1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật sử dụng từ láy trong ca dao xứ nghệ và trong truyện kiều của nguyễn du

36 1,8K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ thuật sử dụng từ láy trong ca dao xứ nghệ và trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Tác giả Hồ Thị Cẩm Tú
Người hướng dẫn Ths.Hoàng Minh Đạo
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 138 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

30 Chơng III: Những điểm khác biệt trong việc sử dụng 32 từ láy ở ca dao xứ Nghệ và “Truyện Kiều” của Nguyễn Du.. Nghệ thuật sử dụng từ láy trong một kiệt tác tiêu biểu củavăn học Việt N

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh Khoa Ngữ Văn

Trang 2

Khoá luận tốt nghiệp

Giáo viên hớng dẫn:

Ths.Hoàng Minh Đạo

Sinh viên thực hiện:

Hồ Thị Cẩm Tú Lớp: 42 B1 – Văn

Vinh 2005

****

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân em đã nhận đợc sự giúp

đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ Văn, đặc biệt là sự hớng dẫn chỉ bảo nhiệt tình của thầy giáo, Thạc sỹ: Hoàng Minh Đạo Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất trớc sự quan tâm của các thầy cô.

Do thời gian và trình độ có hạn của ngời viết nên khoá luận này sẽ khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong nhận đợc sự góp ý chân thành của thầy cô và các bạn để khoá luận này đầy đủ hơn, hoàn chỉnh hơn.

Vinh, Tháng 5 năm 2005

Tác giả

Hồ Thị Cẩm Tú

Trang 3

Mục lục

Trang

A Mở đầu 5

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 5

2 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu 6

3 Lịch sử vấn đề 7

4 Đóng góp của đề tài 11

5 Bố cục của đề tài 11

B Nội dung 12

Chơng I: Cái nhìn tổng thể về sự có mặt của từ láy 12 trong ca dao lục bát xứ Nghệ và trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du 1 Giới thiệu khái niệm 12

1.1.Từ láy 12

1.2 Ca dao xứ Nghệ 13

2 Thống kê , khảo sát,phân loại 13

2.1 Thống kê, khảo sát 13

2.1.1 Từ láy trong ca dao lục bát xứ Nghệ 13

2.1.2 Từ láy trong Truyện Kiều 15

2.2 Phân loại 15

2.2.1 Tiêu chí phân loại 15

2.2.1.1 Về vị trí 15

2.2.1.2 Về cấu trúc 15

2.2.2 Kết quả 16

2.2.2.1 Trong ca dao xứ Nghệ 16

2.2.2.2 Trong Truyện Kiều 17

3.So sánh, nhận xét 18

Chơng II: Những điểm tơng đồng trong việc sử 19

dụng từ láy ở ca dao xứ Nghệ và “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du 1.Vị trí của từ láy trong câu 19

1.1 Từ láy đứng ở đầu câu 19

1.2 Từ láy đứng ở giữa câu 20

1.3 Từ láy đứng ở cuối câu 22

2 Cách sắp xếp trật tự để nâng cao hiệu ứng nghệ thuật 23

Trang 4

(sắc thái biểu cảm).

2.1.Đảo vị trí của vị ngữ lên trớc chủ ngữ 24

2.2.Đảo vị trí của bổ ngữ lên trớc vị ngữ 25

3 Hiện tợng tách từ láy để chêm xen từ khác vào 26

3.1 Chêm từ trớc âm tiết láy 28

3.2 Chêm từ sau âm tiết láy 29

3.3 Nhân xét 29

4 Nguyên nhân của sự tơng đồng 30

Chơng III: Những điểm khác biệt trong việc sử dụng 32

từ láy ở ca dao xứ Nghệ và “Truyện Kiều” của Nguyễn Du 1 Mức độ sử dụng từ láy thuần Việt và Hán Việt 32

2 Từ láy góp phần tạo nên sự cân xứng, đối ngẫu 39

2.1 Cân xứng đối ngẫu trong một dòng thơ 42

2.2 Cân xứng, đối ngẫu trong cặp lục bát ( hai dòng thơ) 45

2.2.1 Đối đầu dòng 45

2.2.2 Đối giữa dòng 46

3 Nguyên nhân 47

C Kết luận 48

D Tài liệu tham khảo 50

Trang 5

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Trong ca dao xứ Nghệ và trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, chúng ta dễdàng bắt gặp rất nhiều câu sử dụng từ láy Từ láy là một sản phẩm của một ph ơng thứccấu tạo từ độc đáo của Tiếng Việt: phơng thức láy Từ láy có khả năng diễn đạt chínhxác những biến thái tinh vi của cảnh vật, của tâm hồn, tình cảm con ngời Từ láy gợihình ảnh, cảm xúc và nó còn tạo nên tính cân đối hài hoà, tạo nên nhịp điệu tiết tấu…của câu thơ Mỗi từ láy tiềm tàng trong mình những ánh màu lung linh về nghĩa, phản

ánh một sự tinh tế và sinh động cách cảm thụ chủ quan, cách đánh giá về thái độ củangời Việt trớc sự vật và hiện tợng cùng những trạng thái và tính chất của sự vật, hiện t-ợng trong thế giới quanh ta Cho nên, về phơng diện sử dụng, từ láy là phơng tiện tạohình đắc lực cho văn học nghệ thuật, đặc biệt là thơ ca

Nghĩa và âm hởng của từ láy dờng nh đọng lại ở mỗi lời văn, câu thơ, phản ánhnhững nỗi niềm sâu lắng nhất của tâm hồn ngời Việt Với giá trị tợng thanh, tợng hình

và biểu cảm đặc biệt, từ láy đã tạo nên giá trị đặc trng riêng của nó Chính giá trị riêng

ấy đã góp phần tạo nên cái hay, cái đẹp cho những áng thơ văn bất hủ và các tác giảkhông thể không sử dụng từ láy

Từ văn học dân gian, văn học trung đại cho đến văn học hiện đại đều có sự hiệndiện của từ láy (ca dao, thơ Nôm Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du, thơ TốHữu, Xuân Diệu…) Tuy nhiên cách vận dụng từ láy vào tác phẩm ở mỗi thời đại lạikhông hoàn toàn giống nhau Nghệ thuật sử dụng từ láy trong một kiệt tác tiêu biểu củavăn học Việt Nam thời trung đại (Truyện Kiều) tuy có điểm tơng đồng nhng về cơ bảnvẫn có sự khác biệt trong cách thể hiện so với các tác phẩm trớc hoặc cùng thời với nó.Việc tìm hiểu nghệ thuật sử dụng từ láy trong “Truyện Kiều” đã đợc một số nhà nghiêncứu quan tâm nhng việc tìm hiểu điều này trong ca dao nói chung và ca dao xứ Nghệnói riêng thì dờng nh vẫn còn là “mảnh đất trắng” trong các công trình của các nhànghiên cứu (thực tế đó sẽ đợc trình bày kỹ trong phần Lịch sử vấn đề)

Để góp phần làm sáng tỏ những điểm tơng đồng và những nét khác biệt khi cùngvận dụng một phơng thức nghệ thuật trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du và trong cadao của ngời lao động, chúng tôi tìm hiểu vấn đề: “Nghệ thuật sử dụng từ láy trong cadao xứ Nghệ và trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du” Nếu vấn đề này đợc giải quyếtthấu đáo sẽ giúp chúng ta thấy rõ mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viếtnói chung, giữa ca dao và “Truyện Kiều” nói riêng; đồng thời sẽ chỉ ra đợc nhữngthành công của Nguyễn Du trong việc vận dụng và sáng tạo ngôn ngữ dân tộc qua việc

sử dụng từ láy Cũng qua đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm tiếng nói về đặc

Trang 6

điểm thi pháp ca dao và “Truyện Kiều” qua cái nhìn đối sánh trên bình diện sử dụngngôn từ.

Với lý do và mục đích nghiên cứu nh vậy, nhiệm vụ khoa học đặt ra với chúngtôi là thống kê, khảo sát những từ láy trong ca dao xứ Nghệ và trong “Truyện Kiều”.Trên cơ sở đó dùng thao tác so sánh để làm nổi bật những điểm chung và riêng trongnghệ thuật sử dụng từ láy ở hai dòng văn học đồng thời lý giải nguyên nhân góp phầntạo nên hiện tợng tơng đồng và dị biệt đó

2 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu

2.1 Phạm vi nghiên cứu.

Về t liệu chúng tôi sử dụng bộ “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (phần ca dao của ngờiViệt (Kinh) do Ninh Viết Giao chủ biên, Nxb Nghệ An, 1996 (2 tập) và cuốn “TruyệnKiều” do giáo s Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú giải , Nxb Giáo Dục, 1996

Trong ca dao xứ Nghệ chúng tôi chỉ tìm hiểu nghệ thuật sử dụng từ láy chủ yếu ởmảng đề tài “Tình yêu nam nữ” qua những câu lục bát chính thể Sở dĩ nh vậy là vìmảng đề tài này chiếm số lợng lớn trong ca dao xứ Nghệ (với 1894 bài chiếm 45%trong đó có 1332 bài lục bát chính thể tơng đơng 3416 dòng thơ), xấp xỉ “TruyệnKiều” Hơn nữa chỉ khảo sát ở những cặp lục bát chính thể để tiện so sánh với “TruyệnKiều” của Nguyễn Du, tác phẩm đạt đến mẫu mực của thể loại lục bát

2.2 Phơng pháp nghiên cứu

Phơng pháp nghiên cứu phụ thuộc vào lý do và mục đích Với lý do và mục đích

nh đã trình bày ở trên, chúng tôi sẽ vận dụng các phơng pháp sau đây:

3 Lịch sử vấn đề

3.1 Điểm qua một số công trình nghiên cứu liên quan đế n đề tài.

Việc tìm hiểu nghệ thuật ngôn từ trong “Truyện Kiều” và ca dao nói riêng, trongvăn học nói chung đã đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Điều này chứng tỏ đây làmột vấn đề có phần vĩ mô Trong văn học, đặc biệt là trong sáng tạo thơ ca, từ láy đ ợcvận dụng khá nhiều và là một phơng tiện nghệ thuật đạt hiệu quả cao Từ văn học dângian, văn học trung đại cho đến văn học hiện đại đều có sự hiện diện của từ láy ( đã đợc

Trang 7

trình bày kỹ ở phần Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu) Thế nhng các tác giảnghiên cứu, phê bình văn học cha đi sâu vào tìm hiểu nghệ thuật sử dụng từ láy trongtác phẩm một cách tập trung, thờng chỉ dừng lại ở điểm qua, sơ lợc, chung chung Vớicách nhìn nh thế, khi nghiên cứu về Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu có nói đến nghệthuật sử dụng từ láy (Phan Ngọc) nhng khi nghiên cứu về ca dao dờng nh các tác giảchỉ nghiên cứu chung chung về ngôn ngữ ca dao (Nguyễn Xuân Kính, Mai NgọcChừ…) Và việc so sánh nghệ thuật sử dụng từ láy trong ca dao và trong “Truyện Kiều”thì cha thấy tác giả nào nghiên cứu Chúng tôi xin đợc điểm qua một số ý kiến.

(1) Phan Ngọc trong công trình nghiên cứu “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Dutrong Truyện Kiều” viết: “Trớc hết ta thấy Nguyễn Du sử dụng rất nhiều từ láy âmtrong tác phẩm của mình Điều đó không phải là tự nhiên mà có Ngời quen với từ ch-

ơng học thấy ngay đây là một sự nhân nhợng của tác giả đốivới thơ dân gian Tác giả

cố sử dụng những từ dân dã để làm dịu bớt ảnh hởng bác học [ 11,285] Trong côngtrình này Phan Ngọc đã khá công phu khi tìm hiểu nghệ thuật sử dụng từ láy củaNguyễn Du nhng quan niệm về từ láy của ông đôi chỗ còn phải bàn thêm

(2) Nhà lý luận phê bình văn học Trần Đình sử cho rằng: “Sự xuất hiện của đốingẫu trong Truyện Kiều có lẽ không giản đơn là do áp lực của đối trong song thất lụcbát, ở đó do áp lực của đối trong cặp câu thất mà cặp câu bát cũng đối theo

Bởi nếu vậy thì khi thể hiện thơ chỉ thuần lục bát sẽ không còn áp lực ấy nữa Đối ngẫutrong thơ lục bát có lẽ nên hiểu rộng hơn là do xu hớng ngẫu hoá, sóng đôi trong ngônngữ: từ đối, từ láy, thành ngữ, quán ngữ” [13,268]

ở đây Trần Đình Sử có nhắc đến vai trò của từ láy trong việc góp phần tạo nên sự

đối ngẫu trong câu thơ lục bát Tuy nhiên ông chỉ đa ra vấn đề mà cha có sự phân tíchthấu đáo

(3) Nguyễn Văn Hoàn qua bài viết “Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều đãkhẳng định: “Nguyễn Du đã du nhập rộng rãi và đã vận dụng một cách sáng tạo thểcách đối vào trong lục bát ở đây chúng ta có thể thấy ảnh hởng của thi pháp Nguyễn

Du đối với thi pháp Việt Nam nhng trực tiếp hơn là thấy đợc nhà thi hào dân tộc đãnắm vững mức nào đặc sắc, sở trờng của tiếng mẹ đẻ, của thơ ca dân gian”[6,56]

(4) Tác giả của “Thi pháp ca dao”, Nguyễn Xuân Kính khi bàn về ngôn ngữ cadao đã có ý kiến: “Trong hoạt động ngôn ngữ, thao tác lựa chọn liên quan đến vốnngôn ngữ, tức là đến những đơn vị ngôn ngữ tồn tại trong óc các nhân vật, vận dụng

năng lực liên tởng để cung cấp sự lựa chọn cần thiết Chẳng hạn thay từ ăn bằng từ

chén trong câu tôi ăn cơm thì câu này sẽ mang sắc thái khác Còn thao tác kết hợp lại

dựa trên một khả năng khác của hoạt động ngôn ngữ : Các yếu tố ngôn ngữ có thể đặtbên cạnh nhau nhờ vào mới quan hệ tơng cận giữa chúng (…) Nh vậy, nói tức là lựa

Trang 8

chọn và kết hợp các đơn vị ngôn ngữ Khi sáng tác thơ và ca dao, ng ời ta cũng làm nhvậy [8,121].

(5) Nhà nghiên cứu Mai Ngọc Chừ quan niệm: “Có thể nói ngôn ngữ ca dao đãkết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của tiếng Việt Nó có cả những đặc

điểm tinh tuý của ngôn ngữ văn học (mà cụ thể là ngôn ngữ thơ) đồng thời nó còn vậndụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại vàomột loại ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ [4,24]

Cả Nguyễn Xuân Kính và Mai Ngọc Chừ đều phân tích khá tỉ mỉ những nhân tốlàm nên cái hay, cái độc đáo của ca dao nhng riêng từ láy, một trong số những nhân tốquan trọng thì cha thấy nhắc đến

(6) Về vai trò của từ láy trong tác phẩm văn học, Đỗ Hữu Châu đã có nhận xét: “Mỗi từ láy là một “nốt nhạc” về âm thanh, chứa đựng trong mình một “ bức tranh” cụthể của các giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, khứu giác…kèm theonhững ấn tợng về sự cảm thụ chủ quan, những cách đánh giá, những thái độ của ngờinói trớc sự vật, hiện tợng, đủ sức thông qua các giác quan hớng ngoại và hớng nội củangời nghe mà tác động mạnh mẽ đến họ Cho nên các từ láy là những công cụ tạo hìnhrất đắc lực của nghệ thuật văn học, nhất là của thơ ca”[3,54]

3.2 Một số vấn đề đặt ra cần giải quyết.

Từ việc tìm hiểu trên ta thấy rằng: Cho đến nay các công trình nghiên cứu vềnghệ thuật sử dụng từ láy trong “Truyện Kiều” và trong ca dao cha nhiều Và vì mục

đích của ngời viết, vì tính chất của công trình nghệ thuật nên cha đợc giải quyết theocách nhìn nhận cụ thể, khái quát, hệ thống theo thi pháp học

ở khoá luận này, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của những ngời đi trớc vàkhắc phục một số thiếu sót mà các công trình đợc điểm qua cha thực sự quan tâm,chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách có hệ thống, tập trung vào vấn đề nghệ thuật

sử dụng từ láy trong ca dao xứ Nghệ và trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du Qua đóchúng tôi sẽ đa ra một số đánh giá bớc đầu của một sinh viên trên bớc đờng tập dợtnghiên cứu khoa học

4 Đóng góp của đề tài

Đây là hớng tiếp cận văn chơng từ góc độ ngôn ngữ - văn học, một hớng tiếp cậnliên ngành Ngữ văn mới mẻ và thú vị hiện nay (Ngữ văn tích hợp)

Để học sinh hiểu sâu sắc và có cảm nhận tinh tế về thơ rồi từ đó mà hiểu cặn kẽ

ý tình tác giả gửi gắm vào tác phẩm cũng nh giúp cho việc dạy và học từ láy trở nên có

Trang 9

tác dụng thiết thực hơn, hấp dẫn hơn, ngời giáo viên Ngữ văn cần nắm vững tri thức cơbản về từ láy, cần hiểu rõ cách dùng, giá trị ngữ nghĩa của từ láy trong tác phẩm, trongtừng câu thơ, bài thơ cụ thể Với đề tài này chúng tôi hy vọng rằng sẽ có đóng góp vàoviệc dạy và học văn trong chơng trình phổ thông hiện nay.

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa khoá luận đợc trình bày trong ba chơng:

Chơng I: Cái nhìn tổng thể về sự có mặt của từ láy trong ca dao lục bát xứ Nghệ

và trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Chơng II: Những điểm tơng đồng trong việc sử dụng từ láy ở ca dao xứ Nghệ và

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Chơng III: Những điểm khác biệt trong việc sử dụng từ láy ở ca dao xứ Nghệ và

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Từ láy có nhiều tên gọi khác nhau: Từ lắp láy [ Nguyễn Tài Cẩn, 1975; NguyễnVăn Tu; Hồ Lê, 1976], từ láy âm [Phan Ngọc 1985; Đinh Văn Đức, 1986; Đỗ HữuChâu, 1981], từ ghép láy [Nguyễn Văn Tu, 1968], từ láy [Hoàng Văn Tuệ, 1971; ĐàoThản 1970, Hoàng Văn Hành 1975, 1985; Nguyễn Thiện Giáp, 1985; Đỗ Hữu Châu,1981,1986,1999; Diệp Quang Ban, 1989…]

Trang 10

Sự tồn tại nhiều tên gọi khác nhau về cùng một khái niệm cho thấy quan niệmcủa các nhà nghiên cứu về từ láy không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên đa số các tácgiả đều hình dung từ láy nh một đơn vị từ vựng gồm 2 phần: thành tố gốc và thành tốláy, trong đó cái thứ nhất (thành tố gốc) sản sinh ra cái thứ hai (thành tố láy), còn cáithứ hai chính là cái thứ nhất đợc biến dạng đi ít nhiều theo những quy tắc nhất địnhtrong quá trình láy.

Chúng tôi chấp nhận định nghĩa của Đỗ Hữu Châu và lấy đó làm cơ sở để thống

kê, khảo sát từ láy trong ca dao và trong “Truyện Kiều”

1.2 Ca dao xứ Nghệ

Xứ Nghệ là cái nôi văn hoá của Việt Nam Từ bao đời nay các nghệ sỹ dân gian

đã không ngừng tạo nên kho tàng ca dao, dân ca đồ sộ, độc đáo để ngợi ca đất nớc, conngời, tình yêu… của ngời dân xứ Nghệ “Nghệ Tĩnh có một kho tàng văn hoá dân gianrất phong phú và có lẽ vào bậc nhất so với tất cả các địa phơng khác trong toàn quốc

Đã bao đời rồi, cái gia tài vô giá ấy là nguồn dinh dỡng tinh thần, là cơ sở văn hoá, làtrí tuệ và tài năng, là sức mạnh vật chất, là động lực phát triển …của con ngời xứ Nghệ[5,25]”

Ca dao xứ Nghệ là một bộ phận của ca dao cả nớc, do đó nó mang những đặc

điểm chung của ca dao toàn quốc vừa có sắc thái riêng của ca dao đợc lu truyền phổbiến ở một vùng quê cụ thể

Nh vậy ca dao xứ Nghệ là những bài ca dao đợc lu truyền phổ biến ở vùng NghệTĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh) đợc su tầm, công bố trong các công trình nghiên cứu củacác tác giả có tên tuổi nh Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi… Đại đa số ca dao xứNghệ đợc sáng tác theo thể lục bát, đặc biệt là mảng đề tài tình yêu (tất cả có 1897 bàithì có tới 1837 bài sáng tác theo thể lục bát, chiếm 96%)

2 Thống kê, khảo sát, phân loại

2.1 Thống kê, khảo sát.

2.1.1 Từ láy trong ca dao lục bát xứ Nghệ

Bộ “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” 2 tập do Ninh Viết Giao chủ biên gồm 7 chơngChơng I: Đặc điểm về địa phơng xứ Nghệ

Có:

dòng 9 , 8

y

á l từ 1 dòng

722

y

á l từ 81

Chơng II: Tình yêu nam nữ

Có:

dòng 7 , 9

y

á l từ 1 dòng

3416

y

á l từ 352

Chơng III: Quan hệ hôn nhân và gia đình

Có:

dòng 8 , 9

y

á l từ 1 dòng

772

y

á l từ 79

Trang 11

Chơng IV: Cuộc sống xã hội nông nghiệp

Có:

dòng 6 , 8

y

á l từ 1 dòng

986

y

á l từ 115

Chơng V: Quan điểm lao động và kinh nghiệm sống

Có:

dòng 5 , 9

y

á l từ 1 dòng

504

y

á l từ 53

Chơng VI: Phê phán thói h tật xấu và những phong tục tập quán lạc hậu

Có:

dòng 7 , 8

y

á l từ 1 dòng

612

y

á l từ 70

Chơng VII: Tinh thần dân tộc và quan hệ giai cấp

Có:

dòng 56 , 8

y

á l từ 1 dòng

856

y

á l từ 100

Qua khảo sát cho thấy với 7870 dòng lục bát chính thể có 850 từ láy Có thể nói

từ láy chiếm số lợng lớn trong ca dao lục bát xứ Nghệ, đặc biệt là trong mảng đề tài

“Tình yêu nam nữ” (chiếm 41,4%) Nh đã trình bày ở phần Phạm vi nghiên cứu, trong

đề tài này chúng tôi đi sâu nghiên cứu nghệ thuật sử dụng từ láy của nghệ sỹ dân giantrong mảng đề tài “Tình yêu nam nữ”

2.1.2 Từ láy trong Truyện Kiều “ ”

Truyện Kiều, cuốn tiểu thuyết bằng thơ đồ sộ của Nguyễn Du với 3254 dòng lụcbát chính thể có tất cả 546 từ láy, tức là tính theo số dòng thơ thì cứ gần 6 dòng lại xuấthiện 1 từ láy Đây là một tỷ lệ rất cao

Từ láy có thể đứng ở đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu tuỳ theo cách kết hợp của

nó và dụng ý nghệ thuật của tác giả

2.2.1.2 Về cấu trúc.

Xét về cấu trúc, có từ láy nguyên dạng và từ láy chia tách Từ láy nguyên dạng là

loại từ láy đợc tác giả sử dụng nguyên xi nh nó vốn có, chẳng hạn nao nao, đầy đặn, nở

Trang 12

Dày gió dạn sơng (dày dạn)

- Từ láy đứng ở giữa câu: 168, chiếm 47,7%

Ví dụ:

- Đêm khuya sao sáng trăng trongHoa thơm ngào ngạt, bớm ong trao tình

- Ai kêu vòi vọi bên giang

Có phải đạo ngãi mời sang ăn trầu

- Từ láy đúng ở cuối câu: 136, chiếm 38,7%

Ví dụ:

- Biết là chắc chắn chi cha

Mà anh ăn nói gió đa ngọt ngào

- Chàng về để thiếp cho aiChiều hôm vắng vẻ, sớm mai lạnh lùng

- Từ láy nguyên dạng: 347, chiếm 98,6%

- Từ láy chia tách (chêm xen): 5, chiếm 1,4%

- Lời nguyền này ớc mai ao Rày trông mai đợi biết bao nhiêu tình

Trang 13

2.2.2.2 Trong Truyện Kiều

- Từ láy đứng đầu câu:141, chiếm 25,8%

Ví dụ:

- Êm đềm trớng rủ mà che,Tờng đông ong bớm đi về mặc ai

- Tà tà bóng ngả về tây,Chị em thơ thẩn dan tay ra về

- Từ láy đứng ở giữa câu: 207, chiếm 37,9%

Ví dụ:

- Gần xa nô nức yến anh,Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

- Thoắt trông nhờn nhợt màu da,

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao

- Từ láy đứng ở cuối câu: 198, chiếm 36,3%

- Mặt sao dày gió dạn s ơng

Thân sao b ớm chán ong ch ờng bấy thân

3 So sánh, nhận xét

Kết quả khảo sát cho thấy: từ láy đứng ở đầu câu trong “Truyện Kiều” chiếm tỷ

lệ lớn hơn trong ca dao ở ca dao, số lợng từ láy đứng ở giữa câu là rất lớn (47,7%)trong khi “Truyện Kiều” chỉ có 37,9% Còn tỷ lệ từ láy đứng ở cuối câu trong “TruyệnKiều” và ca dao gần tơng đơng nhau

Ca dao hầu hết sử dụng từ láy nguyên dạng, từ láy chia tách (chêm xen) chiếm tỷ

lệ rất nhỏ (1,4%) ở “Truyện Kiều”, dạng từ láy chia tách đợc sử dụng nhiều hơn(1,9%)

Trang 14

Cách sắp xếp trật tự trong câu có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra những hiệuquả nghệ thuật khác nhau Và việc Nguyễn Du để nhiều từ láy đứng ở đầu câu chắcchắn là một dụng ý nghệ thuật của tác giả Điều này sẽ đợc trình bày kỹ ở phần sau.

Chơng II

Những điểm tơng đồng trong việc sử dụng từ láy ở ca

dao xứ Nghệ và “Truyện Kiều” của Nguyễn Du

Từ lâu nhiều nhà nghiên cứu đã từng đặt ra nhiều câu hỏi: giữa “Truyện Kiều” và

ca dao có gì giống nhau không và thiên tài Nguyễn Du đã học tập đợc gì ở ca dao cũng

nh ca dao đã chịu ảnh hởng của “Truyện Kiều” nh thế nào? Mối quan hệ ảnh hởng qualại giữa “Truyện Kiều” và ca dao ra sao? Đó là những vấn đề đã đợc dặt ra nhng cha cócâu trả lời một cách triệt để trên mọi phơng diện vì ca dao là thơ trữ tình dân gian,

“Truyện Kiều” là tác phẩm tự sự bằng thơ Với chơng II này chúng tôi muốn góp mộtphần hiểu biết về sự tơng đồng trong nghệ thuật sử dụng từ láy của thiên tài họ Nguyễn

và tác giả dân gian

1 Vị trí của từ láy trong câu

1.1 Từ láy đứng ở đầu câu.

Theo trật tự cú pháp Tiếng Việt thông thờng thì từ láy đứng sau danh từ nhng quakhảo sát “Truyện Kiều” và ca dao chúng tôi thấy có hiện tợng từ láy đợc đa lên đầu câu(tức là đứng trớc danh từ)

ở “Truyện Kiều” trong số 546 từ láy có đến 141 từ láy đứng ở đầu câu (chiếm25,8%)

Chẳng hạn:

- Nao nao dòng nớc uốn quanh

Trang 15

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Con oanh học nói trên cành mỉa mai

Trong ca dao xứ Nghệ có 48 từ láy đứng ở đầu câu trên tổng số 352 từ láy (chiếm13,6%)

- Dập dìu bớm lợn vờn hoa,

Vờn ngời bớm lợn, vờn ta bớm vờn

- Muộn màng đêm vắng trông chàng,

Nhớ anh em biết đãi đằng cùng ai

- Thung thăng chèo quế thuyền lan,

Theo vừng trăng tỏ, vợt làn nớc trong

- Nao nao nhớ tới tấm hình,

Ruột đau quặn xé nh hình lửa thiêu

“Biện pháp này rất quan trọng để làm cho câu thơ tràn ngập âm hởng và cảmxúc, bởi vì trong cú pháp Việt Nam khi một tân ngữ hay một từ miêu tả bị đảo ngợc vịtrí lên đầu câu thì cả câu đặt trọng tâm vào tân ngữ và từ miêu tả” [11,285]

1.2 Từ láy đứng ở giữa câu.

Từ láy ở giữa câu trong Truyện Kiều có 207 từ chiếm 37,9%

- Thoắt trông nhờn nhợt màu da,

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao

- Từ đây góc bể bên trời,

Nắng ma thui thủi quê ngời một thân

- Phím đàn dìu dặt tay tiên,

Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa

- Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

- Lại càng mê mẩn tâm thần,

Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra

Trong ca dao: có 168 từ láy đứng ở giữa câu( chiếm 47,7%)

- Ai kêu vòi vọi bên giang,

Có phải đạo ngãi mời sang ăn trầu

- Ai về cho em về cùng,

Trang 16

Đói no là phận, lạnh lùng có đôi.

- Tìm cây thì phải tìm hoa,

Tìm ngời thì dễ, nết na khó tìm

- Tìm vàng rồi lại thấy vàng,

Yêu anh rồi lại mơ màng thấy anh

Những từ láy này tuy đứng giữa câu nhng cũng giữ vị trí quan trọng đối với hìnhtợng của câu thơ Hình tợng câu thơ sẽ sinh động, giàu sức gợi nhờ những từ láy đó.Chẳng hạn, để miêu tả chân dung Tú Bà, mụ chủ chứa lầu xanh, Nguyễn Du đã liêntiếp sử dụng hai từ láy và đặt chúng ở vị trí giữa câu:

- Thoắt trông nhờn nhợt màu da,

Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao

(Truyện Kiều)

Giả sử ta đổi vị trí của “nhờn nhợt” đa nó ra sau “màu da” (màu da nhờn nhợt)thì câu này sẽ trở thành văn xuôi và sức biểu cảm của nó dĩ nhiên là giảm đi rất nhiều

1.3 Từ láy đứng ở cuối câu.

Có 198 từ láy đứng ở cuối câu thơ trong Truyện Kiều (36,3%)

Chẳng hạn nh:

- Khi tỉnh rợu, lúc tàn canh,

Giật mình mình lại thơng mình xót xa

- Canh khuya thân gái dặm trờng,

Phần e đờng sá phần thơng dãi dầu

- Đoạn trờng thay lúc phân kỳ!

- Đồng tâm son sắt với nhau,

Thiếp cha phụ bạc, chàng sao vội vàng

- Em ngồi máy mắt tơng liên,

Nhận ra trớc mặt, ngời tiên dập dìu

- Từ ngày ăn miếng trầu xanh,

Cái da cũng đặm, tóc xanh rì rì

Trang 17

- Cầm sào mà đợi nớc lên,

Cho thuyền mắc cạn, cho duyên lỡ làng

Có 136 từ láy đứng ở cuối câu, chiếm 38,7%

Nhìn chung, số lợng từ láy đứng ở cuối câu cũng chiếm tỉ lệ tơng đối lớn trongcả “Truyện Kiều” và ca dao Vị trí này cũng rất quan trọng, góp phần nâng cao âm h-ởng câu thơ

2 Cách sắp xếp trật tự để nâng cao hiệu ứng nghệ thuật (sắcthái biểu cảm )

“Trong ngôn ngữ thông thờng từ láy âm đứng sau danh từ Chúng ta nói: “Hơng

trầm hãy còn thoang thoảng cha phai” Trái lại, Nguyễn Du nói khác: “Hãy còn thoang

thoảng hơng trầm cha phai” [11,285] Phan Ngọc gọi đây là biện pháp “đảo ngợc” từ

láy âm, còn Trần Đình Sử trong chuyên luận “Thi pháp Truyện Kiều” lại có cách gọikhác: “đảo trang” “Đảo trang”, hay “đảo ngợc” từ láy đều là đảo trật tự cú pháp của nótrong câu, đem từ láy đặt trớc danh từ hay động từ mà nó chỉ định

Nghệ thuật đảo ngợc từ láy này chính là hiện tợng phá vỡ mô hình cú pháp thôngthờng để tạo lạ hoá và hiệu quả nghệ thuật Những câu thơ nh:

đây là phải giữ đợc phong thái dân dã nhng lại không quê mùa, thực sự nên thơ Để làm

đợc điều này đã có một truyền thống nghệ thuật là đảo ngợc từ, đặt từ nào mang thôngbáo nghệ thuật lên trớc từ mang thông báo sự việc Truyền thống này đã đợc tác giả dângian vận dụng khi sáng tác ca dao, đợc nâng cao ở “Truyện Kiều” của Nguyễn Du và đ-

ợc sử dụng khá phổ biến ở thơ hiện đại

Trong ca dao lục bát xứ Nghệ mảng đề tài “Tình yêu nam nữ”:

- Dập dìu bớm lợn vờn hoa,

Vờn ngời bớm lợn, vờn ta bớm vờn

- Chàng đi cho thiếp theo cùng,

Lẻ loi gối phợng, lạnh lùng chăn loan

- Đôi ta không thấp không cao,

Trang 18

Rùng rùng lá hẹ, nao nao lá gừng.

Có 84 từ láy bị đảo ngợc (chiếm 23,8%)

Ngoài những trờng hợp đảo ngợc là do yêu cầu vần điệu đơn thuần hoặc do thóiquen không tự giác, tuyệt đại đa số những câu có từ láy đảo ngợc đều có ý nghĩa tu từ

rõ rệt Chúng tôi tạm phân hiện tợng này thành 2 loại:

- T ng bừng sắm sửa áo xiêm

- Tần ngần đứng suốt giờ lâu

(Truyện Kiều)

- Dạ bồi hồi tởng, chân rong rã hoài

- Đó bâng khuâng nhớ, đây bùi ngùi thơng

Biện pháp này có tác dụng lớn trong việc nhấn mạnh phẩm chất và nâng cao đặctrng của sự vật

Biện pháp đảo ngợc (đảo trang) không phải đến Nguyễn Du mới có và sau nàykhông ai làm Trớc Nguyễn Du có các tác giả dân gian và sau này các nhà thơ hiện đạicũng rất thông thạo biện pháp đó Tố Hữu từng viết:

“ Rộn ràng thay, cảnh quê hơng,

Nửa công trờng, nửa chiến trờng xôn xao”

( Tiếng hát sang xuân)

Rõ ràng là không khí rộn ràng đã bao trùm cả câu thơ

Hay:

“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều,

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo”

( Lên Tây Bắc ) “Chập chùng thác Lửa, thác Chông

Thác dài, thác ngắn, thác Ông, thác Bà Thác, bao nhiêu thác cũng qua

Ngày đăng: 21/12/2013, 12:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w