh trọng lượng của chúng chỉ tăng 3÷4 lần, như não bộ của trẻ
sơ sinh nặng khoảng 390g, còn ở người trưởng thành trung bình chỉnặng 1450g Trọng lượng não bộ tăng sau khi sinh chủ yếu xẩy ra trongmột số năm đầu của đời sống (1÷6 tuổi) Sau 10 tuổi trọng lượng của
Trang 6não tăng không đáng kể Cũng có nhiều cơ quan không hề tăng lên saukhi sinh, như cơ quan thính giác và các ống bán khuyên năng trongxương thái dương Tuyến sinh dục được tăng lên trong năm đầu, sau đótrong vòng 7÷9 tuổi chúng người tăng trưởng và đến tuổi 10 mới tiếptục tăng lên, chuẩn bị cho giai đoạn dậy thì.
1.1.2 Các thời kỳ của lứa tuổi
Cấu tạo và hoạt động của các cơ quan được thay đổi theo sự sinh trưởng
và phát triển cơ thể, những nhu cầu của cơ thể cũng được thay đổi vàlàm thay đổi cơ sở tâm lý, thái độ của trẻ em Từ đó sự tổ chức điềukiện sống, sự giáo dục và dạy dỗ trẻ em, sự nuôi dưỡng trẻ em phải thayđổi theo Với mục đích xác định những đặc tính quan trọng đặc trưngcho những giai đoạn tiếp diễn của sự sinh trưởng và phát triển ở trẻ em,người ta đã cố gắng chia quá trình phát triển đó thành một số thời kỳ
Cơ sở để phân chia các thời kỳ của trẻ em là những dấu hiệu phát triểnkhác nhau như sự mọc răng, các đặc điểm sinh trưởng, thời kỳ cốt hóacác phần khác nhau của bộ xương, các đặc tính phát triển tâm lý…Trong thực tế người ta phân chia các thời kỳ của trẻ em dựa vào nhữngđặc điểm của sự giáo dục và chăm sóc trẻ Người ta chia ra thành cácthời kỳ như sau: thời kỳ phát triển trong bụng mẹ, thời kỳ trẻ sơ sinh(mới sinh đến 2 tuần đầu), tuổi còn bú đến 1 năm tuổi, tuổi nhà trẻ nhỏ(1 đến 2 tuổi), tuổi mẫu giáo bé (2 đến 3 tuổi), tuổi mẫu giáo nhỡ (3 đến
4 tuổi), tuổi mẫu giáo lớn (4 đến 5 tuổi), tuổi đi học (6 tuổi trở lên)
1.1.3 Các chỉ số thể lực của trẻ em
Người ta có thể căn cứ vào trọng lượng, chiều cao, vòng ngực và cácchỉ tiêu khác để xác định sự phát triển thể lực của trẻ em Ngay cả
Trang 7những trẻ em khỏe mạnh phát triển chiều dài (cao) và sự tăng trọnglượng cũng không đều nhau ở lứa tuổi này trẻ em phát triển nhanh, ởthời kỳ khác lại phát triển chậm hơn Trẻ mới sinh có chiều cao trungbình là 50cm và cuối năm đầu trẻ cao 75cm nghĩa là tăng lên 50%.Trọng lượng trẻ mới sinh trung bình là 3200g, sau 1 năm trẻ nặng từ9,5÷10kg Năm thứ 2 chiều cao của trẻ tăng 10÷15cm và trọng lượngtăng thêm 2,5÷3kg, các năm tiếp theo cho đến tuổi dậy thì, mỗi năm trẻtăng thêm 1,5÷2kg và cao 4÷5cm Các chỉ số hình thái, thể lực thay đổinhiều nhất trong năm đầu Nó bị giảm sút nhiều trong điều kiện nuôidưỡng có nhiều khó khăn như thiếu không khí trong lành, thiếu chấtdinh dưỡng trong thức ăn, thiếu ngủ và ít vận động, chăm sóc thiếukhoa học …
Bất cứ một bệnh truyền nhiễm hay không truyền nhiễm mà trẻ em mắcphải đặc biệt là bệnh nặng đều làm cho cơ thể trẻ bị yếu, ảnh hưởng đến
sự phát triển bình thường của trẻ Sự theo dõi thường xuyên các chỉ tiêuphát triển của trẻ cho phép ta phát hiện kịp thời sự phát triển khôngthuận lợi của cơ thể trẻ em Để xác định các trị số phát triển thể lực củatrẻ em người ta dùng phương pháp cân đo định kỳ Ngay sau khi trẻ mớisinh ra và theo từng thời kỳ của lứa tuổi ta cần tiến hành đo chiều cao,trọng lượng và vòng ngực của trẻ em Trên cơ sở các số liệu đo được ởmột số đông trẻ em trong cùng một lúa tuổi, cùng dưới tính người ta cóthể xây dựng nên các chỉ số trung bình ( chỉ số chuẩn) của sự phát triểnthể lực của trẻ em trong một thành phố, một vùng hay cả nước Các chỉ
số này được sử dụng để nghiên cứu đối chiếu với từng cá thể để pháthiện các triệu chứng không bình thường như SDD, chậm lớn, còi cọchoặc dùng vào việc may quần áo, đóng bàn ghế và các dụng cụ sinhhoạt thông thường
Trang 8Để đánh giá sự phát triển thể lực của từng đứa trẻ thì cần phải chú ý đếntrạng thái màu sắc của da, niêm mạc, mức độ bụi bẫm, triệu chứng hamhoặc lười ăn, sự phát triển trương lực cơ, tư thế của đứa trẻ…
Các cô nuôi dạy trẻ cần có những kỹ năng và kiến thức cần thiết để theodõi chăm sóc cho sức khỏe và sự phát triển bình thường của trẻ cần nắmvững tâm trạng, trạng thái ăn ngủ, nhiệt độ cơ thể hàng ngày của trẻ.Phải lập biểu đồ hàng ngày để theo dõi sự tăng trưởng và phát triển củatrẻ, sử dụng các kết quả theo dõi và đánh giá trạng thái cơ thể trẻ emvào việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tạo điều kiện tốt nhất cho sự pháttriển thể lực, thể chất và tinh thần của trẻ
1.2 Dinh dưỡng và sức khoẻ
