1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ xưng hô trong ca dao nghệ tĩnh

84 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 503,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản chất con người nơi đây được thể hiện rất rõ trong giao tiếp ứng xử hằng ngày với hệ thống từ xưng hô phong phú nhưng rất riêng biệt, khó trộn lẫn với các vùng miền khác.. Các tác giả

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

CÙ THỊ TRANG

TỪ XƯNG HÔ TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

TỪ XƯNG HÔ TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới

sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lê Đức Luận Tôi xin chịu trách nhiệm

về tính trung thực của nội dung khoa học trong công trình này

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2015 Sinh viên thực hiện

Trang 4

TRANG GHI ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong những năm học vừa qua và đặc biệt là đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Điều quan trọng nhất là tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy giáo PGS.TS Lê Đức Luận đã trực tiếp, tận tình giúp đỡ và hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp

Để có được kết quả như ngày hôm nay, tôi rất biết ơn các thành viên trong gia đình của mình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp

Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý của quý Thầy Cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 28 tháng 04 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Bố cục của luận văn 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 7

NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI 7

1.1 Khái quát về từ và từ xưng hô 7

1.1.1 Từ là gì? 7

1.1.2 Tiêu chí nhận diện từ Tiếng Việt 9

1.1.2.1 Từ là đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết 10

1.1.2.2 Từ có tính hoàn chỉnh về nghĩa 10

1.1.2.3 Từ có tính cố định hay tính vững chắc về cấu tạo 10

1.1.2.4 Từ có tính độc lập về cú pháp 11

1.1.3 Từ xưng hô 11

1.1.3.1 Khái niệm từ xưng hô 11

1.1.3.2 Từ xưng hô trong Tiếng Việt 13

1.2 Khái niệm ca dao và đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh 15

1.2.1 Khái niệm ca dao 15

1.2.2 Đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh 17

1.3 Lý thuyết hội thoại và đặc trưng ngôn ngữ hội thoại trong ca dao Nghệ Tĩnh 18 1.3.1 Lý thuyết hội thoại 18

1.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ hội thoại trong ca dao Nghệ Tĩnh 21

Chương 2 25

Trang 6

2.1 Từ xưng hô là danh từ 25

2.1.1 Danh từ có chức năng làm từ xưng hô đích thực 25

2.1.1.1 Danh từ thân tộc 25

2.1.1.2 Danh từ chỉ quan hệ xã hội 33

2.1.2 Danh từ có chức năng làm từ xưng hô lâm thời 37

2.1.2.1 Danh từ chỉ chức vụ 37

2.1.2.2 Danh từ chỉ tên riêng của người 38

2.1.2.3 Danh từ thân tộc kết hợp với các từ chỉ nghề nghiệp 38

2.1.2.4 Danh từ chỉ vật, sự vật, hiện tượng tự nhiên 39

2.1.2.5 Danh từ thân tộc kết hợp với các từ loại khác 41

2.2 Từ xưng hô là đại từ 41

2.2.1 Đại từ có chức năng làm từ xưng hô đích thực 42

2.2.1.1 Đại từ xưng hô gốc (đại từ nhân xưng thực thụ) 42

2.2.1.2 Đại từ có chức năng làm từ xưng hô lâm thời 44

2.2.2 Đại từ chỉ định có chức năng làm từ xưng hô lâm thời 49

2.3 Cấu tạo và nguồn gốc của từ xưng hô 49

2.3.1 Cấu tạo 49

2.3.1.1 Từ đơn 49

2.3.1.2 Từ ghép 50

2.3.1.3 Ngữ định danh 50

2.3.2 Nguồn gốc 51

2.3.2.1 Xét về từ loại 51

2.3.2.2 Xét về ngôn ngữ 52

Chương 3 54

ĐẶC TRƯNG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT 54

QUA TỪ XƯNG HÔ TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH 54

3.1 Cách thức giao tiếp 54

3.1.1 Giao tiếp hiển ngôn 54

3.1.2 Giao tiếp hàm ngôn 55

Trang 7

3.2.2 Xưng hô ngoài xã hội 62

3.3 Đặc trưng văn hóa người Nghệ qua cách thức và vị thế xưng hô 64

3.3.1 Nguyên tắc xưng khiêm, hô tôn 64

3.3.2 Đậm chất địa phương 66

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ca dao là một bộ phận của văn học dân gian Kho tàng ca dao Việt Nam

vô cùng phong phú, giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật Ca dao là dòng sữa

mẹ, là tấm lòng cha, là chiếc nôi ấm áp, là chiếc võng đu đưa, là làng mạc trong lũy tre xanh, là tấm gương sáng soi dọi mọi điều tâm sự, mọi u uẩn của cõi lòng, là kho tri thức của quần chúng, là phương tiện giao tiếp ứng

xử của người Việt

Con người sinh ra có một nhu cầu không thể thiếu được đó là nhu cầu giao tiếp Vì có giao tiếp chúng ta mới trao đổi được thông tin, biết được tâm tư tình cảm của nhau và phương tiện để giao tiếp chính là ngôn ngữ Mỗi vùng miền đều có đặc trưng riêng về ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ xưng hô Nghệ Tĩnh có kho tàng ca dao vô cùng phong phú, cái tinh thần chung của ca dao nghệ tĩnh là ham sống, vui vẻ tranh đấu, lạc quan tin tưởng vào sức lực của chính mình, tin tưởng vào thiên nhiên, tin tưởng ở tương lai và rất tế nhị mượt mà, dồi dào tình cảm Con người Nghệ Tĩnh sống với nhau cũng rất mộc mạc, chân thành, luôn chan chứa tình người Bản chất con người nơi đây được thể hiện rất rõ trong giao tiếp ứng xử hằng ngày với hệ thống từ xưng hô phong phú nhưng rất riêng biệt, khó trộn lẫn với các vùng miền khác

Nghiên cứu về đề tài “Từ xƣng hô trong ca dao Nghệ Tĩnh” chúng ta sẽ

có cái nhìn sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa cũng như tính cách con người nơi đây Bên cạnh đó thấy được những nét khác biệt giữa hệ thống từ xưng

hô trong tiếng Việt và từ xưng hô trong ca dao Nghệ Tĩnh Mặt khác khi đi vào thực hiện đề tài chúng tôi học tập, củng cố được rất nhiều kiến thức rất

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh rất phong phú, đa dạng Con người Nghệ Tĩnh hồn hậu, mộc mạc, chân chất Từ trước đến nay đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về từ xưng hô trên nhiều bình diện Người thì nghiên cứu trên bình diện ngôn ngữ học, người thì nghiên cứu ở góc độ

văn hóa Đề tài “Từ xƣng hô trong ca dao Nghệ Tĩnh” cho đến nay chưa có

một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào Tuy nhiên chúng ta có thể điểm qua một số công trình có đề cập đến hoặc có liên quan đến từ xưng hô

Tác giả Lê Biên trong cuốn “Từ loại tiếng Việt hiện đại” có phần viết về

đại từ xưng hô Theo tác giả, những đại từ xưng hô trong tiếng Việt có thể chia làm hai lớp (xưng hô gốc và đại từ hóa) Lớp đại từ hóa lại chia thành nhiều nhóm khác nhau: danh từ trở thành đại từ thực sự, danh từ lâm thời đảm nhận chức năng đại từ, danh từ, các từ chỉ học hàm, học vị, danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp Cách phân chia của tác giả chỉ dừng lại ở hệ thống

từ xưng hô của tiếng Việt

Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1” của Diệp Quang Ban, Hoàng

Văn Thung có phần viết về đại từ xưng hô Hai tác giả chia đại từ xưng hô thành hai nhóm Đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác định và đại từ xưng

hô dùng ở nhiều ngôi linh hoạt Các tác giả lại chia tiếp đại từ xưng hô dùng

ở nhiều ngôi linh hoạt thành: đại từ được dùng ở nhiều ngôi, đại từ chỉ gồm nhiều ngôi, đại từ dùng với ý nghĩa phản thân, đại từ chỉ ngôi gộp “tương hỗ”, đại từ chỉ ngôi “phiếm định”

Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực, Ninh Viết Giao (chủ biên) với cuốn

“Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (Tập 1, tập 2,1996) là công trình biên soạn, nghiên cứu làm cơ sở để tôi đi vào phân tích “Từ xƣng hô trong ca dao

Trang 10

Trong cuốn “Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh” của Nguyễn Nhã

Bản, ở đây ông đã dành riêng một phần để nói về “văn hóa ứng xử trong

giao tiếp của người Nghệ Tĩnh”, tác giả viết “Lựa chọn, sáng tạo vốn từ

ngữ và lựa chọn sử dụng trong tình huống giao tiếp khác nhau như trong cộng đồng, làng xã đến gia tộc, họ hàng và cả trong tình yêu Cái suy nghĩ,

tư duy được diễn đạt bằng ngôn ngữ đã phản ánh rất rõ một tính cách rắn rỏi, kiên quyết, nghĩa tình, thông minh”[2, tr.410]

Từ xưng gọi cũng được Lê Đức Luận đề cập đến trong cuốn “Cấu trúc

ca dao trữ tình người Việt” (2009), Nhà xuất bản đại học Huế Tác giả nhấn

mạnh “từ xưng gọi là từ chủ thể trữ tình tự xưng và đối tượng trữ tình gọi hoặc chủ thể trữ tình gọi đối tượng của mình Theo thống kê của chúng tôi trong ca dao thì từ xưng gọi trong ca dao gồm đại từ và danh từ thân tộc, phổ biến là các từ: ai, anh, bà, bạn, bậu, cậu, con, cô, cha, chàng, chị, chồng, em, mẹ, mình, nàng, ông, qua, ta, tôi, thằng, thầy, thiếp, vợ”[25, tr.129]

Với cuốn “Từ loại danh từ tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Tài Cẩn đã

khảo sát các danh từ chỉ quan hệ thân thuộc Theo Nguyễn Tài Cẩn “danh

từ chỉ quan hệ thân thuộc là một nhóm thường có thể dùng với hai nghĩa: dùng với ý nghĩa chính xác của chúng để xưng hô với anh em, bà con ở trong gia đình, và dùng với ý nghĩa mở rộng để xưng hô ngoài xã hội với những người vốn “không có quan hệ thân tộc gì với mình”.[7, tr.142]

Trong cuốn “Tiểu luận về hát phường vải” do Ninh Viết Giao sưu tầm

và biên soạn, tác giả đã sưu tầm được rất nhiều câu hát phường vải Ở đây tác giả đã cho chúng ta thấy rõ thủ tục của một cuộc hát phường vải bao gồm nhiều chặng: chặng thứ nhất (hát dạo, hát chào, hát mừng); chặng thứ

Trang 11

thứ hai, hát đố, hát đối thể hiện rõ màu sắc địa phương, giống như một cuộc giao tiếp hỏi đáp

Hữu Đạt với cuốn “Ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp của người Việt” đã

trình bày rất mạch lạc về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp Những đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt Nam Các thuật ngữ về văn hóa, văn hóa giao tiếp Đây chính là cơ sở để chúng tôi có cái nhìn rộng hơn về những vấn đề mà mình đang nghiên cứu

Trương Thị Diễm có công trình nghiên cứu về “Từ xưng hô có nguồn

gốc danh từ thân tộc” Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã đi tìm

hiểu và khảo sát khá đầy đủ hệ thống từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt Tác giả khẳng định vấn đề từ xưng hô có thể được làm sáng tỏ trên cả ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng “sự chuyển hóa danh từ thân tộc thành từ xưng hô dựa trên hai cơ sở: cơ sở ngôn ngữ học và cơ sở văn hóa – xã hội (hay có thể nói là do các nguyên nhân bên trong và bên ngoài ngôn ngữ)”

Cao Xuân Hạo trong cuốn “Tiếng Việt, văn Việt, người Việt” có phần

viết về mấy vấn đề văn hóa trong cách xưng hô của người Việt Tác giả bàn

về các từ thường được dùng trong giao tiếp bình thường đều là danh từ Ông nhấn mạnh các từ thân tộc chỉ dùng để xưng hô nghĩa là để chỉ ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai, chứ không bao giờ được dùng như đại từ hồi chỉ, nghĩa là để chỉ ngôi thứ ba thay cho danh ngữ Như vậy tác giả chỉ tập trung vào cách xưng gọi ngoài xã hội

Trần Ngọc Thêm với cuốn “cơ sở văn hóa Việt Nam” có phần viết về

văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ Ông cho rằng người Việt có hệ thống nghi thức lời nói rất phong phú, trước hết ở hệ thống từ xưng hô

Trang 12

Như vậy có thể thấy rằng từ xưng hô nói chung và từ xưng hô trong ca dao Nghệ Tĩnh nói riêng đã và đang rất được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên đó mới chỉ là những bài viết, những bài nghiên cứu chung

chung chứ chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể về đề tài “Từ xưng hô

trong ca dao Nghệ Tĩnh” Trên cơ sở tham khảo các tài liệu trên cũng như

một số nguồn thông tin khác chúng tôi đã mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề

tài “Từ xưng hô trong ca dao Nghệ Tĩnh”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Từ xưng hô trong ca dao Nghệ Tĩnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát từ xưng hô trong cuốn Kho tàng ca dao xứ Nghệ, (hai tập), của

Nguyễn Đổng Chi, do Ninh Viết Giao (chủ biên), nhà xuất bản Nghệ An -

1996

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Chúng tôi phân loại từ xưng hô thành nhiều loại khác nhau: từ xưng hô là danh từ; từ xưng hô là đại từ Trong mỗi loại đó được chia thành nhiều tiểu loại khác nhau mà chúng ta sẽ được biết rõ hơn ở chương 2

- Phương pháp phân tích, so sánh: Chúng tôi phân tích các từ xưng hô

và so sánh chúng để làm nổi bật ý nghĩa cũng như bản sắc vùng miền và con người Nghệ Tĩnh

- Phương pháp nhận xét, đánh giá: Nhận xét về hệ thống, ý nghĩa, giá trị

Trang 13

- Phương pháp tổng hợp: Chúng tôi tổng hợp toàn bộ nội dung đã phân tích để có cái nhìn khái quát hơn về hệ thống từ xưng hô trong ca dao Nghệ Tĩnh Từ đó hiểu hơn về mảnh đất và con người nơi đây

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo,luận văn gồm có 3

chương:

Chương 1: Những giới thuyết xung quanh đề tài

Chương 2: Nhận diện từ xưng hô trong ca dao Nghệ Tĩnh

Chương 3: Đặc trưng giao tiếp của người Việt qua từ xưng hô trong ca dao Nghệ Tĩnh

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI

1.1 Khái quát về từ và từ xưng hô

1.1.1 Từ là gì?

Từ là đơn vị của ngôn ngữ, có vai trò quan trọng đối với ngôn ngữ Các nhà ngôn ngữ đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ nhưng điểm thống nhất của các nhà nghiên cứu đó là họ đều thừa nhận từ là đơn vị

cơ bản của ngôn ngữ Cái khó khăn nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình về chức năng và các đặc điểm ý nghĩa trong các ngôn ngữ khác nhau, thậm chí trong cùng một ngôn ngữ cũng khó Có từ mang chức năng định danh, có từ không mang chức năng định danh (số từ, thán từ, các từ phụ trợ); có từ biểu thị khái niệm, có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó (thán từ); có từ liên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế (các thực từ); có từ lại chỉ biểu thị những quan hệ trong ngôn ngữ mà thôi (các hư từ) Có từ có kết cấu nội bộ; có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau; có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức mà thôi Hiện tượng đồng âm và đa nghĩa cũng gây khó khăn không nhỏ trong việc tách biệt và đồng nhất các từ Vì vậy không thể có sự thống nhất trong cách định nghĩa và miêu tả các từ Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ

Các nhà nghiên cứu nước ngoài định nghĩa: A.Meillet: “Từ là kết quả của một sự kết hợp giữa một ý nghĩa nhất định và một chỉnh thể ngữ âm nhất định, có khả năng giữ một chức năng ngữ pháp nhất định”[18, tr.20]

Trang 15

âm thanh và hình thức) và có nghĩa có tính chất biện chứng và lịch sử”[18, tr.20] M.Bemneau định nghĩa về từ tiếng Việt như sau: “Từ bao giờ cũng

tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu.[18, tr.17]

Các nhà nghiên cứu trong nước định nghĩa: Trương Văn Chính và Nguyễn Hiến Lê định nghĩa từ như sau: “Từ là âm có nghĩa dùng trong ngôn ngữ để diễn tả một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được.[18, tr.18] Nguyễn Kim Thản viết: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp)

và chức năng ngữ pháp” [18, tr.20] Hồ Lê định nghĩa từ theo một cách khác: “Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa”[18, tr.21] Lê Văn Ý không định nghĩa về từ nói chung mà chỉ định nghĩa cho từng loại cụ thể

Về từ đơn, ông viết: “Từ trong tiếng Việt Nam bấy giờ sẽ biểu hiện thành một kí hiệu âm thanh mà hình thức của nó có thể bắt đầu từ một âm vị đơn (…) hoặc một kết hợp gồm nhiều âm vị, mà sự biểu hiện về mặt âm thanh chỉ là một lần phát âm hoặc chỉ là một âm tiết và khi viết được biểu lộ ra bằng một đơn vị tách biệt và có một ý nghĩa có thể hiểu được” Đến từ kép, ông viết “Các từ kép gợi lên một khái niệm duy nhất và là những thể toàn vẹn về ngữ âm không tách rời được”[18, tr.21] Nguyễn Tài Cẩn không đặt cho mình nhiệm vụ định nghĩa các từ của tiếng Việt mà chỉ cố gắng chứng minh tính cố định của những kết cấu thường được gọi là từ mà thôi.Theo Hoàng Phê cùng nhóm tác giả cuốn “Từ điển tiếng Việt”: “Từ là đơn vị

Trang 16

câu”[28, tr.1326] Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến:

“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu”[12, tr.142] Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu”[10, tr.122]

Những cách định nghĩa khác nhau trên đây có thể ẩn tàng những ngụ

ý riêng không giống nhau, song điểm chung giữa các tác giả này là đều căn

cứ vào tính hoàn chỉnh về nghĩa và tính cố định để xác định từ của tiếng Việt

Khi nghiên cứu về từ tiếng Việt, các nhà ngôn ngữ đã chỉ ra rằng bên cạnh đặc điểm chung của từ thì từ tiếng Việt còn có đặc điểm riêng Trước tiên về khối lượng rất phong phú, đa dạng (khoảng hàng vạn từ), diễn tả mọi sắc thái, nội dung của những người dùng chung thứ tiếng Việt Giống như ngôn ngữ khác thì từ tiếng Việt dùng gọi tên: đặc điểm, tính chất, trạng thái,…về thực tế khách quan

1.1.2 Tiêu chí nhận diện từ Tiếng Việt

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình, bài viết, bài nghiên cứu

về từ trong tiếng Việt như Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê, Nguyễn Kim Thản…các tác giả đã đưa ra những tiêu chí để nhận diện từ tiếng Việt Từ việc tham khảo các tài liệu trên, chúng tôi đã đưa ra các tiêu chí nhận diện từ tiếng Việt như sau:

Trang 17

1.1.2.1 Từ là đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết

Từ tiếng Việt có thể có một, hai hay ba âm tiết trở lên Phần lớn từ xưng hô trong tiếng Việt là từ có một âm tiết :vợ, chồng, anh, em, cô, bác, ông, bà…từ xưng hô có hai âm tiết: anh em, vợ chồng, cha mẹ…

1.1.2.2 Từ có tính hoàn chỉnh về nghĩa

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng một cấu tạo ngôn ngữ được coi là từ phải có tính hoàn chỉnh về nghĩa, dù là nghĩa từ vựng hay nghĩa ngữ pháp Nhưng tính hoàn chỉnh về nghĩa của từ vẫn chưa được xác định một cách chính xác và cũng không có sự thống nhất giữa các tác giả

Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn từ vựng học tiếng Việt đã định nghĩa như sau: “một đơn vị được coi là có tính hoàn chỉnh về nghĩa khi nó biểu thị một khái niệm về đối tượng tồn tại bên ngoài chuỗi lời nói” Với thực

từ, định nghĩa trên đây về tính hoàn chỉnh về nghĩa hoàn toàn phù hợp Nhưng muốn bao quát tất cả các kiểu từ khác nhau (thực từ và hư từ) thì cần điều chỉnh định nghĩa trên, vì các hư từ không biểu thị khái niệm Có thể định nghĩa khái quát tính hoàn chỉnh về nghĩa như sau: “một đơn vị được coi là có tính hoàn chỉnh về nghĩa khi nó có khả năng dẫn xuất đến một đối tượng (trong ngôn ngữ cũng như ngoài ngôn ngữ) một cách độc lập với

chuỗi lời nói” Ví dụ những từ nối, từ kèm như và, với, tuy, nhƣng…có khả

năng dẫn xuất đến những đối tượng nhất định, những đối tượng đó chính là những quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ

1.1.2.3 Từ có tính cố định hay tính vững chắc về cấu tạo

Tính vững chắc về cấu tạo là một trong hai đặc trưng cơ bản của từ Tính vững chắc của từ được đặc trưng bằng một loại quan hệ ngữ pháp có

hình thức cố định, “đông cứng” trong nội bộ từ, sự đối lập giữa từ và cụm

Trang 18

trong nội bộ từ và quan hệ trong nội bộ cụm từ Trong nội bộ từ , quan hệ

ngữ pháp là một loại quan hệ có hình thức cố định, “đông cứng” Còn trong

nội bộ cụm từ có đặc điểm là có sự co dãn rất lớn Từ là một khối chặt chẽ

về cả nội dung lẫn hình thức cấu tạo, không thể chia tách hoặc chêm xen một số yếu tố nào vào giữa từ Nếu chêm xen hoặc chia tách thì tổ chức cấu

tạo của từ sẽ bị phá vỡ và từ không giữ nguyên nghĩa ban đầu Ví dụ: “ áo”

là một từ, ta không thể chia tách ra thành nguyên âm “a” và nguyên âm “o”

Vì khi chia tách ra như vậy từ sẽ không có nghĩa Ví dụ trong nội bộ cụm từ

chính phụ: dọn dẹp nhà cửa để chuẩn bị đón tết đượcthực hiện bởi rất nhiều

từ Như vậy ta có thể kết luận rằng vì bản thân có tính co dãn rất lớn nên cụm từ không thể có được tính vững chắc về cấu tạo như từ

1.1.2.4 Từ có tính độc lập về cú pháp

Từ lâu các nhà Việt ngữ học thường dùng tiêu chuẩn tính độc lập để phân biệt từ với hình vị: từ là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất của lời nói, có tính độc lập, còn hình vị là đơn vị cấu trúc nhỏ nhất của ngôn ngữ, không có tính

độc lập Ví dụ: từ “ đi” là một từ độc lập, có thể kết hợp được với học, chơi,

làm…

1.1.3 Từ xƣng hô

1.1.3.1 Khái niệm từ xưng hô

Từ xưng hô bao gồm các từ, ngữ các cấu trúc ngôn ngữ (trong đó từ đóng vai trò cơ bản) được sử dụng để xưng hô giao tiếp Trong tiếng Việt, lớp từ xưng hô chứa đựng một tập hợp các từ loại khác nhau, rất phong phú

và đa dạng Vì thế, từ xưng hô cần được xem xét trong hoạt động giao tiếp, trong mối quan hệ trực tiếp giữa những người giao tiếp mới bộc lộ đầy đủ giá trị thực của chúng

Trang 19

Trong từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa “Xưng hô

là tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau” [28, tr.1434] Định nghĩa về xưng hô của từ điển tiếng Việt là định nghĩa chỉ ra hành động nói một cách khái quát.Cách xưng hô của người Việt rất phong phú và linh hoạt Ngoài các đại từ xưng

hô, tiếng Việt còn có một số lượng khá lớn danh từ và một số ít các loại từ khác được sử dụng làm từ xưng hô

Nếu quan niệm “xưng” tức là chủ thể giao tiếp và “gọi” là đối tượng giao tiếp, nhân vật được nói tới là khách thể giao tiếp thì từ xưng hô là từ vừa để “xưng” và vừa để “hô” Có nghĩa là trong hoạt động giao tiếp người nói tự xưng, còn người nghe hay người được nói đến sẽ được “hô” – gọi tên Nhân vật được nói tới (ngôi thứ ba) sẽ ảnh hưởng ít nhiều tới việc điều chỉnh cách xưng hô của chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp Hơn nữa, trong ca dao bối cảnh, không và thời gian xảy ra khi giao tiếp thường rất hẹp nên xuất hiện nhiều từ xưng hô đa ngôi như: người ta, mình…, thậm chí khuyết chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp Vì vậy, khi bỏ những từ

hô gọi các đối tượng thuộc ngôi thứ ba ra khỏi hệ thống xưng hô thì sẽ rất khó khăn đối với việc giải quyết các từ xưng hô “đa ngôi” ấy (“ gộp nhiều ngôi” như Diệp Quang Ban thường dùng)

Đỗ Thị Kim Liên thì cho rằng: “Từ xưng hô là những từ dùng để xưng hô giữa các nhân vật khi giao tiếp Xưng hô được xem là một phạm trù, đó là phạm trù ngôi”[27, tr.174] Diệp Quang Ban và Nguyễn Hữu Quỳnh quan niệm từ xưng hô bao gồm từ chuyên dùng để xưng hô (đại từ xưng hô đích thực) và các đại từ xưng hô lâm thời (danh từ thân tộc)

Trương Thị Diễm trong luận án tiến sĩ của mình đã khẳng định:

Trang 20

có điều, xuất phát từ khái niệm , xưng hô cần nhận thấy tính không bình đẳng ở các ngôi nhân xưng I, II, III: nếu ngôi I,II là từ xưng hô “tích cực” thì ngôi III là xưng hô “thụ động”

Bên cạnh đó còn có một số tác giả nghiên cứu từ xưng hô dưới góc

độ văn hóa như Cao Xuân Hạo trong cuốn Tiếng Việt, văn Việt, người Việt,

có phần viết về mấy vấn đề văn hóa trong xưng hô của người Việt Hay

Trần Ngọc Thêm trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam có phần viết về văn

hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ Tác giả cũng có nói về đặc điểm hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt như: tính chất thân mật hóa (trọng tình cảm), tính chất cộng đồng hóa, tính tôn ti “xưng nghiêm – hô tôn”, nghi thức trong cách nói lịch sự

Trên đây là các cách hiểu, các định nghĩa về từ xưng hô của các nhà nghiên cứu Có thể nói từ xưng hô trong tiếng Việt không chỉ dùng với mục đích “xưng” và “hô” mà còn để định vị mối quan hệ giữa các đối tượng khi giao tiếp, là phương tiện biểu đạt tình cảm giữa người nói và người nghe

1.1.3.2 Từ xưng hô trong Tiếng Việt

Trong bất kì một hành vi giao tiếp nào, từ xưng hô là một hiện tượng không thể thiếu được Có thể nói có giao tiếp là có xưng gọi Chính vì vậy, trong tiếng Việt từ xưng hô luôn đóng vai trò quan trọng và là một trong những yếu tố tạo nên sự phong phú trong vốn ngôn từ của dân tộc

Từ xưng hô trong tiếng Việt rất đa dạng về chủng loại, linh hoạt và giàu màu sắc biểu cảm trong sử dụng Theo Lê Thanh Kim: nếu xét từ góc

độ hệ thống chức năng, có thể phân chia từ xưng hô trong tiếng Việt làm hai loại: từ xưng hô thực thụ và từ xưng hô lâm thời Từ xưng hô lâm thời bao gồm: danh từ thân tộc, các từ chỉ nơi chốn, chức danh nghề nghiệp, tên

Trang 21

Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt bao gồm nhiều từ loại khác nhau nhằm đáp ứng tính đa dạng của xưng hô trong giao tiếp xã hội Theo Trương Thị Diễm, hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt bao gồm hai nhóm lớn là đại từ nhân xưng và những yếu tố xưng hô phi đại từ nhân xưng Tiếng Việt có trên 20 đại từ nhân xưng chuyên dụng: tôi, tao, tớ, ta, người

ta, mày, bay, mi, người, ngài, mình, nó, hắn, vị, gã, thị, ả, chúng, họ, chúng tôi, chúng ta, chúng nó, chàng, nàng, thiếp…Bên cạnh các đại từ nhân xưng chuyên dụng, tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các từ và ngữ khác

để xưng hô, đó là những yếu tố xưng hô phi đại từ nhân xưng bao gồm: danh từ chỉ quan hệ thân tộc (ông, bà, bố, mẹ…), danh từ chỉ quan hệ xã hội ( bạn, đồng chí, …), danh từ chỉ chức vụ xã hội cao hoặc nghề nghiệp (chủ tịch, trưởng phòng, cô, thầy…), đại từ chỉ định ( ấy, kia, đó, đâu…), danh từ riêng mà cụ thể là tên riêng của nhân vật giao tiếp hoặc tên của những người thân như chồng, con…và các kết hợp giữa từ xưng hô với tên, chức danh với tên…

Có thể chia những từ xưng hô trong tiếng Việt thành hai lớp có phạm

vi sử dụng khác nhau: từ xưng hô dùng trong gia tộc và từ xưng hô dùng ngoài xã hội.Trong phạm vi gia tộc, các danh từ thân tộc (ông, bà, cha, mẹ…) được dùng với nghĩa gốc, cơ bản của chúng để xưng và hô (như các đại từ xưng hô lâm thời) giữa những người có quan hệ huyết thống với nhau Đối với từ xưng hô dùng ngoài xã hội, người Việt sử dụng tất cả các loại từ xưng hô, kể cả danh từ thân tộc Tuy nhiên, các danh từ thân tộc khi dùng làm từ xưng hô trong giao tiếp xã hội đều đã chuyển nghĩa và có thể biểu lộ những sắc thái biểu cảm khác nhau: lịch sự, suồng sã, thô tục Ví dụ:

từ “cô” kết hợp với từ “ấy” thành “cô ấy” mang sắc thái lịch sự Nhưng khi

Trang 22

kết hợp với từ “ ta” thành từ “ cô ta” thì biểu thị sắc thái khinh thường của người nói

Về mặt cấu trúc, các danh từ thân tộc kết hợp được với các đại từ Ví

dụ có các kết hợp xưng gọi như: bọn họ, cô kia, bà này,ông ấy, lão ấy, chú mày…Ở mỗi vùng, mỗi địa phương có lượng từ xưng hô rất khác nhau Đó

là đặc điểm nổi bật của từ xưng hô trong tiếng Việt Ví dụ, trong tiếng Việt ngoài từ “ mẹ” còn có các từ khác như “ mạ”, “má”, “đẻ”, “u” …chúng gắn với đặc trưng của người sử dụng Có thể kết luận rằng từ xưng hô trong tiếng Việt vừa đa dạng, phong phú về chủng loại, giàu giá trị biểu cảm nhưng có tính phức tạp

1.2 Khái niệm ca dao và đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh

1.2.1 Khái niệm ca dao

Ca dao là sản phẩm của văn nghệ dân gian Khái niệm ca dao đã được

đề cập đến rất nhiều bởi các nhà nghiên cứu Ranh giới giữa ca dao và dân

ca khó phân định rạch ròi Nhưng chúng ta có thể hiểu: “Ca dao là lời của các câu hát dân gian và những sáng tác ngâm vịnh được lưu truyền trong dân gian và gọi chung là lời ca dân gian”.[27, tr.26]

Ca dao là những sáng tác văn chương của nhân dân lao động được phổ biến rộng rãi ở một vùng, nhiều vùng hay trong toàn quốc, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định Nó đã ổn định và bền vững về phong cách, về nghệ thuật cấu trúc ngôn từ, phần lớn là mang nội dung trữ tình.[13, tr.17]

Hoàng Tiến Tựu đã đưa ra khái niệm về ca dao: “Ca dao là bộ phận chủ

yếu và quan trọng nhất của thơ ca dân gian, là loại thơ dân gian truyền thống, có phong cách riêng, được hình thành và phát triển trên cơ sở của

Trang 23

thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình ngắn và tương đối ngắn của người Việt”

Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì: “Ca dao còn gọi

là phong dao Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì ca dao là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca, ca dao có thể là thơ dân gian truyền

thống”.[22, tr 31]

Vũ Ngọc Phan thì cho rằng “ Ca dao là những bài hát tình tứ, là khuôn

thức theo lối trữ tình của ta Ca dao thể hiện tình yêu của người lao động về mặt: tình yêu trai gái, tình yêu làng xóm, đất nước…Không những thế, ca dao còn biểu hiện tư tưởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong cuộc

sống xã hội”[24, tr.54]

Nhà nghiên cứu văn học dân gian Nguyễn Xuân Kính thì phát biểu

ngắn gọn “Ca dao là thơ dân gian, có nội dung trữ tình và trào phúng bao

gồm lời hàng loạt Người ta có thể ngâm, đọc, hát (và có thể xem bằng mắt

sau khi ghi chép lại)”.[24, tr.23]

Như vậy, ca dao có rất nhiều định nghĩa Tuy vậy, ta cũng có thể hiểu một cách chung nhất ca dao là những lời thơ dân gian được truyền miệng từ

đời này sang đời khác cho đến tận ngày nay M Gorki đã từng nói “ Ca dao

bao giờ cũng ngắn nhƣng trí tuệ và tình cảm trong đó đáng giá hàng ngàn pho sách” Chất chứa trong từng câu ca dao là trí tuệ, là đạo lý, là nếp nghĩ

cách cảm, là phong tục tập quán, là triết lý nhân sinh… của nhân dân ta Họ sáng tạo ra, lưu truyền trong dân gian và không biết đến khi nào những câu

Trang 24

ca dao mộc mạc, chân chất trở thành những câu ca dao mượt mà, êm dịu được mọi người ưa thích và đón nhận

1.2.2 Đặc điểm ca dao Nghệ Tĩnh

Mảnh đất Hồng Lam – nơi sản sinh ra những con người kiệt xuất Nơi đây có kho tàng ca dao vô cùng phong phú Nó là kho tri thức, là nguồn nuôi dưỡng tinh thần, là cơ sở văn hóa, là trí tuệ và tài năng, là sức mạnh vật chất của người dân Nghệ Tĩnh

Ca dao của các vùng là vốn chung của cả nước và điều dĩ nhiên là ca dao của từng vùng dù có mang những đặc điểm, những sắc thái riêng vẫn thể hiện những đặc điểm chung phổ biến của cả nước Không thể có câu ca dao xuất hiện ở một vùng nào chỉ lưu truyền ở vùng ấy mà không có sự giao lưu với các vùng khác, dù là trong một phạm vi hẹp

Cái tinh thần chung của ca dao Nghệ Tĩnh là ham sống, vui vẻ tranh đấu, lạc quan, tin tưởng vào sức lực của chính mình, tin tưởng vào thiên nhiên, tin tưởng ở tương lai và rất tế nhị, mượt mà, dồi dào tình cảm Nó không những thể hiện bản sắc của nhân dân trong vùng mà điều kì diệu là

nó đã thầm lặng giúp biết bao nhiêu nhà thơ cổ điển ở xứ Nghệ xây dựng nên những tác phẩm bất hủ làm sáng rực lâu đài văn học dân tộc như Nguyễn Du với truyện Kiều, Nguyễn Huy Tự với truyện Hoa Tiên, Hồ Xuân Hương với những bài thơ độc đáo, Nguyễn Công Trứ với những vần thơ hào phóng, lưu loát…

Bất kì ai nếu đã từng một lần đọc một vài câu ca dao xứ Nghệ có thể thấy rõ rằng ca dao Nghệ Tĩnh giàu tình, giàu nghĩa, giàu tâm tư, giàu số phận của bao mảnh đời cay đắng, giàu tương quan xã hội, giàu cách ứng xử, tiếp cận, giàu lòng ưu ái với non sông Chính điều đó là lời lí giải vì sao

Trang 25

mảnh đất đầy gió và nắng này lại là nơi xuất phát điểm của nhiều phong trào yêu nước

Ca dao nghệ Tĩnh chủ yếu được sáng tác và lưu hành trong phạm vi Nghệ Tĩnh, mặt khác nó cũng có thể có những bài ca dao từ các vùng miền khác lưu truyền vào vùng đất này

1.3 Lý thuyết hội thoại và đặc trƣng ngôn ngữ hội thoại trong ca dao Nghệ Tĩnh

1.3.1 Lý thuyết hội thoại

Hội thoại là hoạt động giao tiếp quan trọng của con người nên được các nhà ngôn ngữ rất chú ý.“Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ”[11, tr.41] Còn theo lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ – Pháp cho rằng: “ Hội thoại là một tổ chức tôn ti như tổ chức một đơn vị cú pháp Các đơn vị của cấu trúc hội thoại từ lớn đến đơn

vị tối thiểu là: Cuộc thoại, đoạn thoại, cặp trao đáp, tham thoại, hành vi ngôn ngữ”[11, tr.49] Hội thoại có ba dạng: song thoại, tam thoại và đa thoại.Trong đó, song thoại là dạng cơ bản của hội thoại và là dạng phổ biến trong ca dao Nghệ Tĩnh

Hội thoại thường gồm ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác Trao lời là lời người nói hướng tới một người nhận khác Tình thế giao tiếp trao lời ngầm ẩn rằng tất yếu phải có một người nhận (tiếp ngôn) trong lời của người trao (người phát ngôn – chủ ngôn) Chính vì vậy, ngay từ khi đưa

ra phát ngôn, người trao lời đã định hình đích phát ngôn nhằm vào ai, vào cái gì Trao đáp là sự trả lời đối với sự trao lời, chính nó tạo nên giao tiếp, hội thoại Trên thực tế, tất cả các hoạt động ngôn ngữ đều đòi hỏi một sự đáp ứng Điều này đúng không chỉ đối với các hành động như hỏi (trả lời),

Trang 26

hành động xác tín (khẳng định, miêu tả), đưa ra một xác tín tức là ngầm

“hỏi” người nghe có ý kiến như thế nào, đòi hỏi người nghe một sự phản ứng nào đó Tương tác là một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người Tương tác trong hội thoại thể hiện ở chỗ các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại Sự tương tác này thể hiện ở lượt lời Thực ra hội thoại yêu câu cầu phải luân phiên lượt lời nhưng đôi khi vẫn có hiện tượng lấn lời, cướp lời hay bỏ lượt lời…Ngoài ra, tương tác hội thoại còn thể hiện ở những cặp trao đáp củng cố, sữa chữa như: chào mời, hỏi han, xin lỗi, chữa lỗi….hoặc bằng các hành vi ngôn ngữ khác (sự tương tác không bằng lời) Giữa tương tác bằng lời và tương tác không bằng lời có những yếu tố đồng nhất Trước hết, giữa chúng có khái niệm “lượt” Trong hội thoại có sự vi phạm “lượt lời” (người này nói tranh phần lời của người kia) Có trường hợp “trật khớp” về lượt (xảy ra khi có sự ngắt quãng quá dài giữa hai lượt lời hoặc có

sự dẫm đạp lên nhau trong lượt lời, cả hai người đối thoại cùng nói Bên cạnh đó, chúng còn có sự đồng nhất về khái niệm cặp kế cận: có cặp hỏi / trả lời Trong tương tác còn có những cặp trao đáp củng cố và sữa chữa nhằm thiết lập hay làm vững chắc quan hệ giữa người trong cuộc để cuộc tương tác đạt hiệu quả Ví dụ : “miếng trầu là đầu câu chuyện” là cặp trao đáp củng cố Còn khi chúng ta xúc phạm hoặc cho rằng mình xúc phạm người cùng tham gia vào hoạt động xã hội với mình, chúng ta thực hiện cặp trao đáp sữa chữa: xin lỗi, tỏ ra ân hận…

Ba vận động trao lời, trao đáp, tương tác là ba vận động đặc trưng cho một cuộc thoại Nếu thiếu một trong ba vận động trên thì không thể đảm bảo nguyên tắc hội thoại.Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ và

Trang 27

Theo Lê Đức Luận là tham thoại hẫng trong ca dao và một số bài ca dao ở dạng hội thoại đặc biệt khác

Về quy tắc hội thoại, nữ giáo sư Catherine Kerbrat Orecchioni – nhà ngôn ngữ học Pháp, chuyên gia về dụng học tương tác cho rằng quy tắc hội thoại chia làm ba nhóm:

Nhóm thứ nhất là nguyên tắc luân phiên lượt lời Vai nói thường xuyên thay đổi nhau, mỗi lần chỉ một người nói Khi nói, cần có những biện pháp cho thấy sự chấm dứt lượt lời, giữa các lượt lời không ngắt quãng quá dài, không dẫm đạp nhau (trừ chiến thuật im lặng) Trật tự nói trước, nói sau không cố định mà luôn thay đổi do các nhân vật tự thương lượng với nhau một cách không tường minh

Nhóm thứ hai là nguyên tắc liên kết hội thoại, nó giúp hội thoại đạt hiệu quả, hướng về đúng nội dung và mục đích Nguyên tắc này chi phối các ngôn bản đơn thoại, các lời tạo thành một cuộc hội thoại.Tính liên kết hội thoại thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các hành động ngôn ngữ

và giữa các đơn vị hội thoại Nếu giữa các lời của các nhân vật hội thoại không có liên kết thì một “cuộc hội thoại giữa những người điếc” sẽ xảy ra, trong đó “ông nói gà còn bà sẽ nói vịt”

Nhóm thứ ba là các nguyên tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong cộng tác hội thoại Để có được hội thoại chân thực, ta cần lưu ý đến một số nguyên tắc nhất định Trước hết là nguyên tắc cộng tác hội thoại Nguyên tắc này được Grice tách làm bốn phương châm nhỏ: về lượng, về chất, phương châm quan hệ (lí thuyết quan yếu) và phương châm cách thức Các phương châm này đúng cho một cuộc thoại chân thực, đạt được tính chất cộng tác và lý thuyết quan yếu Nguyên tắc cộng tác hội thoại đòi hỏi người

Trang 28

vấn đề được đưa ra hội thoại, nói hết những điều mà người hội thoại cho là quan yếu với vấn đề được đưa ra) để cuộc hội thoại tuần tự tiến đến đích, không luẩn quẩn, không giật lùi trở lại Ngoài ra, khi tham gia hội thoại, chúng ta cũng cần chú ý tới nguyên tắc tôn trọng thể diện (không xâm phạm lãnh địa hội thoại của người khác, không trả lời thay, không nói hớt, không giành phần lời của người khác) và nguyên tắc khiêm tốn (không nên tự khen mình) tạo nên phép lịch sự trong hội thoại.[15, tr.11]

Những quy tắc hội thoại nêu ra trên đây chỉ mang tính chất phổ quát Trong thực tế đời sống, ta cần chú ý đến tính địa phương, tính cá nhân, tính dân tộc để ứng xử đúng với những quy tắc hội thoại “đặc ngữ” riêng Đó chính là tính đặc thù liên văn hóa của hội thoại

Trong hội thoại, ngoài ngôn ngữ còn có các yếu tố đi kèm như: điệu bộ,

cử chỉ…các yếu tố kèm ngôn ngữ rất phong phú gồm: yếu tố kèm lời tĩnh

và yếu tố kèm lời động Yếu tố kèm lời tĩnh gồm: diện mạo, trang phục…cung cấp các thông tin về giới tính, tuổi tác, dân tộc, thành phần xã hội, và cũng có thể là tính cách Yếu tố tĩnh tạo thiện cảm hoặc ác cảm với người đối thoại, từ đó họ có thể chấp nhận hoặc chối bỏ cuộc thoại Các yếu

tố kèm lời động như: nụ cười, nét mặt, tư thế ngồi, khoảng cách ngồi, cử chỉ, điệu bộ khác… Các yếu tố này có thể thay đổi theo cuộc thoại Nếu như thiếu đi các yếu tố này thì hội thoại sẽ tẻ nhạt, thậm chí sẽ chấm dứt Những yếu tố kèm ngôn ngữ này còn góp phần lí giải ý nghĩa lời nói

1.3.2 Đặc trƣng ngôn ngữ hội thoại trong ca dao Nghệ Tĩnh

Hội thoại trong ca dao, dân ca là lời đối đáp nam nữ, vẫn mang những đặc điểm chung nhất của lý thuyết hội thoại và hội thoại trong cuộc sống đời thường Tuy nhiên, hội thoại trong ca dao là hội thoại đặc thù, phù hợp

Trang 29

chỉ diễn ra ở một số lượng câu rất ngắn, đa số là: hai câu đầu của chủ thể giao tiếp ở ngôi xưng thứ nhất và hai câu sau của đối tượng giao tiếp ở ngôi thứ hai Lời trao đáp trong ca dao Nghệ Tĩnh thường không đi thẳng vào vấn đề mà vòng vo Đây là nét văn hóa rất độc đáo của người Nghệ Tĩnh qua ca dao: ý nhị mà sâu sắc Để cho cuộc trao đáp diễn ra thành công thì nhân vật tham gia phải tuân thủ đúng nguyên tắc hội thoại Trong giao tiếp, nội dung giao tiếp không trực tiếp vào thông điệp mà nó được lọc qua người nói, in đậm dấu ấn chủ quan của người nói Tuy nhiên, không phải người nói hoàn toàn tự do, muốn nói thế nào cũng được bởi vì thực tế độc lập với

ý thức nên cả người nói và người nghe có nhận thức riêng

Trong ca dao Nghệ Tĩnh xuất hiện giao tiếp một phía chỉ có xưng mà không có hô hoặc ngược lại có hô mà không có xưng ( hay có chủ thể giao tiếp nói mà không thấy đối tượng giao tiếp đáp lời) Có lời chỉ có vai nữ tự xưng:

Nhà em có một cây đào, Anh đi qua ngõ không vào mà chơi

Đào ngon đào ngọt anh ơi, Đào chua đào chát không mời anh ăn [13, tr.363]

Có những bài chỉ có vai giao tiếp của nam ( tự xưng):

-Anh thương em biết nói mần răng, Lấy gió làm quạt, lấy trăng làm đèn

-Anh mà không lấy được em, Anh về đóng cửa cài rèm đi tu [ 13, tr 224]

Hay là sự đối đáp của đôi trái gái: Chàng trai trách cô gái rằng:

Anh đến cùng hoa thì hoa đã nở,

Trang 30

Anh đến cùng em thì em đã lấy chồng,

Em yêu anh như rứa đó có mặn nồng chi mô? [13, tr.224]

Cô gái cũng không kém phần sắc sảo:

Hoa đến thì thì hoa phải nở,

Đò đã đầy thì đò phải sang sông

Đến duyên em thì em phải lấy chồng,

Em yêu anh như rứa đó còn mặn nồng thì tùy anh [13, tr.224]

Ngoài ra, trong ca dao trữ tình xuất hiện hiện tượng lướt lời không tuân theo nguyên tắc lượt lời Chẳng hạn, mở đầu là lời hỏi của cô gái đối với chàng trai như trong bài ca dao sau:

Hỏi chàng khách lạ bóng trăng, Bỗng đâu mà biết Kim Lăng có chùa?

Nhưng không chờ chàng trai trả lời mà tiếp theo lại là lượt lời của cô gái:

Bây giờ mới tới Kim Lăng, Cơn gió trỏ nẻo, bóng trăng đưa đường [13, tr.310]

Dù có hiện tượng giao tiếp một phía hay có sự lướt lời trong ca dao của các nhân vật trữ tình thì vẫn không làm giảm hiệu quả giao tiếp

Trong ca dao Nghệ tĩnh có tổ chức hỏi – đáp: Cô gái hỏi chàng trai rằng:

Mấy lâu anh mắc chi nhà, Hoành Sơn núi lở anh đà biết chưa?

Chàng trai liền trả lời:

Tai nghe em nói, dạ anh những lừ đừ,

Ô hô núi lở răng chừ rứa em?

Trang 31

Do cơ chế hỏi – đáp nên xuất hiện người nói, người nghe Trong giao tiếp do sự xuất hiện của người nói - người nghe nên nội dung thông điệp của ca dao đối đáp Nghệ Tĩnh được phát ra mang dấu ấn chủ quan của người nói, thể hiện rất rõ trong lời giãi bày của cô gái đối với chàng trai

từ xưng hô trong tiếng Việt là cơ sở để chúng ta khảo sát từ xưng hô trong

ca dao mà cụ thể là trong ca dao Nghệ Tĩnh Từ xưng hô trong tiếng Việt rất

đa dạng về chủng loại, linh hoạt và giàu màu sắc biểu cảm trong sử dụng

Hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt bao gồm nhiều từ loại khác nhau nhằm đáp ứng tính đa dạng của xưng hô trong giao tiếp xã hội Ca dao Nghệ Tĩnh là một loại giao tiếp bằng thơ nên có đặc trưng riêng về cách dùng từ xưng hô hội thoại Trong ca dao Nghệ Tĩnh riêng và trong ca dao trữ tình nói chung có giao tiếp một phía, không tuân theo nguyên tắc lượt lời và cơ chế hỏi đáp

Trang 32

Chương 2 NHẬN DIỆN TỪ XƯNG HÔ TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH

2.1 Từ xưng hô là danh từ

2.1.1 Danh từ có chức năng làm từ xưng hô đích thực

Chiếm một số lượng khá lớn, các danh từ trong tiếng Việt có những nét đa dạng, tinh tế trong xưng hô khi giao tiếp Dựa vào phạm vi, mức độ

sử dụng, chúng tôi chia danh từ có chức năng làm từ xưng hô đích thực thành: danh từ chỉ người trong quan hệ gia tộc, thân thuộc và danh từ chỉ người trong quan hệ xã hội

2.1.1.1 Danh từ thân tộc

Hệ thống danh từ thân tộc được sử dụng ở gia đình trong ca dao Nghệ Tĩnh gồm có 14 từ: ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em, dì, chú, o, mự Nhưng giữa danh từ thân tộc với danh từ chỉ chủng loại nói chung và danh từ chỉ người nói riêng có những điểm khác nhau Điểm khác nhau thứ nhất là danh từ thân tộc không kết hợp được với các danh từ có ý

nghĩa chỉ loại như: loại, hạng, kiểu, thứ…Mà nó chỉ có thể kết hợp được

với các danh từ chỉ vật, đồ vật Nếu có sự kết hợp như: loại cha, loại con, thứ mẹ…thì thể hiện nội dung ngữ nghĩa bất thường, thể hiện sự coi khinh, miệt thị của người nói

Điểm khác nhau thứ hai là nếu các danh từ chủng loại khác có thể kết

hợp được với đại từ chỉ định này, kia thì danh từ thân tộc khi ở nghĩa gốc không kết hợp được với các đại từ chỉ định này, kia (ví dụ:ông này,bà kia,

vợ này, con kia…) Nếu kết hợp như vậy sẽ thể hiện thái độ không tôn

trọng, coi khinh của người nói Nhưng khi ở nghĩa phái sinh - tức là những

Trang 33

kết hợp được Ví dụ: anh có biết bà kia/ông kia/anh này/ chú kia…mua cái

áo đó ở đâu không?

Điểm khác nhau thứ ba là danh từ thân tộc không có ý nghĩa biểu vật

cố định như các danh từ miêu tả chân chính khác Một người phụ nữ trong gia đình vừa có thể là “mẹ” vừa có thể là “gì” của đứa cháu con em gái/chị gái mình, cũng có thể là “o” của đứa cháu con em trai/anh trai mình

Trong ca dao Nghệ Tĩnh, danh từ thân tộc biểu hiện trong các từ xưng hô sau:

Ông: là thành viên của hệ thống gia tộc - đa quan hệ, nam Có quan

hệ huyết thống, là người sinh ra bố hoặc mẹ, đối lập nội ngoại “Ông” trong câu ca dao sau là chủ ngôn, tức là ngôi nhân xưng thứ nhất, thứ hai hoặc cũng có thể là ngôi xưng hô thứ ba:

Khi nào cho hợp phu thê, Con bồng, con dắt đi về trên ông.[13, tr.479]

Bà: là thành viên của hệ thống gia tộc – đa quan hệ, nữ, có quan hệ huyết thống, là người sinh ra bố hoặc mẹ, đối lập nội ngoại “Bà” dưới đây thuộc ngôi thứ ba, được người cháu nhắc đến:

Ông chết thì thiệt thân ông,

Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai.[14, tr 492]

Hay “bà” là ngôi xưng hô thứ nhất hoặc thứ hai, thứ ba:

Đƣợc nhƣ lời nói không sai, Tháng giêng mua gỗ, tháng hai làm nhà

Tháng ba thì đẻ con ra, Tháng tƣ thì đã kêu bà với ông.[13, tr.472]

Trang 34

Cha: là thành viên của hệ thống gia tộc – đa quan hệ, nam, có quan

hệ huyết thống, không có đối lập nội ngoại, “cha” trong câu ca dao sau là ngôi xưng hô thứ ba:

Lấy chi mà trả công cha,

Mà đền công mẹ để em ra lấy chồng?[13, tr.481]

Ngoài cách xưng gọi “ cha” thì trong ca dao Nghệ Tĩnh còn có cách xưng gọi khác nữa như : “ thầy”; “ bọ” đều có nghĩa là người sinh thành (bố, cha )

“Bọ” là ngôi xưng hô thứ nhất:

Cho về hộ với cha Cho con về với bọ [2, tr 362]

Thầy thuộc ngôi xưng hô thứ ba:

Em về thƣa với thầy se sẽ, Thƣa với mẹ cho rõ ràng, Cho em vô một ngõ, ra một đàng với anh.[13, tr.404]

Mẹ: là người thuộc thành viên của hệ thống gia tộc - đa quan hệ , nữ,

có quan hệ huyết thống, không có đối lập nội ngoại, “mẹ” trong câu ca dao sau là ngôi xưng hô thứ hai:

Mẹ ơi con đã đến thì,

Ai mà đi hỏi, mẹ ỳ cho con.[13, tr.335]

Ở Nghệ Tĩnh một số vùng “mẹ” còn gọi là “mệ”:

Mệ con lúng túng dở dang Làm cho nên nỗi xấu chàng hổ ai.[3, tr.250]

Chị: là thành viên của hệ thống gia tộc - đa quan hệ, nữ, có quan hệ huyết thống, không có đối lập nội ngoại, “chị” dưới câu ca dao này là ngôi

Trang 35

Chị em một ruột cắt ra, Chị có, em có mới là thân nhau.[13, tr.456]

Em: là thành viên của hệ thống gia tộc – đa quan hệ, nam hoặc nữ, có quan hệ huyết thống, không có đối lập nội ngoại, “em” dưới đây thuộc ngôi xưng hô thứ nhất hoặc thứ hai:

Chị em một ruột cắt ra, Chị không, em có mới là người dưng.[13, tr.456]

Chú: là thành viên của hệ thống gia tộc - đa quan hệ, nam, có quan hệ huyết thống - là em trai của bố, “chú” trong bài ca dao sau thuộc ngôi xưng

O: Là thành viên của hệ thống gia tộc – đa quan hệ, nữ, có quan hệ huyết thống, bậc trên hoặc dưới bố mẹ Theo nghĩa toàn dân thì “o” có nghĩa như “cô” Ở Nghệ Tĩnh “o” là em gái hoặc chị gái của cha, “o” dưới câu ca dao sau thuộc ngôi xưng hô thứ ba:

Một trăm ông chú không lo,

Trang 36

Dì: là người thuộc thành viên của hệ thống gia tộc – đa quan hệ, nữ,

có quan hệ huyết thống, là em gái hoặc chị gái của mẹ, “dì” trong bài ca dao sau thuộc ngôi xưng hô thứ ba:

Cu cu là con cu kì,

Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà o

Ăn rồi lại ngáy kho kho Chưa ra đến ngõ đã lo ăn hàng Bánh đúc cho chí kẹo đàng (đường)

Củ khoai đốt mía, lại hàng cháo kê

Ăn rồi xách nón ra về Thấy hàng chả chó lại lê khu vào [14, tr.160]

Mự: là thành viên của hệ thống gia tộc – đa quan hệ, nữ, không có quan hệ huyết thống Theo cách xưng hô toàn dân thì “mự” còn có cách xưng hô khác là “thím” Còn ở Nghệ Tĩnh thì “mự” là vợ của “cậu” hoặc là

vợ của “chú”, “mự” trong câu ca dao sau thuộc ngôi thứ hai:

Cho dù không vẹn chữ tòng,

Ai nuôi con cho mự, mự lấy chồng mự ơi.[13, tr.457]

Con: Là thành viên của hệ thống gia tộc – đa quan hệ, nam hoặc nữ,

có quan hệ huyết thống hoặc không có quan hệ huyết thống, bậc dưới, không có đối lập nội ngoại, “con” trong câu ca dao này tự xưng, ngôi thứ nhất:

Mẹ ơi con muốn lấy chồng, Mới xa vụn củi, vụn đồng nhà ta.[13, tr.155]

Chồng: Là thành viên của hệ thống gia tộc – quan hệ đối ứng với vợ, nam, không có quan hệ huyết thống, không có đối lập nội ngoại, “chồng”

Trang 37

Con không cha như nhà không nóc, Gái không chồng như cóc có đuôi

Cóc có đuôi vẫn còn nhảy được, Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi [13, tr.461]

Ở Nghệ Tĩnh, “chồng” còn được xưng gọi theo cách khác nữa là (nhông, nhôông), “chồng” trong các bài ca dao sau là ngôi xưng hô thứ ba:

-Trông trời cho chóng gió Đông Cho thuyền được gió cho nhông tôi về -Một ngày ba bận lên truông

Ai muốn no ấm lấy nhông Sơn Tràng -Em tham những nơi giàu có

Em ước những chốn vinh hoa Những đứa tay không như choa Cũng lấy được nhông mực thước [2, tr.303]

Vợ: Là thành viên của hệ thống gia tộc – quan hệ đối ứng với chồng,

nữ, không có quan hệ huyết thống, không có đối lập nội ngoại, “ vợ” dưới đây là ngôi xưng hô thứ nhất hoặc thứ hai và cũng có thể là thứ ba:

Sự đời nghĩ cũng nực cười,

Vợ thời hăm mốt, chồng thời sáu mươi

Ra đường thiên hạ nói cười, Rằng hai ông cháu kết hai vợ chồng.[13, tr.74]

Bên cạnh đó, “vợ” trong ca dao Nghệ Tĩnh còn gọi là “gấy”, “gấy” dưới đây thuộc ngôi thứ ba:

- Làm thì van ốm van đau

Thấy o nào đẹp – gấy tau bây tề.[2, tr 165]

Trang 38

Người phụ nữ thành vinh Cùng nhau họp mít tinh Thề hi sinh chiến đấu

Họ làm mình thêm xấu Nghị đến gấy ở nhà Chỉ dưa, nhút, lợn, gà Rồi ngồi lê đôi mách [2, tr.165]

Không chỉ xưng gọi bằng từ đơn mà trong ca dao Nghệ Tĩnh các danh từ thân tộc còn được xưng gọi bằng từ xưng hô ghép:

Vợ chồng là ngôi nhân xưng thứ nhất:

Tiếng ai như tiếng chuông đồng, Tiếng ai như tiếng vợ chồng đôi ta.[13, tr.398]

Gấy nhông (vợ chồng) còn được xưng gọi bằng từ xưng hô ghép, thuộc ngôi xưng hô thứ hai hoặc thứ ba:

Ở nhà cha nhắc mẹ trông, Sáng rồi không thấy gấy nhông hắn về.[2, tr.165]

Cha mẹ là ngôi nhân xưng thứ nhất hoặc thứ ba:

Cha mẹ nuôi con ở chốn buồng the Con nuôi cha mẹ đầu hè đầu chái [13, tr.384]

Hay, thầy mẹ là ngôi xưng hô thứ ba:

Sập vàng mà trải chiếu hoa, Ngoài nhà thầy mẹ, đôi ta trong buồng

Sập vàng mà trải chiếu vuông, Ngoài nhà thầy mẹ, trong buồng đôi ta.[13, tr.390]

Và cũng có thể là bác mẹ:

Trang 39

Anh thì nhổ mạ, tiền chung một lòi

Đem về cho bác mẹ coi, Của chồng công vợ nắng nôi nhọc nhằn [14, tr.39]

Anh em/ chị em thuộc ngôi xưng hô thứ ba:

Anh em như cà với ruốc Chị em như thuốc với trầu Anh em trai như khoai mài chấm mật Chị em gái như trái cau non

Chị em dâu như bầu nác nể [13, tr.296]

Mẹ cha/chú bác, thuộc ngôi xưng hô thứ ba:

Qúy hồ em có lòng ì,

Mẹ cha chú bác cũng tùy lòng em [14, tr.189]

Vợ con thuộc ngôi xưng hô thứ ba:

Anh đà có vợ con chưa

Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào?

Mẹ già anh ở nơi nao,

Để em tìm vào hầu hạ thay anh? [20, tr 208]

Mẹ con là ngôi xưng hô thứ hai:

Nồi đất lỏng bỏng; nồi đồng chóng sôi Ông bếp thương tôi thì sôi cho chóng Ngoài đình trống giống, nhà trò hát hay

Mẹ con nhà bay (chúng mày)

Đi coi (xem) hát đến sáng ngay (ngày) mới về [14, tr.181]

Cha con thuộc ngôi xưng hô thứ nhất – “cha con” tự xưng hoặc cũng

có thể là ngôi xưng hô thứ ba – được nhắc đến:

Trang 40

Cha con sắm sửa sọt (sƣa) ngƣợc ngàn.[14, tr 55]

Trên đây là các danh từ thân tộc được sử dụng phổ biến trong ca dao Nghệ Tĩnh mà chúng tôi thống kê được Bên cạnh các từ xưng hô đơn thì ca dao còn sử dụng từ xưng hô ghép nhằm thể hiện tình cảm gắn bó, thân thiết

của những người trong ga đình với nhau

2.1.1.2 Danh từ chỉ quan hệ xã hội

Các danh từ thân tộc không chỉ được người Nghệ Tĩnh sử dụng để xưng hô trong giao tiếp với những người có quan hệ huyết thống mà còn được sử dụng trong phạm vi xã hội với những người không có quan hệ huyết thống với nhau Lúc này chúng không còn mang nghĩa gốc nữa mà đã

có sự biến đổi về mặt nghĩa

Trong phạm vi khảo sát có hạn, chúng tôi nhận thấy trong ca dao

Nghệ Tĩnh có 8 từ thuộc nhóm danh từ chỉ quan hệ xã hội: ông, bạn, anh,

em, chị, mự, chú, bác Trong đó “ông, anh, em, chị, mự, chú, bác” là các

danh từ thân tộc chuyển hóa thành danh từ chỉ quan hệ xã hội có chức năng như đại từ xưng hô

Bạn: Là người không có quan hệ huyết thống, đa quan hệ, nam hoặc

nữ, là người quen biết và có quan hệ gần gũi, thân thiện với Tôi Bạn có thể

là ngôi thứ hai số ít hoặc số nhiều hay ngôi thứ ba “Bạn” trong bài ca dao này là ngôi xưng hô thứ hai, số ít:

Đến đây mừng cảnh mừng hoa, Lại mừng cho bạn thất gia đã rồi.[13, tr.469]

Vì con người Nghệ Tĩnh mộc mạc, chân chất nên bản chất đó cũng được đưa vào trong ca dao, tạo thành những nét rất riêng biệt Trong xưng

hô hằng ngày giữa bạn bè với nhau thường là tau – mi ( “tau” có nghĩa là

Ngày đăng: 18/05/2021, 14:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2007), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
2. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), (2001), Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ), Nhà xuất bản Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ)
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 2001
3. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Phan Mậu Cảnh - Hoàng Trọng Canh - Nguyễn Hoài Nguyên (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nhà xuất bản văn hóa – thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa – thông tin
Năm: 1999
4. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
5. Hoàng Trọng Canh, Một vài nhận xét bước đầu về âm và nghĩa trong từ địa phương Nghệ Tĩnh, Tạp chí ngôn ngữ (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét bước đầu về âm và nghĩa trong từ địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Nhà XB: Tạp chí ngôn ngữ
6. Hoàng Trọng Canh, Sự khác biệt về ngữ nghĩa của một số kiểu từ địa phương Nghệ Tĩnh, Tạp chí ngôn ngữ (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khác biệt về ngữ nghĩa của một số kiểu từ địa phương Nghệ Tĩnh
7. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Khoa học và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Xã hội
Năm: 1975
8. Nguyễn Tài Cẩn (1981), Ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1981
9. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1981
10. Đỗ Hữu Châu (1997), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 1997
11. Đỗ Hữu Châu (2005), Giáo trình giản yếu về ngữ dụng học, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giản yếu về ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2005
12. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2005), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2005
13. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Võ Văn Trực (1996), Khotàng ca dao xứ Nghệ (tập 1), Nhà xuất bản Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khotàng ca dao xứ Nghệ (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Võ Văn Trực
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 1996
14. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Võ Văn Trực ( 1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ ( tập 2), Nhà xuất bản Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao xứ Nghệ ( tập 2)
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Võ Văn Trực
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 1996
15. Phan Thị Kim Chi (2013), Cấu trúc hội thoại trong ca dao người Việt, khóa luận tốt nghiệp, Đại học Sư phạm Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc hội thoại trong ca dao người Việt
Tác giả: Phan Thị Kim Chi
Nhà XB: Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Năm: 2013
16. Trương Thị Diễm (2003), Từ xƣng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt, luận án tiến sĩ, Đại học sư phạm Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xƣng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Trương Thị Diễm
Năm: 2003
17. Hữu Đạt ( 2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 2000
18. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1996
19. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
20. Ninh Viết Giao (1960), Hát phường vải (dân ca Nghệ Tĩnh) , Nhà xuất bản Văn hóa – thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát phường vải (dân ca Nghệ Tĩnh)
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – thông tin
Năm: 1960
w