1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

LỊCH SỬ Lá Cờ Quốc Kỳ Việt Nam (Bài Tập Tìm Hiểu)

53 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Lá Cờ Quốc Kỳ Việt Nam
Trường học Hà Nội
Thể loại báo cáo tổng kết đề tài môn học
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 578,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỊCH SỬ Lá Cờ Quốc Kỳ Việt Nam (Bài Tập Tìm Hiểu) là một bài tập mà mình đã thực hiện ở năm nhất Đại học môn Lịch sử. Đây là chủ đề mình được giao (bài tập cá nhân) và thuyết trình trước lớp. Có thể nói, đây là bài tập đầu tiên (bài thuyết trình đầu tiên) khi mình mới đặt chân lên giảng đường Đại học, nên cá nhân mình làm khá là chỉn chu, hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn. Thân ái

Trang 1

LÁ CỜ QUỐC KỲ VIỆT NAM

Trang 2

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI MÔN HỌC

I SỰ XUẤT HIỆN CỦA Ý NIỆM QUỐC KỲ TRONG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

1 Ý niệm Quốc kỳ trong lịch sử nhân loại

Việc dùng một vật liệu bất kỳ hay một tấm vải có màu sắc và hình thức nhấtđịnh để biểu tượng cho một nhân vật, một gia tộc lãnh đạo hay một cộng đồngchính trị đã có từ ngàn xưa Trong các cuộc giao tranh dữ dội trên các bãi chiếntrường cổ kim, binh sĩ hai bên đối đầu nhau đều lấy cờ của “phe mình” làmđiểm hội tập và đều tận lực tranh đấu, thường khi phải hy sinh cả tánh mạng đểbảo vệ nó Trong lịch sử quân sự của mọi cộng đồng chính trị, việc cắm được cờcủa “bên mình” trên đất địch hay cướp đoạt được cờ của quân lực địch đều đượcxem là một chiến công rạng rỡ

Tuy nhiên, trước cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, phần lớn các nước trên thếgiới đều theo chế độ quân chủ hoặc quân chủ chuyên chế, trong đó chỉ có mộtnhà vua nắm trọn quyền lãnh đạo và được xem là sở hữu chủ duy nhất của quốcgia, hoặc là quân chủ phong kiến, trong đó bên dưới nhà vua còn có những nhà

Trang 3

quý tộc làm chủ các lãnh địa, và có khi có những lâm ấp; thị xã; vùng tự trị,trong đó quyền điều khiển thuộc một nhóm người hào phú địa phương Một sốcộng đồng chính trị nhỏ thời đó đã theo chế độ “Cộng Hòa” hay “Dân Quốc”.Với chế độ này, quyền lãnh đạo cộng đồng thuộc về một vài thế gia cự tộc Cáccộng đồng chính trị kể trên đây đều độc lập hoàn toàn hay phải tùy thuộc mộtcộng đồng chính trị lớn hơn, đều có lá cờ làm biểu hiệu cho mình Nhưng vìcộng đồng được xem là vật sở hữu của một gia tộc hay một thiểu số gia tộc lãnhđạo nên lá cờ của cộng đồng cũng được xem như là lá cờ của gia tộc hay các giatộc đó.

Ý niệm quốc kỳ biểu tượng cho toàn thể quốc dân chỉ mới xuất hiện với cuộcCách Mạng Pháp năm 1789 Với cuộc cách mạng này, quốc gia không còn đượcxem là vật sở hữu của một gia tộc mà là vật sở hữu chung của toàn thể mọingười sống trong cộng đồng Hệ luận của quan niệm mới này là lá cờ một nướckhông còn là biểu tượng của gia tộc lãnh đạo mà là biểu tượng của toàn thể

quốc dân Người Pháp đã dùng từ ngữ drapeau national để chỉ loại cờ này.

Quan niệm của người Pháp dần dần được người các nước khác chấp nhận, và

người thuộc các dân tộc nói tiếng Anh đã dùng từ ngữ national flag khi nói đến

lá cờ của mình Drapeau national của Pháp và national flag theo tiếng Anh đã

được người Việt Nam chúng ta dịch là quốc kỳ hay cờ quốc gia.

Về mặt thực hiện cụ thể thì lá quốc kỳ đầu tiên trên thế giới là cờ tam sắc củaPháp gồm ba màu xanh, trắng, đỏ, xếp ngang nhau theo thứ tự vừa kể Sự hìnhthành của lá cờ này là kết quả của một sự thương lượng giữa hoàng gia Pháp vànhân dân thị xã Paris Lá cờ tiêu biểu cho hoàng gia Pháp từ nhiều đời vốn nềntrắng trên có thêu một hoa huệ màu vàng Thời quân chủ Pháp, Paris là một thị

xã được hưởng quyền tự trị và có lá cờ riêng gồm hai màu xanh và đỏ xếpngang nhau Khi người dân Paris nổi lên làm cách mạng đòi hỏi chính quyền cải

Trang 4

tổ chế độ, họ vẫn còn chấp nhận nền quân chủ Nhà vua Pháp lúc đó là LouisXVI một mặt vì nhu nhược, một mặt vì thiếu phương tiện nên không thể dùng

võ lực đối phó một cách quyết liệt với phong trào cách mạng và chịu chấp nhậncác yêu sách của nhân dân Paris Do đó, hai bên đã đồng ý với nhau lấy cờ củahoàng gia và cờ của thị xã Paris trộn lại làm huy hiệu cho nước Pháp Nhà vua

là quốc trưởng nắm quyền hành pháp nên màu trắng của cờ hoàng gia được đặt

ở giữa, hai màu xanh đỏ của cờ thị xã Paris được ghép hai bên thành một huyhiệu tam sắc Huy hiệu này dần dần được phổ biến khắp nơi trong nước, và đếnnăm 1793, Quốc Ước Hội Nghị đã chính thức biểu quyết lấy cờ tam sắc làmquốc kỳ cho nước Pháp