Dinh dưỡng hợp lý là nền tảng của sức khỏe Trong cuộc đời con ngườidinh dưỡng từ trong bụng mẹ và những năm tháng đầu tiên của cuộcsống có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, trí tuệ và bệnh tật sau này.Theo báo cáo của UNICEF hiện nay khoảng 150 triệu trẻ em ở cácnước đang phát triển bị SDD Vấn đề chính sách dinh dưỡng, sức khỏedinh dưỡng ở trẻ em cần phải được quan tâm đặc biệt của Chính phủcác nước vì trẻ em là tiền đồ của Quốc gia
Thách thức về dinh dưỡng trong bối cảnh mới đòi hỏi những nỗ lực caotrong hành động hướng tới dinh dưỡng hợp lý và tăng cường sức khỏecho cộng đồng Tất cả mọi người ai cũng đã thấy tầm quan trọng củavấn đề ăn uống Nhu cầu ăn uống là một trong các nhu cầu quan trọngnhất của mọi cơ thể sống, kể cả con người Cơ thể con người cần sửdụng thức ăn để duy trì sự sống, để tăng trưởng và thực hiện các chứcphận bình thường của các cơ quan, các mô trong cơ thể, cũng như để
Trang 9tạo ra năng lượng cho lao động và các hoạt động khác của con người.Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: dinh dưỡng không hợp lý,không đảm bảo vệ sinh thì cơ thể con người phát triển kém, không khoẻmạnh và dễ mắc phải bệnh tật [14].
1.3 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em hiện nay
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Mặc dù có những tiến bộ đáng kể trong công tác chăm sóc sức khỏecộng đồng nhưng nhìn chung tỷ lệ SDD protein-năng lượng trên thếgiới còn cao, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Thống kê thu đượcqua các cuộc điều tra quốc gia từ năm 1980÷1992 của 79 nước đangphát triển cho thấy tỷ lệ SDD trẻ em trung bình là 35,8%, tỷ lệ SDD thểcòi cọc là 42%, và thể gầy còm là 9,2% [36]
Theo FAO (2002) hiện nay trên thế giới hiện có trên 840 triệu ngườikhông đủ ăn [44]
Theo UNICEF (2002), do đói nghèo và thiếu sự tiếp cận với những dịch
vụ xã hội cơ bản, hàng năm hơn 10 triệu trẻ em dưới 5 tuổi - trong đómột nửa trong giai đoạn chưa sinh đã chết vì SDD và các bệnh có thểphòng chống được Cũng hàng năm những biến chứng liên quan đếnthiếu máu, SDD bà mẹ và trẻ sơ sinh đã dẫn tới tử vong ở nửa triệu phụ
nữ và trẻ vị thành niên, đồng thời số người khác bị di chứng thương tổn,mất năng lực còn nhiều hơn thế; 150 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD;hơn 2 tỷ người thiếu sự tiếp cận với những điều kiện vệ sinh đầy đủ
“Báo cáo lần thứ 4 về tình hình dinh dưỡng toàn cầu” năm 2000 củaACC/SCN/IFPRI cho thấy: hàng năm có khoảng 30 triệu trẻ em được
Trang 10sinh ra ở các nước đang phát triển có lệch lạc về tăng trưởng vì hậu quảcủa SDD bào thai Trẻ đẻ đủ tháng có cân nặng sơ sinh thấp rất phổbiến và trầm trọng ở Miền Nam Trung Á (khoảng 21%), Trung Phi(15%), Tây Phi (11%) Khoảng 182 triệu trẻ em trước tuổi đi học hoặc33% trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị SDD thể thấp còi.Ước lượng vào năm 2005 sẽ còn khoảng 29% trẻ bị suy dinh thể nàytrên toàn cầu nhưng con số thực sẽ là rất cao [35]
Con số 33,0% trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi (chỉ số chiềucao/tuổi thấp) phản ánh hậu quả của tình trạng thiếu ăn và sức khoẻkém kéo dài [48], [52]
Trang 111.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, với thực trạng tình hình dinh dưỡng hiện nay còn rất nhiềuvấn đề đáng quan tâm: Trên 1 triệu hộ gia đình còn đói ăn; 20% phụ nữ
bị thiếu nhiệt lượng trường diễn (chỉ số BMI < 18,5), đặc biệt ở những
bà mẹ đang nuôi con tỷ lệ này còn cao hơn (24,8%); 12,4% trẻ em và53,8% bà mẹ đang cho con bú bị thiếu Vitamin A cận lâm sàng; 60%trẻ em dưới 2 tuổi, 53% phụ nữ có thai và 40% phụ nữ không có thai bịthiếu máu do thiếu sắt Hơn 1/4 trẻ em tuổi học đường bị bướu cổ ở cácmức độ khác nhau [28], [13], [37]
Qua các cuộc điều tra và tổng điều tra dinh dưỡng, tỷ lệ SDD ở trẻ dưới
5 tuổi theo 3 chỉ số Cân nặng/Tuổi, Chiều cao/Tuổi, Cân nặng/Chiềucao diễn biến như sau [7], [11], [12], [54], [55]:
Bảng 2.1.1 Tỷ lệ trẻ bị SDD theo một số nghiên cứu
Trang 12Năm điều tra Tỷ lệ SDD (%)
mỡ, hoa quả chín hơn trước đây [13] Kết qua nghiên cứu của ĐàoNgọc Diễn, Nguyễn Công Khanh và cộng sự cho thấy tỷ lệ SDD khácnhau giữa đồng bằng (31,1%) và miền núi (43,4%), giữa thành thị(32,4%) và nông thôn (40,9%) [1] Tỷ lệ này cũng khác nhau giữa cácvùng sinh thái Điều tra của Viện DDQG năm 2003 cho thấy nhữngvùng có tỷ lệ SDD cao là Tây Nguyên, vùng núi phía bắc, bắc trung bộ.Nhìn chung nam bộ tỷ lệ SDD trẻ em thấp hơn các vùng khác[22]
Trang 13Như vậy, SDD trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới, trong khu vực ĐôngNam Á cũng như ở Việt Nam hiện tại vẫn còn đang ở mức độ cao và rấtcao.
1.4 Cơ sở lý luận của phương pháp đánh giá SDD
Sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng làphương pháp làm phổ thông và được áp dụng rộng rãi Các số đo nhântrắc của cơ thể cung cấp sơ lược sự phát triển hay kích thước cơ thể đạtđược, hoặc là sự thay đổi của các kích thước này qua thời gian Chúngđược dùng để mô tả TTDD của cá thể hay cộng đồng, phản ánh kết quảcuối cùng của việc cung cấp thực phẩm ăn vào, hấp thu, chuyển hoá cácchất dinh dưỡng của cơ thể [18], [19]
Sự lựa chọn các số đo nhân trắc tuỳ thuộc vào mục đích của nghiêncứu, cỡ mẫu, tuổi… Mặc dù có nhiều số đo nhân trắc khác nhau nhưngtheo đề nghị của WHO thì để đánh giá TTDD nên dùng các số đo cânnặng và chiều cao (chiều dài nằm) [17]
Trang 14Khi đánh giá các chỉ số nhân trắc, từng số đo riêng lẻ về chiều cao haycân nặng sẽ không nói lên được điều gì, chúng chỉ có ý nghĩa khi kếthợp với tuổi, giới hoặc kết hợp giữa các số đo của đứa trẻ với nhau vàphải được so sánh với giá trị của quần thể tham khảo WHO đã khuyếncáo có 3 chỉ số nên dùng là cân nặng theo tuổi, cân nặng theo chiều cao
và chiều cao theo tuổi [17], [6]
Cân nặng theo tuổi (W/A) là chỉ số đánh giá TTDD được dùng sớmnhất và phổ biến nhất Chỉ số này được dùng để đánh giá TTDD của cácthể hay cộng đồng Cân nặng theo tuổi thấp là sự kết hợp giữa cân nặngtheo tuổi và cân nặng theo chiều cao đều thấp, là hậu quả của thiếu dinhdưỡng hiện tại hay đã từ lâu [7], [6]
Chiều cao theo tuổi (H/A) phản ánh tiền sử dinh dưỡng Chiều cao theotuổi thấp phản ánh ảnh hưởng của thiếu dinh dưỡng kéo dài và bệnhnhiễm khuẩn với các điều kiện vệ sinh môi trường thấp và SDD sớmlàm cho đứa trẻ bị còi (Stunting)
Cân nặng theo chiều cao (W/H) là chỉ số đánh giá TTDD hiện tại Chỉ
số này phản ánh SDD cấp hay còn gọi là “Wasting” Cân nặng theochiều cao thấp phản ánh sự không tăng cân hay giảm cân nếu so sánhvới trẻ có cùng chiều cao, chính là phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễmkhuẩn là hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này Tỉ lệ CN/CCthấp thường xuất hiện nhiều ở trẻ từ 12- 23 tháng, là giai đoạn trẻ hay bịbệnh và thiếu ăn do chăm sóc Chỉ số này không cần biết tuổi của trẻ vàcũng không phụ thuộc vào yếu tố dân tộc vì trẻ dưới 5 tuổi có thể pháttriển như nhau trên thế giới
Trang 151.5 Phân loại tình trạng dinh dưỡng
Để phân loại TTDD, từng số đo riêng lẻ về chiều cao hay cân nặng sẽkhông nói lên được điều gì, chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với tuổi,giới hoặc kết hợp giữa các số đo của đứa trẻ với nhau và phải được sosánh với giá trị của quần thể tham chiếu [7], [48], [57], [63], [65]
1.5.1 Cách phân loại dựa vào phần trăm so với
trung vị
Phân loại theo Gomez (1956): Đây là phương pháp phân loại được dùngsớm nhất, nó dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi và sử dụng quần thểtham khảo Harvard
Bảng 1.1.1 Phân loại SDD theo Gomez
% cân nặng mong đợi
theo tuổi Phân loại dinh dưỡng Độ SDD
Trang 16Phân loại theo Wellcome (1970): Cách phân loại này cũng sử dụng chỉ
số cân nặng/tuổi so với trung vị của quần thể Harvard, nhưng chú ýthêm trẻ có bị phù hay không để hỗ trợ thêm trong sự phân biệt giữaMarasmus và Kwashiorkor
