Công trình “Thi pháp Truyện Kiều” Trần Đình Sử tác giả viết: “ởTruyện Kiều có một ngời nghệ sỹ đang dùng ngôn từ của mình “đập vỡ” cấutrúc ngôn ngữ hàng ngày để tạo thành ngôn ngữ nghệ t
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh
KHoa ngữ văn - -
Lu Thị Thanh Nga
Cách sử dụng từ “AI”
trong ca dao và truyện kiều
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Ngời hớng dẫn : ThS Hoàng Minh Đạo
Vinh, 2005
Trang 2Lời cảm ơn
Khám phá ngôn ngữ trong ca dao và Truyện Kiều là một vấn
đề phức tạp lý thú và tìm hiểu về nó là mối quan tâm của nhiều ngời Đợc sự động viên góp ý và cổ vũ của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên trong khoa Ngữ văn tôi đã chọn "Cách sử dụng từ
"Ai" trong ca dao và Truyện Kiều" làm đề tài cho Luận văn tốt nghiệp của mình Do trình độ của bản thân và thời gian có hạn, luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong đ ợc các thầy cô, các bạn chân thành góp ý
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Hoàng Minh Đạo ngời đã trực tiếp giúp đỡ tận tình chu đáo để tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam I, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và các bạn sinh viên đã động viên góp ý cho tôi
Vinh, tháng 4/2005
Sinh viên
Lu Thị Thanh Nga
Trang 31.3 Đặc điểm chung về ngôn ngữ ca dao và Truyện Kiều 8
2 Giới thuyết khái niệm và khảo sát, thống kê, phân loại 11
Chơng II Những điểm tơng đồng về cách sử dụng từ "Ai" trong
ca dao và Truyện Kiều
2.2 Chủ thể trữ tình trong ca dao và Truyện Kiều 28
3 Từ "Ai" đợc dùng với t cách vừa là đối tợng vừa là chủ thể trữ tình 32
4 Sự trùng hợp hoàn toàn của một số câu thơ có sử dụng từ "Ai" 36
Chơng 3: Những điểm khác biệt về cách sử dụng từ "Ai" trong
ca dao và Truyện Kiều
42
1 Các kiểu kết hợp có tính phổ biến của từ "Ai" trong ca dao và
Truyện Kiều
42
2 Vị trí xuất hiện của từ "Ai" trong ca dao và Truyện Kiều 50
3 Tính xác định của từ "Ai" trong ca dao và Truyện Kiều 51
Trang 4Phần mở đầu1- Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu:
Ca dao và Truyện Kiều tuy có phơng thức sáng tác khác nhau, nhng lại
có quan hệ gắn bó, ảnh hởng qua lại lẫn nhau Sự ảnh hởng đó diễn ra trên cảhai phơng diện: Nội dung và hình thức Nếu chỉ xét riêng về mặt hình thức thìtrong ca dao và Truyện Kiều, tác giả dân gian và Nguyễn Du đều đã sử dụng
từ “Ai” để góp phần diễn tả cảm xúc, tâm trạng của các nhân vật Việc sửdụng từ này là tín hiệu ngôn ngữ giúp chúng ta có thể nhận ra sự gặp gỡ giữamột thể loại trong loại hình trữ tình dân gian với một kiệt tác thuộc thể loạitruyện thơ Nôm trong văn học trung đại Việt Nam Tìm hiểu cách sử dụng từ
“Ai” trong ca dao và Truyện Kiều nhằm mục đích góp phần làm sáng tỏ mốiquan hệ giữa văn học dân gian và văn học trung đại qua hai thể loại tiêu biểuthuộc hai bộ phận văn học khác nhau Nhiệm vụ chủ yếu của chúng tôi khitìm hiểu vấn đề này là cố gắng chỉ ra những chỗ tơng đồng và những điểmkhác biệt trong cách sử dụng từ “Ai” trong ca dao và Truyện Kiều Trên cơ
sở đó thấy rõ thêm những nét đặc sắc trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ của tácgiả dân gian khi sáng tác ca dao và của Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều
Trong sách giáo khoa Ngữ văn ở trờng Trung học cơ sở (lớp 7) và Trunghọc phổ thông (lớp 10), các bài ca dao và một số đoạn trích Truyện Kiều đợc đavào chơng trình giảng dạy đều có sự xuất hiện của từ “Ai” Do đó tìm hiểu cách sửdụng từ này còn giúp cho việc giảng dạy ca dao và Truyện Kiều trong Trờng phổthông thật sự có hiệu quả, nhất là việc dạy Văn bằng phơng pháp tích hợp, tích hợptheo trục ngang giữa ba phân môn: Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn
2- Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu:
T liệu:
1- Cuốn “Kho tàng ca dao Ngời Việt” do Nguyễn Xuân Kính (chủ
biên), Phan Đăng Nhật - NXB VHTT - HN 1995
Trang 52 Cuốn “Truyện Kiều “(Nguyễn Du) Bùi Thiết Tuyển NXB VH
Công trình “Thi pháp ca dao” của Nguyễn Xuân Kính giành nguyênmột chơng (chơng III) bàn về cách sử dụng tổ chức của ngôn ngữ và cáchdùng tên riêng chỉ địa điểm Ông viết: “Trong hoạt động ngôn ngữ thao táclựa chọn liên quan đến vốn ngôn ngữ, tức đến những đơn vị ngôn ngữ tồn tạitrong óc cá nhân, vận dụng năng lực liên tởng để cung cấp sự lựa chọn những
đơn vị ngôn ngữ cần thiết… [7, 89]
Công trình: “Ca dao Việt Nam những lời bình” - NXBVHTT, trong đó
có nhiều bài đề cập đến vấn đề ngôn ngữ trong ca dao nh: “Sự kết hợp tài tìnhgiữa tính thơ và ngữ điệu đời sống ngôn ngữ thơ ca” (Minh Hiệu) Tác giảviết: “… Mỗi từ ở ca dao cũng phải là “từ duy nhất đúng” nh ở thơ Từ làtrong vị trí cụ thể đó thì nó là từ không thể thay thế đợc bằng bất cứ một từnào khác tốt hơn ….” [17, 170]
Hay “Ngôn ngữ ca dao” (Mai Ngọc Chừ) “…Ngôn ngữ ca dao đã kết tụnhững đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời nhất của Tiếng Việt Nó có cả những
Trang 6đặc điểm tinh tuý của ngôn ngữ văn học (mà cụ thể là ngôn ngữ thơ) đồngthời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữchung” [17, 159].