Phải nói rằng về mặt thẩm mỹ, cờ tam sắc này rất đẹp Mặt khác, Cách MạngPháp thời đó lấy làm tiêu ngữ ba khẩu hiệu Liberté – Égalité – Fraternité là Tự

Do – Bình Ðẳng – Bác Ái Ba màu của quốc kỳ Pháp được xem là tiêu biểu cho

ba tiêu ngữ trên đây: màu xanh tiêu biểu cho tự do; màu trắng tiêu biểu cho bìnhđẳng và màu đỏ tiêu biểu cho bác ái Cờ tam sắc của Pháp đã đẹp mà còn đượcgiải thích một cách đầy đủ ý nghĩa tượng trưng rất phù hợp với lý tưởng chungcủa nhân loại nên quốc dân Pháp đã nhiệt liệt hoan nghinh nó và chấp nhận nólàm biểu tượng cho mình Về sau, nhiều nước Tây Phương khác chịu ảnh hưởngcủa Cách Mạng Pháp đã chọn ba màu xanh, trắng, đỏ, làm quốc kỳ với nhữnggiải thích hơi khác nhau, nhưng vẫn dùng ba màu này làm tiêu biểu cho các lýtưởng tự do, bình đẳng và bác ái là nền tảng chung của các xã hội dân chủ tự do

2 Lá cờ đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam với tư cách là Quốc kỳ

Cho đến trước năm 1945, Việt Nam không có quốc kỳ chính thức Phải đếnnăm 1945, cùng với việc thành lập Đế Quốc Việt Nam thì quốc kỳ đầu tiên mớiđược ban bố áp dụng Không chỉ Việt Nam mà ở các nước quân chủ cổ các thời

Trang 5

khác trước đây, các lá cờ chỉ được dùng để làm biểu tượng cho một triều đạihoàng gia; một đạo quân hay một nhà lãnh đạo.

Hiệu kỳ của các triều đại Đông Phương được các nhà sáng lập chọn lựa màutheo sự tính toán dựa vào thuyết của học phái Âm Dương Gia, nghiên cứu về sựthạnh suy của Ngũ Hành lưu chuyển trong vũ trụ, sao cho triều đại ấy hợp vớimột Hành đang hưng vượng Ngoài cờ chung của triều đại, mỗi nhà vua đều có

thể có lá cờ riêng của mình - Đế kỳ - nhưng các lá cờ này chỉ để biểu tượng cho hoàng gia Một viên tướng cầm đầu một đạo quân cũng có lá cờ riêng - Soái kỳ -

biểu trưng cho đạo quân của mình Đế kỳ và Soái kỳ thường có màu được xem

là hợp với “mạng” của vị cầm đầu đó: Người mạng Kim thì cờ màu trắng; mạngMộc: màu xanh; mạng Thủy: màu đen; mạng Hỏa: màu đỏ; mạng Thổ: màu

vàng Ý niệm Quốc kỳ biểu tượng cho cả quốc gia, dân tộc chỉ xuất hiện ở Việt

Nam chúng ta vào giai đoạn dân tộc bị lọt vào ách cai trị của thực dân Pháp

Nguyên lúc đó, người Pháp đã thua Ðức và rất suy yếu Họ không còn đủquân lực để bảo vệ các thuộc địa xa xôi Riêng ở Ðông Dương thì người Nhậtlợi dụng sự suy yếu của Pháp, đòi quyền đem binh vào chiếm đóng đất này đểlấy nó làm bàn đạp phong tỏa phía nam Trung Hoa và tiến đánh Ðông Nam ÁChâu với dụng ý chinh phục cả Á Châu Chính phủ Pháp không thể từ chối lờiđòi hỏi của Nhật, và viên Toàn Quyền thời đó là Ðề Ðốc Decoux có nhiệm vụphải chịu hợp tác với quân chiếm đóng Nhật, đồng thời cố gắng đến tối đa đểbảo vệ quyền lợi Pháp ở Ðông Dương Ý thức rằng chính sách thực dân Pháptrước Thế Chiến II làm bất mãn người Việt Nam mọi giới, Toàn Quyền Decoux

đã áp dụng một chính sách hai mặt: Một mặt triệt để đàn áp các phần tử cáchmạng chống Pháp; một mặt xoa dịu người Việt Nam nói chung Trong khuônkhổ của mặt thứ nhì trong chính sách này, ông đã có những biện pháp nâng cao

uy tín của các nhà vua Ðông Dương

Trang 6

Hoàng Ðế Bảo Ðại nhân cơ hội này đã đưa ra một vài cải cách và ban chiếu

ấn định quốc kỳ của nước Ðại Nam Quốc kỳ này tên là cờ Long Tinh, nền vàngvới một sọc đỏ nằm vắt ngang ở giữa Cờ long tinh được dùng trên lãnh thổ ÐạiNam, nghĩa là ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, vì Nam Kỳ lúc đó vẫn là thuộc địa Pháp

và vẫn phải dùng lá cờ tam tài của Pháp

II QUỐC KỲ VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN

1 Long Tinh Kỳ ( 1802 - 1885 ): Quốc kỳ Nguyên thủy của triều đình nhàNguyễn

Long Tinh Kỳ

Cờ Long Tinh, hoặc Long Tinh kỳ (Hán - Việt: 龍星旗) của triều Nguyễntrong giai đoạn 1802 - 1885 là một lá cờ viền vảy rồng màu xanh da trời, bêntrong là hình chữ nhật màu vàng và chính giữa vẽ hình ngôi sao màu đỏ

