Trong số bệnh lý phát hiện được của người nghiện đứnghàng đầu là những bệnh nhiễm trùng do tiêm chích gây ra khi dùng chungbơm kim tiêm như viêm gan B, C, đặc biệt là nhiễm căn bệnh th
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Ban giỏm hiệu trường Đại Học Vinh
Khoa Sau đại học trường Đại Học Vinh
Khoa Sinh học trường Đại Học Vinh
Trang 2Tập thể các y bác sỹ khoa Xét nghiệm máu bênh viện Đa Khoa Nghệ An.
Tổ chức LIFE-GAP ở Nghệ An, Câu lạc bộ Hoa Nắng,…
Ban phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh Nghệ An.
Sở LĐTBXH tỉnh Nghệ An.
Trung tâm Giáo dục lao động xã hội số I, số II, trung tâm giáo dục LĐXH, phòng LĐTBXH huyện Nghĩa Đàn, Tx Thái Hoà, Tx Cửa Lò tỉnh Nghệ An.
Cùng sự động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành tốt luận văn này.
Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc !
Vinh 20/12/2010
Trần Thị Thu Hằng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN………i
MỤC LỤC……… ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… iv
DANH MỤC CÁC BẢNG……… v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ………vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Nội dung nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Cơ sở khoa học và lý luận về bệnh nghiện ma túy 4
1.1.2 Nghiện ma tuý 6
1.1.3 Cơ chế bệnh sinh và phát triển bệnh tật ở người nghiện 7
1.3.4 Hậu quả của nghiện ma tuý 13
1.2 Lược sử nghiện ma tuý trên Thế giới và Việt Nam 18
1.2.1 Trên thế giới 18
1.2.2 Ở Việt Nam 20
1.3 Một số biện pháp phòng ngừa và cai nghiện ma tuý hiện nay 23
1.3.1 Các biện pháp phòng ngừa 23
1.3.2 Các biện pháp cai nghiện ma tuý và chống tái nghiện hiện nay 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 28
2.2 Thiết kế nghiên cứu 28
Trang 42.3 Các phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp chọn mẫu 31
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn 31
2.3.3 Phương pháp nhân trắc học: 31
2.3.4 Phương pháp xác định một số chỉ số sinh lý 32
2.3.5 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số huyết học và sinh hóa máu: 33
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 33
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 34
3.1 Kết quả nghiên cứu 34
3.1.1 Thực trạng nghiện ma tuý ở Nghệ An 34
3.1.2 Một số chỉ tiêu hình thái của người nghiện 38
3.1.3 Một số chỉ tiêu sinh lý của người nghiện 39
3.1.4 Một số chỉ tiêu huyết học của người nghiện 40
3.1.5 Một số chỉ tiêu sinh hoá ở người nghiện ma tuý 43
3.2 Bàn luận: 45
3.2.1 Thực trạng nghiện ma túy ở Nghệ An 45
3.2.2 Tác hại của ma tuý biểu hiện trên sự biến đổi một số chỉ số hình thái, sinh lý, sinh hóa ở người nghiện 47
KẾT LUẬN………55
KIẾN NGHỊ……… 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
TT Chữ viết tắt Tên thường của chữ viết tắt
1 AST Aspartate aminotransferase
2 ALT Alanine aminotransferase
BMI Body Mass Index : Chỉ số khối cơ thể
5 GRA Granulocyte: Bạch cầu trung tính
6 HATT Huyết áp tâm thu
7 HATTr Huyết áp tâm trương
10 LĐTBXH Lao động thương binh xã hội
11 MCH Mean corpuscular 5emoglobin: Số lượng Hemoglobine
trung bình trong một hồng cầu
12 PLT Platelet: Số lượng Tiểu cầu bình thường
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Số người từ 15-64 tuổi sử dụng ma túy bất hợp pháp trong năm 2007 20
Bảng 1.2: Số lượng người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý từ năm 2005-2009 22
Bảng 3.1: Số lượng người nghiện ma túy trên địa bàn Nghệ An 34
Bảng 3.2: Số lượng người nghiện phân bố theo độ tuổi ở các vùng nghiên cứu 35
Bảng 3.3: Trình độ học vấn của người nghiện tại các địa điểm nghiên cứu 36
Bảng 3.4: Phân bố tỉ lệ theo loại ma tuý và hình thức sử dụng 37
Bảng 3.5: Tỉ lệ người nghiện có việc làm và phạm pháp 38
Bảng 3.6: Chiều cao, cân nặng và chỉ số BMI của người nghiện và nhóm đối chứng 38
Bảng 3.7: tần số thở, thời gian nín thở của người nghiện ma túy và nhóm đối chứng 39
Bảng 3.8: Các chỉ số tim mạch, huyết áp của người nghiện và nhóm đối chứng 40
Bảng3.9: Chỉ số Hồng cầu của người nghiện và nhóm đối chứng 41
Bảng 3.10: Bạch cầu của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng 42
Bảng 3.11: Tiểu cầu của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng 42
Bảng 3.12 : Một số chỉ tiêu sinh hoá ở người nghiện ma tuý 43
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: So sánh tỉ lệ người nghiện khu vực đồng bằng và miền núi Nghệ An .35Biểu đồ 3.2: So sánh Số lượng người nghiện phân bố theo độ tuổi 36Biểu đồ 3.3: So sánh trình độ học vấn của người nghiện theo độ tuổi 37Biểu đồ 3.4: So sánh chỉ số BMI và chỉ số Pignet của người nghiện với nhóm đối chứng 39Biểu đồ 3.5: So sánh chỉ số tim mạch, huyết áp của người nghiện và nhóm đối chứng 40Biểu đồ 3.6: So sánh Hồng cầu của người nghiện ma túy và nhóm đối chứng 41Biểu đồ 3.7: So sánh các chỉ số Bạch cầu của người nghiện và nhóm đối chứng 42Biểu đồ 3.8: So sánh PLT của nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng 43Biểu đồ 3.9: So sánh hàm lượng Ure của nhóm nghiên cứu với nhóm đối chứng 44Biểu đồ 3.10: So sánh hàm lượng acid Uric của nhóm nghiên cứu với nhóm đối chứng 44Biểu đồ 3.11: So sánh hàm lượng men gan của nhóm nghiên cứu với nhóm đối chứng 45
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ma tuý (Narcotic) là một thuật ngữ dùng để chỉ các chất kích thích cókhả năng gây nghiện như heroin, doping, papain và kể cả cocain, nicotin và cảcác ancol Nhưng hiện nay người ta chỉ dùng bó hẹp để chỉ các chất gâynghiện được chiết xuất từ nhựa lấy ở quả của cây thuốc phiện (opiumPhilicinacae) Khi nghiện các chất này có thể gây tác hại đầu độc đối vớinhiều dạng tế bào và mô, cơ quan trong cơ thể Đặc biệt là các noron thầnkinh, các trung khu thần kinh, các tế bào cơ vân, cơ tim, cơ trơn Qua đó ảnhhưởng đến khả năng hưng phấn, ức chế của tổ chức thần kinh Khả năng cogiãn, vận động của tổ chức cơ Khả năng cảm giác, hoạt động phối hợp vậnđộng, hoạt động tim mạch, hô hấp chuyển hoá trong cơ thể Nghiện nặng cóthể dẫn đến huỷ hoại sự phát triển của tế bào, mô và các chỉ tiêu sinh lý bìnhthường của cơ thể Trong số bệnh lý phát hiện được của người nghiện đứnghàng đầu là những bệnh nhiễm trùng do tiêm chích gây ra khi dùng chungbơm kim tiêm như viêm gan B, C, đặc biệt là nhiễm căn bệnh thế kỷHIV/AIDS, các bệnh về tim mạch, thần kinh,… Những căn bệnh nói trênchiếm 74,5% ở người nghiện từ 18-45 tuổi
Hiện nay ma tuý là vấn nạn nhức nhối của toàn thế giới nói chung cũngnhư Việt Nam nói riêng Tỉ lệ người nghiện không những không giảm màngày một gia tăng kéo theo nhiều tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng nghiêm trọngđến đời sống kinh tế văn hoá xã hội Làm giảm sút sức lao động sản xuấttrong xã hội, suy giảm nòi giống Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹtục lâu đời của dân tộc, đến sự phát triển kinh tế trật tự trị an của xã hội Dođó, nghiện ma túy là một hiểm họa của toàn nhân loại, đe doạ sự phát triểnbền vững của mỗi quốc gia, đồng thời là gánh nặng của toàn xã hội Giúpngười nghiện từ bỏ, tránh xa ma tuý để ngăn ngừa và giảm nhẹ những tác hại
do nghiện ma túy gây ra Đảm bảo sự phát triển cân bằng và hưng thịnh chomỗi quốc gia Đây không chỉ là tâm nguyện của gia đình, người thân, bạn bè
Trang 9của những người nghiện mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội, trách nhiệmcủa những nhà chức trách, những người làm công tác nghiên cứu khoa học lànhu cầu tiến bộ xã hội phát triển hài hòa của mỗi quốc gia dân tộc.
