1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Xác định, đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc lá ở người đi làm để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm số lượng người hút thuốc lá.

86 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm xác định, đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc lá ở người đi làm để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm số lượng người hút thuốc lá. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

PHAN TRỊNH NGỌC ANH

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI HÚT THUỐC LÁ CỦA NGƯỜI ĐI

LÀM TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH-NĂM 2015

Trang 2

PHAN TRỊNH NGỌC ANH

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI HÚT THUỐC LÁ CỦA NGƯỜI ĐI

LÀM TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

MÃ SỐ: 60310105

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN QUỲNH HOA

TP.HỒ CHÍ MINH-NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Phan Trịnh Ngọc Anh

Là học viên cao học lớp Thạc sĩ Kinh tế và Quản trị Sức khỏe, khóa 2013-2015 của Khoa Kinh tế Phát triển, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng nghiên cứu 2

1.5 Phạm vi nghiên cứu 3

1.6 Phương pháp nghiên cứu 3

1.7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3

1.8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 4

2.1 Mô hình hành vi của người tiêu dùng 4

2.1.1 Các yếu tố văn hoá 4

2.1.2 Các yếu tố xã hội 5

2.1.3 Các yếu tố cá nhân 6

2.1.4 Các yếu tố tâm lý 7

2.2 Các nghiên cứu liên quan 10

2.2.1 Giá thuốc 11

2.2.2 Thu nhập 12

2.2.3 Các yếu tố xã hội học khác 12

2.2.4 Tác động của cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá 13

2.2.5 Tác động của truyền thông về tác hại của thuốc lá 13

2.3 Thực trạng kiểm soát thuốc lá tại Việt Nam 14

Trang 5

2.3.1 Thuế 14

2.3.2 Giá 15

2.3.3 Thực trạng kiểm soát thuốc lá tại Việt Nam 16

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 20

3.1 Khung phân tích 20

3.2 Mô hình nghiên cứu 21

3.3 Giả thiết nghiên cứu 21

3.4 Phương pháp phân tích 22

3.5 Mô tả dữ liệu 23

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 Đặc điểm của mẫu quan sát 25

4.1.1 Toàn bộ mẫu 25

4.1.2 Đối với người hút thuốc 30

4.1.3 Tác động của truyền thông, kiến thức và nhận thức của đối tượng khảo sát về tác hại của thuốc lá 37

4.2 Kết quả mô hình 46

4.2.1 Mô hình hồi quy tham gia hút thuốc 46

4.2.2 Mô hình cường độ hút thuốc 51

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

5.1 Kết quả chính 55

5.2 Kiến nghị 56

5.3 Hạn chế 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MPOWER Gói các chính sách kiểm soát thuốc lá hiệu quả

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng thuế suất thuốc lá của Việt Nam từ năm 1990 đến nay 15

Bảng 2.2 Diện tích trung bình của cảnh báo sức khỏe ở một số nước trên thế giới 17 Bảng 4.1 Thông tin tổng quan về đối tượng nghiên cứu 25

Bảng 4.2 Mối quan hệ giữa bằng cấp và nghề nghiệp 26

Bảng 4.3 Thu nhập bình quân hàng tháng của đối tượng khảo sát 27

Bảng 4.4 Độ tuổi của đối tượng khảo sát 28

Bảng 4.5 Thống kê về đối tượng khảo sát có hút thuốc lá hay không 29

Bảng 4.6 Số điếu thuốc lá hút mỗi ngày ở người hút thuốc lá 30

Bảng 4.7 Chi phí hút thuốc lá hàng tháng của đối tượng khảo sát 31

Bảng 4.8 Bảng giá thuốc lá Warhorse và Whitehorse thu thập từ các phường, xã khảo sát 32

Bảng 4.9 Thực trạng sử dụng các nhãn hiệu thuốc lá 33

Bảng 4.10 Phản ứng của người hút thuốc lá khi tăng giá thuốc ở các mức độ khác nhau 35

Bảng 4.11 Chú ý đến tác hại của thuốc lá trên các loại phương tiện truyền thông 37

Bảng 4.12 Tỉ lệ phần trăm những người hút thuốc lá thấy cảnh báo sức khỏe trên bao thuốc lá và nghĩ tới việc bỏ hút thuốc 39

Bảng 4.13 Tỉ lệ phần trăm những người khảo sát tin rằng thuốc lá gây ra bệnh đột quỵ, ung thư phổi, nhồi máu cơ tim 41

Bảng 4.14 Tỉ lệ những người khảo sát hiểu biết về cấm hút thuốc lá tại các trung tâm y tế, trường học, khu vui chơi và chăm sóc trẻ em 43

Bảng 4.15 Hiểu biết của những người hút thuốc về quy định xử phạt khi hút thuốc không đúng nơi quy định 45

Bảng 4.16 Thống kê về nhóm nghề nghiệp 46

Bảng 4.17 Kết quả mô hình tham gia hút thuốc với giá thuốc lá trung bình 47

Bảng 4.18 Tác động biên của các nhóm tuổi ở mô hình tham gia hút thuốc với giá thuốc lá trung bình 50

Bảng 4.19 Mô hình cường độ hút thuốc ở người hút thuốc lá 51

Trang 8

Bảng 4.20 Kiểm định đa cộng tuyến 52 Bảng 4.21 Kiểm định phân phối chuẩn 53

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Khung phân tích 20

Hình 4.1 Thu nhập bình quân hàng tháng của đối tượng quan sát 27

Hình 4.2 Biểu đồ phân bố tuổi 28

Hình 4.3 Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 52

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề:

Sử dụng thuốc lá là nguyên nhân chính của một số bệnh gây tử vong trên thế giới Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2009), trên thế giới, mỗi năm có 5 triệu ca tử vong do sử dụng thuốc lá và đến năm 2030 ước tính sẽ là 10 triệu người Một số nghiên cứu đã ghi nhận những hậu quả của hút thuốc đối với sức khỏe Hút thuốc là nguyên nhân gây các bệnh như: tim mạch, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (bệnh khí phế thũng và viêm phế quản) Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc sẽ giảm 6-10 năm (Doll và đồng sự, 2004) Việc sử dụng thuốc lá không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe mà còn tạo ra một gánh nặng cho xã hội và hệ thống y tế vì nó làm tiêu tốn các nguồn lực giá trị Trong khi tỷ lệ hút thuốc đã giảm ở nhiều quốc gia phát triển, thì tỉ lệ hút thuốc tăng cao và ngày càng tăng ở nhiều quốc gia nghèo Riêng tại Việt Nam, một mô hình mô phỏng được xây dựng ước tính rằng năm 2008

có khoảng 40.000 người tử vong xuất phát từ nguyên nhân hút thuốc lá và đến năm

2023 con số này sẽ tăng lên hơn 50.000 người (Levy DT, 2006) Chỉ riêng chi phí liên quan tới 3 căn bệnh ung thư phổi, bệnh tim do thiếu máu cục bộ và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính do sử dụng thuốc lá ước tính đã vượt 1100 tỷ đồng trong năm 2005 (Ross, 2007) Tỷ lệ hút thuốc lá tại Việt Nam ước tính khoảng trên 49.2% ở nam giới

và dưới 2% ở nữ giới (Bộ Y Tế Việt Nam, 2003)

Chính phủ Việt Nam nhận thức được tác động của việc hút thuốc đối với sức khỏe cộng đồng nên đã phát động một chiến dịch chống hút thuốc lá như ban hành Nghị quyết số 12 năm 2000 của Chính phủ về chính sách kiểm soát thuốc lá quốc gia và luật phòng, chống tác hại thuốc lá đã được Quốc hội thông qua năm 2012 Đồng thời, Việt Nam là một trong những quốc gia châu Á đầu tiên ký Công ước chung của Tổ chức y tế Thế giới về kiểm soát thuốc lá vào năm 2003

Để giảm số người hút thuốc và tiêu thụ thuốc lá, một trong các phương pháp được áp dụng là tăng giá thuốc Giá các sản phẩm thuốc lá càng cao thì càng có khả năng ngăn cản đối với những người chưa hút thuốc lá, giúp họ tránh bị nghiện và có thể thuyết phục những người hút hiện tại bỏ thuốc hoặc giảm lượng tiêu thụ của họ (Chaloupka,