Bảng 1.1.2 Phân loại SDD theo Wellcome
% Cân nặng
mong đợi theo tuổi
Phù
<60% Marasmus- Kwashiorkor Marasmus
Phân loại theo Waterlow (1972): Cách phân loại này sử dụng cả chiềucao/tuổi và cân nặng/tuổi so với trung vị của quần thể tham chiếuHarvard
Bảng 1.1.3 Phân loại SDD theo Waterlow
Trang 17Cách phân loại này giúp cho phân biệt được đứa trẻ nào là gày còm(wasting), là thấp còi (stunting) hoặc phối hợp cả 2 thể vừa còm vừacòi
1.5.2 Cách phân loại dựa vào độ lệch chuẩn (hoặc
Z-score) với quần thể tham khảo
Tổ chức Y tế thế giới đề nghị lấy điểm ngưỡng ở dưới 2 độ lệch chuẩn(< -2 SD) so với quần thể tham chiếu NCHS để đánh giá là trẻ bị SDD.Dưới 3 độ lệch chuẩn (<-3 SD) và dưới 4 độ lệch chuẩn (<- 4 SD) đượccoi là bị SDD nặng và rất nặng, cụ thể:
Trang 18Nhẹ cân ( Underweight) < 10 10 -19 20 - 29 >= 30
Thấp còi ( Stunting) < 20 20 -29 30 - 39 >= 40
Gầy còm ( Wasting) < 5 5 -9 10 - 14 >= 15
1.5.4 Nguyên nhân dẫn đến SDD
Theo nghiên cứu của Từ Giấy và Hà Huy Khôi SDD ở Việt Nam 1/3 là
do thiếu ăn, 1/3 là do bệnh tật và 1/3 là do các bà mẹ thiếu hiểu biết vềchăm sóc và nuôi dưỡng con [23]
Hiện nay, theo UNICEF, nguyên nhân SDD có thể được chia thành 3mức độ: trực tiếp, tiềm tàng và cơ bản [65]
Nguyên
nhân trực
Thiếu dịch vụ
y tế và vệ sinh môi trường
Thiếu an ninh LTTP
hộ gia đình
Nguyên
nhân cơ bản
Các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội
Thượng tầng kiến trúc về chính trị,tư tưởng
Cơ cấu kinh tếNguồn tiềm năng
Trang 19Sơ đồ 1.1 Mô hình nguyên nhân SDD của UNICEF (1997)
1.5.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh
dưỡng
1.5.5.1 Nuôi con bằng sữa mẹ
Sữa mẹ là nguồn thức ăn hết sức quan trọng ở giai đoạn này, [56] Khinghiên cứu 757 trẻ từ 3 ÷ 6 tuổi ở Hà Nội, Lê Thị Khánh Hoà thấy tỷ lệtrẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 59,2% và thời gian caisữa trung bình của trẻ ở đây là 13,5 tháng [2]
Trên thế giới, ở những nước đang phát triển hiện nay, đặc biệt là vùngnông thôn, nơi mà tồn tại truyền thống nuôi con bằng sữa mẹ Việc bảo
vệ các bà mẹ tránh các áp lực khiến họ không nuôi con bằng sữa mẹ vàgiúp họ tránh khỏi các hình thức có thể làm tổn hại đến nuôi con bằngsữa mẹ là rất cần thiết Trong một số cộng đồng khác, tỷ lệ nuôi conbằng sữa mẹ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ đã giảm xuống, các trởngại cho việc nuôi con bằng sữa mẹ vẫn tồn tại [5] Theo số liệu củaDHSS (1986 - 1989) tại 24 nước đang phát triển cho thấy một tỷ lệ khácao trẻ 0 - 4 tháng tuổi được nuôi bằng sữa mẹ Tỷ lệ này thay đổi từ71.1% ở Đông Bắc Braxin đến 100% ở Burundi, Gana, Togo,
Uganda Tuy nhiên, tập tính tốt nhất là cho con bú sữa mẹ hoàn toànthường khác nhau nhiều ở 24 nước dao động từ 1% ở Nigeria đến 84%
ở Burundi Ở vùng thành thị Malaysia, tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ giảmnhanh từ 80% (1950 - 1969) xuống còn 69% (1989 - 1990), ở TrungQuốc, từ 63% xuống còn 22% Ở Bắc Kinh vào những năm 50 của thế
kỷ này, 80% trẻ nhỏ được nuôi bằng sữa mẹ, nhưng tỷ lệ này giảm
Trang 20xuống ở mức 15% ở nội thành vào năm 1984, và tỷ lệ nuôi con bằngsữa mẹ đã duy trì ở 13 - 14% từ 1985 - 1990 [5], [64].