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho đến năm 2009 trên toàn thế giớicó 350 triệu người nghiện ma tuý, trong đó bao gồm: 56 triệu người nghiệncocain, 55 triệu người nghiện thuốc phiện, 130 triệu người chơi Cần sa và 109triệu người chơi thuốc lắc Riêng ở Việt Nam, theo Bộ Lao động Thương binh
Xã hội (BTBXH), năm 2008 toàn quốc có 583.000 người nghiện, trong đó:70% ở độ tuổi thanh thiếu niên, 80% nghiện nặng, 85,5% số con nghiện cótiền án tiền sự Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo tháng 8-1998 có 2.837 học sinhsinh viên nghiện ma túy và 10 năm sau (2008) con số đó là 28.578 người Tạithành Hồ Chí Minh, theo thống kê của sở LĐTBXH tháng 7-1997 số ngườinghiện là 4.500 đến tháng 7-1998 tăng lên 10.038 và cho đến năm 2008 sốngười nghiện đã lên tới 208.350 người (trong đó 81% ở độ tuổi dưới 30).Nghệ An là một tỉnh lớn có diện tích 16.487 km2 với dân số 3.003200người (năm 2008) với nhiều huyện miền núi có độ cao, khí hậu và đặc điểmđất đai phù hợp với việc trồng cây thuốc phiện để lấy nhựa chế biến thànhthuốc phiện Những năm gần đây được sự vận động và kiểm soát chặt chẽ củanhà nước hầu hết diện tích trồng cây thuốc phiện đã được phá bỏ và chuyểnsang trồng cây lương thực và cây công nghiệp Nhưng trên thực tế một sốmiền núi dân tộc ít người vẫn đang lén lút trồng thuốc phiện Đây cũng chính
là nguyên nhân làm cho số người nghiện thuốc phiện ở các vùng miền núinhất là vùng dân tộc thiểu số tăng cao
Theo thống kê của Sở LĐTBXH năm 2005 toàn tỉnh Nghệ An có 5.520người nghiện ma tuý, chủ yếu ở độ tuổi 18-30 và tập trung ở những vùngtrọng điểm như: Tp Vinh, Tx Cửa Lò và các huyện miền núi như Anh Sơn,
Kỳ Sơn, Con Cuông, Quế Phong Năm 2008, số người nghiện lên tới 8512người và có chiều hướng ngày một gia tăng
Trang 10Để góp phần làm sáng tỏ mức độ nguy hiểm và những tác hại do nghiện
ma túy gây ra ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự biến đổi các chỉ số hình thái,sinh lý và sinh hóa của người nghiện Nhằm góp phần cảnh báo, ngăn ngừa,làm giảm tệ nạn nghiện ma tuý, nâng cao sức khỏe cộng đồng, chúng tôi tiếnhành nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng và một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hoá trên người nghiện ma tuý ở Nghệ An”.
2 Mục tiêu của đề tài
+ Đánh giá thực trạng nghiện ma tuý ở Nghệ An
+ Xác định một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý, sinh hoá ở người nghiện
3 Nội dung nghiên cứu
+ Điều tra thực trạng nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An và cácđiểm nghiên cứu
+ Tác hại của ma túy biểu hiện trên sự biến đổi một số chỉ số về:
Hình thái: Chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI và chỉ số Pignet
Sinh lý : Tần số tim, huyết áp, tần số hô hấp và thời gian nín thở
Huyết học: RBC, HGB, GRA, LYM, PLT, MCH, WBC
Sinh hóa: ALT, AST, acid Uric, Albumin
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở khoa học và lý luận về bệnh nghiện ma túy.
1.1.1 Các thuật ngữ liên quan đến ma túy
Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Ma túy là tên gọichung chỉ những chất gây nghiện, chất hướng thần có nguồn gốc tự nhiên haynhân tạo Những chất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng tháinhận thức và sinh lý, có thể dẫn đến nghiện”
Tại Điều 2 của Luật phòng, chống ma tuý Việt Nam, định nghĩa về matuý hoặc có liên quan đến khái niệm ma tuý như sau:
Ma tuý là chất gây nghiện, nếu sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ dẫnđến trạng thái lệ thuộc vào chất sử dụng do tác động của chất đó vào hệ thầnkinh trung ương
Chất ma tuý là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trongcác danh mục do Chính phủ ban hành
Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tìnhtrạng nghiện đối với người sử dụng
Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện với người sử dụng
Tiền chất là các chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sảnxuất ma tuý được quy định do chính phủ ban hành
Thuốc gây nghiện, hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quyđịnh trong danh mục do Bộ Y tế do chính phủ ban hành
Người sử dụng ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện,thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào chất này [14]
Một số loại ma tuý thường gặp:
Thuốc phiện: Là chất nhựa lấy từ vỏ của quả cây thuốc phiện (hay còn
gọi là cây Anh Túc) và được sử dụng dưới dạng hút và tiêm
Morphine: Được chiết xuất từ thuốc phiện, là hoạt chất chủ yếu có
những tác dụng dược lý cơ bản nhất của thuốc phiện như giảm đau, chống ho,
Trang 12chống tiêu chảy, Trong Y học Morphin được dùng làm nguyên liệu bán tổnghợp để sản xuất thuốc trị ho, giảm đau, tiêu chảy,
Heroin: Là chất được bán tổng hợp từ morphine Thường được chế biến
thành 02 loại: Loại bột trắng hồng, xốp như bông gọi là " Heroin 4" (còn gọi làbạch phiến) dùng để chích vào tĩnh mạch Loại bột màu nâu hồng gọi là " Heroin3" dùng để hút, hít So với Morphine, Heroin có tác dụng gây nghiện nhanh vàmạnh gấp nhiều lần nên sau khi xuất hiện, Heroin đã nhanh chóng thay thếMorphie
Cần sa: Còn gọi là cây Gai dầu, cây Gai mèo, cây Đại ma, Bồ đà Cần sa
dùng để hút, được chế biến hoặc từ lá, hoa, rễ hay nhánh của cây Cannabis sativaphơi khô trộn lẫn với nhau Thường có màu nâu hoặc xanh xám, Cần sa chứa gần
400 hóa chất (trong đó, chất chính là THC (delta-9-tetrahydrocannabinol))
Ma tuý tổng hợp: Là chất ma tuý được điều chế bằng phương pháp
tổng hợp hoá học toàn phần từ các hoá chất (được gọi là tiền chất) Điển hình
là các chất ma tuý thuộc nhóm ATS như amphetamine, methamphetamine,MDMA (3, 4 methylenedioxymethaphetamine, còn gọi là Ecstasy) Chúngcòn gọi là "các chất loạn thần", "ma tuý điên" hay " ma tuý bạo lực"
Amphetamin thường được đóng dưới dạng viên nhộng, viên nén hay hình trònhoặc hình ô van, màu hồng, màu ghi hay nâu xám, Ngoài ra còn có thể gặp
ở dạng ống tiêm hoặc bột
Methamphetamin thường gặp là viên nén có màu đỏ, da cam hoặc nâunhạt, với các tên gọi là "YABA", "YAMA", "KYAPPY", Shabu, Đường kínhkhoảng từ 7 đến 8 mm, dày từ 2 đến 4 mm Trên mặt có ký hiệu chữ M, WY, 99,hoặc hình ngôi sao 5 cánh, Đôi khi gặp methamphetamin còn được sử dụngdưới dạng bột để hút, hít với tên gọi là "Ice" có nghĩa là đá, hoặc đóng ống dùng
để tiêm
MDMA thường dùng dưới dạng viên nén, hình tròn với màu sắc rất đadạng Phía trên của viên thường có khắc hình trái tim, hình con bướm, chim
Trang 13bồ câu hay chữ "Love" có nghĩa là tình yêu, EVA, ADAM hoặc một số hìnhvui nhộn tạo cảm giác nhẹ nhàng, gợi cảm [2], [26], [29].
1.1.2 Nghiện ma tuý
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa từ năm 1957: “Nghiện làtrạng thái ngộ độc kinh niên hay từng thời kỳ do sử dụng lặp đi lặp lại mộthay nhiều lần một chất tự nhiên hay tổng hợp Nó làm cho người nghiện hammuốn không tự kiềm chế được mà bằng mọi giá phải tiếp tục sử dụng Nó gây
xu hướng tăng dần liều lượng, gây ra sự lệ thuộc về cả thể chất lẫn tinh thần,có hại cho chính người nghiện và xã hội"
Phân tích mức độ nghiện bằng bảng trắc nghiệm Himmelsbi như sau:
01 Mệt mỏi rã rời (1đ);
02 Ngáp chảy nước mắt (1đ);
03 Chảy nước mũi (1đ);
04 Xuất mồ hôi (1đ);
Trang 141.1.3 Cơ chế bệnh sinh và phát triển bệnh tật ở người nghiện
1.1.3.1 Bản chất của nghiện ma tuý
Nghiên cứu đã cho thấy là ngoài những khía cạnh, hành vi, xã hội, vàtâm lý, nghiện ma tuý về bản chất là một căn bệnh mãn tính làm thay đổi các
tế bào thần kinh trong não do sử dụng ma tuý nhiều lần
Các nghiên cứu về thần kinh đã nhận thấy rằng trong bộ não có một cơ sởchung cho tất cả các loại chất gây nghiện (ví dụ: nicotin, heroin, cocain,
rượu, ) Cơ sở này được gọi là Brain Reward System (tạm dịch là hệ thống Củng cố trong não), với các chức năng chủ yếu là tăng cường những hành vi
có lợi cho sự tồn tại của con người Củng cố những hành vi này để đảm bảo làchúng ta sẽ tiếp tục thực hiện chúng
Các chất gây nghiện như Heroin gây ra những thay đổi lâu dài, và có thể
là vĩnh viễn đối với các dây thần kinh thuộc hệ thống Củng cố trong não Đây
là nguyên nhân làm cho người nghiện khó vượt qua được các cơn nghiện vàthường xuyên tái nghiện [3], [38]
1.1.3.2 Cơ sở sinh lý học của nghiện ma tuý
Trạng thái dung nạp chất ma tuý: Cơ thể con người có khả năng dung nạp rất cao đối với các chất dạng thuốc phiện và liều lượng sau thường cao
hơn liều lượng trước, nếu chất dạng thuốc phiện tương đương với lần trước thìtác dụng của chất dạng thuốc phiện giảm xuống Muốn đạt được sảng khoáinhư trước phải tăng liều [2], [29]
Trong cơ thể có các điểm thụ cảm (Receptor) tương ứng để các chất matuý gắn vào khi ma tuý được đưa vào cơ thể, sau khi tìm và gắn được vào cácđiểm thụ cảm tương ứng thì ma tuý mới phát huy được tác dụng của nó Cụthể, trong trường hợp của các chất dạng thuốc phiện khi vào cơ thể chúng đềuchuyển hoá thành Morphine rồi vào máu, thời gian bán huỷ của Morphine ởmáu khoảng 2 giờ 30 phút Sau 24 giờ, 90% Morphine bài tiết ra ngoài và chỉmột lượng nhỏ Morphine vào hệ thần kinh trung ương đến các điểm tiếp nhận
Trang 15Morphine gắn vào các điểm thụ cảm của nó trong cơ thể (gọi là OpioidReceptor - viết tắt OR) Có 4 loại OR với các chức năng nhiệm vụ khác nhau:
- OR muy (OR mu [µ]): Là receptor khi Morphine gắn vào gây tác dụng giảmđau, gây khoái cảm, ức chế hô hấp và gây nghiện (lệ thuộc vào ma tuý);
- OR kappa (kappa OR): Đảm nhận gây an thần, thu hẹp đồng tử mắt;
- OR xích ma (sigma OR [б]): Đảm nhận gây ảo giác, kích thích tim;
- OR đen ta (delta OR): Mới phát hiện được, chưa rõ vai trò
Trong 4 loại OR này thì OR muy là cơ sở chủ yếu, nằm rải rác ở não, tập trungnhiều nhất ở vùng dưới đồi, có một ít ở hệ thần kinh thực vật Tại các điểm tiếp nhận
OR muy có sẵn các peptít nội sinh (endophine, enkepphaline, ) Các peptid này tácđộng qua lại với Morphine và dẫn truyền Morphine qua hệ thần kinh đến các vùngkhác nhau trên cơ thể gây ra ác tác dụng chuyên biệt như: Giảm đau, gây bình thản,tăng trương lực cơ trơn của dạ dày, ức chế hô hấp, kích thích tim, chống sự co thắtcủa nhu động ruột và đặc biệt là gây cảm giác khoái lạc sau đó gây ra nghiện
Sự phát hiện ra các Opioid receptor và các Endorphin là cơ sở sinh lýhọc giải thích tính chất gây nghiện hay bản chất của sự nghiện ma tuý Khi sửdụng lặp đi lặp lại nhiều lần, ma tuý sẽ gắn vào nhiều receptor, từ đó ức chếhoạt động của men adenylcyclase (là men kích thích chất ATP (adenosintriphosphate)) để sản xuất ra AMP vòng (adenosin monophosphate cyclique) -
là một chất có vai trò thiết yếu trong quá trình sản sinh và dẫn truyền cácxung động thần kinh, năng lượng cơ bản của hoạt động thần kinh và tâm thần
Do cơ thể không thể thiếu adenylcyclase nên để bù vào lượng adenylcyclase
do Morphine làm giảm, cơ thể phải liên tục tổng hợp adenylcyclase với nồng
độ không ngừng tăng lên Muốn làm giảm adenylcyclase để có được cảm giácsảng khoái như lần trước lượng Morphine đưa vào lần sau phải cao hơn dẫnđến thay đổi một số chất sinh học đóng vai trò điều hoà các quá trình của cơthể buộc cơ thể phải tự điều chỉnh để quen dần với sự với sự có mặt của matuý ngoại sinh [45], [65], [83], [84]
Trang 16Trạng thái cai chất ma tuý (hay còn gọi là lệ thuộc ma tuý về thể chất):
Là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hay giảm chất ma tuý đang dùng.Khi người nghiện ngừng sử dụng chất ma tuý cơ thể vẫn duy trì phương thứcđáp ứng như khi có một lượng lớn chất ma tuý đưa vào cơ thể hàng ngày, tức
là vẫn liên tục tổng hợp nên một lượng lớn men adenylcyclase Các chấtMorcphine nội sinh được cơ thể sản xuất ra quá ít, không thể ức chế lượngadenylcyclase quá lớn do đó nồng độ AMP vòng trong cơ thể tăng vọt lên,kích thích mạnh liệt hệ thần kinh gây nhiều triệu chứng cơ thể rất khó chịu,báo động gay gắt trạng thái thiếu hụt morphine và nhu cầu phải đưa ngaymorphine vào cơ thể Lúc này, cơ thể suy giảm nhanh, không thể không sửdụng ma tuý, người sử dụng ma tuý cần đến ma tuý để duy trì sự cân bằng của
cơ thể, thể hiện bằng sự ham muốn không thể cưỡng lại được và phải đưa matuý vào cơ thể bằng bất cứ giá nào Ngược lại, nếu ngưng sử dụng ma tuý sẽdẫn đến Hội chứng cai nghiện (Withdrawal Sympton) Đó là những cơn vật vã
dữ dội, ngáp, chảy nước mắt, nước mũi, khó chịu, tháo dạ, đau bụng, người nổi
da gà, toát mồ hôi, cảm giác dòi bò trong xương Hội chứng cai là một tiêu chuẩnquan trọng để chẩn đoán trạng thái nghiện chất dạng thuốc phiện [21], [25], [45]
Trạng thái thèm trường diễn chất ma tuý (Trạng thái lệ thuộc ma tuý về mặt tâm thần): Theo nhận định thống nhất của Hội đồng các chuyên viên về lạm
dụng chất ma tuý của tổ chức Y tế thế giới thì sự lệ thuộc vào ma tuý trước hết là
lệ thuộc về mặt tâm thần Sau khi thôi dùng chất dạng thuốc phiện, trạng thái caihay lệ thuộc về mặt cơ thể xuất hiện và nhanh chóng biến mất nhưng trạng tháithèm chất dạng thuốc phiện lệ thuộc về mặt tâm thần thì tồn tại rất dai dẳng và ở một
số người nó theo đuổi suốt đời Nhớ và thèm chất dạng thuốc phiện này là một phản
xạ có điều kiện thực thi được củng cố hàng ngày trên cơ sở tác động của chất dạngthuốc phiện gây ra những biến đổi sâu sắc trong não rất khó xoá bỏ [25], [45]
Wikler (1972) giải thích sự lệ thuộc chất ma tuý về mặt tâm thần theo lýthuyết phản xạ có điều kiện thực thi của Skinner, nhấn mạnh luận điểm,nghiện ma tuý là một tập tính phức tạp, luôn tuân theo qui luật về hiệu quả
Trang 17của Thorndike: ‘‘Mọi cơ thể sống đều nhạy cảm với hành vi của mình” Mộttập tính mang lại lợi ích vật chất hay tâm thần hoặc mang lại cảm giác thíchthú, dễ chịu thường được chịu thường được duy trì Tiêm Heroin gây cảmgiác sảng khoái, Wikler gọi đó là một kích thích tăng cường dương tính CắtHeroin gây ra Hội chứng cai là một kích thích tăng cường âm tính Kích thíchtăng cường dương tính hay âm tính đều thúc đẩy người nghiện phải tiếp tục
sử dụng Heroin Đó là cơ sở phản xạ có điều kiện thực thi của nghiện, thèm
nhớ Heroin và tái nghiện [45].