Cờ Long Tinh là loại cờ biểu tượng nhà vua Cờ Long Tinh một băng đỏ trênnền vàng thì có từ triều Khải Định có thể vào khoảng thập niên 1910 vì trong

Trang 7

chuyến tuần di ra Bắc Kỳ năm 1918 đã thấy nhắc tới "cờ An Nam" treo cùngvới tam tài của Pháp và "các nước đồng minh" để thần dân nghinh tiếp nhà vua

ra thăm quý hương Thanh Hóa rồi ra Hà Nội, Hải Phòng Đến năm 1922 thì lá

cờ này lại theo nhà vua trong chuyến sang Pháp cùng những lễ nghi khi triềuđình thiết lễ "Tứ tuần khánh thọ" mừng nhà 40 tuổi năm 1925 và được coi nhưquốc kỳ Sang triều Bảo Đại lá cờ này vẫn tồn tại cho tới năm 1945 khi Chínhphủ Trần Trọng Kim chính thức chọn cờ quẻ Ly làm quốc kỳ của Đế quốc ViệtNam

Long Tinh Kỳ triều Nguyễn (1920 - 1945)

Ý nghĩa cũ của lá cờ:

Long Tinh Kỳ một lá cờ vảy rồng với 3 màu là Lam - Vàng - Đỏ với ý nghĩalúc đầu của nó là: Kỳ là cờ Long là Rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màuvàng Râu tua màu xanh dương chung quanh tượng trưng cho Tiên và cũng làmàu đại dương, nơi Rồng cư ngụ Tinh có nghĩa là ngôi sao trên trời, mà cũng

có nghĩa là màu đỏ Màu đỏ còn biểu tượng cho phương Nam và cho lòng nhiệtthành Long Tinh Kỳ là Cờ Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu hiệu cho mộtdân tộc có nguồn gốc Rồng Tiên ở phương Nam vùng nhiệt đới

Lá cờ này từng được vua Gia Long cắm trên quần đảo Hoàng Sa để khẳngđịnh chủ quyền của đất nước vào năm 1816

Trang 8

Ý nghĩa ngày nay:

Màu đỏ của ngôi sao hình tròn (theo quan niệm phương Đông) tượng trưngcho ước vọng tỏa sáng

Màu vàng của lá cờ, ngoài ý nghĩa là của Hoàng Gia, thì ngày nay còn làbiểu tượng cho toàn Việt tộc với ý nghĩa màu da vàng

Vảy rồng màu xanh da trời thể hiện ước vọng hùng cường của dân tộc, sẽ trởthành một con rồng châu Á

Ngoài ra, việc sử dụng lại Long Tinh Kỳ là sự tiếp nối truyền thống theo đạo

lý Uống nước nhớ nguồn; ăn quả nhớ kẻ trồng cây; chim có tổ, người có tôngcủa dân tộc Đó cũng là niềm kiêu hãnh và là niềm tự hào của dân tộc Đó từng

là một lá cờ thống nhất, không chia rẽ, một lá cờ tồn tại trong suốt thời gian độclập lâu dài, ngay cả khi chống Pháp xâm lược, các lực lượng chống Pháp chốngTriều (Trương Đinh) cũng đã sử dụng nó như một lời nhắc nhờ rằng “NamQuốc Sơn Hà, Nam đế cư” là của người Việt Nam chứ không phải là của nướcPháp

Đây vốn dĩ là môt lá cờ của một quốc gia thống nhất, tồn tại trong 1 khoảngthời gian khá dài (83 năm) trong suốt thời kỳ độc lập của vương triều Nguyễn.Long Tinh Kỳ thực sự là một lá cờ xứng đáng là quốc kỳ của nước Việt muônđời

Trang 9

2 Đại Nam Kỳ ( 1885 - 1890 )

Đại Nam Kỳ

Từ khi Pháp tấn công lãnh thổ Việt Nam, Long Tinh Kỳ (nền vàng viền xanhchấm đỏ) vẫn được dùng như biểu tượng quyền lực của nhà Nguyễn nhưng đếnnăm 1885, người Pháp không chấp thuận cho vua Đồng Khánh dùng Long Tinh

Kỳ nữa vì lá cờ này thể hiện sự chống đối Pháp (vua Hàm Nghi dùng lá cờ nàykhi chống Pháp) Triều đình Đồng Khánh dùng lá cờ mới cũng có nền vàng,nhưng màu đỏ thì gồm hai chữ Hán Đại Nam, quốc hiệu của nước Việt Nam lúc

đó, và lá cờ có tên Đại Nam Kỳ Tuy nhiên, những chữ viết trên lá cờ khôngthực sự giống với các nét chữ Hán của quốc hiệu Đại Nam (大南)

3 Đại Nam Quốc Kỳ - Cờ Vàng Ba Sọc đỏ

Trang 10

Đại Nam Quốc Kỳ - Cờ Vàng Ba Sọc đỏ

Lá cờ vàng ba sọc đỏ này còn được tiếp tục sử dụng cho đến khi vua DuyTân bị chính quyền Liên Minh Pháp - Vatican truất phế vào năm 1916 và đượcthay thế bằng lá cờ Long Tinh (có nền vàng và một vạch đỏ lớn nằm vắt ngang,phần đỏ nhiều hơn phần vàng) Như vậy tuổi thọ của lá cờ vàng ba sọc đỏ lầnthứ nhất chỉ có 26 năm Vào năm này, chính quyền Bảo Hộ đưa Nguyễn PhúcBửu Đảo lên ngai vàng Bửu Đảo lấy vương hiệu là Khải Định và dùng cờ LongTinh (có mầu sắc và thiết kế như đã nói ở trên) làm cờ hiệu Cũng nên biết từnăm 1863 cho đến năm 1885, triều đình Huế dụng cờ Long Tinh Kỳ (nền vàng,viền xanh, chấm đỏ lớn ở giữa) làm cờ hiệu

Trang 11

Nói về lá cờ vàng ba sọc đỏ thời Thành Thái và Duy Tân, Bách Khoa ToànThư Wikipedia viết:

"Năm 1890, vua Thành Thái đổi sang dùng lá cờ có nền vàng ba sọc đỏ vắt

ngang Lá cờ này tồn tại qua các đời vua Thành Thái và Duy Tân, những ông vua chống đối Pháp, và do đó cũng được coi là biểu tượng chống Pháp Sau khi Thành Thái và Duy Tân bị Pháp bắt đi đày, Khải Định lên ngôi theo quan điểm thân Pháp đã thay đổi cờ Ông dùng cờ nền vàng và một sọc đỏ lớn vắt ngang,

và cũng gọi cờ này là cờ long tinh."

b Lá cờ Vàng Ba Sọc đỏ tái xuất hiện

Ngày 2 tháng 6 năm 1948, Chính Phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam (ThủTướng Nguyễn Văn Xuân) chính thức dùng lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ làmquốc kỳ và tiếp tục trong thời kỳ Quốc Gia Việt Nam (1948-1955) cho đến suốtthời Đệ Nhất Cọng Hòa (1955-1963) và Đệ Nhị Cọng Hòa (1963-1975) củanước Việt Nam Cọng Hòa (1955-1975)

Lá cờ này do họa sĩ Lê Văn Đệ vẽ và đã trình cho vua Bảo Đại chọn trongmột phiên họp ở Hongkong năm 1947, với ý nghĩa màu cờ tượng trưng cho

“máu đỏ, da vàng” của người Việt Nam và ba sọc tượng trưng cho ba miền Bắc,Trung, Nam Việt Nam Cờ có nền vàng với ba sọc đỏ và hai sọc vàng chen nhaunằm vắt ngang ở giữa, tượng trưng cho quẻ Càn trong Bát Quái, màu vàngthuộc hành Thổ và ở vị trí trung ương thể hiện cho chủ quyền quốc gia, màu đỏthuộc hành Hỏa và chỉ phương nam Bề ngang của mỗi sọc đỏ và vàng này bằngnhau và bề ngang chung của năm sọc bằng một phần ba bề ngang chung của lácờ

Trang 12

Cũng có một thông tin cho rằng nhà báo người Ý Tiziano Terani dựa theo lời

kể một linh mục Thiên Chúa Giáo tên là Trần Hữu Thanh, cho rằng người thiết

kế lá cờ này là ông Thanh do ông này đã có lần giải thích với ông Terzani vàotháng 6 năm 1975 khi Terzani viếng thăm Việt Nam sau sự kiện 30.4.1975 rằng

“ba sọc đỏ trên lá cờ tượng trưng cho ba miền của Việt Nam – Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), và Nam Kỳ (Conchin-China).

Hiện nay, lá cờ này không được phép sử dụng tại Việt Nam và cũng khôngcòn sử dụng tại Liên Hiệp Quốc Tuy nhiên qua “Chiến Dịch Cờ Vàng” tại Hoa

Kỳ, lá cờ này đã được chính quyền của nhiều thành phố và tiểu bang thuộc Hoa

Kỳ công nhận là “Lá Cờ Tự Do và Di Sản” (Heritage and Freedom Flag) và coi

như là biểu tượng cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại địa phương

c Ý nghĩa của cờ Vàng Ba Sọc Đỏ

- Về Phương Diện Màu Sắc:

Không những màu vàng và đỏ tượng trưng cho dân Việt da vàng máu đỏ màmàu quốc kỳ Việt Nam còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều, liên hệ đếnnhân-sinh-quan cùng vũ-trụ-quan của dân Việt Nói chung, màu vàng thuộchành Thổ (trong ngũ hành) nằm tại trung ương, vì thế màu vàng tượng trưngcho lãnh thổ và cho uy quyền sở-hữu-chủ của lãnh thổ này Màu đỏ thuộc hànhHỏa và nằm ở hướng Nam; do đó, màu đỏ chỉ dân tộc Việt ở phương Nam sovới Trung Hoa

- Về Phương Diện Chính Trị:

Nền vàng của lá quốc kỳ chỉ quốc gia và dân tộc Việt Nam và ba sọc đỏ tượngtrưng cho ba kỳ Quốc kỳ vàng mang hai ý nghĩa quan trọng: thứ nhất, tiêu biểu

Trang 13

cho chế độ tự do, dân chủ tại Việt Nam; thứ hai, tiêu biểu cho một quốc giathống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, có chính quyền lãnh đạo nhân dân trong lãnhthổ đó và nhân dân gồm tất cả 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Do đó,nước Việt không thể bị phân chia như thời Trịnh Nguyễn phân tranh, cắt nhượngcho bất cứ ngoại bang nào như Pháp đã chia Nam Kỳ thành một nước khác biệtvới Bắc và Trung Kỳ.

- Về Phương Diện Triết Lý:

Tương tự như quan niệm về vũ trụ gồm Trời ở trên, Đất ở dưới và Người ở giữa

mà tất cả hợp với nhau biến thái, chuyển dịch thành lẽ biến dịch của vạn vậttrong vũ trụ, lá Quốc Kỳ Việt Nam chính thống cũng được chọn thế nào để phùhợp hài hòa với lẽ biến dịch này Màu vàng thuộc hành Thổ, màu đỏ thuộc hànhHỏa và vận chuyển theo Ngũ Hành Tương Sinh thì Hỏa sinh Thổ nên thuận hợpvới nhau Như vậy, kết hợp hai màu vàng và đỏ làm thành quốc kỳ, chúng tanhấn mạnh cho Trung Quốc biết rằng dân Việt ở phương Nam là một dân tộc cólãnh thổ riêng và chủ quyền hoàn toàn trên đất nước ta như ý nghĩa bài thơ PhạtTống Lộ Bố Văn của Lý Thường Kiệt và bản Bình Ngô Đại Cáo mà NguyễnTrãi đã khẳng định

Tóm lại, Quốc kỳ vàng ba sọc đỏ đã từng được dùng làm biểu tượng chính thứccho một Quốc Gia Việt Nam chưa bị phân chia trước năm 1954; nên chi, quốc

kỳ vàng sẽ vẫn là biểu tượng chung của những người Việt quốc gia chân chính.Quốc kỳ vàng mang linh hồn của dân tộc Việt cùng tiêu biểu cho tinh thần bấtkhuất của dân Việt trong suốt chiều dài lịch sử thăng trầm từ thuở khai quốc đếnnay Quốc kỳ vàng đượm thắm máu đào của bao tiền nhân và anh hùng liệt sĩ đã

hi sinh xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, không phân biệt người dân sốngdưới thể chế chính trị Quốc Gia hay Cộng Sản, sắc tộc Kinh hay Thượng, hoặctôn giáo, phái tính, tuổi tác nào Vì thế, người Việt quốc gia có bổn phận phải

Trang 14

bảo vệ và phát huy chính nghĩa quốc gia tượng trưng bởi lá quốc kỳ chính thốngnền vàng ba sọc đỏ, lá cờ tiêu biểu cho tự do, công bằng và bác ái của truyềnthống dân Việt.

4 Cờ Bắc Trung Kỳ và cờ Nam Kỳ trong thời miền Nam thành thuộc địa Pháp

a Cờ Bắc Trung Kỳ

Sau khi hai vua Thành Thái và Duy Tân bị Pháp bắt đày đi Phi Châu, con củavua Đồng Khánh là Khải Định lên ngôi Giống như cha, Khải Định cũng là mộtvua bù nhìn và nổi tiếng nịnh Tây Vì vậy, đến năm 1920 thì Khải Định tuân lờiquan bảo hộ Pháp, xuống chiếu thay đổi Cờ Vàng Quốc Gia tượng trưng cho bamiền thống nhất, thành Cờ Vàng Một Sọc Đỏ, chỉ tượng trưng cho hai miền Bắc

và Trung của triều đình Huế mà thôi (còn miền Nam thì trở thành thuộc địa

Trang 15

cho một quốc gia chỉ còn hai miền Bắc và Trung, thuộc quyền bảo hộ Pháp Lá

cờ này trải qua đời vua Khải Định và tồn tại trong đời vua Bảo Đại, sau khi vuaKhải Định băng hà vào năm 1925 Sau khi lên ngôi vào đầu năm 1926 lúc mới

12 tuổi, vua Bảo Đại trao hết quyền cho “Hội Đồng Phụ Chính” với sự chỉ đạocủa Toàn Quyền Pháp rồi trở sang Paris tiếp tục học cho đến 1932 mới trở vềchấp chính Lá cờ Long Tinh vẫn được tiếp tục dùng làm biểu tượng của triềuđình Huế, lúc bấy giờ chỉ còn thẩm quyền cai trị hai miền Bắc và Trung dưới sựbảo hộ của Pháp

b Cờ Nam Kỳ thuộc địa

Cờ Nam Kỳ thuộc địa ( 1923 - 10/3/1945 )

Từ năm 1923, Nam Kỳ đã chính thức thành thuộc địa Pháp "Nam Kỳ Quốc", cóchính phủ riêng, quân đội riêng và đã có "quốc kỳ" khác với Long Tinh Kỳ CờNam Kỳ Thuộc Địa có nền vàng, với hình cờ Tam Tài của "mẫu quốc" Phápnằm trên góc trái Tuy nhiên, lá cờ tồn tại đến khi bị Nhật lật đổ vào 9 tháng 3năm 1945

5 Long Tinh Kỳ trong thời Nhật chiếm Đông Dương ( 11/3/1945 – 30/8/ 1945 )

Long Tinh Kỳ trong thời gian này có nền vàng, sọc đỏ bằng 1/3 cờ, gắn liền vớihai sự kiện tiêu biểu:

Trang 16

- Ngày 11/3/1945: Bảo Đại tuyên bố VN độc lập, Long Tinh Kỳ trở thành ĐếKỳ

- Ngày 30/8/1945: Bảo Đại thoái vị, Đế Kỳ cáo chung

Long Tinh Đế Kỳ

Một ngày sau khi Nhật đảo chánh Pháp, vua Bảo Đại đăng đàn tại Huế vào ngày11/3/1945, tuyên bố hủy bỏ hòa ước Quý Mùi 1883 và Giáp Thân 1884, ViệtNam thống nhất và độc lập, theo chế độ Quân Chủ tân thời như một số quốc giaTây Phương, và ủy nhiệm cho học giả Trần Trọng Kim thành lập chính phủ Sau

đó, vua Bảo Đại phân định cho Long Tinh Kỳ trở lại cương vị của Đế Kỳ, chỉtreo nơi Hoàng Thành Huế hoặc mang theo những nơi vua tuần du Long Tinh

Đế Kỳ cũng tương tự như Long Tinh Quốc Kỳ trong thời Pháp bảo hộ, nhưngnền vàng đậm hơn và sọc đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá cờ, để tương xứngvới cờ Quẻ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim

6 Cờ Quẻ Ly của quốc gia Việt Nam trong thời Nhật chiếm Đông Dương (tháng 6/1945 - 23/8/1945 )

Trang 17

Cờ quẻ Ly là một lá cờ có chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, nền vàng với một quẻ

Ly đỏ ở chính giữa

Cờ Quẻ Ly

Theo Kinh Dịch, Quẻ Ly có các ý nghĩa như sau:

“Trùng minh dĩ lệ hồ chính, nãi hóa thành thiên hạ.”

Dịch là: Hai lần sáng để bám vào chỗ chính, bèn hóa nên thiên hạ

Tượng viết: “Minh lưỡng tác; Ly, đại nhân dĩ kế minh chiếu hồ tứ phương.”

Dịch là: Lời Tượng nói rằng: Sự sáng hai lần dấy lên, là Quẻ Ly, bậc đại nhâncoi đó mà kế tiếp sáng soi ở bốn phương

Theo Kinh Dịch, trong Hậu Thiên Bát Quái của vua Văn Vương, Quẻ Ly chínhứng với phía Nam của đồ hình, tạo thành trục Bắc - Nam là Khảm - Ly Việchọc giả Trần Trọng Kim chọn Quẻ Ly làm quốc kỳ, còn mang một ý nghĩa khác

là quốc kỳ của nước phương Nam

Sau khi Đế quốc Nhật Bản đảo chính thực dân Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm

1945, Hoàng đế Bảo Đại khi đó đã tuyên bố nền độc lập trên danh nghĩa với sự

Trang 18

bảo hộ của Nhật Bản Ngày 11 tháng 3 năm 1945, ông tuyên bố hủy bỏ Hòa ướcQuý Mùi 1883 và Hòa ước Giáp Thân 1884 Chính phủ mới được thành lậpngày 17 tháng 4 năm 1945, đứng đầu là học giả Trần Trọng Kim - thường đượcgọi là Nội các Trần Trọng Kim Quốc hiệu được đổi thành Việt Nam Đế quốc,ngày 8 tháng 5 năm 1945 chọn cờ quẻ Ly làm quốc kỳ.

Cờ quẻ Ly về danh nghĩa là quốc kỳ của ba miền Bắc Kỳ - Trung Kỳ - Nam Kỳ,nhưng Nam Kỳ hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của Đế quốc Nhật Bản, lá

cờ duy nhất sử dụng tại đây là quốc kỳ Nhật Bản Ngày 14 tháng 8, Nhật Bảnđầu hàng khối Đồng Minh, Nam Kỳ được trao trả cho Việt Nam Đế quốc nhưng

16 ngày sau đó thì Hoàng đế Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị (chiều ngày 30 tháng8) trước sức ép của Mặt trận Việt Minh, chính thể Việt Nam Đế quốc cũng giảitán Bởi vậy, Nam Kỳ thực tế chưa bao giờ sử dụng cờ quẻ Ly

7 Cờ Đỏ Sao Vàng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời “Việt Nam Dân ChủCộng Hòa” ( 5/9/1945 - 20/12/1946 )

Cờ Mặt Trận Việt Minh

Với nền đỏ, sao vàng, cạnh sao hơi cong, cờ Mặt Trận Việt Minh đã trở thànhmột phần của lịch sử Việt Nam

Trang 19

- Ngày 5/9/1945: Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 5 dùng cờ Việt Minh làm Quốc

Kỳ, thay thế cờ Quẻ Ly

- Ngày 20/12/1946: Việt Minh rút vào bưng kháng chiến chống Pháp Cờ ViệtMinh tạm mất tư thế Quốc Kỳ

Lá cờ này xuất hiện lần đầu tiên tại Khởi nghĩa Nam kỳ năm 1940, và sau đó trởthành lá cờ của Việt Minh Sau khi Việt Minh giành được chính quyền, ngày 2tháng 9 năm 1945, cờ đỏ sao vàng chính thức xuất hiện trong buổi lễ Tuyên bốđộc lập tại quảng trường Ba Đình Nó được công nhận là quốc kỳ của nước ViệtNam Dân chủ Cộng Hòa theo sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ ChíMinh ngày 5 tháng 9 năm 1945, và được Quốc hội khoá 1 năm 1946 khẳng địnhlại Trong cuộc họp Quốc hội khóa I quy định cụ thể về quốc kỳ ngày 2 tháng 3năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Lá cờ đỏ sao vàng đã thấm máu đồngbào ta trong Nam Kỳ khởi nghĩa 1940 Chính lá cờ này đã cùng phái đoànChính phủ đi từ châu Á sang châu u, từ châu u về châu Á; cờ đã có mặt trênkhắp đất nước Việt Nam Vậy thì trừ 25 triệu đồng bào, còn không ai có quyềnthay đổi quốc kỳ và quốc ca"

Trong suốt năm 1946, quân đội Pháp càng ngày càng chiếm ưu thế trên các cuộcđụng độ với quân đội Việt Minh Đến 20/12/1946, Pháp chiếm được Bắc BộPhủ, Hồ Chí Minh tuyên bố rút vào bưng kháng chiến Dần dần, Pháp chiếmđóng và kiểm soát các thành phố, quận lỵ, và các làng xã đông dân; còn ViệtMinh thì đồn trú tại các vùng quê, rừng núi hẻo lánh Như vậy, Cờ Đỏ ViệtMinh bị xem như tạm thời mất tư thế “quốc kỳ” kể từ ngày 20/12/1946 là ngàyPháp chiếm Bắc Bộ Phủ cho đến ngày 20/7/1954 là ngày đất nước chia đôi vàViệt Minh trở lại cầm quyền trên miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên

Trang 20

8 Cờ Vàng sọc Xanh của Chính Phủ Lâm Thời “Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc” (1/6/1946 - 2/6/1948 )

Sau khi quân đội Nhật Bản đầu hàng lực lượng Đồng Minh, lãnh thổ Việt Nam

từ vĩ tuyến 16 trở xuống được tiếp quản bởi quân đội Liên Hiệp Anh Rồi Anhnhượng lại quyền kiểm soát cho Pháp Chính quyền Pháp đã ra sức cổ súy mộtphong trào gọi là Nam Kỳ tự trị Ngày 26 tháng 3 năm 1946, Nam Kỳ CộngHòa Quốc (tiếng Pháp: République de Cochinchine) được thành lập Từ ngày1/6/1946, Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc sử dụng quốc kỳ nền vàng với 5 sọc ngang

ở giữa, gồm ba sọc xanh và hai sọc trắng xen kẻ Cờ có ý nghĩa biểu trưng cho 3dòng sông Đồng Nai, Tiền Giang và Hậu Giang trên đất Nam Kỳ

Cờ Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc

Lá cờ này chỉ tồn tại được 2 năm do chính quyền Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc sátnhập vào quốc gia Việt Nam do quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo (ngày 2 tháng 6năm 1948)

9 Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của “Việt Nam Quốc” và “Việt Nam Cộng Hòa” (2/6/1948 - 20/7/1954 )

a Lịch sử Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và bài “Tiếng Gọi Công Dân”

Sau khi giành được chính quyền, ngày 6 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã ký Hiệp Định Sơ Bộ Pháp - Việt với Jean Sainteny, đại diện chính phủ

Trang 21

Cộng hòa Pháp, rước quân đội Pháp vào để rảnh tay tiêu diệt các đảng pháiquốc gia, Hồ Chí Minh mới mở cuộc chiến chống Pháp để giành chính nghĩa.Chiến tranh Việt (Việt Minh) Pháp bùng nổ vào ngày 19/12/1946 Pháp chiếmhầu hết các thành phố của cả ba miền Trung Nam Bắc, Việt Minh phải rút ra hậuphương để kháng chiến Sau hơn 2 năm đánh nhau với Việt Minh, người Phápthấy không thể chiến thắng nên đã liên lạc với Hoàng Đế Bảo Đại để trao trảquyền độc lập cho VN nhưng vẫn nằm trong khối Liên Hiệp Pháp Ngày2/6/1948, chính phủ lâm thời Việt Nam ra đời do tướng Nguyễn Văn Xuân chủtọa, lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ do họa sỉ Lê Văn Đệ đề nghị được chấp nhận làmquốc kỳ và lấy bài Tiếng gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước được đổi tên là

“Tiếng Gọi Công Dân” đã được chập nhận làm quốc ca của quốc gia Việt Nam

Ngày 7/7/1954, Ngô Đình Diệm về nước thành lập chính phủ và lập nên nền đệNhất Cộng Hòa VN Quốc Hội Lập Hiến VNCH năm 1956 đã quyết định giữ lạibài “Tiếng Gọi Công Dân” làm quốc ca, nhưng lời được đổi lại như sau:

“Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng.

Ðồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống!

Vì tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên,

Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.

Dầu cho thây phơi trên gươm giáo,

Thù nước lấy máu đào đem báo.

Trang 22

Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy,

Người công dân luôn vững bền tâm trí,

Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi

Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời!

(Ðiệp khúc)

Công dân ơi! Mau hiến thân dưới cờ!

Công dân ơi! Mau làm cho cõi bờ

Thoát cơn tàn phá, vẻ vang đời sống

Xứng danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.”

Có nhiều người chỉ trích việc dùng bài “Tiếng Gọi Thanh Niên” của Lưu HữuPhước là một người theo Cộng Sản Thực ra thì bài “Tiếng Gọi Công Dân” chỉmượn Nhạc, còn Lời thì đã thay đổi gần như khác hẳn Hơn nữa, khi làm bài

“Tiếng Gọi Thanh Niên”, Lưu Hữu Phước chỉ là một sinh viên với lòng yêunước nhiệt thành, ông chưa hề gia nhập một đảng phái nào, kể cả đảng CộngSản Việt Nam

Trang 23

Cờ Vàng Quốc Gia Việt Nam

b Ý nghĩa Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và bài “Tiếng Gọi Công Dân”

Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy thì:

“…quan niệm cổ của dân tộc Việt Nam, màu vàng thuộc hành thổ và màu đỏ thuộc hành hỏa và vì hỏa sanh thổ nên hai màu này rất hợp với nhau …, ba sọc

đỏ nhỏ như những tia nắng rọi xuống một mặt đất rộng rãi làm cho mặt đất này

ấm áp và có điều kiện thuận lợi cho cây cỏ mọc lên được”.

“…nền vàng tượng trưng cho quốc gia và dân tộc Việt Nam nói chung và ba sọc

đỏ tượng trưng cho ba kỳ Vậy, ba sọc đỏ nằm trên nền vàng hàm ý là nước Việt Nam gồm cả ba kỳ và dân tộc Việt Nam gồm người của cả ba kỳ”.

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và bài “Tiếng Gọi Công Dân” không những là Quốc Kỳ vàQuốc Ca của Việt Nam mà còn là biểu tượng cuả một nước có tự do và dân chủ

và đã được tất cả các nước trên thế giới trong khối tự do dân chủ công nhận.Trong gần 30 năm, từ 1948 đến 1975, người dân VN tự do cũng như người línhVNCH chống Cộng Sản Việt Nam đã hy sinh không biết bao xương máu khôngphải là để bảo vệ cho một chủ nghĩa hay một chủ thuyết nào mà chỉ là để bảo vệcho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho Việt Nam Vì thế ngọn Cờ Vàng Ba

Trang 24

Sọc Đỏ và bài Tiếng Gọi Công Dân không những là biểu tượng cho quốc kỳ vàquốc ca của Việt Nam mà còn là biểu tượng cho Tự Do, Dân Chủ và NhânQuyền, cho nguyện vọng tốt đẹp của quốc gia, dân tộc Biểu tượng Cờ Đỏ SaoVàng và bài Tiến Quân Ca của Việt Cộng trái lại, nó là biểu tượng chủ nghĩaCộng Sản, một chủ nghĩa tam vô: vô tổ quốc, vô tôn giáo, vô gia đình, và họcthuyết Mác Lê, một học thuyết chuyên chính vô sản Bởi vậy những kẻ chiếnđấu dưới lá Cờ Đỏ Sao Vàng, dưới bài Tiến Quân Ca không phải là chiến đấucho Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, cho quốc gia dân tộc mà là chiến đấu chođảng Cộng Sản, cho chủ nghĩa Mác-Lê.

c Tại sao phải tôn kính và vinh danh Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và bài “Tiếng GọiCông Dân”

- Để nêu cao chính nghĩa của người Việt quốc gia:

Năm 1954, gần một triệu người miền Bắc VN đã phải bỏ hết cả nhà cửa ruộngvườn chạy trốn Việt Cộng để di cư vào Nam với 2 bàn tay trắng cũng chỉ vìmuốn được hưởng tự do, dân chủ và nhân quyền của chính quyền miền NamViệt Nam tức chính quyền quốc gia VN mà biểu tượng là lá cờ Vàng với ba sọcđỏ

Suốt 20 năm cuộc chiến VN từ 1954 tới 1975, Việt Cộng mà biểu tượng là lá cờmáu (đỏ) với ngôi sao vàng đi tới đâu là đồng bào VN chạy khỏi đó và tìm tớivùng có lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tức vùng quốc gia để được bảo vệ và che chở.Hàng triệu quân dân cán chính của VNCH đã phải bỏ mình cũng vì để bảo vệcho lá cờ Vàng ba sọc đỏ tức bảo vệ cho người dân miền Nam VN được Tự Do,Dân Chủ và có Nhân quyền

Năm 1975, Việt Cộng xóa bỏ Hiệp Định Ba Lê và cưỡng chiếm miền Nam, lại

Trang 25

một lần nữa, hơn một triệu người Việt bỏ hết cả tài sản, nhà cửa, ruộng vườn ra

đi với 2 bàn tay trắng để tìm tự do và trong số này cũng có tới vài trăm ngànngười đã chìm xâu dưới lòng đại dương cũng vì 2 chữ tự do

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ

- Để giữ vững căn cước của người Việt tỵ nạn Cộng Sản:

Sau năm 1975, chế độ Việt Nam Cộng Hoà không còn, Cờ Vàng Ba Sọc Đỏcũng như bài Tiếng Gọi Công Dân không còn là biểu tượng cho Quốc Kỳ vàQuốc Ca của nước Việt Nam nữa Nhưng trong lòng mọi người, dù đã bỏ nước

ra đi hay hãy còn ở lại trong nước, Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và bài Tiếng Gọi CôngDân vẫn là biểu tượng của Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền

Chúng ta bỏ nước ra đi vì không muốn sống dưới chế độ tàn ác, phi nhân củaCộng Sản Việt Nam Các quốc gia tự do trên thế giới nhận cho chúng ta nhập cưcũng vì tư cách tị nạn chính trị của chúng ta.Vì thế, là người Việt tỵ nạn CộngSản, chúng ta cần phải bảo vệ tư cách này bằng cách tôn kính và vinh danh CờVàng Ba Sọc Đỏ (quốc kỳ VNCH) và bài Tiếng Gọi Công Dân (quốc caVNCH) mỗi khi có dịp hội họp tại nơi công cộng

- Để phân biệt rõ ràng làn ranh Quốc Cộng:

Trang 26

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và bài Tiếng Gọi Công Dân không những là biểu tượng lýtưởng của người Việt tỵ nạn Cộng Sản, không những là căn cước của người Việt

tỵ nạn Cộng sàn, nó còn là biểu tượng để phân biệt rõ ràng làn ranh Quốc Gia

và Cộng Sản Một buổi họp có tính công cộng mà không treo Cờ Vàng Ba Sọc

Đỏ, không hát bài Tiếng Gọi Công Dân thật khó lòng biết rõ đó là buổi họp củangười quốc gia hay của bọn Cộng Sản

Bởi vậy, là người Việt tỵ nạn Cộng Sản, chúng ta tuyệt đối không những khôngtham dự những buổi họp công cộng không có treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và hátbài Tiếng Gọi Công Dân mà còn có bổn phận phải tẩy chay và thông báo chomọi người biết để xa lánh

Trên thế giới nhiều nước đã ra nghị quyết vinh danh Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ củangười Việt tỵ nạn Cộng Sản, nhất là tại Hoa Kỳ Trong bài “Quốc Kỳ và Quốc

Ca Việt Nam” cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy nói: “ Hiện nay, quốc kỳ nền vàng

ba sọc đỏ không còn được chánh thức dùng bên trong nước Việt Nam, nhưngmọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng nó là lá cờ tượng trưng cho nềnđộc lập và tự do của Tổ Quốc, chống lại chế độ cộng sản tàn ác, phi nhơn và nô

lệ ngoại bang Bên ngoài Việt Nam, nó cũng được người ngoại quốc xem là biểutượng của phía người Việt Nam chống lại Cộng Sản Không biểu tượng nàokhác có thể thay thế cờ vàng ba sọc đỏ về các mặt này Vậy, việc tỏ lòng tôntrọng quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ và dùng nó một cách rộng rãi ở nơi nào cóngười quốc gia Việt Nam là một công cuộc đóng góp lớn vào việc giải phóngđất nước khỏi ách Cộng Sản”

Tóm lại, mặc dầu Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cũng như bài Tiếng gọi Công dân, kể từ30/4/1975, không còn là biểu tượng quốc kỳ và quốc ca của Việt Nam nữa,

Ngày đăng: 13/07/2021, 20:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w