Từ đầu năm 1980, ở Việt Nam, các nghiên cứu về tập quán nuôi concủa các bà mẹ đã được triển khai trên nhiều vùng trong cả nước ĐàoNgọc Diễn, Nguyễn Trọng An và cộng sự năm 1983 đã nghiên cứu trên
500 trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nông thôn và nội thành Hà Nội; Kết quảcho thấy hầu hết trẻ được bú mẹ sau 2 - 8 ngày Tỷ lệ trẻ được bú mẹtrong vòng 24 giờ chỉ đạt 15,8% ở nội thành và 35,5% ở nông thôn ở cảhai nhóm đủ sữa và thiếu sữa mẹ Từ 68% đến 97% trẻ được ăn thêmtrong vòng 4 tháng đầu, thời gian cai sữa trung bình là 12 tháng, trong
đó 13.4% trẻ được cai sữa trước 12 tháng [1]
Nguyễn Đình Quang nghiên cứu trên 425 cặp mẹ và con ở nội thành vàngoại thành cho thấy tỷ lệ trẻ được bú sớm trong vòng nửa giờ đầu sausinh là 30%, tỷ lệ bú muộn trong 24 giờ là 20,1% [5] Nghiên cứu củaViện dinh dưỡng quốc gia về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em và bà mẹViệt Nam năm 2000 cho thấy vùng núi phía Bắc tỷ lệ trẻ được bú sữa
mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu đạt 18,5%, bú sữa mẹ cộng với uốngcác loại nước khác trong 4 tháng đầu đạt 45,5% [10]
1.5.5.2 Điều kiện nuôi dưỡng trẻ, nuôi con bằng thức ăn bổ sung
Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa TTDD của trẻ
em dưới 5 tuổi và chế độ nuôi dưỡng [36] Từ lúc trẻ sinh ra, nuôi trẻbằng sữa mẹ hoàn toàn trong những tháng đầu giúp trẻ tránh được một
số bệnh nhiễm trùng, tăng sức đề kháng cho trẻ [41] Ăn bổ sung sớm,thức ăn không đạt yêu cầu cả về số lượng và chất lượng dẫn đến tìnhtrạng SDD của trẻ Bên cạnh đó, TTDD của trẻ lứa tuổi này có liên
Trang 21quan tới nhiều yếu tố khác như điều kiện sống, vệ sinh môi trường,trình độ văn hoá của cha, mẹ.
Các nghiên cứu ở nước ta cũng cho thấy trong 3 tháng đầu tiên trẻ emViệt Nam nói chung phát triển không kém tiêu chuẩn quốc tế, nhưng từtháng thứ 4 trở đi thì phát triển kém hẳn và thời kỳ phát triển phát triểnkém nhất là khoảng thời gian từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6, trung bìnhchỉ đạt 60% tăng cân nặng theo tiêu chuẩn [30] Vẫn còn một tỷ lệ khácao trẻ em từ 1 - 5 tuổi rơi vào tình trạng thiếu dinh dưỡng, trong đócòn một số bị SDD nặng và rất nặng [19] Trẻ từ tháng thứ 4 đến thángtháng thứ 6, SDD bắt đầu xuất hiện và tăng cao dần theo tuổi, cao nhấtxung quanh giai đoạn 2 tuổi [30] Đây chính là giai đoạn trẻ bắt đầuđược ăn bổ sung và cai sữa Bên cạnh đó, SDD thường đi kèm với cácbệnh nhiễm khuẩn và làm nặng hơn tình trạng thiếu vitamin A dẫn đếnhậu quả mù loà của trẻ [24], 6]
Ăn sam là quá trình nuôi trẻ, tập cho trẻ thích ứng với sự chuyển đổichế độ ăn từ khẩu phần hoàn toàn dựa vào sữa mẹ sang một chế độ ăn
sử dụng đều đặn các sản phẩm sẵn có trong bữa ăn gia đình Nghiêncứu của Hà Huy Khôi (1990) về ăn sam sớm đã xem lại tiền sử nuôidưỡng trẻ ở một số vùng của Việt Nam và nhận thấy trẻ thường được ănsam vào tháng thứ 2 hoặc tháng thứ 3 sau khi sinh Thức ăn đầu tiên củatrẻ thường là bột gạo loại thức ăn có năng lượng thấp và chất lượngprotein kém [20]
Trong năm đầu, cơ thể trẻ phát triển nhanh đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡngtăng Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất của trẻ dưới 1 tuổi Nhưng không thểnuôi trẻ bằng sữa mẹ đơn thuần từ lúc đẻ đến lúc cai sữa, vì sữa mẹkhông đủ thoả mãn nhu cầu cho cơ thể trẻ ngày càng lớn lên Do đó cần
Trang 22cho trẻ ăn thêm thức ăn bổ sung để phòng ngừa các bệnh SDD, còixương và thiếu máu [23].
1.5.5.3 Cân nặng sơ sinh, bệnh tật và một số yếu tố khác
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi chịu ảnh hưởng rất lớn bởicân nặng sơ sinh của trẻ Qua nghiên cứu của Hà Huy Khôi, Lê BạchMai, Lê Bảo Khanh và cộng sự năm 1992 trên 2 lô trẻ: 1 lô có tìnhtrạng dinh dưỡng tốt và một lô SDD với cùng điều kiện kinh tế xã hộicho thấy trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt hơn có cân nặng sơ sinh caohơn, chịu ăn hơn và ít mắc bệnh hơn [21]
Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ chuyển tiếp nhưng về cơ bản môhình bệnh tật nước ta vẫn là SDD và bệnh nhiễm khuẩn Theo điều tracủa Nguyễn Thị Thu Nhạn tại 1 phường Hà Nội thấy tỷ lệ SDD của trẻdưới 3 tuổi là 42% trong đó lứa tuổi có tỷ lệ SDD cao là từ 11 - 23tháng tuổi Cuộc điều tra cũng cho thấy nguyên nhân dẫn đến TTDDnày do nuôi dưỡng chiếm 67% và do bệnh nhiễm khuẩn chiếm 17% vớicác yếu tố nguy cơ chủ yếu là ăn sam sớm (86,7%), mẹ mất hoặc thiếusữa (65,9%), cai sữa trước 12 tháng (30,3%) và cân nặng sơ sinh thấp(20,1%) [24]
Một điều nữa cho thấy tình trạng dinh dưỡng của trẻ có liên quan tớinhiều yếu tố khác nhau như điều kiện sống, vệ sinh môi trường, trình độvăn hoá của cha mẹ [43] Một nghiên cứu cho thấy nhóm trẻ dưới 6 tuổi
ở Jakarta, Indonesia trong các gia đình có điều kiện kinh tế xã hội caothì có chiều cao và cân nặng lớn hơn so với chuẩn NCHS Trong mộtcuộc hội thảo về dinh dưỡng trẻ em ở Đông Nam Á vào tháng 4/ 1989tại Indonesia, quan niệm về dinh dưỡng của trẻ em đã được thay đổi và
Trang 23khẳng định có nhiều yếu tố tác động lên dinh dưỡng trẻ em Các yếu tốnhư hệ thống chăm sóc y tế, dinh dưỡng của bà mẹ có thai, cách nuôidưỡng chăm sóc trẻ, cho trẻ bú sữa mẹ sớm, ăn bổ sung hợp lý có ảnhhưởng tốt đến sự phát triển của trẻ.
Tỉ lệ thấp còi, gầy còm, thiếu cân ở trẻ em trước tuổi học đường khácnhau theo khu vực, các tỷ lệ này thấp nhất ở châu Mỹ La tinh, cao nhất
ở châu Á [42], [61] Ngoài ra, mối quan hệ giữa thấp còi và gầy còmcũng khác nhau theo khu vực địa lý Điều này có thể cho thấy thiếu cân
và chiều cao thấp ít nhất là do các nguyên nhân khác nhau
Mỗi yếu tố nói trên đều có thể thay đổi, ở phạm vi rộng thì sự thay đổicủa các yếu tố quốc gia làm cải thiện sự ấm no của trẻ Sự cải thiện bất
kỳ yếu tố nào được xác định đều đòi hỏi có các hành động hoàn toànkhác nhau [26]
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian nghiên cứu
Gồm 1302 trẻ em dưới 5 tuổi trong đó có 431 cháu ở Diễn Kỷ, 432cháu ở Diễn Thành, 439 cháu ở Thị Trấn và bà mẹ nuôi dưỡng trẻ từ 0
÷ 60 tháng tuổi ở ba xã thuộc 3 vùng của huyện Diễn Châu: xã Diễn Kỷ(xã thuộc vùng đồng bằng), xã Diễn Thành (xã thuộc vùng biển) và Thịtrấn Diễn Châu, trong thời gian từ tháng 9/2007 đến thang 9/2008
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Bao gồm hai giai đoạn, giai đoạn nghiên cứu mô tả cắt ngang có phântích để đánh giá tình trạng SDD và giai đoạn phân tích so sánh các yếu
tố liên quan tới tình trạng trẻ SDD trên cơ sở sử dụng phương phápnghiên cứu Bệnh - Chứng
2.2.2 Cỡ mẫu
2.2.2.1 Giai đoạn nghiên cứu mô tả
Cỡ mẫu cho giai đoạn nghiên cứu mô tả với mô hình điều tra cắt ngangnên dùng cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ theo công thức sau:
2
2 ) 2 / 1 (
) 1 (
d
p p
Z
(2.1)Trong đó:
- n: cỡ mẫu (số trẻ dưới 5 tuổi cần điều tra)
Trang 25Với độ tin cậy 95 % thì Z(1-/2) = 1,96.
- p : lấy tỉ lệ SDD là 27,2 % [20]
d : ước lượng độ chính xác 0,05; Hiệu ứng thiết kế lấy bằng 3, thì cỡmẫu tính được sẽ là 633 trẻ Lấy tỷ lệ bỏ cuộc là 10% thì cỡ mẫu sẽ
là 693 trẻ (lấy tròn số là 700)
2.2.2.2 Giai đoạn nghiên cứu Bệnh - Chứng
Cỡ mẫu cho giai đoạn nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu Bệnh Chứng Cỡ mẫu được tính theo công thức chung như sau:
-2
2
2 /
)]
1 ( [
)]}
1 (
/[
1 )]
1 1 (
1 /[
p p
- p1: tỷ lệ cá thể phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ được ước lượng chonhóm bệnh
- po: Tỷ lệ cá thể phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ được ước lượng chonhóm chứng
- : mức độ chính xác mong muốn (chênh lệch cho phép giữa tỷ suấtchênh (OR) thực của quần thể với OR thu được từ mẫu )
Với độ tin cậy 95 % thì Z/2 = 1,96
Trang 26Trong nghiên cứu này yếu tố nguy cơ được lựa chọn là tỷ lệ trẻ có cânnặng thấp (< 2500 gram) ở nhóm bệnh và nhóm chứng.
Trong nghiên cứu xem xét các yếu tố liên quan đến SDD thể thấp còi:
- Nhóm bệnh là những trẻ bị SDD thể thấp còi, căn cứ vào nghiêncứu trước đó [24] ta sẽ chọn các chỉ số như sau:
- p1= 38,5%, po = 23,8%, = 0,41 thay vào công thức ta sẽ có n1 =
136 trẻ Như vậy, nhóm bệnh ta sẽ chọn 136 trẻ, nhóm chứng khi lấy
tỷ lệ gấp ba lần nhóm bệnh thì số trẻ được chọn vào nhóm chứng sẽ
là 408 trẻ
Trong nghiên cứu xem xét các yếu tố liên quan đến SDD thể gầy còmNhóm bệnh là những trẻ bị SDD thể gầy còm, căn cứ vào nghiên cứutrước đó [15] ta sẽ chọn các chỉ số như sau:
- p1= 18,5%, po = 10,2%, = 0,75 thay vào công thức ta sẽ có n2 =
38 trẻ Như vậy, nhóm bệnh ta sẽ chọn 38 trẻ, nhóm chứng khi lấy tỷ
độ tuổi quy định, không có chọn lọc định hướng
Chọn mẫu cho giai đoạn nghiên cứu bệnh chứng: nhóm bệnh được chọn
từ kết quả của giai đoạn nghiên cứu mô tả
Trang 27Định nghĩa trường hợp bệnh: áp dụng cách phân loại của WHO nhưsau:
- Từ -2SD Zscore trở lên: bình thường
- Dưới -2SD Zscore là SDD
Với SDD thể Thấp còi chúng ta dùng chỉ số Chiều cao/tuổi, còn vớiSDD thể gầy còm ta dùng chỉ số Cân nặng/chiều cao và các chỉ số nàyđược so sánh với quần thể tham khảo của WHO
Định nghĩa đối chứng: là những trẻ bình thường theo phân loại ở trên,cùng tuổi, cùng giới và gần nhà của trẻ SDD
2.2.4 Để thu thập các chỉ số về điều kiện sống
Để thu thập các chỉ số về điều kiện sống, nhân khẩu, thu nhập cũng nhưthông tin về chăm sóc dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em, quá trình mang thai,tiền sử dinh dưỡng, bệnh tật…xác định thông qua phỏng vấn các bà mẹdựa vào bộ câu hỏi thiết kế sẵn
2.2.5 Xác định các chỉ số thể lực:
cân nặng, chiều cao đứng, vòng ngực trung bình được xác định theophương pháp nhân trắc học Theo thường quy hướng dẫn của Viện dinhdưỡng Quốc gia [17]
Tiến hành đo cân nặng, chiều cao và chiều dài nằm của tất cả các trẻdưới 5 tuổi tại 3 xã Diễn Kỷ, Diễn Thành và Thị Trấn huyện Diễn Châu– Nghệ An
Trang 28Ngày tháng năm sinh của trẻ (phỏng vấn bà mẹ và kiểm tra giấy khaisinh) Cách tính tháng tuổi trẻ em < 5 tuổi: Theo quy định của WHO(năm 1983).
- Cân trẻ: tiến hành xác định cân nặng của trẻ bằng cân Nhơn Hòa(chính xác đến 100g)
- Đo trẻ: dùng thước gỗ của UNICEF để đo chiều cao đứng (độ chínhxác 1mm) đối với trẻ dưới 2 tuổi đo chiều dài nằm
- Đo vòng ngực bằng thước dây
- Về chỉ số pignet: I = T-(P+P1), với T là chiều cao đứng (cm); P làcân nặng (kg); P1 là vòng ngực trung bình (cm) I = 10÷20 xếp loạikhá; I = 25÷36 xếp trung bình; I >36 thể lực kém
- Chỉ số broca = T-P, cho biết tương quan giữa phát triển chiều cao
và trọng lượng, nếu chỉ số broca >100 thì tăng nhanh về chiều caochậm về trọng lượng, nếu chỉ số broca <80 thì tăng nhanh về trọnglượng, chỉ số broca từ 80 ÷ 100 phát triển bình thường
2.2.6 Tình trạng dinh dưỡng
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dựa vào chỉ số nhân trắc: cânnặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiềucao (CN/CC) theo phân loại của WHO – 1983 với quần thể tham khảocủa Trung tâm thống kê Sức khỏe Quốc gia NCSH (Hoa Kỳ) vớingưỡng:
- Từ -2SD trở lên là bình thường
Trang 29- Từ -3SD đến -4SD: suy dinh dưỡng độ 2
- Dưới -4SD: suy dinh dưỡng độ 3
Với SDD thể thấp còi chúng ta dùng chỉ số CC/T, còn SDD thể gầycòm ta dùng chỉ số CN/CC Và chỉ số này được so sánh với quần thểtham khảo của WHO
2.2.7 Phương pháp sinh lý học
Xác định các chỉ số sinh lý như tần số tim, huyết áp, sử dụng phươngpháp y học và sinh lý học thông thường bằng đồng hồ bấm giây vàhuyết áp kế Sacli
2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
và quan sát
- Giới
- Nghề nghiệp
- Dân tộc, nơi ở
- Trình độ văn hoá của đối tượng
- Điều kiện kinh tế gia đình
và quan sát
- Kiến thức về sử dụng sữa non
Trang 30Nội dung
nghiên cứu Các biến số
Phương pháp và
kỹ thuật thu thập
- Kiến thức về thời gian nên cai sữa chotrẻ
- Kiến thức đối với việc cho trẻ ăn bổsung
- Kiến thức về chăm sóc và nuôi dưỡngtrẻ khi trẻ bị ốm
và quan sát
- Thực hành sử dụng sữa non
- Thực hành cho trẻ ăn bổ sung
- Thực hành về nấu thức ăn riêng cho trẻ
và quan sát
- Yếu tố bệnh tật
- Khẩu phần ăn của trẻ
- Yếu tố đoàn thể, thông tin
2.4 Cách đánh giá về mức độ kinh tế gia đình
Kinh tế hộ gia đình được đo lường, đánh giá qua phỏng vấn chủ hộ vềthu nhập (các khoản) của cả hộ gia đình trong vòng một năm với dânlàm nông nghiệp Từ mức tổng thu sẽ tính được thu nhập bình quân đầu
Trang 31người/tháng tính bằng đồng Vì thế, khi nghiên cứu hộ gia đình ở nôngthôn thường dùng cách tính thu nhập để phân loại kinh tế hộ gia đình.Nghiên cứu sử dụng phân loại kinh tế của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ
An dựa trên thu thập của hộ gia đình áp dụng với khu vực nông thônnăm 2005 Kinh tế hộ gia đình được chia thành 3 loại:
Hộ nghèo: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 270.000đồng/người /tháng trở xuống
Hộ cận nghèo: những hộ có mức thu nhập bình quân trên270.000 đồng/người /tháng đến 400.000 đồng/người /tháng
Trung bình, khá, giàu: những hộ có mức thu nhập bình quân trên400.000 đồng/người /tháng
2.5 Phương pháp phân tích số liệu
Xử lý trên phần mềm Epi- Info 6 04 và SPSS 12.0
Sử dụng phần mềm ANTHRO để tính các chỉ số nhân trắc dinhdưỡng
Dùng các test thống kê thích hợp
2.6 Phương pháp điều tra theo test
Cuộc điều tra được tiến hành với sự tự nguyện hoàn toàn của cácđối tượng Mọi thông tin về hộ gia đình và cá nhân được điều trađược tuyệt đối giữ bí mật
Thông báo lại kết quả nghiên cứu cho đối tượng
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Tình hình các đối tượng nghiên cứu
Trang 3345,3
29,49
4,27 0,43
Thị Trấn(n=231)
Chung ba xã(n=700)
Trang 34Nhận xét: Điều tra 700 hộ gia đình, kết quả cho thấy hầu hết các giađình được điều tra có từ 1 đến 2 con ( 71,60%), trong đó 28,90% giađình có 1 con.
3.1.3 Chi phí cho thực phẩm (nghìn đồng/ngày)
Bảng 3.1.1 Chi phí cho thực phẩm
Chi phí
(1000đ)
Diễn kỷ(n=235)
Diễn Thành(n=234)
Thị Trấn(n=231)
Chung ba xã(n=700)
Bảng 3.1.2 Phân loại kinh tế hộ gia đình
Phân loại kinh tế
hộ gia đình
Diễn kỷ(n=235)
Diễn Thành(n=234)
Thị Trấn(n=231)
Chung ba xã(n=700)
Trung
Trang 35Nhận xét: Về kinh tế hộ gia đình, kết quả điều tra 700 hộ cho thấy có5,57% số hộ là kinh tế ở mức nghèo và 4,86% ở mức cận nghèo.
3.2 Thực trạng SDD trẻ em ở địa điểm nghiên cứu
3.2.1 Tỷ lệ SDD trẻ em ở các địa điểm nghiên cứu
Thị TrấnN=439
Trang 36Thị TrấnN=439
Thị TrấnN=439
Trang 37Tìm hiểu sự phân bố tỷ lệ SDD ở thể gầy còm ở các nhóm tuổi ta thấy
có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi và khác nhau giữa 3 địa điểmnghiên cứu, tỷ lệ trẻ SDD Nam cao hơn Nữ Kết quả nghiên cứu nàycũng phù hợp với kết quả của các tác giả Lê Khánh Hòa, 1996 [4]; LêBảo Châu, 2000; Viện dinh dưỡng, 2000
So sánh thực trạng SDD ở các điểm nghiên cứu thể hiện ở bảng 3.8Bảng 1.3.2 So sánh thực trạng SDD các điểm nghiên cứu
Biểu đồ 3.2 So sánh thực trạng SDD các điểm nghiên cứu
Nhận xét: qua bảng 3.8 và biểu đồ 3.2 cho thấy sự phân bố tỷ lệ SDD ởcác thể nhẹ cân, thấp còi và gầy còm theo từng điểm nghiên cứu: xã
Trang 38Diễn Thành có tỷ lệ SDD cao nhất, xã Diễn Kỷ và Thị Trấn SDD ở cácthể không có sự khác biệt lớn Điều này có thể xuất phát từ điều kiệnkinh tế, văn hóa, chế độ dinh dưỡng và cách chăm sóc, nuôi dưỡng concủa các bà mẹ ở các xã là khác nhau Trong đó trẻ ở xã Diễn Thành dođiều kiện kinh tế khó khăn trẻ không được chăm sóc đúng khoa học, ănuống kém vệ sinh, cùng với thời gian tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ đủdài dễ gây nên SDD Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy
sự phát triển của trẻ em dưới 5 tuổi phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức,
và thực hành nuôi con của các bà mẹ Kiến thức chăm sóc nuôi dưỡngtrẻ của mẹ là quá trình ảnh hưởng lâu dài đi cùng sự phát triển của trẻ vìvậy ảnh hưởng nhiều đến tình trạng dinh dưỡng trẻ Kiến thức và thựchành dinh dưỡng trẻ em là một chăm sóc thiết yếu, diễn ra hằng ngày,đặc biệt quan trọng với trẻ dưới 5 tuổi Đây là giai đoạn diễn ra sựchuyển tiếp về nuôi dưỡng: từ bú sữa mẹ tới ăn sam rồi ăn như gia đình.Chế độ ăn của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của người mẹ
và gia đình Bên cạnh đó, trẻ rất dễ bị mắc các căn bệnh nhiễm khuẩn,đặc biệt là tiêu chảy và viêm đường hô hấp dẫn đến tình trạng dinhdưỡng kém cho trẻ và ngược lại [6]
Trang 393.2.2 Thực trạng dinh dưỡng của trẻ khi xét theo