Trang 11

2000) Năm 1999, Ngân hàng Thế giới sau khi xem xét các bằng chứng đã kết luận trung bình khi tăng giá 10% sẽ làm giảm nhu cầu đối với các sản phẩm thuốc lá khoảng 4% ở các nước thu nhập cao và 8% ở các nước có thu nhập trung bình (World bank, 1999) Tuy nhiên, phần lớn các bằng chứng về sự phản ứng của người hút thuốc

lá theo giá chủ yếu ở các nước có thu nhập cao vì năng lực nghiên cứu và dữ liệu tương đối đầy đủ Chỉ một số lượng tương đối nhỏ các nghiên cứu được thực hiện ở các nước thu nhập thấp và trung bình

Ngoài ra, còn có các biện pháp khác của chương trình kiểm soát thuốc lá như lệnh cấm quảng cáo thuốc lá, cấm phân phối các mẫu thuốc lá miễn phí, cấm bán thuốc lá trên các máy bán hàng tự động, cấm hút thuốc lá ở những nơi công cộng, in cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh trên bao thuốc lá, thực hiện chiến dịch truyền thông

về tác hại của hút thuốc lá

Việc xác định các yếu tố tác động tới người hút thuốc tại Việt Nam rất quan trọng nhằm đưa ra các biện pháp phù hợp với mục đích giảm số lượng người hút thuốc hay

số ca tử vong do hút thuốc, tăng thu nhập thuế cho chính phủ Vì vậy, nghiên cứu này tìm hiểu các yếu tố cá nhân và chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng như thế nào tới hành vi hút thuốc

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định, đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc lá ở người đi làm

để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giảm số lượng người hút thuốc lá

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng hút thuốc ở đối tượng đi làm ra sao?

Các yếu tố nào có tác động đến hành vi hút thuốc ở người đi làm?

Các chính sách của Chính phủ có tác động ra sao đến hành vi hút thuốc lá?

1.4 Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố tác động đến hành vi hút thuốc lá của những

người đi làm

Trang 12

1.5 Phạm vi nghiên cứu: tỉnh Quảng Ngãi

1.6 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thống kê nhằm mô tả và nhận diện các yếu tố tác động đến hành vi hút thuốc lá

Phương pháp định lượng dựa vào nguồn dữ liệu sơ cấp để đánh giá tác động của các yếu tố đến hành vi hút thuốc lá

1.7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Đề tài mang lại một số ý nghĩa thực tiễn trong việc thực hiện chính sách nhằm giảm thiểu người hút thuốc lá cũng như lượng tiêu thụ thuốc lá, giúp cho những nhà chính sách tại địa phương hiểu rõ hơn các yếu tố tác động đến hành vị hút thuốc ở người đi làm Từ đó, chính quyền sẽ có những chính sách tốt hơn trong việc giảm số lượng người tham gia hút thuốc và số lượng thuốc lá tiêu thụ

1.8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Luận văn được chia ra thành 5 phần:

Chương 1: chương đầu tiên của luận văn Chương này sẽ giới thiệu tổng quát về lĩnh vực nghiên cứu làm nền tảng cho việc xác định mục đích, phạm vi và phương pháp

nghiên cứu

Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết cũng như các nghiên cứu liên quan trên thế giới nhằm xác định mô hình cũng như phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Trình bày phương pháp và mô hình nghiên cứu của luận văn

Chương 4: Kết quả nghiên cứu, tiếp cận kết quả nghiên cứu bằng phương pháp thống

kê mô tả các tác động của các yếu tố đến hành vi hút thuốc và bằng phương pháp hồi quy trong kinh tế lượng

Chương 5: Tóm tắt những kết quả chính, những đóng góp và hạn chế của luận văn

nhằm định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN

2.1 Mô hình hành vi của người tiêu dùng:

Việc mua sắm của người tiêu dùng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hoá,

xã hội, cá nhân và tâm lý (Philip Kotler, 2000) Đa số các nhân tố này đều không kiểm soát được, nhưng chúng có tác động mạnh mẽ đến hành vi của người tiêu dùng

2.1.1 Các yếu tố văn hoá

Văn hóa là yếu tố cơ bản nhất những ý muốn và hành vi của con người Phần lớn các cách thức ứng xử của con người đều mang tính hiểu biết Trong quá trình sống đó, văn hóa đã ấn định trong tâm trí của người tiêu dùng những điều cơ bản về giá trị, sự cảm thụ, sự ưa thích và những sắc thái đặc thù của sản phẩm vật chất đồng thời cũng

ấn định cách thức xử sự được xã hội chấp nhận, các quan niệm về chuẩn mực xã hội, cách thức giao tiếp trong một cộng đồng thậm chí cả cách biểu lộ tình cảm, cảm xúc của con người Do đó, người tiêu dùng khi mua hàng bao giờ cũng bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa mang bản sắc dân tộc tác động đến các giá trị lựa chọn Sự ảnh hưởng của văn hóa lên hành vi của người tiêu dùng càng dễ nhận biết trong bối cảnh các nền văn hóa khác nhau

Mỗi nền văn hóa đều chứa đựng những bộ phận cấu thành nhỏ hơn hay nhánh văn hóa là những nhóm văn hóa tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt và mức độ hòa nhập với xã hội cho các thành viên của nó Có thể xác định các nhánh văn hóa theo đặc trưng văn hóa của các nhóm xã hội như: sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo, vùng địa lý,

độ tuổi, giới tính, Nhánh văn hóa thể hiện tính đồng nhất, đặc trưng trong hành vi của người tiêu dùng trong phạm vi nhỏ hơn nền văn hóa Những người thuộc nhóm văn hóa khác nhau có cách nhìn nhận, sở thích, cách đánh giá về giá trị, cách thức mua sắm, sử dụng sản phẩm cũng khác nhau

Các nền văn hóa, nhánh văn hóa luôn tìm cách bảo tồn bản sắc văn hóa của mình, song các thành viên trong đó vẫn chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa, nhánh văn hóa khác hay còn gọi là sự hội nhập và biến đổi văn hóa Quá trình hội nhập văn hóa là

Trang 14

quá trình mà mỗi cá nhân tiếp thu các giá trị văn hóa khác để làm phong phú thêm văn hóa của mình, đồng thời khẳng định giá trị văn hóa cốt lõi của họ Còn nói đến

sự biến đổi văn hóa, đó là sự hình thành những tư tưởng mới, quan niệm mới, chuẩn mực mới trong lối sống và phong cách sống, thay thế những gì không còn phù hợp với sự biến đổi của môi trường tự nhiên, chính trị, xã hội, … mà nền văn hóa phải vận động trong đó; đó là kết quả của sự giao lưu, tiếp xúc giữa các nền văn hóa với nhau

2.1.2 Các yếu tố xã hội

Hành vi của người tiêu dùng cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố xã hội như các nhóm tham khảo, gia đình và vai trò của địa vị xã hội (Philip Kotler, 2000)

Nhóm tham khảo: Các nhóm tham khảo (hay Philip Kotler gọi là nhóm tiêu biểu) là

những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến thái độ hay hành vi của con người Trong đó nhóm thành viên là những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp đến một người, tức là nhóm mà người đó tham gia và có tác động qua lại với các thành viên khác trong đó Nhóm thành viên bao gồm:

- Những nhóm sơ cấp: có tính chất không chính thức mà những thành viên của chúng có quan hệ thân mật, có sự tác động qua lại thường xuyên như gia đình, bạn bè, láng giềng và người đồng sự

- Những nhóm thứ cấp: có tính chất chính thức hơn và ít có sự tác động qua lại với nhau hơn như các loại tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo, hiệp hội ngành nghề, công đoàn, đoàn thể (đoàn thanh niên, hội phụ nữ,…) hay các nhóm vui chơi giải trí (câu lạc bộ thể thao, câu lạc bộ thơ văn, …)

- Nhóm ngưỡng mộ: là nhóm mà người ta mong muốn được có mặt trong đó Chẳng hạn, một cầu thủ bóng đá trẻ có thể hi vọng một ngày nào đó mình sẽ có mặt trong một đội bóng nổi tiếng và anh ta đồng nhất mình với nhóm này, mặc dù không có

sự giao tiếp trực tiếp

Các nhóm tham khảo thường ảnh hưởng đến một người theo 3 cách: hướng người ta

đi theo cách ứng xử và phong cách sống mới; ảnh hưởng đến quan điểm và ý thức

Trang 15

của một người vì người đó thường muốn được hòa nhập vào đó; tạo ra các áp lực buộc phải tuân theo chuẩn mực chung và có thể ảnh hưởng đến sự chọn lựa sản phẩm

và nhãn hiệu của người đó

Gia đình: Các thành viên trong gia đình của người mua có thể tạo nên một ảnh hưởng

mạnh mẽ lên hành vi của người mua đó Gia đình hình thành cho cá nhân những định hướng về tôn giáo, chính trị, kinh tế, những tham vọng cá nhân, giá trị bản thân và tình cảm, đồng thời có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi mua hàng ngày của cá nhân Chúng ta có thể phân biệt thành hai loại gia đình của người mua

- Gia đình định hướng: bao gồm cha mẹ của người đó Từ cha mẹ, một người nhận được sự định hướng về chính trị, kinh tế và ý nghĩa của mong ước cá nhân, tình yêu và phẩm hạnh Ngay cả những người mua không còn quan hệ nhiều với cha

mẹ mình thì ảnh hưởng của cha mẹ lên hành vi của người mua vẫn có thể rất đáng

kể

- Gia đình riêng: bao gồm vợ hoặc chồng và con cái của người mua có ảnh hưởng trực tiếp hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày Sự can dự của chồng hay vợ thay đổi rất nhiều tùy thuộc theo loại sản phẩm

Vai trò và địa vị: Trong đời mình một người tham gia vào rất nhiều nhóm - gia đình,

các câu lạc bộ, các tổ chức,…Vị trí của người đó trong mỗi nhóm có thể xác định căn

cứ vào vai trò và địa vị của họ Mỗi vai trò đều gắn với một địa vị Người ta lựa chọn những sản phẩm thể hiện được vai trò và địa vị của mình trong xã hội

2.1.3 Các yếu tố cá nhân

Những quyết định của người tiêu dùng cũng chịu ảnh hưởng của những đặc điểm cá nhân, nổi bật nhất là tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống của người mua, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, lối sống, nhân cách và tự ý niệm của người đó (Philip Kotler, 2000)

Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống: Người tiêu dùng mua những hàng hóa và

dịch vụ khác nhau trong suốt đời mình Thị hiếu của người tiêu dùng về các loại sản

Trang 16

phẩm cũng tuỳ theo tuổi tác Việc tiêu dùng cũng được định hình theo giai đoạn của chu kỳ sống của gia đình

Nghề nghiệp: Nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến cách thức tiêu dùng Trong quá trình

làm việc, họ sẽ chịu tác động của đặc thù công việc và môi trường làm việc, điều này

sẽ ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của người mua Mặt khác, nghề nghiệp còn ảnh hưởng tới thu nhập nên sẽ ảnh hưởng tới sức mua của người tiêu dùng

Hoàn cảnh kinh tế: Việc lựa chọn sản phẩm chịu tác động rất lớn từ hoàn cảnh kinh

tế của người tiêu dùng Hoàn cảnh kinh tế của người mua gồm thu nhập, tiền tiết kiệm, tài sản, nợ, khả năng vay mượn, thái độ đối với việc chi tiêu và tiết kiệm Tuy nhiên, sự biến đổi của thu nhập cá nhân không hẳn là yếu tố quyết định tới hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng Vì thế, thu nhập cá nhân chỉ được coi là tiêu chí để phân khúc thị trường trong một nền kinh tế ổn định

Lối sống: Những người cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và

cùng nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau Lối sống của một người là cách sống của họ được thể hiện trong hoạt động, sự quan tâm và ý kiến của người đó Lối sống miêu tả sinh động toàn diện một con người trong quan hệ với môi trường của mình

Nhân cách và sự tự quan niệm về bản thân: Mỗi người đều có một nhân cách khác

biệt có ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân Ở đây nhân cách có nghĩa là những đặc điểm tâm lý khác biệt của một người dẫn đến những phản ứng tương đối nhất quán

và lâu bền với môi trường của mình Nhân cách thường được mô tả bằng những nét như tự tin có uy lực, tính độc lập, lòng tôn trọng, tính chan hòa, tính kín đáo và tính

dễ thích nghi Nhân cách có thể là một biến hữu ích trong việc phân tích hành vi của người tiêu dùng, vì rằng có thể phân loại các kiểu nhân cách và có mối tương quan chặt chẽ giữa các kiểu nhân cách nhất định với các lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu

2.1.4 Các yếu tố tâm lý

Việc lựa chọn mua sắm của một người còn chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tâm lý là động cơ, nhận thức, tri thức, niềm tin và thái độ (Philip Kotler, 2000)

Trang 17

Động cơ: Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người cũng có nhiều nhu cầu

Một số nhu cầu có nguồn gốc sinh học Một số nhu cầu khác có nguồn gốc tâm lý Hầu hết những nhu cầu có nguồn gốc tâm lý đều không đủ mạnh để thúc đẩy con người hành động theo chúng ngay lập tức Một nhu cầu sẽ trở thành động cơ khi nó tăng lên đến một mức độ đủ mạnh Việc thỏa mãn nhu cầu sẽ làm giảm bớt cảm giác căng thẳng Khi người ta đã thoả mãn được một nhu cầu quan trọng nào đó thì nó sẽ không còn là động cơ hiện thời nữa và người ta lại cố gắng thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo

Nhận thức: Nhận thức được định nghĩa là "một quá trình thông qua đó cá thể tuyển

chọn, tổ chức và giải thích thông tin tạo ra một bức tranh có ý nghĩa về thế giới xung quanh" (Bernard Berelson và Gary A Steiner, 1964, p.88) Nhận thức không chỉ phụ thuộc vào những tác nhân vật lý, mà còn phụ thuộc vào cả mối quan hệ của các tác nhân đó với môi trường xung quanh và những điều kiện bên trong cá thể đó Người

ta có thể có những nhận thức khác nhau về cùng một khách thể do có ba quá trình nhận thức: Sự quan tâm có chọn lọc, sự bóp méo có chọn lựa và sự ghi nhớ có chọn lọc (Philip Kotler, 2000)

Sự quan tâm có chọn lọc: Hàng ngày người ta tiếp xúc với vô số các tác nhân kích thích Phần lớn những tác nhân kích thích đó bị sàng lọc đi Sự quan tâm có chọn lọc làm cho những người làm tiếp thị phải cố gắng hết sức để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng Những thông điệp của họ sẽ bị bỏ qua đối với phần lớn những người không tìm kiếm sản phẩm đó trên thị trường

Sự bóp méo có chọn lọc: Ngay cả những tác nhân kích thích đã được chú ý đến cũng không nhất thiết sẽ được tiếp nhận đúng như dự kiến Mỗi người đều cố gò ép thông tin nhận được vào khuôn khổ những ý nghĩ sẵn có của mình Sự bóp méo có chọn lọc

mô tả khuynh hướng con người muốn gán cho thông tin những ý nghĩa của cá nhân mình

Sự ghi nhớ có chọn lọc: Người ta sẽ quên đi nhiều cái mà họ học được, họ có khuynh hướng giữ lại những thông tin ủng hộ thái độ và niềm tin của mình

Trang 18

Tri thức: Các nhà lý luận về tri thức cho rằng tri thức của một người được tạo ra

thông qua sự tác động qua lại của những thôi thúc, tác nhân kích thích, những tấm gương, những phản ứng đáp lại và sự củng cố (Philip Kotler, 2000)

Một doanh nghiệp mới có thể tham gia thị trường bằng cách vận dụng những sự thôi thúc mà các đổi thủ cạnh tranh đã sử dụng và tạo ra những kiểu dáng tương tự, bởi vì người mua có khuynh hướng chuyển lòng trung thành sang những nhãn hiệu tương

tự hơn là sang những nhãn hiệu khác hẳn (khái quát hoá) Hay doanh nghiệp cũng có thể thiết kế nhãn hiệu của mình để tạo nên một số những thôi thúc khác và đảm bảo

có những tác nhân mạnh mẽ kích thích chuyển nhãn hiệu (quá trình phân biệt)

Niềm tin và thái độ: Thông qua hoạt động và tri thức, người ta có được niềm tin và

thái độ Những yếu tố này lại có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của con người Những niềm tin đó tạo nên những hình ảnh của sản phẩm cũng như nhãn hiệu và người ta hành động theo những hình ảnh đó Nếu có niềm tin nào đó không đúng đắn

và cản trở việc mua hàng thì nhà sản xuất cần tiến hành một chiến dịch để uốn nắn lại những niềm tin đó (Alice và đồng sự, 1981)

Thái độ diễn tả những đánh giá tốt hay xấu dựa trên nhận thức bền vững, những cảm giác cảm tính và những xu hướng hành động của một người đối với một khách thể hay một ý tưởng nào đó (David Krech và đồng sự, 1962) Thái độ dẫn họ đến quyết định thích hay không thích một đối tượng nào đó, đến với nó hay rời xa nó

Trang 19

2.2 Các nghiên cứu liên quan

Như các nghiên cứu có liên quan đã chỉ ra các yếu tố tác động tới hành vi người hút thuốc bao gồm giá thuốc lá, thu nhập, các yếu tố xã hội học và các chính sách của Chính phủ Cụ thể:

2.2.1 Giá thuốc:

Phương pháp hiệu quả nhất để giảm số người hút thuốc và lượng tiêu thụ thuốc lá là tăng giá (Chalouka, 2000) Giá các sản phẩm thuốc lá càng cao càng có khả năng ngăn cản đối với những người chưa hút khỏi bắt đầu hút, giúp họ tránh khỏi bị nghiện,

và có thể thuyết phục những người hút hiện tại bỏ thuốc hoặc giảm lượng tiêu thụ của

họ Giá càng cao cũng càng có khả năng tránh cho những người đã bỏ thuốc khỏi hút lại

Năm 1999, Ngân hàng Thế giới sau khi xem xét kỹ lưỡng các bằng chứng, đã kết luận rằng trung bình tăng giá 10% sẽ làm giảm nhu cầu đối với các sản phẩm thuốc

lá đi khoảng 4% ở các nước thu nhập cao và khoảng 8% ở các nước có thu nhập thấp

và trung bình (World Bank, 1999).Trong một đánh giá phạm vi rộng về chứng cứ cả

lý thuyết và thực nghiệm, Chaloupka và Warner, khi đáp lại ý kiến rằng cầu đối với thuốc lá có thể không theo một trong các quy luật cơ bản nhất của kinh tế học, đó là quy luật của cầu, đã viết:

“Tập hợp các bằng chứng nghiên cứu về kinh tế hiện nay đã rất nhiều và đã chứng minh rằng nhu cầu đối với thuốc lá có phản ứng rõ ràng với các thay đổi về giá và các yếu tố khác, như đã phát hiện thấy trong các nghiên cứu áp dụng mô hình truyền thống về cầu và cả trong những nghiên cứu gần đây hơn

có tính đến yếu tố gây nghiện của hút thuốc.” (Chaloupka FJ và Warner KE,

2000, Handbook of health economics, p.1539)

Một hạn chế của những đánh giá trên là nó chỉ bao gồm một số lượng tương đối nhỏ các nghiên cứu được thực hiện ở các nước thu nhập thấp và trung bình Tuy nhiên gần đây cũng có các nghiên cứu ở khu vực Châu Á hay cụ thể hơn là Đông Nam Á

Cụ thể, đối với Indonesia, Djutaharta sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian ước tính độ co giãn giá thuốc lá từ -0,32 đến -0,57 (Djutaharta, 2002) Supakorn sử dụng số liệu tổng

Trang 20

hợp về tiêu thụ thuốc lá ở Thái Lan đã tính được độ đàn hồi của cầu theo giá thuốc là -0,67 (Supakorn, 1993) Đối với Myanmar, Nyo Nyo sử dụng dữ liệu hộ gia đình tính được tổng đàn hồi giá là -1,62 (Nyo Nyo, 2003) Một vài nghiên cứu cho thấy tác động hạn chế của giá đối với hành vi hút thuốc lá, như một nghiên cứu của Lance PM cùng các đồng sự (2004) sử dụng dữ liệu vi mô ở Trung Quốc và Nga đo được độ co giãn từ 0 đến -0,15

Gần như tất cả các nghiên cứu đều phát hiện rằng giá cả có mối liên hệ nghịch biến

và có ý nghĩa thống kê với tiêu dùng thuốc lá Tuy nhiên, độ co giãn của cầu theo giá khác nhau ở mỗi nghiên cứu khác nhau

Một nghiên cứu khám phá ra mối liên hệ giữa quyết định bắt đầu hút hoặc bỏ và giá các sản phẩm thuốc lá Bằng việc sử dụng một mẫu gồm những người Việt Nam hút thuốc và không hút thuốc (từ các bộ số liệu điều tra mức sống dân cư sẵn có), Laxminarayan và Deolalikar đã nghiên cứu mối liên hệ giữa việc bỏ hoặc bắt đầu hút thuốc lá và thuốc lào từ năm 1993 đến 1998 và những thay đổi về giá của hai sản phẩm thuốc lá này.Họ phát hiện thấy rằng những thay đổi về giá thuốc lá có mối liên

hệ tỷ lệ nghịch và đáng kể với quyết định bắt đầu hút thuốc (độ co giãn là -1,18) Tuy nhiên, những thay đổi về giá thuốc lào không ảnh hưởng đáng kể tới quyết định bắt đầu hút thuốc lào Laxminarayan và Deolalikar cũng khảo sát ảnh hưởng có thể có

do những thay đổi về giá có thể dẫn tới sự thay thế giữa các sản phẩm thuốc lá và phát hiện rằng những thay đổi về giá thuốc lá có mối liên hệ tỷ lệ thuận và đáng kể với quyết định chuyển từ hút thuốc lá sang hút thuốc lào.Những thay đổi về thu nhập được cho là có mối liên hệ tỷ lệ nghịch và đáng kể với quyết định bắt đầu hút thuốc lào và chuyển từ hút thuốc lá sang hút thuốc lào (Laxminarayan và Deolalikar, 2004) Tương tự như Laxminarayan và Deolalikar, Tsai và cộng sựkhảo sát mối liên hệ giữa giá cả và quyết định bỏ thuốc, giảm số lượng tiêu dùng, hoặc chuyển đổi nhãn hiệu thuốc ở Đài Loan Giá cả không được phát hiện có mối liên hệ đáng kể với quyết định

bỏ hoặc giảm hút thuốc mà có mối liên hệ đáng kể với quyết định chuyển đổi giữa các nhãn hiệu (Tsai và cộng sự, 2005)

Trang 21

Cùng quan điểm, một nghiên cứu với dữ liệu thu thập từ 5400 hộ gia đình ở Mỹ đã chỉ ra rằng hầu hết người hút thuốc lá nhạy cảm về giá và tìm cách mua các loại thuốc

lá rẻ hơn khi tăng giá thuốc Và những người chuyển sang hút thuốc lá rẻ hơn ít có khả năng bỏ hút thuốc lá (A Hyland và các cộng sự, 2005)

2.2.2 Thu nhập

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận “hệ thống cầu” và phát hiện thu nhập có mối liên

hệ đáng kể với tiêu dùng thuốc lá Độ co giãn của thu nhập tương ứng trong khoảng

từ 0,34 đến 0,70 (Eozenou, 2004; Sarntisart, 2003) Một nghiên cứu ở Hà Lan cũng cho thấy hút thuốc có quan hệ chặt chẽ với mức độ thu nhập Những người có thu nhập thấp thì hút thuốc nhiều hơn so với những người có thu nhập cao (Reijneveld, 1998) Nhưng nghiên cứu tại Hàn Quốc lại cho thấy rằng không có sự tương quan nghịch giữ hút thuốc với mức độ thu nhập Sau khi kiểm tra tất cả các yếu tố về xã hội học, nghiên cứu chỉ ra những người có thu nhập cao có tỷ lệ hút cao hơn so với những người có thu nhập thấp (Woojin Chung và cộng sự, 2009) Có thể các nghiên cứu trước không thể kiểm soát được đa cộng tuyến giữa các trình độ học vấn, nghề nghiệp và thu nhập Hoặc có thể, những người có thu nhập cao có nhiều khả năng bị căng thẳng trong công việc hơn người có thu nhập thấp nên xu hướng hút thuốc cao hơn (Cha BS cùng cộng sự, 1997)

2.2.3 Các yếu tố xã hội học khác

Nghiên cứu tại Nhật Bản chỉ ra rằng việc kết hôn thì tác động cùng chiều với việc hút thuốc ở người trẻ tuổi nhưng tác động ngược chiều với người lớn tuổi Những người sống ở khu vực thành thị tác động cùng chiều với người nam hút thuốc nhưng lại ngược chiều với phụ nữ Ngoài ra tác giả còn tìm thấy mối liên hệ giữa thu nhập thấp đối với hút thuốc ở tất cả người khảo sát, đặc biệt là trong nhóm người từ 25 đến 39 tuổi Còn người đàn ông có việc làm thì khả năng hút thuốc nhiều hơn so với những người đàn ông thất nghiệp (Fukuda và đồng sự, 2009)

Nghiên cứu tại Hàn quốc cũng chỉ ra việc làm có tác động cùng chiều với sự hút thuốc

ở người nam trưởng thành Cụ thể, nam giới thuộc nhóm làm công việc chân tay thì khả năng hút thuốc cao hơn so với nhóm làm việc trong văn phòng hoặc thất nghiệp

Trang 22

(Woojin Chung và cộng sự, 2009) Điều này được củng cố thêm bởi nghiên cứu của Cho và Khan (2006) Tác giả chỉ ra rằng, môi trường làm việc của những người lao động chân tay tự do hơn so với những người việc trong văn phòng với nhiều quy định

về cấm hút thuốc hơn

Một nghiên cứu tại Canada với đối tượng khảo sát từ độ tuổi 12 đến 65 tuổi cũng chỉ

ra rằng tuổi tác có tác động ngược chiều với sự tham gia hút thuốc lá Về thu nhập, nhóm những người có thu nhập cao thì khả năng hút thuốc giảm đi so với những người có thu nhập thấp Trong khi đó, những người có việc làm thì xác suất hút thuốc cao hơn so với những người thất nghiệp Riêng về giới tính, nghiên cứu chỉ ra những người nam có xác suất hút thuốc cao hơn so với người nữ Số người trong một gia đình cũng cho thấy tác động ngược chiều so với khả năng tham gia hút thuốc (Sunday Azagba và Mesbah Sharaf, 2011)

2.2.4 Tác động của cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá:

Theo kết quả tổng hợp của báo cáo MPOWER của WHO năm 2009 cho thấy rằng hiệu quả của cảnh báo sức khỏe trên bao thuốc lá khá tốt Cụ thể:

- Tại Braxin, hơn 50% những người hút thuốc đã thay đổi ý kiến về hậu quả của việc hút thuốc lá, hai phần ba số người hút thuốc muốn bỏ thuốc Sau 6 tháng áp dụng cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh thì các cuộc gọi để được tư vấn hỗ trợ bỏ thuốc tăng lên 9 lần

- Tại Canada, 58% nhưng người hút thuốc suy nghĩ nhiều hơn về tác hại của thuốc

lá, hơn một nửa số người muốn bỏ thuốc, hơn một phần tư số người ít hút thuốc trong nhà hơn Một phần sáu số người tránh không hút thuốc trước mặt trẻ em

- Tại Singapo, 71% số người hút thuốc suy nghĩ về tác hại của thuốc lá, 28% số người hút thuốc giảm bớt số lượng hút mỗi ngày, 25% số người hút thuốc muốn quyết tâm bỏ thuốc

2.2.5 Tác động của truyền thông về tác hại của thuốc lá:

Theo thống kê của VINACOSH năm 2010 tại Việt Nam, Chiến dịch” Thuốc lá ăn mòn cuộc sống của bạn” đạt được nhận thức cao trong cả người hút thuốc và không hút thuốc Đa số những người hút thuốc đã cho biết rằng quảng cáo đã làm họ thấy

Trang 23

lo ngại về ảnh hưởng của việc hút thuốc lá tới sức khỏe của họ và gia đình họ Hơn

ba phần tư số người hút thuốc lá cho biết chiến dịch này làm cho họ muốn bỏ thuốc

Thống kê của GATS 2010 tại Việt Nam cho biết 50% nam giới hút thuốc và 27% nữ giới hút thuốc tin rằng hút thuốc gây ra đột quy, đau tim, ung thư phổi Và chỉ có 60% nam giới, 56% nữ giới không hút thuốc tin vào điều đó

2.3 Thực trạng kiểm soát thuốc lá tại Việt Nam

2.3.1 Thuế

Thuốc lá và các sản phẩm thuốc hút khác có thể bị đánh nhiều loại thuế khác nhau, bao gồm thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, và thuế nhập khẩu.Thuế tiêu thụ đặc biệt có thể là tính theo số lượng hoặc thuế theo giá trị Trong một số trường hợp

cả hai loại thuế theo số lượng và theo giá trị được áp dụng đồng thời cho một loại sản phẩm (Sunley, 2000)

Từ tháng 1/2008, thuế tiêu thụ đặc biệt đã tăng lên 65% đối với cả ba loại thuốc lá: 1) có đầu lọc, chủ yếu sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu; 2) có đầu lọc, sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu trong nước; và 3) không đầu lọc và xì gà

Thuốc lào, mặc dù tính phổ biến tương đối của nó, vẫn không bị đánh thuế ở Việt Nam Phần nhiều thuốc lào được tiêu thụ là loại sản xuất tại nhà nên việc thu thuế rất khó khăn Thêm vào đó, lĩnh vực này cũng rất manh mún, không có hình thức và đóng gói chuẩn Thị trường manh mún và giá thuốc lào thấp làm cho việc thu thuế khó khăn và tốn kém

Thuế giá trị gia tăng (VAT) Thuế giá trị gia tăng được áp dụng ở Việt Nam từ ngày 1/1/1999 VAT được thu theo thuế suất 10% giá bán lẻ thuốc lá trước VAT

Tổng thuế theo tỷ lệ phần trăm giá bán lẻ Nhìn chung tổng thuế tiêu thụ (gồm thuế tiêu thụ đặc biệt (SCT) và VAT) được tính bằng tỷ lệ phần trăm trong giá bán lẻ đã tăng dần từ năm 1990 Giả sử lợi nhuận ở khâu bán lẻ có mức chênh lệch là bằng không (hoặc bằng 10%), thì hiện nay thuế thuốc lá ở Việt Nam chiếm nhiều nhất là 45% (hoặc 43%) giá bán lẻ thuốc lá có thuế, nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với tỷ

lệ tối ưu theo khuyến cáo của WHO là 65–80% (World Bank, 1999)

Trang 24

Thuế nhập khẩu Thuốc lá và xì-gà hiện giờ chịu mức thuế nhập khẩu 150% của giá nhập khẩu đã bao gồm chi phí, bảo hiểm và cước phí hàng hóa (CIF) áp dụng cho thuế suất “tối huệ quốc” của WTO Với các nước không phải là thành viên WTO thuế xuất là 225% của giá nhập khẩu CIF

Bảng 2.1: Bảng thuế suất thuốc lá của Việt Nam từ năm 1990 đến nay

Thuế tiêu thụ đặc biệt (SCT)

Thuế GTGT (VAT)

Thuốc lá

Xì-gà

Có đầu lọc

Không đầu lọc

Nguyên liệu nhập ngoại

Nguyên liệu trong nước

Ghi chú: Cơ sở tính Thuế tiêu thụ đặc biệt (SCT) là giá xuất xưởng, chưa thuế, cơ sở tính thuế VAT

là giá bán lẻ trước VAT

Nguồn: Bộ Tư pháp Việt Nam

2.3.2 Giá

Để đánh giá chiều hướng và độ lớn những thay đổi giá cả của các sản phẩm thuốc lá thì các mức giá trung bình và chỉ số giá đã được lấy từ nguồn Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) Để tính chỉ số giá tiêu dùng CPI, hàng tháng GSO thu thập giá cả của gần 400 mặt hàng và dịch vụ CPI là một chỉ số tương đối để đo sự thay đổi giá

cả hàng hóa và dịch vụ

Theo thống kê của GSO 2013, dưới mức giá danh nghĩa, giá các sản phẩm thuốc lá

đã tăng hơn 36% từ năm 2009 đến 2013 Tuy nhiên, trong cùng giai đoạn trên, giá cả chung đã tăng hơn 55% Điều này trái ngược hẳn với sự tăng trưởng thu nhập thực tế

ở Việt Nam: GDP thực tế tính theo đầu người đã tăng hơn 69% từ 2009 đến 2013, do

đó làm cho thuốc lá tính trung bình trở thành mặt hàng ngày càng rẻ hơn Khoảng cách ngày càng tăng giữa thu nhập và giá thuốc lá đã làm cho thuốc lá ngày càng trở

Trang 25

nên dễ mua được Xét đến chiều hướng thu nhập hiện nay, giá thuốc lá chỉ có ảnh hưởng nhỏ với ngăn ngừa hút thuốc ở Việt Nam

2.3.3 Thực trạng kiểm soát thuốc lá tại Việt Nam

Những sự kiện chính về thực trạng kiểm soát thuốc lá hiện nay tại Việt Nam:

- Năm 1975, công ty Manufacture IndoChina (MIC) được British American Tobacco thành lập năm 1929 được Bộ Công nghiệp quốc hữu hóa

- Tháng 6/1989 – Luật Bảo vệ Sức khỏe Nhân dân quy định theo điều 15 chương III có nội dung: Cấm hút thuốc ở phòng họp, rạp chiếu phim, rạp hát và những nơi quy định khác Luật này được củng cố thêm bằng nghị định năm 1991 Bộ

Y tế thành lập Ban chỉ đạo phòng chống thuốc lá (viết tắt là VINACOSH) vào tháng 5

- Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng cấm nhập khẩu và phân phối thuốc lá ngoại cho đến khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào tháng 1/2007 Vào tháng 9/1990, Chính phủ kiểm soát chặt chẽ hơn thị trường buôn lậu và loại bỏ buôn lậu được 18 tháng

- Năm 1992, lệnh cấm quảng cáo thuốc lá có hiệu lực Lệnh cấm bao gồm cả quảng cáo trực tiếp và gián tiếp, tài trợ chỉ bị cấm khi có liên kết với quảng cáo

- Năm 2000, tem thuốc được áp dụng với thuốc lá Việt Nam và nước ngoài sản xuất trong nước Tháng 8/2000, chương trình kiểm soát thuốc lá Quốc gia 2000-

- Năm 2012, luật phòng, chống tác hại của thuốc lá được ban hành

Trang 26

2.3.3.1 Cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá

Cảnh báo sức khỏe trên bao thuốc lá tại Việt Nam được thực hiện đầu tiên vào năm

2001 Đó là lời cảnh báo chỉ có “Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe” trên mặt chính của gói thuốc, chữ nhỏ và khó đọc được nó Năm 2007, Bộ Y tế tiến hành thực hiện

dự án về nghiên cứu thiết kế và thử nghiệm cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh và được thông qua theo Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT Việc cảnh báo bằng hình ảnh phải chiếm 30% diện tích mặt gói thuốc với thông điệp “Hút thuốc lá có thể gây nên ung thư phổi”, “Hút thuốc lá có thể gây tắc nghẽn phổi mạn tính” Và trong năm 2011, VINACOSH đã tiếp tục nghiên cứu phát triển và thử nghiệm nhiều hình ảnh mới Việc in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá đảm bảo cho người tiêu dùng biết được thông tin sản phẩm đang sử dụng cũng như hậu quả của sức khỏe Theo nghiên cứu của WHO năm 2006 cho thấy rằng việc in cảnh báo sức khỏe trên bao thuốc lá sẽ giúp giảm 300 đến 700 ca tử vong sớm mỗi năm trong nhiều thập kỷ

Theo VINACOSH, cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh và chữ trên bao thuốc lá là kênh giáo dục hiệu quả và có chi phí thấp vì số người hút sẽ thấy cảnh báo này khi họ mở bao thuốc Hiện tại trên thế giới đã có 42 nước quy định in cảnh báo bằng hình ảnh Tại khu vực Đông Nam Á, có 5 nước thực hiện cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh gồm Thái Lan, Singapore, Malaysia, Brunei và Việt Nam Hiện tại, Việt Nam in hình ảnh cảnh báo chiếm 50% diện tích hai mặt vỏ bao thuốc lá

Bảng 2.2 Diện tích trung bình của cảnh báo sức khỏe ở một số nước trên thế giới 80% Uruguay

(nguồn: Chương trình phòng chống tác hại thuốc lá Quốc gia)

Trang 27

- Tại Thái Lan, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt tối đa 2000 baths (tương đương với 70USD), đơn vị vi phạm bị phạt 20000 Baths (tương đương với 700USD)

- Tại Singapore, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt 1000 SG$ (750USD), người quản lý nơi xảy ra vi phạm sẽ bị phạt 1000-2000SG$ (750-1500USD)

- Tại Malaysia, cá nhân vi phạm sẽ bị phạt tối đa 10000 rigit (khoảng 3000 USD) hoặc phạt tù không quá 2 năm

2.3.3.3 Truyền thông về tác hại của hút thuốc lá

Tại Việt Nam, vai trò của truyền thông trong việc tuyên truyền và giáo dục đã được nhấn mạnh trong các chính sách Quốc gia, trong đó có Chỉ thị số 12/2007/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về tăng cường kiểm soát thuốc lá và Quyết định số 1315/2009/QĐ-TTg về việc thực hiện khung ước về kiểm soát thuốc lá tại Việt Nam Cho đến nay, nhiều hoạt động truyền thông được thực hiện nhằm góp phần nâng cao nhận thức tác động của hút thuốc lá lên sức khỏe như các cuộc diễu hành, các cuộc họp báo, tuyên truyền trên tivi, radio, các băng rôn, áp phích, trên internet

Trong tháng 12/2009 và tháng 1/2010, một chiến dịch truyền thông đại chúng có tựa

đề "Thuốc lá ăn mòn cuộc sống của bạn" đã được tiến hành bởi VINACOSH và Quỹ ung thư phổi thế giới Chiến dịch này nhằm mục đích nâng cao kiến thức về tác hại của thuốc lá và khuyến khích cai nghiện thuốc lá Nó nổi bật với hai quảng cáo truyền hình, được phát sóng 245 lần trong vòng 5 tuần trên đài truyền hình quốc gia và cấp tỉnh và đạt nhiều kết quả Tuy nhiên, kinh phí cho các phương tiện truyền thông và giáo dục về kiểm soát thuốc lá là không đủ để tài trợ các chiến dịch tuyên truyền Vì vậy, chiến dịch kiểm soát không đủ để làm giảm tỉ lệ hút thuốc đáng kể tại Việt Nam

Trang 28

Tóm lại, hành vi của người tiêu dùng cũng được tác động đến hành vi mua Các yếu

tố tác động tới hành vi mua như yếu tố văn hóa, yếu tố xã hội gồm nhóm người tham khảo, gia đình, vai trò và địa vị xã hội; yếu tố cá nhân bao gồm tuổi tác, chu kỳ sống, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, lối sống; nhóm yếu tố về tâm lý bao gồm lý thuyết

về động cơ, lý thuyết về nhận thức, trình độ, niềm tin và thái độ Như các nghiên cứu

đã chỉ ra rằng hành vi hút thuốc của người đi làm phụ thuộc vào giá thuốc, truyền thông, cảnh báo sức khỏe trên bao thuốc lá cũng như luật xử phạt về hành vi hút thuốc không đúng nơi quy định

Trang 29

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1 Khung phân tích

Thông qua việc lấy thông tin từ các đối tượng khảo sát bằng bảng câu hỏi Trên cơ

sở vận dụng lý thuyết hành vi tiêu dùng và những nhận định từ các nghiên cứu liên quan về hành vi hút thuốc lá, nghiên cứu đưa ra khung phân tích

Hình 3.1 Khung phân tích

Nguồn: tác giả, 2015

Theo như khung phân tích, với kỳ vọng là nhằm giảm số người hút thuốc cũng như tiêu thụ thuốc lá của những người đi làm bằng việc xem xét các yếu tố nào có tác động thông qua thống kê mô tả và hồi quy Từ đó, nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp

cụ thể Đó là kết quả nghiên cứu muốn hướng đến

Kết quả-hướng nghiên cứu

Đưa ra các giải pháp nhằm giảm hành vi hút thuốc lá cũng như tiêu thụ thuốc lá thông qua các yếu tố ảnh hưởng

Trang 30

3.2 Mô hình nghiên cứu:

Để đánh giá mức độ tham gia hút thuốc từ đối tượng khảo sát, tác giả dựa vào mô hình của Elisabeth Sadoulet (1995), mô hình này giải thích tình trạng hút thuốc (biến giả) bằng cách sử dụng tất cả thông tin cá nhân và giá thuốc lá Mô hình logit với logarit của giá thuốc lá và thu nhập được thể hiện ở mô hình (3.1)

Dsmoker = β1 + β2.ln(Giá thuốc lá) + β3.ln(Thu nhập) + ∑𝑖1βi Xi + εi (3.1)

Với Dsmoker: biến giả mô tả hành vi hút thuốc (0: không hút thuốc; 1: có hút thuốc)

Xi là các biến bao gồm giới tính, tuổi, nghề nghiệp, bằng cấp, khu vực, tổng số người trong hộ, dân tộc, tình trạng hôn nhân

Riêng về giá, tác giả dùng giá thuốc lá được tính bằng trung bình của giá thuốc Warhorse và Whitehorse cũng như giá riêng của từng loại ở mỗi phường, xã được khảo sát

Để đánh giá các yếu tố tác động đến cường độ hút ở người hút thuốc lá, tác giả dựa vào mô hình của Ramu Ramanathan (2002) và sử dụng hàm logarit của số lượng điếu thuốc lá Với số điếu thuốc là biến phụ thuộc Mô hình sử dụng là mô hình log-log (3.2):

ln(Cường độ hút thuốc lá)= β1 + β2.ln(Giá thuốc lá) + β3.ln(Thu nhập)+ ∑𝑖1βi Xi + εi

(3.2) Các biến giải thích tương tự như mô hình (3.1)

3.3 Giả thiết nghiên cứu

Từ lý thuyết, các nghiên cứu trước cũng như khung phân tích, tác giả đưa ra các giả thiết như sau:

GT1: Giá thuốc có tác động đến sự tham gia hút thuốc hay không?

GT2: Giá thuốc có tác động đến cường độ hút thuốc hay không?

GT3: Thu nhập có tác động đến sự tham gia hút thuốc hay không?

GT4: Thu nhập có tác động đến cường độ hút thuốc hay không?

GT5: Tuổi có tác động đến sự tham gia hút thuốc hay không?

GT6: Tuổi có tác động đến cường độ thuốc hay không?

GT7: Giới tính có tác động đến sự tham gia hút thuốc hay không?

Trang 31

GT8: Tình trạng hôn nhân có tác động đến cường độ hút thuốc hay không?

GT9: Tình trạng hôn nhân có tác động đến sự tham gia hút thuốc hay không?

GT10: Dân tộc có tác động đến cường độ hút thuốc hay không?

GT11: Dân tộc có tác động đến sự tham gia hút thuốc hay không?

GT12: Các nhóm nghề có tác động đến sự tham gia hút thuốc hay không?

GT13: Các nhóm nghề có tác động đến sự tham gia hút thuốc hay không?

GT14: Bằng cấp có tác động đến sự tham gia hút thuốc hay không?

3.4 Phương pháp phân tích:

Người đủ tiêu chuẩn để đánh giá phân tích là người đang đi làm trong các công ty tư nhân, Nhà nước Đây là nhóm có thu nhập ổn định, giúp việc đánh giá được chính xác Tuổi được chọn là từ 18 đến 65 tuổi Đây là nhóm tuổi có năng lực làm việc Riêng phần đánh giá tác động về cường độ hút thuốc là người đang hút thuốc lá và giả sử họ đang hút thuốc lá hàng ngày Việc phân loại theo nhân khẩu học được cụ thể như sau:

- Khu vực: thành thị, nông thôn

- Giới tính: nam, nữ

- Tuổi: dưới 30 tuổi, từ 30 đến 45 tuổi, trên 45 tuổi

- Hôn nhân: kết hôn, khác

Trang 32

Đầu tiên, tác giả đánh giá thống kê tỉ lệ tham gia hút thuốc và cường độ hút thuốc theo phân loại ở trên Sau đó, so sánh sự khác biệt về nhân khẩu học giữa người tiêu dùng thuốc lá giá cao và giá thấp Việc đánh giá các yếu này vào sự lựa chọn nhãn hiệu thuốc lá cũng được đưa vào phân tích

Ngoài ra, tác giả đánh giá cảnh báo của thuốc lá trên các phương tiện truyền thông cũng như trên bao thuốc lá Đánh giá xem phản ứng của người hút thuốc lá khi tăng giá thuốc ở các mức khác nhau, cũng như tác hại của bệnh tật do thuốc lá gây ra Đồng thời tác giả muốn xem xét mức độ hiểu biết về quy định địa điểm cấm hút thuốc, xử phạt khi hút thuốc tại địa điểm cấm

3.5 Mô tả dữ liệu:

Đối tượng khảo sát là những người đang đi làm từ 18 đến 65 tuổi

Địa điểm và thời gian khảo sát

Dữ liệu được thu thập từ tháng 12/2014 đến tháng 2/2015 tại tỉnh Quảng Ngãi gồm

11 phường, xã trong đó có 3 phường ở khu vực thành thị và 8 xã ở khu vực nông thôn

Phương pháp thu thập dữ liệu

Đối tượng khảo sát được thu thập bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện Ban đầu, tác giả dựa vào các nghiên cứu liên quan và một số câu hỏi khảo sát của GATS năm

2010, sau đó khảo sát thử 50 người ở 50 hộ gia đình để đánh giá và hiệu chỉnh bảng câu hỏi cho phù hợp với mục đích nghiên cứu cùng với kết hợp ý kiến của chuyên gia Tiếp đến, tác giả chính thức thu thập dữ liệu với mẫu khảo sát là 450 người với phương pháp phỏng vấn tay đôi Cụ thể:

- Khu vực thành phố Quảng Ngãi, chọn 3 phường với số mẫu là 100 người

- Khu vực huyện Sơn Tịnh và Bình Sơn, chọn 8 xã với mẫu là 350 người

Sau khi tổng hợp có 411 mẫu đạt yêu cầu Số liệu được nhập và phân loại theo nhiều hướng để phù hợp với nghiên cứu dưới phần mềm thống kê Stata

Dữ liệu thu thập bao gồm các thông tin về yếu tố cá nhân như tuổi, giới tính, nghề nghiệp, bằng cấp, thu nhập, khu vực, tình trạng hôn nhân Các câu hỏi liên quan về kiến thức, nhận thức, truyền thông về tác hại cũng như quy định xử phạt của thuốc lá

Trang 33

cũng được thu thập Ngoài ra, có một phần riêng về hút thuốc lá như độ tuổi hút, thời gian hút thuốc, số tiền chi cho hút thuốc hàng tháng

Bên cạnh câu hỏi về thông tin cá nhân, tác giả thu nhập thông tin về giá thuốc ở mỗi phường, xã khảo sát là 2 cửa hàng bán thuốc lá Giá của loại thuốc lá giá cao là White Horse và loại thuốc lá giá thấp là War Horse sẽ được thu thập và tổng hợp Giá thuốc đại diện ở mỗi phường, xã là mức giá trung bình của 2 loại thuốc lá này

Quy trình phân tích dữ liệu:

- Tóm tắt và phân loại dữ liệu cho phù hợp mục đích nghiên cứu

- Thống kê mô tả

- Phân tích mô hình hồi quy và kiểm định sự phù hợp của mô hình

- Kiểm định các giả thiết theo mô hình nghiên cứu của đề tài

Tóm lại, chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu được thực hiện là phương pháp định lượng và định tính bằng khảo sát 450 người từ bảng câu hỏi Đối tượng khảo sát là người đi làm từ 18 đến 65 tuổi tại tỉnh Quảng Ngãi

Dữ liệu thu thập được phân loại để phù hợp cho nghiên cứu đánh giá Mô hình phân tích, các kiểm định và các giả thiết cũng được đặt ra nhằm giải thích sự tác động giữa các yếu tố về sự tham gia hút thuốc và cường độ hút thuốc Chương này cũng là nền tảng cho việc phân tích kết quả ở chương kết quả phân tích

Trang 34

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm của mẫu quan sát

4.1.1 Toàn bộ mẫu

Như đã trình bày ở chương 3, đối tượng tham gia khảo sát là những người đi làm trong từ 18 đến 65 tuổi tại Quảng Ngãi Số phiếu phát ra là 450 và có 411 phiếu hợp

lệ Thông tin chi tiết được dẫn ở bảng 4.1

Bảng 4.1 Thông tin tổng quan về đối tượng nghiên cứu

Nguồn: dữ liệu khảo sát của tác giả

Trang 35

Theo kết quả thống kê, số người ở nông thôn chiếm tỉ lệ 76,4%, dân tộc Kinh chiếm

tỉ lệ 95,9% Còn về giới tính, nam giới chiếm tỉ lệ 97,1% trong 411 người khảo sát

Về trình độ học vấn, tỉ lệ cao nhất là Tiểu học trở xuống (43,5%), kế đến là Trung học cơ sở (32,4%), Trung học phổ thông (14,8%) và thấp nhất là số người có bằng Cao đẳng trở lên (9,3%)

Chiếm đa số trong khảo sát là nhóm người từ 30 đến 45 tuổi (51,8%), tiếp đến là nhóm người trên 45 tuổi (34,6%), thấp nhất là nhóm dưới 30 tuổi (13,6%) Riêng về nghề nghiệp, chiếm nhiều nhất là nhóm lao động thủ công và lao động giản (55,7%), còn thấp nhất là nhóm nhân viên trợ lý văn phòng, nhân viên dịch vụ và bán hàng, lãnh đạo, nhà chuyên môn bậc cao (21,7%)

Bảng 4.2 Mối quan hệ giữa bằng cấp và nghề nghiệp

(tỉ lệ %) Nghề

Bằng cấp

Tổng Tiểu học trở

xuống THCS THPT

Cao đẳng trở lên Lãnh đạo cơ quan nhà nước, tư nhân 0 7.7 30.8 61.5 100 Nhà chuyên môn bậc cao và trung 0 9.1 30.3 60.6 100

Nhân viên dịch vụ và bán hàng 20.6 50.0 20.6 8.8 100 Lao động có kỹ năng trong nông,

Nguồn: dữ liệu khảo sát của tác giả

Dựa vào bảng 4.2, các ngành yêu cầu vận dụng trí óc nhiều như lãnh đạo cơ quan nhà nước, nhà chuyên môn bậc cao và trung thường có bằng cấp cao hơn sơn với các ngành nghề còn lại Còn các ngành nghề ít sử dụng kiến thức và trí óc nhiều thì chủ yếu có bằng cấp từ THCS trở xuống Cụ thể: lãnh đạo cơ quan nhà nước và tư nhân

Trang 36

có bằng Cao đẳng trở lên là 61,5%, bằng THPT là 30,8% Nhà chuyên môn bậc cao

và trung, bằng Cao đẳng trở lên chiếm 60,6%, THPT chiếm 30,3% Nhân viên trợ lý văn phòng có bằng THPT chiếm 66,7% Nhân viên dịch vụ và bán hàng có bằng THCS là 50% Lao động có kỹ năng trong nông, lâm, ngư nghiệp có bằng Tiểu học trở xuống chiếm 68,6%, có bằng THCS chiếm 27,1% Lao động giản đơn chiếm nhiều nhất là bằng Tiểu học trở xuống (62,6%), THCS là 24,4%

Bảng 4.3 Thu nhập bình quân hàng tháng của đối tượng khảo sát

(đơn vị: ngàn đồng)

lượng

Trung bình

Độ lệch

Nhỏ nhất

Lớn nhất Thu nhập hàng tháng 411 3261.3 1778.9 800 10400

Nguồn: dữ liệu khảo sát của tác giả

Thu nhập trung bình của của đối tượng khảo sát là 3261,3 ngàn đồng/tháng, trong đó thu nhập thấp nhất là 800 ngàn đồng/tháng và cao nhất là 10400 ngàn đồng/tháng Biểu đồ dưới đây sẽ cho thấy rõ hơn mức độ phân bố mức thu nhập

Hình 4.1 Thu nhập bình quân hàng tháng của đối tượng quan sát

Nguồn: dữ liệu khảo sát của tác giả

Trang 37

Nhìn vào biểu đồ, mức thu nhập chiếm nhiều nhất trong khoảng 800 đến 4000 ngàn đồng/tháng, còn khoảng 6000 ngàn đồng/tháng trở lên chiếm ít nhất Từ đó cho ta thấy sự phân bố về thu nhập còn khá chênh lệch

Bảng 4.4 Độ tuổi của đối tượng khảo sát Biến Số lượng Trung bình Độ lệch Nhỏ nhất Lớn nhất

Nguồn: dữ liệu khảo sát của tác giả

Độ tuổi trung bình của mẫu khảo sát là 41.64, nhỏ tuổi nhất là 20 tuổi và lớn tuổi nhất là 65 tuổi

Hình 4.2 Biểu đồ phân bố tuổi

Nguồn: dữ liệu khảo sát của tác giả

Trang 38

Bảng 4.5 Thống kê về đối tượng khảo sát có hút thuốc lá hay không

Thợ lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị 34.8 65.2 Lao động thủ công và các nghề nghiệp liên

Nguồn: dữ liệu khảo sát của tác giả

Nhìn vào bảng thống kê, trong số 411 người được khảo sát, có 263 người có hút thuốc

lá chiếm 64% Cụ thể: những người từ 30 tuổi trở lên có tỉ lệ hút thuốc cao hơn những người dưới 30 tuổi Tỉ lệ hút thuốc những người từ 30 đến 45 tuổi là 67,1% Về bằng cấp, nhóm người có bằng Cao đẳng trở lên hút thuốc lá ít nhất (39,5%), còn những người có bằng THCS là 71,4% Về nghề nghiệp, những người lao động thiên về chân tay có tỉ lệ hút từ 65% trở lên Nhóm người lao động giản đơn có tỉ lệ hút thuốc là 70,4%, nhóm người lao động có kỹ năng trong nông lâm ngư nghiệp chiếm 72%

Trang 39

4.1.2 Đối với người hút thuốc

Bảng 4.6 Số điếu thuốc lá hút mỗi ngày ở người hút thuốc lá

Nguồn: dữ liệu khảo sát của tác giả

Nhìn vào bảng thống kê, về tổng thể thì số người hút thuốc dưới 7 điếu/ngày chiếm

tỉ lệ cao nhất (51,7%), tiếp đến là hút từ 7 đến 15 điếu/ngày (41,8%) và thấp nhất là trên 15 điếu/ngày (6,5%) Cụ thể:

Về tuổi, chiếm nhiều nhất là từ 30 đến 45 tuổi (54,4%), hút dưới 7 điếu/ngày là 26,7%,

từ 7 đến 15 điếu/ngày là 24,7% Tiếp đến là trên 45 tuổi (35,3%), và thấp nhất là dưới

30 tuổi (10,3%)

Trang 40

Về khu vực, chiếm nhiều nhất là khu vực nông thôn với số người hút dưới 7 điếu/ngày

là 39,5%, từ 7 đến 15 điếu/ngày là 33,1%, còn khu vực thành thị chiếm lần lượt là 12,2% và 8,7%

Về bằng cấp, nhóm người có bằng Tiểu học trở xuống chiếm tỉ lệ nhiều nhất với 44,1% Trong đó hút dưới 7 điếu thuốc/ngày chiếm cao nhất với 22,1%, hút từ 7 đến

15 điếu/ngày chiếm 18,6%, trên 15 điếu/ngày chỉ chiếm 3,4% Chiếm thấp nhất là những người có bằng Cao đẳng trở lên (5,7%)

Về nghề nghiệp, chiếm nhiều nhất tổng số người hút thuốc trong khảo sát là nhóm nghề lao động thủ công và lao động giản đơn Cụ thể, hút dưới 7 điếu/ngày, nhóm nghề lao động giản đơn chiếm nhiều nhất với 20,5%, nhóm nghề lao động có kỹ năng trong nông lâm ngư nghiệp chiếm 11,4%, tiếp đến là nhóm nghề lao động thủ công

và nghề nghiệp liên quan khác (8,7%) Số lượng hút từ 7 đến 15 điếu, nghề lao động thủ công và nghề liên quan khác chiếm cao nhất với 17,9%, thấp hơn là nghề lao động giản đơn (8,7%) Thấp nhất là những ngành nghề liên quan đến vận dụng trí óc nhiều như lãnh đạo (2,7%), nhà chuyên môn bậc cao và trung (5,7%), nhân viên trợ lý văn phòng (1,9%), nhân viên dịch vụ và bán hàng (4,6%)

Bảng 4.7 Chi phí hút thuốc lá hàng tháng của đối tượng khảo sát

Số lượng Tỉ lệ %

Nguồn: dữ liệu khảo sát của tác giả

Chi phí hút thuốc lá hàng tháng chủ yếu tập trung ở mức dưới 200 ngàn đồng, chiếm 88% của tổng thể Cụ thể dưới 100 ngàn đồng/tháng chiếm 41%, từ 100 đến 200 ngàn đồng/tháng chiếm 47%, còn chiếm thấp nhất là chi phí thuốc lá hàng tháng trên 200 ngàn đồng/tháng (12%)

Ngày đăng: 15/07/2021, 11:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w