Trạng thái nghiện chất ma tuý: Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần
thứ 10 (phần các rối loạn tâm thần) từ F10-F19, nghiện ma tuý phải có ít nhất
3 trong 6 triệu chứng sau:
(1) Thèm muốn mạnh liệt dùng chất ma tuý (lệ thuộc về mặt tâm thần);(2) Mất khả năng kiểm soát việc dùng chất ma tuý;
(3) Ngừng sử dụng chất ma tuý sẽ xuất hiện hội chứng cai (lệ thuộc về mặt cơ thể);(4) Liều ma tuý ngày càng tăng (trạng thái dung nạp cao);
(5) Luôn tìm kỳ được chất ma tuý,xao nhãng nhiễm vụ và các thú vui khác;(6) Biết tác hại nặng nề mà vẫn tiếp tục sử dụng chất ma tuý [45]
1.1.3.3 Bệnh cảnh lâm sàng của người nghiện:
Các biểu hiện khi dùng ma tuý
Sau khi vừa sử dụng xong một liều ma túy, người sử dụng ma tuý có tinhtinh thần hưng phấn, vẻ mặt sung mãn, đỏ mặt, mắt đỏ và ướt, trông hoạt bátkhác thường Những người trẻ thường dễ bị khiêu khích, muốn tìm cảm giácmạnh, gây gổ đánh nhau, tự rạch tay, dùng thuốc lá đốt chân tay,… Các dấuhiệu trên được biểu hiện cụ thể qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Sau khi dùng 5 – 10 phút, biểu hiện phổ biến là mắt đỏ và
ướt, sau đó chuyển qua sụp mi mắt, ngồi tại chỗ mắt lim dim, gãi chân tay, vòđầu, bứt tóc,… thể hiện rõ nhất trong trường hợp dùng thuốc phiện pha lẫnSeduxen Những biểu hiện này người nhà khó phát hiện ra vì nó thường xảy
ra ở nơi hút chích
Trang 18Giai đoạn 2: Sau 10 đến 20 phút, mắt đỏ ướt, đồng tử teo, giọng nói
khàn khàn, uống nhiều nước lạnh, tâm lý ở trạng thái hưng phấn cao, nóinhiều, cử chỉ và động tác thiếu chính xác Nếu có tật thì tật thường xuất hiện
ở mức cao như vuốt mũi, nhổ râu, nặn mụn, cắn móng tay, lấy ráy tai,…
Giai đoạn 3: Sau 90 phút, người sử dụng ma túy tìm chỗ yên tĩnh để
thưởng thức cơn phê Lúc này họ nằm như ngủ, nhưng không ngủ lại hútnhiều thuốc lá, tàn thuốc vung vãi Quan sát nơi họ nằm thường thấy chănmàn thủng do tàn thuốc lá rơi vào, bề bộn đồ đạc, hôi, người sử dụng ma tuý sợ tắm,
sợ ồn ào [23], [25]
Các bệnh cảnh khi lạm dụng ma tuý
Trạng thái nhiễm độc Heroin cấp tính: Một liều dùng Heroin gây ra 2
hiệu quả, trước tiên xuất hiện cảm giác cực kỳ thoải mái (khoái cảm) ngay saukhi dùng kéo dài khoảng vài phút Người nóng ran kèm theo khoái cảm cao
độ ở vùng bụng dưới Người nghiện luôn thèm nhớ cảm giác này và luôn tìmcách đạt được nhanh nhất bằng cách tăng liều, tiêm vào tĩnh mạch Đây chính
là nguyên nhân gây tử vong thường gặp ở người nghiện ma túy do dùng quáliều lượng Biểu hiện: Sững sờ, hôn mê, suy hô hấp, trụy tim mạch, hạ thânnhiệt, đồng tử co lại rất hẹp nếu không được cấp cứu kịp thời bằng trợ hô hấp,trợ tim mạch hoặc được dùng naloxone thì sẽ tử vong Một hiệu quả quantrọng hơn và bền vững hơn trạng thái cực khoái đó là cảm giác êm dịu mọiđau khổ như tan biến, mọi khó khăn của cuộc sống như được đẩy lùi, lo âu vềngày mai không còn, không gian và thời gian thu hẹp lại, bằng lòng với hiện tạiđồng tử co hẹp lại, tâm thần lơ mơ, dấu hiệu ngủ gà,… Nếu sử dụng lâu ngày sẽgây nên các rối loạn cơ thể đi kèm trạng thái nhiễm độc mãn tính [22], [45]
Trạng thái nhiễm độc mãn tính: Nghiện Heroin là trạng thái nhiễm độc
mãn tính đi kèm với các rối loạn cơ thể như:
+ Rối loạn tiêu hoá: Chán ăn, buồn nôn, táo bón xen kẽ với đi rửa;
+ Các rối loạn tiết niệu: Đái khó, đái rắt;
+ Các rối loạn thần kinh: Nhức đầu, chóng mặt, run, giật cơ,
Trang 19+ Nhiễm khuẩn các loại: Ghẻ lở, apxe, loét tĩnh mạch, viêm nội tâmmạc, nhiễm trùng máu, viên gan B, C, nhiễm HIV/AIDS,…
Trạng thái cai: Trong giai đoạn đầu của trạng thái cai (từ 6-8 giờ sau lần
tiêm chích ma tuý cuối cùng) bệnh nhân bắt đầu ngáp, vã mồ hôi, chảy nướcmắt, nước mũi và lo lắng cao độ Người nghiện thấy thèm ma tuý, xuất hiệnxung động tìm ma tuý mỗi lúc một tăng Tiếp đến giãn đồng tử, nổi da gà,trong người cảm thấy lúc nóng, lúc lạnh, cơ bắp co thắt, run, mất ngủ hay giấcngủ không yên, luôn thức giấc Từ 18-24 giờ sau tiêm lần cuối cùng, xuấthiện buồn nôn, mạch, huyết áp, nhịp thở đều tăng, có thể có sốt nhẹ Sau 24-
48 giờ, xuất hiện đi rửa và trạng thái mất nước, dị cảm mạnh Sau 48-72 giờcác triệu chứng ở giai đoạn nói trên tăng đến đỉnh điểm và sau đó giảm dần.Sau 7-10 ngày, mặc dù không điều trị các triệu chứng đã nêu trên cũng dầndần biến mất Một số rối loạn chức năng có thể tồn tại nhiều tháng [22], [25],[45]
Về gen nghiện và chống lại ma túy: Gần đây có nhiều nghiên cứu đề cập
đến gen nghiện ma túy và gen chống ma túy Sau những những thử nghiệmđược tiến hành trên chuột Bạch với chất Cocain, các nhà khoa học Tây BanNha đã xác định được một loại gen ở người có thể chống lại những cơnnghiện Cocain và ma túy Loại gen này được đặt tên là CAM K4 mã hóa từmột enzym có chức năng chính là thay đổi một yếu tố phiên mã AND bìnhthường Khi nghiên cứu hồ sơ của 670 người nghiện Cocain và 726 ngườiđang điều trị cai nghiện các nhà khoa học Tây Ban Nha đã xác định được mốiliên hệ rõ ràng giữa gen CAM K4 với mức độ nghiện của từng người Theoông Femendo Rodriquez de Fonseca, thành viên của nhóm nghiên cứu thuộcviện Phát triển Công nghệ sinh học và nghiên cứu Y học Địa Trung Hải đãgọi gen CAM K4 là gen bảo vệ con người trước chứng nghiện Cocain Ôngnày đã cho rằng phát hiện đó sẽ cho phép các nhà khoa học xác định rõ hơntác động của Cocain đối với con người để từ đó phát hiện biện pháp chẩnđoán cùng liệu pháp điều trị có hiệu quả Trước đó các nhà khoa học thuộc
Trang 20viện nghiên cứu Sức khỏe thần kinh trung ương ở Mannhenia Đức đã pháthiện ra một loại gen dễ có nguy cơ nghiện ma túy Phát hiện này đã mở ra khảnăng dự báo đối với một số người, họ có thể dễ mắc chứng nghiện ma túy saunày hay không để từ đó có biện pháp phòng chống hữu hiệu [2].
1.3.4 Hậu quả của nghiện ma tuý
1.3.4.1 Tác hại của một số loại ma tuý thường gặp
Thuốc phiện: Lúc đầu hút vào thấy có sự khoái lạc, tạo cảm giác hưng
phấn và làm giảm đau nhức, mệt mỏi Nhưng càng hút thì càng ngày càngphải tăng liều mới đạt được cảm giác như lần trước Dần dần người hút bị suysụp, mất hết nghị lực, ý chí và cả cảm giác không còn Hơn thế, ở người sửdụng ma tuý hút thuốc phiện còn xuất hiện các biến chứng như: viêm dạ dày,viêm ruột mãn tính, táo bón dai dẳng, phát ban ngoài da, tiểu tiện ra abumin,thường hay bị sưng phổi, mạch đập chậm và không đều Nguy hiểm hơn là khikhông có thuốc, người sử dụng ma tuý phải nạo xái trong ống thuốc ra để hút,hút xái độc hơn vì nó có khoảng 80 - 90% chất Morphine, [2], [21], [22], [29]
Morphine: Morphine có tác dụng trực tiếp và chọn lọc tới tế bào thần
kinh trung ương, nhất là vỏ não làm cho thần kinh trung ương bị ức chế vàmột số trung tâm bị kích thích gây nôn, co đồng tử, chậm nhịp tim, Liều caoMorphine làm hạ huyết áp, làm giảm dịch tiết, ra mồ hôi nhiều Phụ nữ cóthai dùng Morphine rất nguy hiểm, gây tác hại lâu dài đến sự trưởng thànhcủa trẻ như đẻ non, suy dinh dưỡng, mất ngủ, đi lỏng, Morphine rất nguyhiểm với trẻ em dưới 5 tuổi Nó có thể dẫn đến trẻ bị gù, vẹo, thương tổn đầu
sọ, hen phế quản, bệnh thận mãn tính, Người sử dụng Morphine có mắt bịphù, móng tay và môi thâm tím; bị rối loạn tâm lý, nói không thật, lười biếng,ít chú ý đến vệ sinh thân thể, thường hay ngáp vặt, co đồng tử, thiếu máu,chán ăn làm sút cân, mất ngủ, già trước tuổi, chảy nước mắt, đau thắt ngực,trầm cảm và thần kinh bị kích thích [3], [25], [45]
Heroin: Nồng độ gấp 10 lần thuốc phiện, mạnh hơn Morphine nên dễ
ngộ độc, đột tử và rối loạn tâm thần Dùng Heroin lần đầu sẽ có cảm giác mơ
Trang 21màng, khoan khoái, quên mọi khổ đau, sầu não, bi thương, Nhưng khi cơnnghiện đến mà không có Heroin người nghiện sẽ bị đau co thắt Nếu dùng quáliều Heroin sẽ bị tê liệt thần kinh, hôn mê và có thể chết sau vài phút NghiệnHeroin làm cho con người thay đổi về tính cách, trở nên cô độc, thù ghét đồngloại, mất khả năng sinh dục và dễ gây ra các hành vi vi phạm pháp luật [2], [29].
Cần sa: Người dùng cần sa có những thay đổi tâm lý đột ngột, tinh thần
lên cao do đó có hiện tượng lạm dụng Có những ảo giác khác thường và cảnhững cơn ác mộng Cười nói huyên thuyên nhưng không gẫy gọn, mạch lạchoặc khóc, than vãn, hoặc có nhiều hành vi vô nghĩa khác Tim tăng nhịp đập,miệng khô, đi đứng nghiêng ngả mất thăng bằng, cử động chậm chạp, cặp mắt
đỏ ngầu và con ngươi mở to Huyết áp lên cao, nhất là khi dùng Cần sa chung
với các thuốc kích thích khác hay với rượu Do vậy nếu sử dụng lâu, người sẽ
trở nên gầy gò ốm yếu, ủ dột, có thể loạn thần kinh, người hút Cần sa mỗingày thường hay bị đau ốm vặt hơn người không dùng Cần sa làm tiêu hao T-cell, tế bào chính để chống nhiễm trùng, đưa đến suy yếu tính miễn dịch Cần
sa ảnh hưởng tới phổi, gây ho nhiều có đờm, dễ bị sưng phổi Trong Cần sacũng có những hóa chất có thể gây ung thư phổi như trong thuốc lá Cácnghiên cứu khác cho biết Cần sa có thể đưa đến ung thư cổ và đầu Trong Cần
sa có nhiều chất gây ung thư hơn thuốc lá tới 50-60% Phụ nữ có thai hútnhiều Cần sa thì sinh non, con nhẹ cân, thân ngắn, đầu nhỏ, lớn lên kém tậptrung Cần sa làm tăng nhịp tim, tăng máu rời khỏi tim, thay đổi huyết áp,giảm dưỡng khí cho mạch máu tim Thí nghiệm ở chuột Bạch cho thấy Cần salàm chết tế bào thần kinh nhất là vùng não có trách nhiệm về trí nhớ ngắn hạn.Cần sa có thể làm giảm kích thích tố testosterone, làm teo ngọc hành, thay đổihình dạng và sự cử động của tinh trùng, giảm ham muốn, rối loạn kinh kỳ,buồng trứng nữ giới trở nên bất bình thường [29], [82]
Ma túy tổng hợp: Các chất ma tuý tổng hợp có tác dụng kích thích mạnh
và nhanh hơn các chất ma tuý tự nhiên và bán tổng hợp Chúng có tác dụngkích thích nhất thời lên hệ thống thần kinh trung ương gây hưng phấn và ảo
Trang 22giác hoang tưởng Nếu dùng ATS thời gian dài sẽ gây nghiện, người sử dụngATS thường thiếu ngủ, chán ăn, đánh trống ngực, chóng mặt và các dấu hiệucường giao cảm như: tăng huyết áp, tăng thân nhiệt và rối loạn tâm thần, rốiloạn nội tiết, rối loạn tâm sinh lý và nhiều chức năng khác của cơ thể.
+ Amphetamine: Nếu sử dụng thường xuyên, lâu dài sẽ dẫn đến tìnhtrạng suy dinh dưỡng, không làm chủ bản thân, huyết áp cao và ở trạng tháiloạn thần kinh Với liều cao, amphetamin gây các phản ứng choáng, loạn nhịptim, không kiềm chế được các hành vi, có thể dẫn đến chết do các tác độngbên ngoài hoặc do ngộ độc thuốc
+ Methamphetamin: Methamphetamin được coi là một trong những chất
ma tuý phổ biến nhất, nguy hiểm nhất trong số các chất ma tuý bởi vì nó cótác dụng kích thích nhanh và mạnh hệ thống thần kinh trung ương nhưngđồng thời gây hội chứng "Đần" Dùng liều cao sẽ bị ngộ độc, hôn mê và cóthể chết đột tử
+ Ecstasy: Cũng như các chất ATS khác, ecstasy gây kích thích mạnh,tăng huyết áp, gây hoang tưởng và ảo giác rất mạnh Về tác dụng gây ảo giác,hoang tưởng thì MDMA mạnh hơn nhiều so với amphetamin vàmethamphetamin Chính vì vậy nó có tên gọi ecstasy, có nghĩa là loạn thần Dùng liều cao ecstasy gây rối loạn thần kinh, làm biến dạng một số nhậnthức Dùng lâu ecstasy tiêu diệt dần một phần thần kinh, hậu quả trước tiên
mà người sử dụng phải gánh chịu là hiện tượng lão hoá trước tuổi, rối loạn vềgiấc ngủ, trầm cảm, giảm trí nhớ, rối loạn tâm thần Dùng liều cao đột ngột sẽbị ngộ độc, dẫn đến chết [21], [26]
1.3.3.2 Ảnh hưởng của nghiện ma tuý lên một số cơ quan trong cơ thể
+ Đối với hệ hô hấp: Người nghiện hít heroin, cocain thì bị thủng vách
mũi; người hút cần sa thì bị viêm nhiễm đường hô hấp, ức chế hô hấp, nhất làkhi dùng quá liều,… Ngoài ra, sau khi dùng ma túy (nhất là cocaine) có thểgây phù phổi cấp, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phếnang, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản Các
Trang 23chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ
gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều Nhiều trường hợp ngưng thở nếu
không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột [21]
Theo thông tin trên tạp chí Medical Progress tháng 1 năm 1999, nhiều
công trình nghiên cứu của các tác giả Mỹ đã cho thấy có mối liên quan giữahút ma túy (nhất là cocaine) và ung thư phổi
+ Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim,
ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực,nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim Chúng cũng là nguyên nhân của các rốiloạn nhịp đe dọa tính mạng người dùng ma túy Ngoài ra còn gây nên tình trạng
co mạch làm tăng huyết áp Nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp, phình táchđộng mạch, viêm nội tâm mạc,… là những biến chứng hay gặp ở người nghiện
ma túy Nguy cơ nhồi máu cơ tim tăng lên gấp 24 lần sau 60 phút sử dụng chấtgây nghiện
Sự xuất hiện nhồi máu cơ tim sau sử dụng ma túy không liên quan đến
số lần sử dụng, cách dùng Chứng nhồi máu cơ tim ở người dùng ma túy khóchẩn đoán vì 2 nguyên nhân Thứ nhất, nhiều bệnh nhân dùng ma túy có đaungực, có thể có điện tâm đồ bất thường mà không nhồi máu cơ tim Thứ hai làhơn một nửa số người sử dụng ma túy có nồng độ men CK (creatine kinase)tăng cao là dấu hiệu nhồi máu cơ tim trong khi không hề bị tai biến này.Người sử dụng ma túy dễ bị nhồi máu cơ tim và bệnh tim thiếu máu cục bộ do
ma túy sẽ làm co các mạch vành, gia tăng kết dính tiểu cầu nên dễ dàng hìnhthành cục máu đông trong mạch vành Ma túy cũng làm tăng nhu cầu sử dụngôxy trong khi cung cấp ôxy chỉ ở mức hạn chế, đồng thời giảm sản xuất chấtgây giãn mạch Vì vậy, những người sử dụng ma túy có xơ vữa động mạchvành rất dễ nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim thường xuất hiện sau 1 giờ sử dụng ma túy, khi nồng
độ ma túy đạt tối đa ở trong máu Tuy nhiên, một số bệnh nhân bị biến chứngnày sau 1 giờ, khi nồng độ ma túy đã rất thấp hoặc không có trong máu
Trang 24Những người trẻ tuổi nghiện ma túy có thể làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim.Các nhà nghiên cứu ở Texas, Hoa Kỳ đã phân tích dữ liệu từ hơn ba triệungười tuổi từ 18-44 nhập viện ở bang này năm 2000-2003 Kết quả cho thấyngười nghiện Amphetamine có trên 61% người nghiện có nguy cơ bị nhồimáu cơ tim hơn những người bình thường Trong thời gian 4 năm, nghiênnghiên cứu cho thấy mối liên quan của nghiện Amphetamine với nhồi máu cơtim tăng trên 166% ngoài ra, ma túy còn gây các bệnh tim như:
Suy Tim: Việc sử dụng ma túy kéo dài có thể gây ra phì đại cơ tim vàsuy tim tâm thu Hiện tượng này xuất hiện ở khoảng 7% số người nghiện Sựkích thích giao cảm liên tục ở những người sử dụng ma túy thường xuyên cóthể dẫn tới bệnh cơ tim giãn với sự hoại tử các dải cơ tim, xơ hóa cơ tim Matúy cũng gây viêm cơ tim ở những người tiêm chích
Viêm nội tâm mạc: Thường xảy ra ở những người sử dụng ma túy quađường tiêm chích tĩnh mạch Tiêm chích sẽ làm tăng nguy cơ viêm nội tâmmạc nhiễm khuẩn do sử dụng bơm tiêm thiếu vô trùng Hơn nữa, người sửdụng ma túy thường bị giảm khả năng miễn dịch nên dễ nhiễm trùng
Viêm tắc mạch: Thường xảy ra ở những người sử dụng ma túy theođường tiêm chích Việc tiêm chích vào tĩnh mạch hoặc động mạch nhiều lần
dễ làm hình thành huyết khối Việc sử dụng các bơm tiêm không vô trùng dễgây nên tình trạnh viêm tắc động mạch hoặc tĩnh mạch Một số bệnh nhân haytiêm chích vào tĩnh mạch bẹn, có thể chọc xuyên qua thành động mạch gâythông động tĩnh mạch [2], [21], [58]
+ Đối với hệ thần kinh: Ma túy có thể gây tác hại đầu độc đối với nhiều
dạng tế bào và mô, cơ quan trong cơ thể đặc biệt là các nơron thần kinh.Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái,
lệ thuộc thuốc, cũng có thể gây các tai biến như: co giật, xuất huyết dướinhện, đột quị [21]
+ Đối với hệ sinh dục: Ở những nam giới dùng ma túy trong thời gian
dài sẽ bị chứng vú to và bất lực Ở phụ nữ bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt,
Trang 25rong kinh, tăng tiết sữa bất thường và vô sinh Ma tuý còn gây tác hại lâu dàicho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmonsinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phânbào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gen độc có điều kiện hoạt hoá, dẫntới suy yếu nòi giống [2], [21].
Ngoài ra cơ thể người nghiện bị tổn thương hay nhiễm trùng do phươngcách sử dụng như dùng chung bơm kim tiêm không được tiệt trùng dẫn đếnlây nhiễm viêm gan virus B, C, đặc biệt là HIV/AIDS
1.2 Lược sử nghiện ma tuý trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Hơn 8000 năm trước, thuốc phiện đã được người Somai ở Tây Á sửdụng Người ta đã biết được những khoái cảm do ma túy mang lại TheoDugarin, loài người đã biết đến thuốc phiện từ 3000 năm trước Công nguyên
Từ xa xưa, các bộ lạc ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Úc đã sử dụng thuốcphiện vào nhiều mục đích khác nhau: Chữa bệnh, nghi thức tiếp xúc với thầnlinh, giảm nhẹ nỗi sợ chết trong chiến tranh, nỗi u phiền trong đời sống Cácthầy lang, thầy cúng ở các bộ lạc cổ sơ đã biết chữa các chứng đau, ho, tiêuchảy, nhức đầu, bằng thuốc phiện Thuốc phiện là chất ma tuý được sử dụng
để chữa bệnh sớm nhất ở châu Á, ở châu Âu mãi sau này thuốc phiện mớitheo chân các lái buôn gia vị từ Ấn Độ vào [29]
Thế kỷ thứ 1, Rioskelires đã miêu tả khá kỹ thuốc phiện trong cuốn sách “Dược điển luận” của mình Tuy nhiên ở thời kỳ này, người ta mới chú trọng đếnnhững khoái cảm, những tác dụng trong chữa bệnh mà thuốc phiện mang lạinhưng chưa chú ý đến mặt trái của nó - Đó là trạng thái gây nghiện khó cai.Giữa thế kỷ 16, Paracelse (Thụy Sỹ) pha chế thuốc phiện để chữa cácchứng bệnh phát sinh trong đầu con nghiện với suy luận độc đáo là hình thùquả anh túc giống đầu người
Đến giữa thế kỷ 17, Sydenham (Anh) sửa đổi công thức của Paracelsechế ra một dược phẩm mới gọi là Laudanum (cồn thuốc phiện) và được sử
Trang 26dụng phổ biến để chữa nhiều bệnh ở nhiều nước Thuốc phiện đã chữa đượcnhiều chứng bệnh nhưng đồng thời cũng mang lại không ít tai hoạ.
Từ thế kỷ 19 tại nhiều nước châu Âu, nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng đã sửdụng thuốc phiện như một nguồn cảm hứng cho sáng tác, ca tụng cảm giácsảng khoái và nhiều cảm giác kỳ ảo khác của thuốc phiện, góp phần làm cho
số người lạm dụng thuốc phiện trong xã hội các nước châu Âu ngày càngtăng Ở Pháp có thể kể đến Alfred de Musset, Honore de Balzac, đặc biệtBaudelaire với tác phẩm ca tụng thuốc phiện nổi tiếng “Các thiên đường nhântạo (les Paradix arfificiels)” Ở Anh có thể nhắc đến Charles Diskens vàWalter Scott,…
Đầu thế kỷ 19, Morphine đã được chiết xuất từ thuốc phiện (Derosne,Sequin, ) nhưng Morphine chỉ được biết đến rộng rãi ở giữa thế kỷ 19 vớiphát minh sáng chế ra bơm tiêm của Pravaz, Morphine qua đường tiêm chíchvào cơ thể là một thứ thuốc giảm đau nhanh chóng Một thời gian sau,Morphine được sử dụng trong cuộc nội chiến ở Mỹ và trong chiến tranh Pháp-Đức và đã làm dịu các cơn đau cho một số lớn thương binh Tuy nhiên sauchiến tranh nhiều người trong số các thương binh nói trên lại lâm vào một trạngthái đau đớn mới, dai dẳng hơn, phức tạp hơn - Đó là trạng thái nghiện Morphine.Cuối thế kỷ 19, Heroin được Wright (Anh) bán tổng hợp từ Morohine,sau đó Dreser (Đức) hoàn chỉnh quy trình bán tổng hợp này và sử dụngHeroin như một chất giảm đau mới Chất này có hiệu lực chữa ho rất tốt, kể
cả các cơn ho của bệnh lao, từ đó có tên là Heroin (thuốc anh hùng) Đặc biệtdùng Heroin thì trạng thái nghiện Morphine được thanh toán nhanh chóng nênđược sử dụng để cai Morphine Tuy nhiên, một thời gian sau người ta pháthiện ra rằng Heroin sau khi vào cơ thể sẽ bị thủy phân thành Morphine Do vậy,Heroin đã trở thành chất ma tuý gây tác hại nhiều nhất cho loài người [45] Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, năm 2007 dân số toàn cầu ở độ tuổi
từ 15-64 là 4,34 tỉ người Trong đó, số người sử dụng ma túy độ tuổi từ 15-64nằm trong khoảng 172-250 triệu người chiếm 4-5,8% dân số thế giới, chủ yếu
Trang 27sử dụng Heroin Có khoảng 18-58 triệu người nghiện ma túy và 11-21 triệungười nghiện sử dụng ma túy bằng cách tiêm chích.
Theo báo cáo tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2010, thuốc phiện chính
là vấn đề nghiện ma túy hiện nay, trong 10 năm qua có 50% người nghiện matúy là nghiện thuốc phiện Châu Á có 60%, châu Phi tăng từ 8% năm 1990 lênđến 20% năm 2008, Bắc Mỹ từ 10% (2006) lên 20% (2008)
Trong nhóm thuốc phiện, Cần sa vẫn được sử dụng nhiều nhất 3,4%) Châu Đại Dương có xu hướng tăng số người sử dụng Cần sa, giảm sốngười sử dụng Heroin Ở châu Âu, Mỹ La Tinh, Caribe, châu Phi có xu hướngtăng số người sử dụng Cocain Trong những năm gần đây số người sử dụngchất kích thích dạng Amphetamine tăng, đặc biệt ở châu Á tăng mạnh Sốngười sử dụng Amphetamine chiếm tỉ lệ lớn nhất so với toàn cầu [4]
(3,3-Bảng 1.1: Số người từ 15-64 tuổi sử dụng ma túy bất hợp pháp trong năm
Mỹ 41.45-42.08 5.65-5.78 3.13-3.22 2.19-2.32 9.41-9.57Châu
Âu 28.89-29.66 2.43-3.07 3.75-3.96 3.44-4.05 4.33-4.60Châu Á 40.93-59.57 5.78-37.04 3.52-13.38 8.44-11.98 0.40-2.56Châu
Úc 2.46-2.57 0.57-0.59 0.81-0.88 0.09 0.34-0.39Toàn
cầu
142.58-190.27 15.82-50.57
23.51 15.16-21.13
11.58-20.76
15.59-(Nguồn: Báo cáo ma túy thế giới 2009 của Liên Hợp Quốc-Bảng2 E/CN.7/2010/02–Trang 15)
1.2.2 Ở Việt Nam
Theo luận thảo cương mục của Lê Quí Đôn, từ xưa người dân các tỉnhmiền núi phía bắc đã biết trồng cây Anh túc và dùng thuốc phiện vào các mục
Trang 28đích chữa bệnh, cúng lễ, hiếu hỷ,… Hút thuốc phiện đã trở thành một tập tụcphổ biến ở nhiều vùng nước ta nhất là vùng cao, vùng dân tộc ít người [27].Các triều đại phong kiến đã biết tác hại của nghiện thuốc phiện và đã cóchủ trương cấm thuốc phiện Theo sách Đại Nam thực lục, từ năm 1824 đếnnăm 1873, triều đình nhà Nguyễn đã ban hành 12 đạo dụ cấm hút thuốc phiện
và đề ra các hình phạt đối với những người vi phạm lệnh cấm nói trên Nhưngđến thời kỳ Pháp thuộc chính quyền thực dân Pháp đã đi ngược lại chủ trươngchống thuốc phiện nói trên Thực dân Pháp đã độc quyền công khai bán rượu
và thuốc phiện trong cả nước, vừa đầu độc dân ta để dễ cai trị vừa thu lợinhuận kếch xù
Trong 30 năm từ cách mạng Tháng 8 thành công đến ngày miền Namđược hoàn toàn giải phóng, diễn biến của tình hình nghiện các chất dạngthuốc phiện có khác nhau giữa các vùng kháng chiến tự do và các vùng tạmchiếm Ở vùng kháng chiến tự do, chủ yếu là nghiện thuốc phiện theo môhình cổ điển, đại đa số hút thuốc phiện, một số ít tiêm morphine, chưa sửdụng Heroin Đối tượng nghiện là người lớn chủ yếu là nhân dân vùng núiphía bắc có truyền thống trồng cây thuốc phiện, tỉ lệ người nghiện thấp Ởvùng tạm chiếm, nhất là ở các thành phố, nghiện chất dạng ma tuý là Heroindần dần thay thế thuốc phiện và Morphine Phương thức tiêm tĩnh mạch ngàycàng chiếm ưu thế so với hút, hít, ăn, uống Đối tượng nghiện là thanh thiếuniên bị lôi kéo ngày càng đông Theo báo Le Combat ra tháng 8-1974 thì lúcbấy giờ các tỉnh thành phía Nam có khoảng 30 vạn người nghiện ma tuý, chủyếu là nghiện thuốc phiện, Heroin và đa số là thanh thiếu niên
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, công tác phòng chống nghiện
ma túy ở các tỉnh, thành phía nam đạt được nhiều kết quả trong những nămđầu giải phóng Nhưng trong bối cảnh của tình hình phát triển kinh tế thịtrường, cùng với nạn buôn lậu ma tuý khó triệt phá, nạn nghiện các chất dạngthuốc phiện có cơ hội phát triển và lan rộng theo mô hình hiện đại nói trên, lôi
Trang 29kéo nhiều thành phần thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên kể cả công nhânviên chức nhà nước.
Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, nghiện Heroin đã trở thành hiểm hoạcho đất nước Từ đó đến nay chính phủ đã huy động mọi cơ quan đoàn thểhữu quan và toàn dân tham gia tham gia chống quốc nạn nghiện ma túynhưng chưa đạt kết quả như mong muốn [29], [45]
Theo báo cáo thường trực của ủy ban phòng chống ma túy quốc gia, năm
2002 hiện cả nước có 120 nghìn người nghiện chất dạng thuốc phiện có hồ sơkiểm soát, đa số là nam lứa tuổi thanh thiếu niên và nghiện Heroin, 85%những đối tượng nghiện này có liên quan tới tội phạm trong đó 40% liên quantới các vụ trọng án Theo ủy ban phòng chống HIV/AIDS năm 2003 hiện cảnước có trên 70.000 người nhiễm HIV/AIDS, trong đó trên 60% liên quan tớitiêm chích ma túy Tính đến cuối năm 2009 số người nghiện ma túy có hồ sơquản lý là 146.731 người Trong số này, số người sử dụng Heroin chiếm83,1%, số người nghiện ma túy ở lứa tuổi lao động (30-45 tuổi) chiếm 54,2%.Đó là những con số hết sức đáng lo ngại Những năm gần đây nước ta đã xuấthiện các chất ma tuý tổng hợp rất nguy hiểm, đặc biệt là các chất ma tuý kíchthích dạng amphetamine: Amphetamine-type-stimulans (ATS) có xu hướnggia tăng rất mạnh
Số lượng người nghiện có hồ sơ quản lý trong những năm gần đây:
Bảng 1.2: Số lượng người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý từ năm 2005-2009
Trang 301.3 Một số biện pháp phòng ngừa và cai nghiện ma tuý hiện nay
1.3.1 Các biện pháp phòng ngừa
Theo Nguyễn Mạnh Tuấn [45], nghiện ma tuý là kết quả tác động qua lạicủa 3 nhân tố: cá nhân (có khuynh hướng lạm dụng chất ma tuý), chất ma tuý vàmôi trường sống Vì vậy để phòng ngừa cần phải tác động vào 3 nhân tố trên.+ Tác động vào cá nhân: Giáo dục sâu và rộng tại các trường học, các tổchức đoàn của thanh thiếu niên, các cơ quan thông tin đại chúng, giáo dục cánhân về trách nhiệm bảo vệ sức khoẻ của chính mình trước sự lôi kéo, cám dỗcủa chất ma tuý Giáo dục kỹ năng sống tự chủ, khẳng định bản thân, có tráchnhiệm đối với gia đình và xã hội (biết ra quyết định, biết cách từ chối, biếtphân tích, biết phán đoán, lựa chọn) Có các hành vi thích ứng với các sự kiệnxảy ra, học cách vượt qua các khó khăn trong cuộc sống mà không cần sự trợgiúp của các chất ma tuý
+ Đấu tranh để loại trừ, kiểm soát chặt chẽ chất ma tuý, đây là nhiệm vụkhó khăn mà nhà nước giao cho các cơ quan chức năng Trách nhiệm chủ yếuthuộc về các ngành Công an, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm sát, Toà án,chính quyền các cấp Phấn đấu giảm cung chất ma tuý thông qua việc cấm sảnxuất, buôn bán, tàng trữ chất ma tuý, kiểm soát chặt chẽ các dược phẩm gâynghiện trên thị trường, phấn đấu thực hiện một môi trường xã hội trong sạch,không có ma túy
+ Tác động vào môi trường sinh sống: Liên tục thúc đẩy công tác thôngtin đại chúng nhằm cung cấp những kiến thức về bản chất và mức độ ảnhhưởng của các chất ma tuý khi sử dụng, lạm dụng và bị nghiện, hậu quảnghiêm trọng của nghiện ma tuý đối với cá nhân, gia đình và cộng đồng.Đồng thời liên kết mọi tầng lớp nhân dân trong công tác phòng chống ma tuý.Đối với thanh thiếu niên cải thiện môi trường sống trong gia đình cũng nhưngoài xã hội, chống lại lối sống buông thả, thiếu đạo đức hoặc sống buồn tẻ,đơn điệu hoặc lối sống bạo lực và xâm phạm Phát triển các nguồn lực vănhoá xã hội như tạo ra các sân chơi lành mạnh cho thanh thiếu niên (thư viện,
Trang 31thể thao, phim ảnh, truyền hình, văn nghệ, giải trí, theo hướng tác động tíchcực) Giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc phù hợp với luân lý, đạo đứctruyền thống của nước ta Nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng, đề caolối sống có trách nhiệm và tương trợ lẫn nhau, phản đối lối sống các nhân, vịkỷ.
1.3.2 Các biện pháp cai nghiện ma tuý và chống tái nghiện hiện nay
Theo Đái Duy Ban [2], Nguyễn Tích Huyền [25], Nguyễn Mạnh Tuấn[45] hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đã có các loại thuốc và phươngpháp điều trị ma túy, bao gồm các phương pháp như sau:
+ Phương pháp cai khô: Còn gọi là phương pháp cai chay được áp dụng
tại Mỹ năm 1938 bằng cách cô lập bệnh nhân, không cho bệnh nhân tiếp xúcvới môi trường bên ngoài, ngừng hoàn toàn việc sử dụng các chất ma túymặc cho người nghiện lên cơn vật vã, kêu la Cơn nghiện sẽ giảm dần sau 7-
10 ngày nhưng người nghiện mệt mỏi, mất ngủ, đau nhức cơ xương kéo dàihàng tháng
+ Phương pháp giảm dần: Còn gọi là phương pháp cai dần hay giảm
liều, bằng cách giảm liều ma túy mỗi ngày một ít trong thời gian từ 13-30ngày Đồng thời tăng cường thuốc bổ và thuốc an thần, cơn nghiện giảm từ từkhông vật vã như phương pháp cai khô Nhược điểm của phương pháp này làphải dùng chất ma túy, thời gian cắt cơn kéo dài
+ Phương pháp phẫu thuật thùy trán: Phẫu thuật nhằm phá hủy một số
điểm ở thùy trán của não quan hệ đến sự thèm muốn ma túy làm cho ngườinghiện không còn cảm thấy cần chất ma túy nữa Phương pháp này có ưuđiểm cắt cơn nhanh và cai nghiện được nhưng có nhược điểm là sau khi phẫuthuật, bệnh nhân không phân biệt được sự phải trái của hành động Viện Hànlâm Y học Nga đã công bố thành tựu này do GS Natalia Bectereva thực hiện.Trong số 34 người nghiện đã phẫu thuật có 27 người không trở lại với ma túy(đạt tỷ lệ 80%) Hiện nay ở Ý người ta cải tiến phương pháp rạch thùy trán đểgiảm bớt những hậu quả do phẫu thuật gây ra
Trang 32+ Phương pháp thôi miên: Cho bệnh nhân giấc ngủ nhân tạo từ 3-7ngày,
nuôi dưỡng bệnh nhân bằng truyền dịch, chăm sóc đặc biệt Phương pháp nàychỉ có tác dụng giảm bớt cơn vật vã chứ không hết hẳn, thường kết hợp vớichlorpromazin 100-200mg/ngày + diazepam 10-60mg/ngày + phenobarbital100mg Bệnh nhân lên cơn vật vã trong khi ngủ và sau đó di chứng nghiệncòn kéo dài hàng tháng Phương pháp này có ưu điểm làm giảm bớt cơn vật
vã, bệnh nhân không đau đớn, nhưng nhược điểm là có bệnh lý trong nội tạng
sẽ gặp khó khăn trong chẩn đoán điều trị, ảnh hưởng đến tính mạng ngườibệnh
+ Dùng các thuốc hướng tâm thần: Phương pháp này được Bộ Y tế Việt
Nam ban hành và áp dụng từ năm 1995, bằng cách dùng các thuốc giải lo âu(diazepam) và các thuốc chống trầm cảm (meliplamin, amitriptylin) cắt cơntrong vòng 7-10 ngày Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, rẻ tiền, dễ ápdụng, tuy nhiên nhiều tác dụng phụ, người bệnh vật vã nhiều, có cảm giác dòi
bò và rối loạn tiêu hóa
+ Sử dụng thuốc hạ huyết áp clonidin: Được sử dụng ở Úc và các nước
châu Âu, thuốc có tác dụng cắt cơn tương đối êm dịu nhưng cũng hay gặpmột số tác dụng phụ khác như hạ huyết áp ở bệnh nhân
+ Thuốc Đông y: Thuốc Đông y có nguồn gốc từ thảo dược, có tính an
toàn, không độc, có hiệu lực trong hỗ trợ cắt cơn cai nghiện mat túy Quá trìnhcắt cơn êm dịu, thuốc có khả năng bình ổn các triệu chứng của hội chứng cai,như triệu chứng dị cảm và thèm chất ma túy Nhược điểm của các thuốc Đông ychưa thực hiện được nghiên cứu mù kép và cơ chế tác dụng của thuốc
Hiện nay có 2 thuốc đông Y đã được Bộ Y tế cấp sổ đăng ký cho phéplưu hành trong các tung tâm cai nghiện là thuốc Cedemex và thuốc Bông sen
+ Phương pháp dùng thuốc đối kháng: Phương pháp dùng thuốc đối
kháng Naltrexon điều trị duy trì hỗ trợ chống tái nghiện các chất dạng thuốcphiện, đã được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới Phương pháp này có
ưu điểm là làm cho bệnh nhân chán chất ma túy nhưng nhưng có nhược điểm
Trang 33là lên cơn vật vã, bứt rứt, khó chịu, táo bón, độc với gan và thận, có thể gâysốc khi bệnh nhân vẫn sử dụng chất ma túy Hiện nay có hai biệt dược đãđược Bộ Y tế cho phép sử dụng để điều trị duy trì chống tái nghiện các chấtdạng thuốc phiện đó là: thuốc danapha-Natrex 50 và thuốc albernill.
+ Phương pháp điều trị bằng chất thay thế: Trên thế giới, các chất để
điều trị thay thể các chất dạng thuốc phiện như methadon, buprenophin,LAAM (levo alpha acetyl methadon) trong đó methadon là loại thuốc chínhđược sử dụng trong phương pháp điều trị cai nghiện thay thế các chất dạngthuốc phiện Liệu pháp methandon từ năm 1985 đã được chính phủ Mỹ côngnhận là liệu pháp có hiệu lực, chương trình methandon được xem là một quốcsách và được triển khai trong cả nước Nhằm đánh giá tầmquan trọng và hiệuquả của việc điều trị thay thế bằng methandon, đầu năm 2005, WHO đã bổxung methandon vào danh mục các thuốc thiết yếu của WHO Ở Việt Namviện sức khỏe tâm thần trung ương đã tiến hành triển khai nghiên cứu và thửnghiệm điều trị thay thế bằng methandon từ năm 1996 Hiện nay sau khi đượcthủ tướng Chính phủ cho phép, Bộ Y tế nước ta đang triển khai thí điểm điềutrị thay thế các chất dạng thuốc phiện tại Hải Phòng và thành phố Hồ ChíMinh Tính đến 2/2009 đã có 817 bệnh nhân được điều trị bằng methandon vàcải thiện đáng kể thể chất
+ Phương pháp điện châm: Dùng điện châm, ngày châm nhiều lần tuỳ
thuộc vào trạng thái đói thuốc của bệnh nhân Điện châm 2-3 lần/tuần, kéo dàitrong vòng 3-4 tháng Phương pháp điện châm điều trị hỗ trợ cai nghiện matuý đã được Bộ Y tế ban hành vào năm 2003 Phương pháp điện châm khôngchỉ cắt cơn nghiện cho bệnh nhân mà phương pháp điều trị kéo dài, qua đánhgiá sau một số năm có nhiều người nghiện vẫn không tái nghiện Điện châmcó ưu điểm cắt cơn nhanh, ít tốn kém, dễ thực hiện tại tuyến cơ sở
+ Liệu pháp tâm lý: Có thể dùng liệu pháp tâm lý đơn thuần hay liệu
pháp tâm lý kết hợp với thuốc hướng thần Ở Nga đó là liệu pháp tâm lý theohọc thuyết của Paplov đang được áp dụng rất thành công tại viện hành vi Nga.Tại Mỹ đó là phương pháp cộng đồng trị liệu Phương pháp này có ưu điểm là
Trang 34chỉ bằng lời nói không tốn kém nhưng đòi hỏi phải có bác sĩ chuyên khoa tâmthần học hoặc các chuyên gia tâm lý được đào tạo nắm vững kỹ năng điều trịtâm lý ( thuyết phục, ám thị,…) vì khó thực hiện ở tuyến cơ sở.
Điều trị cắt cơn không phải là điều trị chủ yếu Chủ yếu là quá trình điều trịtrạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần, trạng thái thèm heroin trường diễn gây ratái nghiện, đó là phương pháp chống tái nghiện lâu dài:
+ Điều trị bắt buộc tại các trung tâm thuộc Bộ Lao động thương binh xã hội+ Điều trị thay thế bằng methadone và điều trị đối kháng bằng naltrexon
Mô hình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện ở Việt Nam [44]
Người nghiện chất dạng thuốc phiện
Tự nguyện Cưỡng chế và tự nguyện
Mãn hạn
Hết phụ thuộc vào chất
dạng thuốc phiện ở cộng đồng Cắt cơn
-Liệu pháp tâm lý -Phục hồi lao động
-Liệu pháp tâm lý -Phục hồi lao động xã hội
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng nghiện ma tuý trên địa bàn Nghệ An Đề tài đượctiến hành khảo sát trên 988 đối tượng gồm 980 nam và 8 nữ ở độ tuổi từ 16-
45 tại các địa bàn: Tp Vinh, Tx Thái Hòa, huyện Nghĩa Đàn, Tx Cửa Lò Sauđó tiến hành nghiên cứu một số chỉ số về hình thái, sinh lý, sinh hoá, huyếthọc ở người nghiện ma tuý
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Thông qua tổ chức Y tế, Công an phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hộitỉnh Nghệ An, Sở LĐTBXH Nghệ An, trung tâm Lao động số I, II Nghệ An,phòng LĐTBXH Tp Vinh, Tx Thái Hòa, Tx Cửa Lò tiến hành thu thập sốliệu, tìm hiểu thông tin, tiếp xúc đối tượng và chọn mẫu nghiên cứu
Điều tra qua bệnh án của đối tượng tại các trung tâm cai nghiện, bệnhviện cùng với sự trợ giúp của các chuyên gia y tế
Phỏng vấn trực tiếp và bằng phiếu điều tra với 200 đối tượng nghiện matuý trên địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập các thông tin và bệnh liên quan.Chọn ngẫu nhiên 34 đối tượng nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, sinh lý,sinh hoá máu, kết hợp với 34 người bình thường để nghiên cứu đối chứng.Nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng là nam giới có cùng độ tuổi từ 18-45
Trang 36Sơ đồ tóm tắt tổ chức và tiến hành nghiên cứu
Khảo sát thực tế, thu thập số liệu
Tổng hợp, phân tích
số liệu
Tiến hành nghiên cứu các chỉ tiêu
Viết luận văn
Nghiên cứu tài liệu
Chọn mẫunghiên cứu
Trang 37Sơ đồ nghiên cứu đối với nhóm đối tượng:
Đối tượng nghiện
ma tuý
Chọn mẫu n=34
Các chỉ số
hình thái
Các chỉ sốsinh hóa
Phân tích và xử lý số liệu
Các chỉ số sinh lý
Các chỉ sốhuyết học
Kết quả nghiên cứu
Khảo sát,điều tra
Nghiên cứu các chỉ số
Trang 382.3 Các phương pháp nghiên cứu
Xác định một số chỉ tiêu hình thái : Chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực
Chiều cao đứng (H): Đo chiều cao đứng bằng thước dây nhựa mềm, chia
độ tới mm, cố định trên một mặt phẳng đứng Đối tượng cởi bỏ dày, dép,đứng thoải mái, hai tay duỗi thẳng, mắt nhìn thẳng, hai gót chân chụm, khi đophải chạm thước tại 4 điểm: chẩm, vai, mông và gót chân Đo khoảng cách từgót chân tới đỉnh đầu và đọc chính xác tới mm (đơn vị tính cm)
Cân nặng (W): Xác định cân nặng bằng cân bàn Trung Quốc Đối tượng
cởi bỏ dày, dép, mặc quần áo mỏng và lên xuống bàn cân nhẹ nhàng Khi kimkhông chuyển động nữa và đọc kết quả chính xác tới g (đơn vị tính bằng kg)
Vòng ngực (P t ): Vòng ngực được đo bằng thước dây mềm và độ chia
chính xác tới mm Đo vòng ngực lúc thở ra và lúc hít vào tối đa rồi chia trungbình giữa hai lần đo Khi đo đối tượng mặc áo mỏng, thước dây được vòng từtrước ra sau ngang mức mỏm xương bả vai (đơn vị tính bằng cm)
Phương pháp tính các chỉ số nhân trắc gián tiếp
Xác định BMI theo công thức: