1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỌC PHẦN KINH DOANH QUỐC tế chủ đề bài tập tìm HIỂU các học THUYẾT THƯƠNG mại QUỐC tế

19 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Các Học Thuyết Thương Mại Quốc Tế
Người hướng dẫn PTs. Nguyễn Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Đà Nẵng
Chuyên ngành Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Bài tập
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 203,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Các quốc gia nên chuyên môn hóa trong sản xuất những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối và sau đó trao đổi chúng lấy những hàng hóa sản xuất tại các quốc gia khác  Thương mại là một

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

- -HỌC PHẦN: KINH DOANH QUỐC TẾ Chủ đề bài tập: TÌM HIỂU CÁC HỌC THUYẾT

THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Anh Tuấn Lớp học phần : IBS2001_47K06.4 Lớp sinh hoạt : 47K06.4

Nhóm : 4 Thành viên nhóm : Nguyễn Phạm Trâm Anh

Hà Thị Ngọc Linh Nguyễn Thị Na

Nguyễn Thị Thanh Diễm Nguyễn Thị Hải Quỳnh Nguyễn Thị Như Ý

Đà Nẵng, tháng 11 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

1 CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG 4

1.1 Giới thiệu chung 4

1.2 Nội dung chính 4

1.3 Giá trị 4

1.4 Hạn chế 5

2 LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI 5

2.1 Giới thiệu chung 5

2.2 Nội dung chính 5

2.3 Giá trị 5

2.4 Hạn chế 6

3 LỢI THẾ SO SÁNH 6

3.1 Giới thiệu chung 6

3.2 Nội dung chính 6

3.3 Giá trị 6

3.4 Hạn chế 7

4 HỌC THUYẾT HECKSHER – OHLIN 7

4.1 Giới thiệu chung 7

4.2 Nội dung chính 7

4.3 Giá trị 8

4.4 Hạn chế 8

5 HỌC THUYẾT VỀ VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM 8

5.1 Giới thiệu chung 8

5.2 Nội dung chính 8

5.3 Giá trị 9

5.4 Hạn chế 9

6 HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI MỚI 10

6.1 Giới thiệu chung 10

6.2 Nội dung chính 10

6.3 Các giá trị 11

Trang 3

6.4 Hạn chế 11

7 LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC GIA: MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA PORTER.12 7.1 Giới thiệu chung 12

7.2 Nội dung chính 12

7.3 Giá trị 16

7.4 Hạn chế 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 4

1 CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG

1.1 Giới thiệu chung

 Một học thuyết kinh tế ủng hộ quan điểm cho rằng các quốc gia nên khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu

 Chủ nghĩa trọng thương, học thuyết đầu tiên về thương mại quốc tế, xuất hiện tại Anh vào giữa thế kỷ XVI và phát triển đến giữa thế kỉ XVIII (thời kỳ tiền TBCN)

 Các học giả tiêu biểu:

 Người Pháp: Jean Bordin, Melon, Jully, Colbert (Bộ trưởng Tài chính Pháp trong suốt 22 năm)

 Người Anh: Thomax Mun, James Stewart, Josias Chhild

1.2 Nội dung chính

 Vàng, bạc là những trụ cột chính của sự thịnh vượng của một quốc gia và vô cùng cần thiết cho một nền thương mại vững mạnh

 Ủng hộ quan điểm cho rằng quốc gia sẽ thu được nhiều lợi ích nhất khi duy trì thặng dư mậu dịch, nghĩa là xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Từ đó, quốc gia có thể tích lũy vàng, bạc, làm tăng của cải, uy tín và sức mạnh của quốc gia

 Ủng hộ sự can thiệp của chính phủ nhằm đạt được thặng dư trong cán cân thương mại

1.3 Giá trị

 Lần đầu tiên trong lịch sử, các hiện tượng kinh tế được giải thích bằng những lý luận Trước đó, tư tưởng kinh tế chủ yếu được giải thích bằng tôn giáo, kinh nghiệm

 Đề cao vai trò của thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế Quan điểm này có thể được coi là một cuộc cách mạng về nhận thức từ trào lưu tư tưởng phong kiến thời kỳ đó coi trọng tự cung tự cấp

 Nhận thức vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ thể chủ đạo trong quan hệ kinh

tế quốc tế và các công cụ chính sách để phát triển kinh tế

Trang 5

1.4 Hạn chế

 Chỉ thấy vấn đề lưu thông, chưa nghiên cứu lĩnh vực sản xuất; lý luận còn đơn giản, xuất phát từ kinh nghiệm thực tế, chưa đi sâu tìm hiểu bản chất bên trong của nó

 Coi thương mại như trò chơi truyền thông có tổng lợi ích bằng không: những lợi ích của một quốc gia thu được cũng bằng những tổn thất gây ra của quốc gia khác

 Về dài hạn sẽ không có quốc gia nào duy trì được tình trạng thặng dư cán cân thương mại và tích lũy được vàng bạc như chủ nghĩa trọng thương đã chỉ ra

2 LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI

2.1 Giới thiệu chung

 Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, bước sang nửa cuối thế kỷ XVIII, chủ nghĩa trọng thương dần mất đi vị trí của mình Adam Smith (1723 – 1790), nhà kinh tế học cổ điển người Scotland, người được coi là cha đẻ của kinh tế học, đã phê phán những hạn chế của Chủ nghĩa trọng thương và nêu lên những quan điểm mới của mình về thương mại quốc tế

2.2 Nội dung chính

 Một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một sản phẩm khi quốc gia này có thể sản xuất hiệu quả hơn bất kì các quốc gia khác

 Các quốc gia nên chuyên môn hóa trong sản xuất những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối và sau đó trao đổi chúng lấy những hàng hóa sản xuất tại các quốc gia khác

 Thương mại là một trò chơi có tổng dương, nó tạo ra lợi ích ròng cho tất cả đối tượng có liên quan

2.3 Giá trị

 Học thuyết về lợi thế tuyệt đối là bước tiến bộ vượt bậc so với thuyết trọng thương, giải thích bản chất kinh tế và ích lợi trong thương mại quốc tế, giải thích được sự phát triển của thương mại quốc tế hai chiều giữa các quốc gia thời kì đầu công nghiệp hóa Châu Âu

Trang 6

 Học thuyết đã được các quốc gia sử dụng trong một số trường hợp, lợi thế tuyệt đối là cơ sở để các quốc gia xác định hướng chuyên môn hóa và trao đổi các mặt hàng trong thương mại quốc tế

 Học thuyết khuyến khích tự do thương mại, tự do định giá trao đổi, có tác dụng lành mạnh hóa và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển

2.4 Hạn chế

 Không chỉ ra được sự khác biệt về năng suất Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, là đồng nhất và được sử dụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các hàng hóa

 Không giải thích được hiện tượng chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế sẽ xảy ra như thế nào đối với những quốc gia không có lợi thế tuyệt đối nào hoặc quốc gia có lợi thế tuyệt đối trên tất cả hàng hóa sản xuất ra

3 LỢI THẾ SO SÁNH

3.1 Giới thiệu chung

 Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo (Anh, 1772-1823)

3.2 Nội dung chính

 So sánh mối tương quan về hàng hóa trong một quốc gia

 Một quốc gia chuyên môn hóa sản xuất những hàng hóa mà họ có thể sản xuất một cách hiệu quả nhất và mua những hàng hóa mà họ sản xuất kém hiệu quả hơn so với quốc gia khác

 Thương mại là một trò chơi có tổng dương, trong đó tất cả các quốc gia tham gia đều nhận được lợi ích kinh tế

3.3 Giá trị

 Tiến bộ hơn rất nhiều so với thuyết lợi thế tuyệt đối Vì thế, thuyết được ứng dụng rất rộng và phát triển cho đến ngày nay

 Góp phần giải thích nguyên nhân của phần lớn thương mại quốc tế đang diễn ra hiện nay, là nền tảng để các quốc gia xác định hướng chuyên môn hóa sản xuất cũng như tăng khả năng cạnh tranh cho mình trên thị trường trên thế giới

Trang 7

 Ngoài ứng dụng trong thương mại quốc tế, thuyết lợi thế so sánh còn được ứng dụng trong nghiên cứu phân công lao động giữa các vùng, địa phương, thậm chí các tổ đội, cá nhân trong doanh nghiệp, tổ chức

3.4 Hạn chế

 Học thuyết chưa tính đến các yếu tố ngoài lao động ảnh hưởng đến lợi thế hàng hóa và trao đổi ngoại thương như: sự thay đổi công nghệ, chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa và hàng rào bảo hộ thương mại

 Không thể tự do di chuyển nguồn lực từ hoạt động sản xuất này sang hoạt động sản xuất khác

 Suất sinh lợi giảm dần cho thấy sẽ không khả thi nếu một quốc gia chuyên môn hóa theo cách mà Ricardo đưa ra

4 HỌC THUYẾT HECKSHER – OHLIN

4.1 Giới thiệu chung

 Hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli Heckscher (vào năm 1919) và Bertil Ohlin (vào năm 1933) đã đưa ra một giải thích khác về lợi thế so sánh khác so với học thuyết của Ricardo

4.2 Nội dung chính

 Học thuyết Heckscher- Ohlin: lợi thế so sánh được hình thành từ những khác biệt quốc gia về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất

 Mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất là mức độ dồi dào tài nguyên của một quốc gia như đất đai, lao động và vốn Yếu tố sản xuất càng dồi dào thì chi phí càng thấp

 Dự đoán rằng các quốc gia sẽ xuất khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều các yếu tố sản xuất dồi dào tại địa phương, trong khi đó lại nhập khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều yếu tố sản xuất khan hiếm tại địa phương

Học thuyết này dễ hiểu trên thực tế, nhưng cần chú ý rằng đây là mức độ dồi dào tương đối của các nguồn tài nguyên quan trọng, chứ không phải là tuyệt đối; một quốc gia có thể có lượng đất đai và lao động lớn hơn tuyệt

Trang 8

đối so với một quốc gia khác, nhưng lại chỉ nhiều hơn tương đối về một trong hai yếu tố trên

 Nghịch lý Leontief:

 Giả thuyết (dựa trên học thuyết Heckscher- Ohlin): Leontief cho rằng bởi vì Mỹ

dư thừa tương đối về vốn so với những quốc gia khác,Mỹ là quốc gia xuất khẩu các loại hàng hóa thâm dụng vốn và nhập khẩu các loại hàng hóa thâm dụng lao động

 Kết quả: Mỹ lại là hàng hóa kém thông dụng vốn so với hàng nhập khẩu của Mỹ

Vì kết quả khác với những gì mà học thuyết Heckscher- Ohlin dự báo, nên được gọi là nghịch lý Leontief

4.3 Giá trị

 Học thuyết Heckscher- Ohlin là một trong những tư tưởng có ảnh hưởng to lớn nhất đến đến kinh tế học quốc tế Phần lớn những nhà kinh tế học đều thích áp dụng đến học thuyết này vì giả thuyết ít và đơn giản hơn Do tầm ảnh hưởng đó, góp phần quan trọng trong việc giải thích cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường

4.4 Hạn chế

 Là công cụ dự đoán khá nghèo nàn của các mô hình thương mại quốc tế tồn tại trong thế giới thực, không có tính chính xác cao

 Công nghệ của các quốc gia là như nhau Điều này không sát với thực tế Những khác biệt về công nghệ có thể dẫn đến khác biệt về năng suất, từ đó sẽ định hướng các mô hình thương mại quốc tế

5 HỌC THUYẾT VỀ VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM

5.1 Giới thiệu chung

 Raymond Vernon – nhà kinh tế học người Mỹ là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về vòng đời sản phẩm vào giữa thập niên 60 của thế kỷ trước

Trang 9

5.2 Nội dung chính

 Học thuyết về vòng đời sản phẩm (product life-cycle theory) – Khi các sản phẩm

đã chín muồi, vị trí bán hàng và địa điểm sản xuất tối ưu sẽ thay đổi, ảnh hưởng đến dòng chảy và xu hướng thương mại

 Theo lí thuyết này, vòng đời sản phẩm được chia thành 4 giai đoạn:

 Trong giai đoạn thứ nhất khi sản phẩm mới được tung ra thị trường, nước tiêu dùng sản phẩm cũng là nước sản xuất vì có mối quan hệ gắn bó giữa đổi mới và nhu cầu Nước sản xuất ban đầu này - thường là các nước công nghiệp tiên tiến

- trở thành nước xuất khẩu sang các nước có thu nhập cao khác

 Bước sang giai đoạn thứ hai, sản xuất bắt đầu diễn ra ở các nước công nghiệp hàng đầu khác và dần dần thay thế cho hàng xuất khẩu của nước đổi mới sang các thị trường này

 Giai đoạn thứ ba bắt đầu khi nhu cầu của các nước khác về sản phẩm mới đạt tới qui mô cho phép các nhà sản xuất thu được lợi thế của sản xuất qui mô lớn

và bản thân họ trở thành các nhà xuất khẩu ròng (tức xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu) sang các nước không sản xuất sản phẩm mới, qua đó thay thế cho hàng xuất khẩu từ nước đổi mới

 Trong giai đoạn cuối cùng, khi công nghệ và sản phẩm ngày càng được tiêu chuẩn hóa và ngay cả những công nhân không được đào tạo cũng có thể sản xuất, các nước đang phát triển có chi phí thấp bắt đầu xuất khẩu sản phẩm này

và họ tiếp tục thay thế xuất khẩu của nước đổi mới Cũng trong giai đoạn này, nước đổi mới dã chuyển sang sản xuất các sản phẩm mới khác

5.3 Giá trị

 Xét về khía cạnh lịch sử, lý thuyết vòng đời sản phẩm dường như là một sự giải thích khá chính xác các mô hình trao đổi trong thương mại quốc tế trong một giai đoạn ngắn, khi mà nền kinh tế Mỹ chiếm vị trí thống trị trên toàn cầu Mô hình này khái quát trình tự từ khâu nghiên cứu và phát triển tới khâu sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm mới sẽ diễn ra tuần tự từ nước phát triển cao chuyển sang các nước phát triển thấp hơn tới các nước đang phát triển theo xu hướng tìm tới địa điểm có chi phí sản xuất thấp hơn

Trang 10

5.4 Hạn chế

 Xem xét từ quan điểm nhận thức của người Châu Á và người Châu Âu thì lập luận của Vernon dường như là một quan điểm mang tính vị kỷ dân tộc khi cho rằng hầu hết các sản phẩm được phát minh tại Hoa Kỳ Mặc dù, có thể đúng là trong suốt giai đoạn nền kinh tế Hoa Kỳ chiếm lĩnh vị trí thống trị trong khoảng thời gian từ

1945 đến 1975, nhưng không phải điều đó là luôn luôn đúng và vẫn luôn luôn tồn tại những trường hợp ngoại lệ Những ngoại lệ này dường như ngày càng trở nên phổ biến hơn trong thời gian gần đây

 Hơn nữa, với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng gia tăng như đã nghiên cứu ở chương 1, số lượng những sản phẩm mới đầu tiên được giới thiệu tại Nhật (ví dụ thiết bị “videogame” cầm tay) hay Châu Âu (ví dụ những chiếc điện thoại không dây thế hệ mới) hay các nước phát triển khác ngày càng tăng lên Điều này diễn ra cùng với hoạt động sản xuất phân tán trên toàn cầu, với các bộ phận cấu thành của một sản phẩm mới được sản xuất ở các địa điểm khác nhau trên thế giới

mà tại đó có sự kết hợp các chi phí nhân tố và kỹ năng là thuận lợi nhất, sau đó được lắp ráp tại một địa điểm, rồi được phân phối, giới thiệu và tiêu thụ đồng thời tại nhiều thị trường khác nhau thay vì theo tuần tự như lý thuyết của Vernon đề cập

6 HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI MỚI

6.1 Giới thiệu chung

 Paul Krugman (28/2/1953) là một nhà kinh tế học người Hoa Kỳ, giáo sư của Đại học Princeton

 Sau nhiều lần ông bị từ chối ý tưởng, năm 1979, ông đã có thể đăng tải bài viết của mình lên Tạp chí Kinh tế Quốc tế Chỉ với 10 trang giấy, ông đã ngay lập tức thu hút được sự chú ý của những người trong ngành và ông đã trở thành cha đẻ của

“Lý thuyết thương mại mới” khi ông chỉ mới 26 tuổi

6.2 Nội dung chính

Về cơ bản, học thuyết này đã đưa ra hai điểm quan trọng:

Trang 11

 Thứ nhất, thông qua việc tác động lên lợi ích kinh tế nhờ quy mô, thương mại có

thể làm tăng mức độ đa dạng của các sản phẩm cung cấp tới người tiêu dùng và

giảm bớt chi phí bình quân trên một đơn vị sản phẩm

 Các thị trường quốc gia đơn lẻ liên kết thành một thị trường thế giới rộng lớn hơn

 Có đa dạng các loại hàng hoá hơn

 Giúp người dùng có nhiều sự lựa chọn

Công ty đó đạt được lợi ích kinh tế

 Nhập khẩu những sản phẩm nước mình không sản xuất từ các nước khác

 Vừa tăng mức độ đa dạng của sản phẩm cho người tiêu dùng, mà vừa giảm chi phí của những hàng hóa đó

 Như vậy, thương mại đã tạo cơ hội cho hai bên cùng có lợi ngay cả khi họ không có nhiều điểm khác biệt về nguồn lực hay công nghệ

 Thứ hai, lý thuyết thương mại mới cho rằng mô hình thương mại mà chúng ta

quan sát được trên nền kinh tế thế giới có thể là kết quả của việc đạt được lợi ích

kinh tế nhờ quy mô và lợi thế của những người đi trước.

 Sở dĩ một quốc gia trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu một mặt hàng là vì họ là người tiên phong, và đã giành được lợi thế về tính kinh tế theo quy mô mà những người theo sau không thể đạt được

 Trên thực tế, để phát triển chiếc siêu máy bay A380 với 550 chỗ ngồi, hãng Airbus đã tiêu tốn khoảng 14 tỷ đôla Hoa Kỳ Để bù đắp lại chi phí khổng lồ đó, Airbus phải bán được ít nhất 250 chiếc A380 Nếu như hãng bán được 350 chiếc thì đây sẽ là một khoản đầu tư có lời Nghĩa là, thị trường toàn cầu chỉ có thể tạo điều kiện thu được lợi nhuận cho một nhà sản xuất dòng sản phẩm này và Airbus sẽ đạt được lợi ích kinh tế nhờ quy mô Vì vậy những nhà sản xuất khác,

ví dụ như hãng Boeing, sẽ không có cơ hội tham gia vào thị trường này bởi họ không có được lợi thế kinh tế nhờ quy mô mà hãng Airbus sẽ đạt được

6.3 Các giá trị

 Thương mại cho phép một nước tập trung sản xuất những sản phẩm nhất định, đạt được lợi ích kinh tế nhờ quy mô và giảm chi phí sản xuất của những sản phẩm đó,

Trang 12

đồng thời nhập khẩu những sản phẩm mà trong nước không sản xuất từ những nước sản xuất các sản phẩm khác

 Giúp mức độ đa dạng của các sản phẩm tăng lên trong khi chi phí sản xuất trung bình của những sản phẩm đó giảm đi  Kéo theo mức giá bán cũng giảm xuống theo  Giảm các nguồn lực để sản xuất hàng hoá và dịch vụ khác

6.4 Hạn chế

Nhờ khả năng đạt được lợi ích kinh tế nhờ quy mô, những công ty đi đầu có thể ngăn cản sự gia nhập của những công ty muốn gia nhập sau đó, việc làm này đã tạo khó khăn cho việc gia nhập ngành của những công ty khác Vì vậy, chính phủ nên xem xét bảo hộ các công ty và các ngành trong giai đoạn đầu đưa ra sản phẩm và những ngành công nghiệp đòi hỏi tính kinh tế theo quy mô

7 LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC GIA: MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA PORTER

7.1 Giới thiệu chung

 Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia do Michael Porter giáo sư của Đại học Kinh doanh Harvard (Mỹ) đưa ra vào năm 1990

 Bắt đầu từ năm 1986, Porter và các cộng sự của ông đã nghiên cứu tổng cộng 100 ngành công nghiệp tại 10 quốc gia khác nhau trên thế giới

 Mục đích của thuyết là giải thích tại sao một số nước lại thành công, còn một số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế, hay nói cách khác, tại sao lại có những quốc gia có khả năng cạnh tranh cao về một số sản phẩm

7.2 Nội dung chính

 Porter giả thuyết rằng có 4 thuộc tính chung của quốc gia, tạo nên môi trường cạnh tranh cho các công ty địa phương và các thuộc tính này khuyến khích hoặc cản trở

sự hình thành lợi thế cạnh tranh Các thuộc tính này là :

 Tính sẵn có của các yếu tố sản xuất – vị thế của một nước về các yếu tố sản

xuất

 Là trọng tâm của học thuyết Heckscher – Ohlin

Downloaded by Hei Ut (hut371809@gmail.com)

Ngày đăng: 24/12/2022, 21:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w