Công trình “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều”(Phan Ngọc) ở chơng VIII bàn riêng về ngôn ngữ trong đó tác giả khẳng
định ngôn ngữ của Nguyễn Du không phải ở từ ngữ cao sang mà ở từ ngữdung tục rất gần với đời thờng dân dã [10, 331 ]
Công trình “Thi pháp Truyện Kiều” (Trần Đình Sử) tác giả viết: “ởTruyện Kiều có một ngời nghệ sỹ đang dùng ngôn từ của mình “đập vỡ” cấutrúc ngôn ngữ hàng ngày để tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật, các năng lực đócủa tác giả không nói bằng ngôn từ mà làm cho ngôn từ nói lên đó là nhữngnăng lực nghệ sỹ” [14, 306]
Trên là những công trình bàn về ngôn ngữ nói chung, mà cha đợc bànmột cách cụ thể, với đề tài này chúng tôi cố gắng tìm hiểu một cách hệ thốnghơn trên những phơng diện biểu hiện của từ “Ai”
Bàn về từ “Ai” trong công trình “Những thế giới nghệ thuật thơ”(Trần Đình Sử) viết: “Trong nhiều trờng hợp chữ “ai” đợc dùng theo cáchhiểu của từng nhân vật, nhng trong khuynh hớng nó hớng tới kinh nghiệmgiữa nhân vật, tác giả và ngời đọc, nh những ngời sống cùng thời và vấn đề
đặt ra cho nhân vật cũng là vấn đề của tác giả và ngời đọc” [13, 331]
Nh vậy ở đây ông Trần Đình Sử muốn nói đến khoảng cách gần gũigiữa ngời kể và thế giới nhân vật thể hiện tập trung ở điểm nhìn trần thuậtcủa truyện
Trong cuốn “Bình giảng ca dao” Tác giả Hoàng Tiến Tựu viết: "Từ
“Ai” trong ca dao, nhất là trong ca dao tình yêu đôi lứa đợc sử dụng hết sứcrộng rãi và sáng tạo, chứa đựng nhiều nét nghĩa cụ thể khác nhau đến mứckhông thể nói hết đợc “Ai” không chỉ là đại từ phiếm chỉ những đối tợng xác
định cụ thể khác nhau (tuỳ theo từng bài ca dao một), “Ai” còn đợc dùng để
Trang 7chỉ thời gian, năm, tháng, hoàn cảnh khó khăn" [18, 35] Vậy tác giả đã đềcập đến từ “Ai” khi đi vào phân tích, bình giảng các bài ca dao cụ thể.
Trong luận văn tốt nghiệp của Phan Thị Chi Hoài "Cách sử dụng từ
"Ai" trong ca dao xứ Nghệ" cũng đã đề cập nhng chỉ mới ở giới hạn của ca
dao Xứ Nghệ"
Qua đó ta thấy các tác giả dù ít nhiều đã nói tới đại từ phiếm chỉ “Ai”trong ca dao và Truyện Kiều, nhng vẫn cha có một công trình cụ thể nào đềcập đến nó một cách hệ thống Vấn đề mà chúng tôi muốn đa ra là sự đốisánh trong cách dùng từ “Ai” của ca dao và Truyện Kiều
Trang 8Phần nội dung
Chơng 1 Những vấn đề chung 1- Một số đặc điểm chung về ngôn ngữ của ca dao và Truyện Kiều
Đến đây mận mới hỏi đào Vờn hồng có lối ai vào ra cha Mận hỏi thì đào xin tha Vờn hồng có lối nhng cha ai vào
mà còn gặp cả những lời “đao to bua lớn" đầy sức mạnh đầy tính chất khẩungữ:
Chuột chù chê cú rằng hôi
Cú mới trả lời cả họ mày thơm.
Chính sự kết hợp giữa ngôn ngữ nói, ngôn ngữ đời thờng (vốn phù hợpvới hình thức truyền miệng) với ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ gọt dũa đã tạonên những đặc điểm riêng biệt độc đáo của ngôn ngữ ca dao
Trang 9Với tính chất đời thờng giản dị do có tính chất truyền miệng nên ngônngữ ca dao còn phản ánh “lời ăn tiếng nói” của quần chúng bình dân Tínhchất khẩu ngữ đợc thể hiện trong ca dao, trớc hết ở hiện tợng thêm (hoặc bớt)
âm tiết đối với những thể thơ truyền thống Hiện tợng này rất hay gặp ở thểlục bát Thêm (hoặc bớt) âm tiết càng làm cho ca dao gần gũi với lời nói hàngngày của quần chúng lao động
Em nh con cá giữa vời
Ai nhanh tay thì đợc, ai chậm lời thì thôi.
Những câu trên hoàn toàn có thể viết gọn lại thành hình thức “trên 6
d-ới 8” cho đúng lục bát chính thể
Ví dụ : - Dù cho trúc mọc thành mai
Em cũng không xiêu lòng tạc dạ nghe ai phỉnh phờ
Viết lại:
- Dù cho trúc mọc thành mai Không xiêu lòng dạ nghe ai phỉnh phờ.
Nhng nh thế thì còn đâu nữa những câu nói đích thực còn tơi nguyêncủa ngời con gái Đấy là cha kể nếu cắt đi những tiếng “em”, “ai” thêm vào ởdòng lục thì sẽ chẳng còn gì là ngôn ngữ của tình yêu
- Tính chất khẩu ngữ, phiếm chỉ của ca dao còn đợc thể hiện ở cách sửdụng các lớp từ, đặc biệt là những đại từ nhân xng Nếu nh các cặp “anh -em”, “chàng - nàng”, “mình - ta”, thiếp chàng” thờng có hơng vị đậm đàngọt ngào của cách nói trau truốt gọt dũa thì “anh- tôi”, “mày - tao” lại mangnặng tính chất khẩu ngữ mạnh mẽ, quyết liệt
- Từ ngày tôi ở với anh
Anh đánh anh chửi anh tình phụ tôi
- Một lời nói tựa nhát dao
Thề cùng giặc pháp có tao không mày.
Trang 10Sự kết hợp giữa phong cách gọt dũa và phong cách đối thoại trong cadao nhiều khi rất nhuần nhuyễn Bởi vậy cũng là hình thức đối thoại nhng đốithoại trong ca dao trong nhiều trờng hợp không phải là lời nói trực diện nhngôn ngữ nói hằng ngày mà vẫn đầy chất thi vị Những cách nói nh: “mìnhở”, “chàng ơi”,… Vì vậy vừa thể hiện một lời gọi, nhng là một lời gọi thẩmmỹ,đầy chất văn học.
- Mình ơi ta hỏi thực mình
Còn không hay đã chung tình với ai ?
Cái đặc sắc của ngôn ngữ ca dao chính là ở chỗ nó đã kết hợp đợc nhuầnnhuyễn hai phong cách: “Ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thờng nó truyền miệngbằng thơ và chính cái hình thức tồn tại ấy đã là một trong những điều kiện để cadao dễ thấm đợm thơm lâu trong mỗi con ngời” [17, 159 ]
1.2 Ngôn ngữ của Truyện Kiều:
Nói đến ngôn ngữ của Truyện Kiều chúng ta không chỉ nhằm khẳng
định Nguyễn Du là một ngời sành, ngời giỏi Tiếng Việt, mà còn thấy ông làmột nghệ sỹ ngôn ngữ Trong kiệt tác bất hủ đó ta thấy ông đã sử dụng ngônngữ một cách rất đặc sắc, đặc biệt là cách sử dụng câu hay, từ đắt, từ dùngchính xác tinh tế Ngời ta chú ý tới cách dùng h từ, khối lợng từ đồng nghĩa,
từ có phong cách khẩu ngữ, từ giống ca dao, tục ngữ, tơng quan từ thuần Việt
và Hán Việt Bởi trong văn học mọi cái đều đợc bằng bản thân chất liệu vàcác phơng thức của ngôn ngữ, biến ngôn ngữ văn học thành một nghệ thuậtcủa sự biểu đạt bằng ngôn từ Những ánh mắt, nhún vai, phẩy tay, nụ cời đều
bị trừu tợng đi để hoá thân vào bản thân ngôn ngữ tạo thành sự biểu diễn củabản thân ngôn từ
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du với t cách nghệ sỹ, ông cũng “đập vỡ"cấu trúc ngôn ngữ hằng ngày để tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật Ông đã tránhngôn từ của tác giả thực dụng để sử dụng ngôn từ đa chủ thể Ông đã trao
Trang 11quyền tự sự cho ngời kể chuyện và cho nhân vật, làm cho ngôn từ ấy có khảnăng “nói” nhiều hơn.
Nguyễn Du đã “đập vỡ” cú pháp thông thờng để tạo ra những câu thơ
“trốn” chủ từ nh nhiều ngời nhận xét và làm cho ý nghĩa của câu thơ trở nênmơ hồ, mênh mang [14, 304]
1.3 Đặc điểm chung của ngôn ngữ ca dao và Truyện Kiều :
Sở dĩ ta có đợc kho tàng ca dao đồ sộ nh vậy là nhờ vào hoạt động vănhoá văn nghệ của quần chúng nhân dân Từ xa xa ca dao dân ca đã xuất hiệnthông qua các điệu hò trong lao động sản xuất, hay trong các dịp lễ tết, hộihè
Tại hội nghị cán bộ văn hoá ngày 30/10/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nói: "Quần chúng là những ngời sáng tạo, công nông là những những sángtạo Nhng quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất choxã hội Quần chúng còn là ngời sáng tác nữa… Những câu tục ngữ, những câu
vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay
mà lại ngắn, chứ không trờng thiên đại hải, dây cà ra dây muống, các cán bộvăn hoá cần phải giúp những sáng tác của quần chúng Những sáng tác ấy lànhững hòn ngọc quý Muốn làm nh thế thì cố nhiên là phải có chính trị, có kỹthuật, thì mới mài cho viên ngọc ấy thành tốt, khéo và đẹp” [11,19]
Nh Bác Hồ kính yêu đã dạy, những sáng tác của quần chúng nhân dânrất giàu đẹp Riêng thơ ca dân gian thì phong phú vô cùng, và ở mỗi vùng đều
có một thể loại đặc trng riêng Nh: Hát ví Nghệ Tĩnh, hát phờng vải, hát dặmNghệ Tĩnh, dân ca Nam Bộ, dân ca quan họ Bắc Ninh, ca dao trớc cáchmạng Ca dao su tầm ở Thanh Hoá, dân ca miền Nam Trung bộ, dân ca BìnhTrị Thiên, sử thi Tây Nguyên… Đặc biệt là ở thể loại ca dao có nhiều đề tàikhác nhau, ngời ta nói nhiều đến thiên nhiên, đến tình duyên, đến gia đình,
đến lao động và sản xuất… Sở dĩ có nhiều đề tài nh vậy trong ca dao dân ca làvì ca dao chính là những lời thơ đợc hình thành đợc sáng tác từ trong cuộc
Trang 12sống lao động, trong những sinh hoạt dân ca khác nhau, nên lời lẽ ngôn ngữthờng là dễ ngâm, dễ thuộc.
Nh ta đã biết ca dao đợc sáng tác bởi quần chúng nhân dân, nghĩa là đợcsáng tác bằng miệng lu truyền bằng miệng, để có thể lu truyền đợc nh vậy thìtrong các câu thờng là có vần, có điệu, ngôn ngữ phải giản dị, gần gũi với đờisống hằng ngày nhng đồng thời rất sinh động giàu hình ảnh
Trong ca dao ngời ta hay dùng ngôn ngữ hình ảnh, đó là chàng trai,cô gái,ngời phụ nữ, những ngời lao động … và những hình ảnh này đã trở thành biểu t-ợng trong ca dao thông qua các hình ảnh nh trúc - mai, thuyền- bến, cái khăn đội
đầu… Thông qua ngôn ngữ giàu hình ảnh này ngời ta có thể dùng theo lỗi mô tảhoặc kể chuyện, hoặc so sánh, ví von thì trong ca dao đã thể hiện đợc nhuầnnhuyễn ngôn ngữ của dân tộc Nó đã trở thành thủ pháp nghệ thuật bền vữngmang tính truyền thống và đó là cơ sở là cội nguồn cho truyền thống nghệ thuậtthi ca, của các tác giả văn học viết sau này
Ngời tiếp thu truyền thống thơ ca nhanh và có sáng tạo nhất là Nguyễn
Du Trong câu thơ chữ Hán: “Thôn ca sơ học tang ma ngữ “(Tiếng hát nơithôn xóm giúp ta học đợc ngôn ngữ của ngời đánh sợi trồng dâu), Nguyễn Du
đã có dịp nói lên một phần nguồn gốc cơ bản và sâu xa đã khiến cho nhà thơphát triển đợc ngôn ngữ của mình Đấy chính là một trong những bằng chứng
đáng tin cậy về quan điểm quần chúng nhân dân trong ngôn ngữ của nhà thơ,tuy quan điểm này cha phải là đã bộc lộ rõ ràng và đầy đủ Đi vào tìm hiểungôn ngữ của Nguyễn Du sử dụng trong Truyện Kiều, chúng ta có thể nhậnthấy rõ đợc một số yếu tố có tính quần chúng nhân dân mà nhà thơ đã kế thà
và phát huy, và rút đợc bài học bổ ích cho việc sử dụng và phát triển ngônngữ
Hoàn toàn có thể nói rằng ngôn ngữ trong Truyện Kiều trớc hết là thứngôn ngữ bắt nguồn trong tiếng nói của quần chúng Trên khía cạnh cơ bảnnhất, Nguyễn Du đã bám chắc đợc vào mảnh đất cơ sở của tiếng Việt màphát triển tài năng của mình để đóng góp cho ngôn ngữ dân tộc
Trang 13Ngôn ngữ Truyện Kiều nói chung không có cái vay mợn xa lạ và cầu
kỳ nh “Cung oán ngâm khúc”, không có cái đài các quá lộng lẫy nhng bềbộn rờm rà của “Hoa tiên” hay đẽo gọt vụng về của “Sơ kính tân trang” Quảthật ngôn ngữ của Truyện Kiều gần với “thôn ca” hơn, bởi vì từ gốc rễ, nhiềuyếu tố là ca dao, dân ca đợc lựa chọn trau dồi, đợc bồi bổ và nâng cao do mộtthiên tài của nhân dân và dân tộc
Tính quần chúng nhân dân trong ngôn ngữ Truyện Kiều biểu hiện ở chỗnhiều yếu tố hay và đẹp trong Truyện Kiều mà ta tởng là phần riêng có củaNguyễn Du, xét đến cùng thì thấy nó có nguồn gốc rõ trong ngôn ngữ thơ cacủa quần chúng, hoặc cũng có những yếu tố từ Nguyễn Du mà ra nhng đã đợcquần chúng chấp nhận để rồi hoá thành tài sản chung ảnh hởng qua lại đókhông chỉ thu hẹp trong một số từ vựng vay mợn lẫn nhau mà còn ở cách diễn
đạt tế nhị của những biện pháp tu từ, ở nhịp điệu câu thơ… Chính vì vậy màlàm cho Truyện Kiều rất gần gũi với từng ngời dân, với quần chúng Vì lẽ đó
ợn ý Truyện Kiều thật rõ rệt Nhng cũng có rất nhiều câu chắc chắn là đã làmcơ sở, gợi cảm hứng cho Nguyễn Du viết lên những câu Kiều trác tuyệt Có
Trang 14thể nói trong văn học cổ điển Việt Nam, không có một tác phẩm nào đã ảnhhởng đến sự sáng tác của quần chúng to lớn nh Truyện Kiều, và ngợc lạicũng không có một thi sỹ nào có thể sánh với Nguyễn Du trong việc tiếp thucái phần tinh tế ý nhị mà hàm súc sâu xa của ca dao nh Nguyễn Du Điều đóthực ra cũng phù hợp với quy luật sáng tác của các nhà thơ lớn trên thế giới.
Ví nh Gorki từng khẳng định: “Min-tơn và Đăng-tơ, Mích-ki-ê-vích, Gớt-tơ,Sin-le… đạt tới những đỉnh cao tuyệt với khi mà sáng tác tập thể của dân gian
cổ vũ họ, khi họ đã hấp thụ những cảm hứng vô cùng sâu sắc, muôn màumuôn vẻ, mạnh mẽ mà thông minh của nguồn thi ca dân gian” [15; 67]
Công lao to lớn trong việc sáng tạo và phát triển ngôn ngữ thơ ca dântộc của các nhà thơ là ở chỗ họ đã tiếp thu và nâng cao ngôn ngữ văn họcdân gian Để phù hợp với cơ cấu hình tợng của tác phẩm, ngôn ngữ dân gian
đi vào thơ phải đợc biến hoá: Khi thì chỉ trích dẫn một vài chữ mà vẫn cóphong vị của ca dao, khi thì dựa vào ý nghĩa câu ca dao mà viết ra ý nghĩamột câu hoàn toàn khác, trờng hợp dùng nguyên cả câu cao dao là rất hiếm…Phơng thức tiếp thu và sáng tạo có thể có nhiều, nhng cơ sở thì vẫn là tấmlòng mến yêu nồng nàn vốn dân ca của đất nớc và những ngời sáng tạo ra nó,tấm lòng mến yêu ấy đã làm nhà thơ rung cảm sâu xa với cái phong vị trữtình đằm thắm cùng nh những sắc màu đẹp đẽ của ca dao và từ đó chuyển nóvào thơ mình Ngôn ngữ ca dao đó ảnh hởng đến Truyện Kiều trên một bìnhdiện khá rộng và diễn ra phức tạp, đa dạng, trong đó có việc sử dụng từ “Ai”
2 - Giới thuyết khái niệm và khảo sát, thống kê, phân loại: 2.1 - Giới thuyết khái niệm từ “Ai“:
“Ai vốn là đại từ nghi vấn chỉ ngời Trong tiếng Việt, đại từ nghi vấn
“Ai” còn đợc dùng nh đại từ mang ý nghĩa phiếm định”[3, 8]
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học - Nhà xuất bản ĐàNẵng - HN - 2002 thì từ “Ai” có ba nghĩa nh sau:
2.1.1 - Từ dùng chỉ ngời nào đó, không rõ (thờng dùng để hỏi)
Trang 152.1.2 - Từ dùng chỉ ngời nào đó, bất kỳ.
2.1.3 - Từ dùng chỉ ngời nào đó, có khi là chính mình, mà không muốnnêu rõ ra
Đặc điểm nổi bật của từ “Ai” đó là tính chất chỉ chung chung không
cụ thể rõ ràng Trong Tiếng Việt những từ có đặc điểm chỉ chung nh vậy gọi
là từ phiếm chỉ
2.2 - Khảo sát, thống kê, phân loại:
2.2.1 - Từ “Ai“ trong ca dao:
Qua khảo sát cuốn “Kho tàng ca dao ngời Việt” do Nguyễn XuânKính (chủ biên) - Phan Đặng Nhật - Nhà xuất bản văn hoá thông tin - Hà Nội
1995 có tất cả 11.825 bài, trong đó có 993 bài lục bát có sử dụng từ “Ai”.Trong đó tỉ lệ từ “Ai” xuất hiện ở các vị trí, cũng nh ở việc sử dụng đề tài làkhông giống nhau Điều đó đợc thể hiện cụ thể nh sau:
•Vị trí đứng đầu của từ Ai trong ca dao:“ ”
Trong tổng thể 993 bài lục bát có sử dụng từ “Ai” thì có tới 1.323 từ,trong đó đứng ở vị trí đầu câu là 774 từ chiếm khoảng 59,2% Và ở đề tài tìnhyêu đôi lứa có tới 217 bài và vị trí đứng đầu là 175 từ chiếm tới 80,64% Đợcthể hiện rõ nh sau:
Đề tài
Số bài có vị trí “Ai” đứng đầu 175
Nh chúng ta thấy, tình yêu đôi lứa là đề tài muôn thuở của thi ca,không phải chỉ ngày nay mà nó đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử Cụ thể làqua những bài ca dao xa đợc đúc kết những lời ca tiếng hát trong các cuộcsinh hoạt tập thể hay trong lúc lao động…
- Thơng chàng nên phải gắng công Nào ai xơng sắt da đồng chi đây?
Trang 16- Trầu ăn là nghĩa, thuốc xỉa là tình
ấy ai cắt mối tơ mành Cho thuyền quên bến cho anh quên nàng.
- Ai trao thẻ bạc đừng cầm Lòng đây thơng đó thâm trầm đó ơi Lòng đây thơng đó ngùi ngùi
Ai trao thẻ bạc cũng chùi thẻ đi.
Không phải ngẫu nhiên mà từ “Ai” ở đề tài tình yêu lại chiếm một sốlợng phong phú nh vậy, cũng không phải ngẫu nhiêm mà từ “Ai” trong đề tàitình yêu đôi lứa lại xuất hiện ở vị trí đầu với tỉ lệ khá cao so với các đề tàikhác nh vậy Điều này có nguyên nhân riêng của nó và sẽ đợc chúng tôi nêu
rõ cụ thể trong phần sau của luận văn này:
•Vị trí đứng giữa của từ Ai trong ca dao:“ ”
Cũng là chung một đề tài, nhng “Ai” đứng ở vị trí này lại khá khiêmtốn Đợc thể hiện cụ thể nh sau:
Trong ca dao 993 bài với 1.323 từ có 77 từ chiếm 5,89% Trong đó ở
đề tài tình yêu có 217 bài với 34 bài có từ “Ai” đứng giữa chiếm 15,66%
Đề tài
Số bài có vị trí “Ai” đứng giữa 34
- Hai ta nh rợu với nem
Đang say ngây ngất ai gièm chớ xa.
- Chém tre mẻ rựa, chàng ơi!
Thiếp phải lông mặt chớ cời thiếp chi Thế gian ai cũng một thì
Chàng về lấy vợ thiếp thì cô đơn Vui xuân vui cả vui đôi đờng
Trang 17Sầu xuân riêng thiếp canh trờng tơng t.
- Chỉ điều ai khéo vấn vơng Một ngời một xứ mà thơng nhau đời Chữ tình ai bứt cho rời
Tơ hồng đã định đổi dời đặng đâu
• Vị trí đứng cuối của từ “Ai” trong ca dao:
Cũng với số lợng bài ca dao nh vậy, cũng chung một đề tài, nhng vị trílại hoàn toàn khác nhau Từ “Ai” đứng ở vị trí cuối cùng này cũng chiếm vịtrí khá tơng đối, trong tổng số 1.323 từ thì có 316 từ đứng cuối chiếm 23, 8%.Trong đó ở đề tài tình yêu đôi lứa có 217 bài với 58 từ đứng cuối chiếm26,7%
- Chê sông mà uống nớc bàu Chê đây lấy đó, có giàu hơn ai
- Hai ta hái củi một rừng Bứt dây một cội xin đừng nghe ai
- Đôi ta nh gậy chống rèm Vừa đôi thì lấy ai gièm mặc ai
Qua khảo sát thống kê trên chúng tôi thấy từ “Ai” trong ca dao tìnhyêu nói riêng và ca dao Việt Nam nói chung chiếm một tần số khá lớn Trong
Trang 18đó vị trí từ “Ai” đứng đầu câu trong ca dao cũng nh trong đề tài tình yêu đôilứa chiếm vị trí cao nhất trong ba vị trí trên.
2.2.2 Từ “Ai“ trong Truyện Kiều:
Theo chúng tôi thống kê trong cuốn “Truyện Kiều” Nguyễn Du củaBùi Thiết Tuyển Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội - 2001 có tất cả là 3254 cặpcâu lục bát Trong đó có 113 cặp câu lục bát có sử dụng từ “Ai” ,chiếmkhoảng 3,47% còn theo GS Trần Đình Sử trong cuốn “Những thế giới nghệthuất thơ’’ cho rằng: “Truyện Kiều” có 108 từ “Ai” cũng qua khoá luận tốtnghiệp của Phạm Thị Chi Hoài cho rằng “Truyện Kiều” có 110 từ “Ai”
So với ca dao Việt Nam thì tỷ lệ này thấp hơn nhiều, tuy nhiên không vì thế
mà từ “Ai” trong “Truyện Kiều” không có giá trị, trái lại nó còn đợc đánh giá
là rất tiêu biểu cho con ngời của Nguyễn Du Điều đặc biệt là từ “Ai” trongtác phẩm đợc xoay quanh chủ đề tình yêu của nàng Kiều và đợc nói bởinhững nhân vật khác nhau Vị trí của từ “Ai” ở trong các cặp câu cũng khácnhau Điều đó đợc thể hiện cụ thể nh sau:
• Vị trí của từ “Ai” đứng đầu trong Truyện Kiều:
Nếu trong ca dao vị trí từ “Ai” đứng đầu dòng thơ chiếm với tần sốkhá lớn thì trong Truyện Kiều lại có sự ngợc lại Vị trí từ “Ai” đứng đầutrong Truyện Kiều là rất thấp mặc dù đó là cùng chung một đề tài
Trang 19Ai cho kén chọn vàng thau tại mình
- Chắc rằng mai trúc lại vầy
Ai hay vĩnh quyết là ngày đa nhau
- Trơ nh đá vững nh đồng
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng rời
- Ngỡ là phú quý phụ vinh
Ai ngờ một phút tan thành thịt xơng -Ai ngờ lại họp một nhà
Lọ là chăm gối mới ra sắt cầm.
• Vị trí của từ “Ai” đứng giữa trong Truyện Kiều :
ở vị trí này từ “Ai” chiếm một số lợng khá nhiều, cao nhất so với các vị tríkhác Với 75 từ chiếm khoảng 66,37% Mặc dù chiếm một vị trí rất cao, nhngkhi đi vào nghiên cứu chúng tôi không lu ý nhiều đến tỷ lệ này tỷ lệ phầntrăm cao song từ “Ai” xuất hiện ở giữa các dòng câu có vị trí không ổn định,lúc thì ở vị trí thứ hai, lúc thì ở vị trí thứ 3, lúc thì ở vị trí thứ 5,6,7 Nh vậy,khi nói từ “Ai” xuất hiện ở giữa những dòng ca dao là có ý chí tất cả các vị tríkhác nhau mà từ “Ai” tồn tại Đó cũng là nguyên nhân khiến cho tỷ lệ phầntrăm từ “Ai” xuất hiện ở vị trí này nh vậy
Đợc thể hiện cụ thể sau:
Mặc dù không xem tỷ lệ phần trăm cao từ “Ai” xuất hiện ở vị trí trên
là yếu tố đáng quan tâm, nhng chúng tôi lại lu ý đến những cặp câu trong tácphẩm có từ “Ai” xuất hiện không phải chỉ một lần mà còn hai, thậm chí balần ở những vị trí khác nhau
- Kiều nói khi khuyên Từ Hải
Trang 202495 - Làm chi để tiếng về sau Nghìn năm ai có khuyên đâu Hoàng Sào
Sao bằng lộc trọng quyền cao Công danh ai dứt lối nào cha qua
Qua một số cặp câu dẫn chứng trên ta thấy vị trí ở giữa của các dòngcâu là hoàn toàn khác nhau Nếu ở câu 2495 “Ai” đứng ở thứ ba của câu bátthì sang câu 3091 “Ai” lại đứng ở vị trí thứ năm, sáu của câu bát ở câu 1793
“Ai” đứng ở vị trí thứ bảy của câu bát, và tất nhiên ý nghĩa phát ngôn củanhững từ “Ai” này là không giống nhau Điều này sẽ đợc trình bày cụ thểtrong phần sau của luận văn này, trong tơng quan so sánh với “Ai” trong cadao
• Vị trí của từ “Ai” đứng cuối trong Truyện Kiều:
Nếu ở vị trí đầu “Ai” chiếm với tần số rất thấp thì trong vị trí giữa
“Ai” lại chiếm với tần số cao đột ngột (mặc dù sự giao động giữa các vị trí làkhông ổn định) và đến vị trí cuối cùng “Ai” lại xuất hiện với tần số cũng tơng
đối, nhng điều đáng nói là “Ai” ở vị trí này là cố định và có thể nói là chiếm
tỷ lệ cao Với 31 từ đứng cuối, chiếm 27,43%
Cụ thể:
Đề tài Tình yêu
Trang 21- Đã nguyền hai chữ đồng tâm Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai
- Nợ tình cha trả cho ai Khối tình mang xuống tuyền đài cha xong
- Phẩm tiên rớt rớt xuống tay hèn Hoài công nắng giữ ma gìn với ai
2.3 Nhận xét:
Không ngẫu nhiên “Ai” đứng cuối trong Truyện Kiều lại chiếm một vịtrí khá cao nh vậy So với ca dao thì đây hoàn toàn có sự khác biệt, điều này
có nguyên nhân riêng của nó Có thể là do sự sáng tạo riêng của tác giả, cũng
có thể do hoàn cảnh của nhân vật trong tác phẩm
Qua khảo sát, thống kê và phân loại từ “Ai” trong ca dao và TruyệnKiều đã đợc trình bày ở trên chúng tôi thấy có một số vấn đề đáng lu ý nhsau:
Với số lợng là 993 bài lục bát có sử dụng “Ai” trong đó có tới 1.323
từ đứng ở các vị trí đầu, giữa, cuối khác nhau và đợc giữ ở nhiều chủ đề khácnhau Trong đó ở chủ đề tình yêu chiếm tần số cao nhất và vị trí của từ đứng
đầu các bài cũng giữ vị trí cao
ở Truyện Kiều: Con số này khiêm tốn hơn nhiều với 3254 câu thơ lụcbát trong đó có 113 dòng câu có sử dụng từ “Ai” và cũng có 113 từ “Ai” giữ
Trang 22ở các vị trí khác nhau vị trí ở giữa chiếm tần số cao nhất 75 từ chiếm khoảng66,37% chỉ xoay quanh chuyện tình yêu của nàng Kiều.
So với Ca dao thì việc sử dụng từ "Ai" trong Truyện Kiều chiếm số ợng thấp
l-Rõ ràng, qua khảo sát, thống kê chúng ta đã thấy rõ cả ca dao vàoTruyện Kiều đều sử dụng từ "Ai" tuy có khác nhau về mức độ và cách thứcthể hiện
Trang 23Chơng 2 Những điểm tơng đồng về cách sử dụng từ “Ai”
trong ca dao và Truyện Kiều.
1- Từ “Ai” đợc dùng với t cách là đối tợng trữ tình.
1.1 Đối tợng trữ tình:
Đối tợng trữ tình là nhân vật đợc chủ thể trữ tình nhắc đến, đề cập đếntrong lúc trữ tình, đang bộc lộ tình cảm hay trong một hoàn cảnh nào đó Đốitợng trữ tình có thể đứng ở ngôi thứ hai, hoặc thứ ba, nhng thông thờng thì nógiữ ở vị trí ngôi thứ hai
1.2 Đối tợng trữ tình trong ca dao và Truyện Kiều.
Từ “Ai” giữ những vai trò khác nhau, có khi “Ai” đợc nhắc đến với tcách là đối tợng trữ tình, có khi “Ai” đợc nhắc đến với t cách là chủ thể trữtình, có khi “Ai” vừa là đối tợng vừa là chủ thể
Qua tìm hiểu thống kê một số câu lục bát có sử dụng “Ai” trong “Khotàng ca dao ngời Việt” và trong câu thơ “Truyện Kiều” Chúng tôi thấy hầu hếtnhững từ “Ai” đó đợc xuất hiện bởi lời nói của các nhân vật Nếu trong ca dao lờinói đó đợc nói bởi quần chúng nhân dân thì trong Truyện Kiều đợc nói bởi cácnhân vật cụ thể, đó là: Kiều, Kim Trọng, Thúc Sinh …
Ca dao: Ai làm cho bớm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vờn hồng.
Truyện Kiều: Vẻ chi một đoá yêu đào
Vờn hồng chi dám ngăn rào chim xanh
Truyện Kiều phảng phất mà đậm đà, đằm thắm một “bản sắc trữ tình’’thấp thoáng trên những trang Kiều ta thấy bóng dáng của ca dao, của thơ Đ-ờng, của “Chinh phụ ngâm” và ngợc lại trên những dòng ca dao ta thấy bóngdáng câu Kiều Bản sắc ấy đợc xây dựng nên bởi nhiều yếu tố, trong đó có
Trang 24phần đóng góp của nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đợc tạo bởi những tìnhhuống đối thoại sâu sắc nhờ vào cách vận dụng từ “Ai”
Chúng ta biết “Ai” là một đại từ phiếm chỉ nó đợc chỉ bởi nhiều đối ợng khác nhau Nhng trong giới hạn chơng này chúng tôi chỉ đi vào ba phạmtrù chính nh trên đã nêu
t “Ai” với t cách là đối tợng trữ tình:
Với 993 bài ca dao lục bát có sử dụng “Ai” trong đó ở đề tài tình yêu
đôi lứa chiếm 217 từ và số từ giữ vị trí đối tợng trữ tình là 62 Với TruyệnKiều 3254 câu trong đó có 113 từ “Ai”, trong đó có 20 từ giữ địa vị là đối t-ợng trữ tình So với Ca dao thì Truyện Kiều chiếm một phần nhỏ, tuy nhiên
điều chúng tôi muốn nói đến là sự giống nhau nh thế nào đối với đối tợng trữtình của Ca dao và Truyện Kiều ?
Nêu đợc tổng thể câu Ca dao trữ tình và Truyện Kiều lên văn bản là rấtkhó, vì vậy chúng tôi có gắng chắt lọc những cặp câu tiêu biểu đợc thể hiện
cụ thể qua bảng sau:
Đối tợng trữ tình:
Ca dao 62 dòng thơ/217 bài Truyện Kiều 20 dòng thơ/3254 câu
- Ai làm cái số anh cao
Cái duyên anh xấu má đào anh phai
KTCDNV -câu 156/tr1248
- Mình anh vừa chống vừa chèo
Lấy ai đạp lái kéo lèo cho anh
KTCDNV câu 293/Tr1358
- Nợ tình cha trả cho ai Khối tình mang xuống tuyền đài cha tan
Câu 709 - Tr 54
- Hở môi ra cũng thẹn thùng
Để lòng thì phụ tấm lòng với ai
121 - Tr55
- Năm canh giấc điệp mơ màng
Trông cho mau sáng vội vàng bớc ra
Thơ ai mà bỏ ngõ ta
Thấy con chim én sang qua ngõ chàng
Hay chăng thơ gửi vội vàng
- Vi lô san sát hơi may Một trời thu, để riêng ai một ngời
931 -Tr63
- Tức gan riêng giận trời già Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng?
Trang 25Xem thơ luỵ ứa hai hàng thấm bâu
- Ai về tôi gửi buồng cau
Buồng trớc kính mẹ buồng sau kính thầy
Ai về tôi gửi đôi giày
Phòng khi ma nắng cho thầy mẹ đi
198 - Tr 93
1069 - Tr69
- Nàng rằng: Trời nhẽ có hay Quyến anh rủ yến sự này tại ai
1553 -Tr 90
- Nhân làm sao đến thế này Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi
Ca dao:
- Thơng ai đứng bến anh trông Nhớ ai anh dựa bình phong than dài
Trang 26- Thơng ai em đứng em trông Nhớ ai mỏi mắt bến sông đợi chờ
KTCDNV - Câu 570, 571 - Tr 2108 Truyện Kiều:
- Đừng điều nguyệt nọ hoa kia Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai (TK - Câu 461)
Kết quả là tình yêu của nam nữ thanh niên ở nông thôn vợt qua đợcbức tờng thành của lễ giáo phong kiến Giữa vòng vây của thứ lễ giáo nghiệtngã, ngời ta thấy vang lên từ sau luỹ tre xanh, giữa cánh đồng bát ngát,những giọng ca trữ tình trong trắng và tơi đẹp nh ánh trăng, nh dòng suối.Tình yêu trong ca dao là tình yêu lành mạnh, thắm thiết, hồn nhiên vợt rangoài lễ giáo phong kiến, thứ xiềng xích muốn kìm hãm ngàn đời cho “nam,nữ thụ thụ bất thân”
Có thể nói ca dao đã ghi lại tất cả các chặng đờng của tình yêu, cáctrạng thái tình cảm của nam nữ thanh niên với những trắc trở, khó khăn, do
đời sống và chế độ phong kiến gây, nên ca dao trữ tình là một thiên tình camuôn điệu
Tình yêu của nam nữ thanh niên ở nông thôn là thứ tình yêu liên quan
đến đồng ruộng, đến xóm làng nh nhớ tình yêu thì nhớ cả quê hơng, nhớ cảthức ăn, thức uống ngon lành, nhớ cả những công việc vất vả hàng ngày
Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tơng
Nhớ ai dãi nắng dầm sơng Nhớ ai tát nớc bên đờng hôm nao!
Trong cảnh lầm than, tình yêu của nhân dân lao động Việt Nam vẫnthắm thiết, có khi còn thêm gắn bó bằng lời keo sơn, nên trong sinh hoạt khókhăn và gian khổ, họ vẫn hăng hái và bền bỉ Những câu biểu hiện ý chí sắt
đá của những ngời bạn tình có rất nhiều trong ca dao Việt Nam
Trang 27Trong tình yêu thắm thiết, thờng xẩy ra những hờn ghen và giận tủi.Những lời dặn dò của họ gần giống nh lời thề thốt, đôi bạn tình thờng nhắcnhớ nhau những cảnh khổ mà họ đã từng qua tình yêu ở đây gắn liền với thứtình cảm xót xa của những ngời cùng chung cảnh khổ
Trong ca dao Việt Nam, những bài nói về tình yêu nam, nữ là nhiềuhơn cả, những nỗi nhớ nhung khi xa cách, những nỗi lo lắng trong khi bảo vệtình yêu chung thuỷ, những đau thơng khi xẩy ra những cản trở làm cho ớcnguyện không thành… Tất cả những tình cảm vui buồn ấy, nhân dân ViệtNam đã thổ lộ trong ca dao, làm cho ca dao có tính chất trữ tình sâu sắc [11,56-57]
Chẳng hạn nh bốn dòng thơ sau:
- Thơng ai đứng bến anh trông Nhớ ai anh dựa bình phong than dài
- Thơng ai em đứng em trông Nhớ ai mỏi mắt bến sông đợi chờ.
Qua bốn dòng thơ dung dị ta thấy hình ảnh chàng trai và cô gái đã hiệnlên Hình nh chàng trai và cô gái cùng chung tâm trạng, đó là đang chờ đợimột ai đó, phải chăng chàng trai đang mong mỏi chờ ngời thơng và cô gáicũng không thể vợt qua tâm trạng đó Thế nhng họ không dám nói thực, rằng
là “Thơng “em” đứng bến anh trông, nhớ “em” anh dựa bình phong than dài”
mà chỉ nói đợc bằng từ “Ai” Ta thấy “Ai” ở đây là đối tợng trữ tình, nghĩa là
đối tợng đợc chàng trai (cô gái) nói đến Sở dĩ chàng trai (cô gái) xng nh vậytạo ra đợc giọng điệu khách quan làm cho cả chủ thể trữ tình và đối tợng trữtình đỡ phải bỡ ngỡ, ngại ngùng Trong ca dao ta hay gặp hiện tợng này, bởitrai gái ngày xa yêu nhau họ đâu có đợc tự do nh bây giờ, ít nhiều họ cũng bịchịu ảnh hởng của t tởng xã hội và phong tục ngàn đời của dân tộc Việt buộc
họ phải xng “Ai” lên, biết rằng “Ai” đó là ai rồi, là ngời mà chàng trai (côgái) yêu thơng, nhung nhớ họ mợn từ “Ai” làm cho câu chuyện thêm phần
Trang 28mơ hồ, là ngời ngoài cuộc khó mà biết đợc “Ai” đó là ai, là một chàng trai(cô gái) cụ thể nào Chỉ có chủ thể trữ tình mới biết rõ đối tợng đó là ai.
Hay nh bài ca dao sau:
Năm canh giấc điệp mơ màng Trông cho mau sáng vội vàng bớc ra
Thơ ai mà bỏ ngõ ta Thấy con chim én sang qua ngõ chàng
Hay chăng thơ gửi vội vàng Xem thơ luỵ ứa hai hàng thấm bâu.
KTCDNV - câu 62 - Tr 1468
Ta thấy hình ảnh của đối tợng trữ tình đợc thể hiện qua từ “Ai” thật rõnét, và chủ thể trữ tình trong bài ca dao trên là cô gái Ta thấy cô gái trongbài ca dao này cùng tâm trạng với cô gái trong bài ca dao trớc đó Cô cũngbâng khuâng nhung nhớ, đến nỗi trong giấc ngủ cũng bị ám ảnh bởi hình ảnhcủa ngời mình thơng yêu “giấc điệp mơ màng”, “trông cho mau sáng vộivàng bớc ra” Tâm trạng của những ngời đang yêu họ có cái khác thờng, họ
nh mong muốn đất trời thu hẹp lại để họ đợc gần nhau hơn, hay họ khôngmuốn hoàng hôn buông xuống mà họ chỉ muốn thế gian mãi là một vầngsáng để họ đợc nhìn thấy nhau mãi mãi
“Thơ ai mà bỏ ngõ ta, thấy con chim én sang qua ngõ chàng” còn thơ
ai đó nữa, chính chú chim én kia đã đa đờng chỉ lối cho nguồn gốc của bức
th kia Nhng tại sao “Ai” kia không sang để cho lòng nàng phải thơng nhớtrong giàn dụa lệ sầu cô gái thật tài tình và thông minh khi gọi ngời mình th-
ơng mến, là đối tợng trữ tình kia bằng “Ai’ Chỉ một từ thôi nhng cũng đủ đểthấy đợc cái dung dị của ý nghĩa, lời nói cô gái vừa là gần gũi vừa nh xa lạ,vừa yêu thơng vừa trách móc Đó là với ca dao, ca dao không xác định đợc
đích thực chàng trai (cô gái) đó là ai, tức đối tợng trữ tình cũng không có tínhxác định rõ
Trang 29Đến Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du ta cũng gặp rất nhiều cáchdùng từ giống ca dao Cũng dùng “Ai” để nói lên đối tợng trữ tình Tuy nhiên
“Ai’ trong “Truyện Kiều” ta có thể xác nhận đợc ai nói, và “Ai” đợc nói tới
là "Ai"
Chẳng hạn:
““Nợ tình cha trả cho ai Khối tình mang xuống tuyền đài cha xong““
Truyện Kiều câu 709 - Tr 54Xoay quanh “Truyện Kiều” là câu chuyện tình giữa nàng với KimTrọng, Thúc Sinh, anh hùng Từ Hải… Do hoàn cảnh xã hội buộc số phậnnàng bị đa đẩy, tình yêu không trọn vẹn Nhng không phải vì thứ lễ giáo khắcnghiệt đó mà nàng phải co mình Khác với những ngời con gái khác, thì vớinàng, nàng đã đến đợc với ngời mình yêu, là Kim Trọng hai ngời đã kịp traonhau những kỷ vật và tâm t thơng mến, ớc hẹn lứa đôi Đây là một bớc ngoặt
đánh dấu sự vợt ngỡng trong cuộc đời nàng
Cũng nh trong ca dao, ở câu thơ này nàng đã dùng từ “Ai” để nói lên
đối tợng mình muốn nói (tức Kim Trọng) Đây là lời nàng Kiều than vãn vớiThuý Vân rằng là giữa nàng và Kim Trọng đã “nghĩa nặng tình sâu”, không
dễ gì mà quên đợc trong ngày một, ngày hai hay cho đến lúc “xuống tuyền
đài” cũng không thể nguôi đợc Ta biết nợ ở đây là “duyên nợ’ là “duyên đôilứa nghĩa vợ chồng” nó thiêng liêng và đằm thắm, nó nh thấm sau vào tâmkhảm khó phai mờ Nếu Kiều nói đích thực tên chàng trai kia là Kim Trọngthì câu chuyện gần nh chẳng có gì để nói nữa, thế nhng nàng lại dùng từ “Ai”
nh xoáy sâu vào tâm trạng tự trách mình
Đó là lời của nàng Kiều nói về đối tợng cần nói đến là Kim Trọng.Ngoài ra đang còn rất nhiều lời của các nhân vật khác nói về những đối tợngkhác nh:
- Kiều nói về Sở Khanh:
Nàng rằng: Trời nhẽ có hay
Trang 30Quyến anh rũ yến sự này tại ai.
2 - Từ “Ai“ đợc dùng với t cách là chủ thể trữ tình:
2.1 - Chủ thể trữ tình:
Là ngời trực tiếp bộc lộ tâm t tình cảm, ý nghĩ, nguyện vọng của mìnhvới một đối tợng nào đó, nhng có thể do hoàn cảnh hay vì một nguyên nhânnào đó mà họ không thể dùng đích thực đợc tên riêng của mình buộc họ phảithay vào đó một đại từ phiếm chỉ “Ai” nhằm thể hiện đợc tình cảm và ýmuốn của mình
2.2 - Chủ thể trữ tình trong ca dao và Truyện Kiều: