SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Du lịch
Du lịch hiện nay là một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến, không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, bao gồm cả Việt Nam.
Mỗi người có cách hiểu khác nhau về du lịch do hoàn cảnh thời gian và khu vực khác nhau, cùng với các góc độ nghiên cứu đa dạng Điều này dẫn đến việc mỗi tác giả đưa ra một định nghĩa riêng về du lịch, phản ánh sự phong phú trong cách tiếp cận chủ đề này.
Ausher định nghĩa du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân, trong khi Nguyễn Khắc Viện cho rằng du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người Cả hai quan niệm này đều phản ánh những khía cạnh khác nhau của du lịch, từ sự trải nghiệm cá nhân đến sự phát triển văn hóa.
Du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn gắn liền với hoạt động kinh tế Theo nhà kinh tế học Kalfiotis, du lịch được định nghĩa là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hoặc tập thể từ nơi ở đến một địa điểm khác để thỏa mãn nhu cầu tinh thần và đạo đức, từ đó tạo ra các hoạt động kinh tế.
Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện và các nhà kinh tế như PGS Trần Nhạn trong cuốn "Du lịch và kinh doanh du lịch" đã có quan điểm khác với Ausher về du lịch Họ định nghĩa du lịch là quá trình con người rời quê hương để trải nghiệm những giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, khác lạ, mà không nhằm mục đích kiếm lợi nhuận bằng tiền.
Theo Luật Du lịch Việt Nam, du lịch được định nghĩa là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Nhưng quan điểm cá nhân của em, em cho rằng khái niệm về du lịch mà
Luật Du lịch Việt Nam được coi là cơ bản và dễ hiểu Theo Ausher, du lịch chủ yếu là hoạt động của cá nhân, mặc dù hiện nay có nhiều hoạt động du lịch tập thể Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện nhận định rằng du lịch là hoạt động mở rộng không gian văn hóa, nhưng không đề cập đến các mục đích khác trong chuyến đi Các nhà kinh tế học cho rằng du lịch thúc đẩy các hoạt động kinh tế, và tôi cho rằng du lịch và kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ để phát triển cùng nhau.
Tài nguyên du lịch
Theo Phạm Trung Lương và nnk trong cuốn "Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam", tài nguyên được hiểu rộng rãi là tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ, mà con người có thể khai thác để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển.
Trong cuốn "Nhập môn Khoa học Du lịch", PGS.TS Trần Đức Thanh định nghĩa tài nguyên là tất cả các nguồn thông tin, vật chất và năng lượng được khai thác để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của xã hội Tài nguyên bao gồm các thành tạo tự nhiên, công trình và sản phẩm do con người tạo ra, cũng như khả năng của con người, nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng.
Mỗi khái niệm đều có ưu điểm và hạn chế riêng Khái niệm của Phạm Trung Lương tuy đúng nhưng quá rộng, chỉ nêu ra các yếu tố được gọi là tài nguyên Ngược lại, PGS.TS Trần Đức Thanh đã chỉ rõ hơn về tài nguyên và cụ thể hóa các yếu tố này Tài nguyên có thể được hiểu đơn giản là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và sản phẩm do con người tạo ra, có thể được sử dụng để phát triển kinh tế và xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường trong quá trình phát triển của nhân loại.
Nhiều tác giả, tổ chức trong nước và ngoài nước đã tiến hành phân loại tài
6 nguyên theo một số cách khác nhau:
Theo nguồn gốc hình thành : tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn
Xét theo mức độ tiềm năng : tài nguyên hữu hạn và tài nguyên vô hạn
Dựa vào khả năng tái tạo : tài nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo được
Phân loại theo tài nguyên đã được khai thác và chưa được khai thác : tài nguyên đã khai thác và tài nguyên tiềm ẩn (chưa được khai thác)
1.2.2 Khái niệm tài nguyên du lịch
Theo Nguyễn Minh Tuệ và các tác giả trong cuốn Địa lý du lịch, tài nguyên du lịch bao gồm tổng thể các yếu tố tự nhiên và văn hóa lịch sử, cùng với các thành phần của chúng, có vai trò quan trọng trong việc phục hồi và phát triển thể lực, trí tuệ, khả năng lao động và sức khỏe của con người Những tài nguyên này không chỉ phục vụ nhu cầu trực tiếp mà còn góp phần vào việc sản xuất dịch vụ du lịch.
Khoản 4 (Điều 4, chương 1) Luật Du Lịch Việt Nam năm 2005 quy định:
Tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, và các công trình sáng tạo của con người Những tài nguyên này không chỉ đáp ứng nhu cầu du lịch mà còn là yếu tố quan trọng trong việc hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch và đô thị du lịch.
Nguyễn Minh Tuệ định nghĩa tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và các yếu tố kinh tế - xã hội, văn hóa, phục vụ cho việc phục hồi sức khỏe và phát triển thể lực, tinh thần con người Bà nhấn mạnh rằng địa hình, thủy văn, khí hậu, động - thực vật, di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật và lễ hội đều là những tài nguyên du lịch quan trọng Tuy nhiên, không phải mọi dạng địa hình, kiểu khí hậu hay giá trị văn hóa đều có sức hấp dẫn đối với khách du lịch và khả năng kinh doanh du lịch.
Và THS.Bùi Thị Hải Yến đưa ra khái niệm tài nguyên du lịch trong cuốn
Tài nguyên du lịch bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và giá trị văn hóa do con người tạo ra, có sức hấp dẫn đối với du khách Những tài nguyên này có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng hiệu quả để phát triển ngành Du lịch, mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.
Khái niệm về tài nguyên du lịch của Nguyễn Minh Tuệ và Luật Du lịch Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, đều dựa trên yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa và quá trình lao động sáng tạo của con người, phục vụ cho hoạt động du lịch THS Bùi Thị Hải Yến đưa ra khái niệm tài nguyên du lịch một cách đầy đủ và cụ thể, không chỉ định nghĩa tài nguyên du lịch mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ, tôn tạo và sử dụng tài nguyên này để mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
1.2.2.1.Đặc điểm của tài nguyên du lịch Đặc điểm chung của tài nguyên du lịch:
Một số loại tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế
Tài nguyên du lịch, với phạm trù lịch sử, đang ngày càng được nghiên cứu và phát hiện nhiều loại mới Sự đa dạng và biến đổi của tài nguyên du lịch tạo cơ hội cho việc khai thác và sử dụng hiệu quả hơn.
Hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch phụ thuộc vào khả năng nghiên cứu, trình độ phát triển khoa học công nghệ và nguồn tài sản quốc gia Tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú, bao gồm các giá trị thẩm mỹ, văn hóa lịch sử, tâm linh và giải trí, thu hút du khách Các loại tài nguyên này bao gồm tài nguyên vật thể và phi vật thể, có khả năng tái tạo và tính sở hữu chung Việc khai thác tài nguyên du lịch cũng liên quan chặt chẽ đến vị trí địa lý.
Tài nguyên du lịch thường có tính mùa vụ và việc khai thác tài nguyên mang tính mùa vụ
Tài nguyên du lịch mang tính diễn giải và cảm nhận
1.2.2.2.Phân loại tài nguyên du lịch Để tiến hành nghiên cứu, quản lý, bảo tồn, tôn tạo, phát triển và khai thác tài nguyên du lịch có hiệu quả theo hướng bền vững, cần phải tiến hành phân loại tài nguyên du lịch khoa học và phù hợp
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã phân loại tài nguyên du lịch thành ba loại chính, bao gồm chín nhóm cụ thể Các loại tài nguyên này được chia thành: loại cung cấp tiềm tàng, bao gồm ba nhóm như văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển và vạn động; và loại cung cấp hiện tại, cũng gồm ba nhóm.
Bài viết phân loại tài nguyên kỹ thuật thành 8 nhóm, bao gồm đường sá, thiết bị và hình tượng tổng thể Ngoài ra, tài nguyên này còn được chia thành 3 nhóm tính năng chính: hoạt động du lịch, cách thức và tiềm lực khu vực.
Theo các nhà khoa học Pháp Geogvgers, Cazes, Robert Lanquar và Yve Raynoum trong cuốn "Quy hoạch du lịch", tài nguyên du lịch không tồn tại một cách tự thân mà chỉ có thể được khai thác và sử dụng trong những điều kiện kinh tế và công nghệ nhất định Họ phân loại tài nguyên du lịch thành ba loại chính.
Các tài nguyên thiên nhiên như khí hậu thuận lợi cho các loại hình du lịch, địa hình, phong cảnh núi sông, thực – động vật, biển hồ,…
Các nguồn tài nguyên văn hóa - xã hội bao gồm các cuộc trình diễn nghệ thuật, liên hoan âm nhạc, hòa nhạc, triển lãm quốc tế, và các sự kiện khoa học kỹ thuật Ngoài ra, chúng còn bao gồm các di sản văn hóa lịch sử, các vật chứng, cùng với các công trình như đập nước và máy móc hiện đại, cũng như những điểm thắng cảnh nổi bật.
Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn
1.3.1 Lý luận chung Điều tra và đánh giá tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để mỗi địa phương, mỗi quốc gia tiến hành phát triển, quản lý, bảo tồn, tôn tạo và khai thác tài nguyên cũng như lập quy hoạch phát triển du lịch Để tiến hành điều tra, kiểm kê, đánh giá tài nguyên cần phải dựa vào hệ
12 thống phân loại nhất định, hệ thống phân loại này cần có ích cho việc định lựa đánh giá tài nguyên sau khi điều tra
Dựa trên hệ thống phân loại tài nguyên, tiến hành điều tra và kiểm kê tài nguyên du lịch, sau đó đánh giá vị trí, đẳng cấp và sự đặc sắc của các tài nguyên này để thực hiện quy hoạch phát triển du lịch hiệu quả.
Việc điều tra các loại tài nguyên là cần thiết, trong khi đánh giá không chỉ cần thực hiện cho từng loại tài nguyên mà còn phải tổng hợp tất cả các loại tài nguyên trong khu vực quy hoạch phát triển du lịch.
1.3.2.Đánh giá tài nguyên Đánh giá các loại tài nguyên du lịch là một việc làm khó và phức tạp vì có liên quan tới yêu cầu, sở thích, đặc điểm tâm lý, sinh lý của con người rất khác nhau, đặc điểm của tài nguyên và các điều kiện kỹ thuật.Vì vậy các nội dung và phương pháp đánh giá phải không ngừng hoàn thiện
Các nhà nghiên cứu chỉ ra bốn kiểu đánh giá tài nguyên du lịch :
Kiểu tâm lý - thẩm mỹ trong đánh giá du lịch dựa vào cảm nhận và sở thích của du khách cùng cư dân về tài nguyên môi trường Điều này được thực hiện thông qua các cuộc điều tra thống kê và nghiên cứu xã hội.
Kiểu sinh khí hậu được sử dụng để đánh giá các dạng tài nguyên khí hậu và thời gian tối ưu cho sức khỏe con người hoặc các hoạt động du lịch Phương pháp này chủ yếu dựa vào các chỉ số khí hậu để định giá trị tài nguyên du lịch cho các loại hình du lịch khác nhau, đồng thời làm cơ sở xác định các điểm đến, khu du lịch và trung tâm du lịch.
Kiểu đánh giá kỹ thuật là phương pháp sử dụng tiêu chí và công cụ kỹ thuật để đánh giá số lượng và chất lượng tài nguyên du lịch Mục đích của việc này là xác định giá trị của tài nguyên du lịch đối với các loại hình phát triển du lịch, cũng như trong quá trình lập và thực hiện các dự án quy hoạch phát triển du lịch tại các hệ thống lãnh thổ cụ thể.
Kiểu đánh giá kinh tế là việc áp dụng các phương pháp và tiêu chí để xác định hiệu quả kinh tế - xã hội hiện tại và tương lai của các khu vực có nguồn tài nguyên có thể khai thác, nhằm bảo vệ và phát triển du lịch.
Phương pháp đánh giá tài nguyên được thực hiện cho từng loại và tổng thể các loại tài nguyên, bao gồm đánh giá số lượng, chất lượng, thực trạng khai thác, bảo vệ và phát triển Đồng thời, phương pháp này cũng xem xét khả năng phát triển các loại hình du lịch hiện tại và trong tương lai.
Việc đánh giá tổng thể các loại tài nguyên du lịch bao gồm nhiều yếu tố quan trọng như độ hấp dẫn, sức chứa du khách, thời gian khai thác, và độ bền vững Ngoài ra, vị trí và khả năng tiếp cận, cùng với cơ sở hạ tầng và kỹ thuật du lịch, cũng cần được xem xét Sự phù hợp giữa tài nguyên du lịch và các phân hệ khác trong hệ thống lãnh thổ là rất cần thiết để đảm bảo hiệu quả khai thác tài nguyên về kinh tế, xã hội và môi trường Đặc biệt, trong việc đánh giá tài nguyên du lịch của từng vùng, cần chú trọng đến việc bảo vệ và khai thác tổng hợp tài nguyên trong mối quan hệ biện chứng với các hệ thống lãnh thổ khác.
Cụ thể khi đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn:
Để thực hiện việc kiểm kê và đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn, trước tiên cần phải xem xét các giá trị riêng biệt của từng di tích và loại tài nguyên Sau khi hoàn tất việc đánh giá từng phần, mới tiến hành tổng hợp và đánh giá chung về tài nguyên du lịch này.
* Các bước kiểm kê một di tích kiến trúc nghệ thuật hoặc một công trình đương đại (di tích lịch sử văn hóa)
Vị trí và tên gọi của di tích, cùng với diện tích lãnh thổ và cảnh quan xung quanh, đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút khách du lịch Đặc biệt, khoảng cách từ di tích đến thị trường cung cấp khách, cũng như chất lượng và loại hình giao thông, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận Ngoài ra, việc gần gũi với các di tích văn hóa và tự nhiên khác cũng góp phần nâng cao giá trị du lịch của địa điểm.
Lịch sử hình thành và phát triển gồm: thời gian đặc điểm của thời kỳ khởi dựng và những lần trùng tu lớn
Quy mô và kiểu cách của các công trình kiến trúc, mỹ thuật phản ánh giá trị văn hóa và lịch sử của chúng, bao gồm niên đại và chất lượng của cổ vật Những vật kỷ niệm và bảo vật quốc gia không chỉ có số lượng đáng kể mà còn mang giá trị tinh thần sâu sắc Đồng thời, các nhân vật được tôn thờ và những người có công trong việc xây dựng và trùng tu cũng góp phần quan trọng vào việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác di tích Thực trạng chất lượng môi trường ở khu vực di tích
Giá trị được xếp hạng: quốc tế, quốc gia, địa phương, thời gian được xếp hạng
Điều tra về số lượng, thời gian và quy mô của các lễ hội, cũng như giá trị và sức hấp dẫn du khách, là cần thiết để hiểu rõ hơn về các sự kiện này Bên cạnh đó, việc nghiên cứu cách thức bảo tồn, khôi phục và tổ chức quản lý các lễ hội cũng rất quan trọng Hơn nữa, môi trường diễn ra lễ hội tại từng điểm du lịch và địa phương cũng cần được xem xét để đảm bảo sự phát triển bền vững.
Lễ hội là một phần quan trọng trong văn hóa Việt Nam, với lịch sử phát triển phong phú và đa dạng Mỗi lễ hội đều gắn liền với những nhân vật được tôn thờ và các sự kiện văn hóa, lịch sử đặc sắc Thời gian diễn ra lễ hội có thể mang tính quốc gia hoặc địa phương, thể hiện quy mô và sự phong phú của từng sự kiện Các giá trị văn hóa, phong tục tập quán được thể hiện rõ qua phần lễ và phần hội, bao gồm các trò chơi dân gian và hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc Những lễ hội này không chỉ giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn có giá trị lớn đối với hoạt động du lịch, thu hút du khách và góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Tiểu kết
Du lịch và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng và thư giãn, còn tài nguyên du lịch nhân văn mang lại giá trị nhận thức và bồi dưỡng tâm hồn Sự tương tác giữa du lịch và văn hóa tạo ra một mối liên hệ bền vững, với tài nguyên du lịch nhân văn không chỉ làm phong phú thêm đời sống tinh thần mà còn củng cố văn hóa Việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn giúp phát triển du lịch và làm nổi bật tính độc đáo của sản phẩm du lịch, đồng thời là yếu tố quan trọng thúc đẩy động cơ du lịch của khách.
Giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn cần được đánh giá một cách khách quan và khoa học, không chỉ dựa vào cảm tính Việc nghiên cứu các lý luận về đánh giá tài nguyên sẽ tạo nền tảng vững chắc để áp dụng vào thực tiễn.
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THÀNH PHỐ HƢNG YÊN
Khái quát về thành phố Hưng Yên
Tỉnh Hưng Yên, thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, là một trong những vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với diện tích 923,5 km2 và dân số 1.128.700 người (năm 2009) Thành phố Hưng Yên là tỉnh lỵ, nằm ở cửa ngõ phía đông của Thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với các tỉnh Hà Nội, Hải Dương và Thái Bình.
Thành phố Hưng Yên, tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Yên, nằm ở phía Nam tỉnh, bên bờ trái sông Hồng Thành phố giáp huyện Kim Động ở phía Bắc và Tiên Lữ ở phía Đông, với sông Hồng làm ranh giới tự nhiên với các huyện Lý Nhân và Duy Tiên thuộc tỉnh Hà Nam Quốc lộ 38 và cầu Yên Lệnh kết nối thành phố Hưng Yên với quốc lộ 1, cách Hà Nội hơn 60km.
Thành phố Hưng Yên có diện tích: 46,80 km² (4.685,51 ha) và dân số: 121.486 người (2009)
Thành phố Hưng Yên hiện nay bao gồm khu vực Phố Hiến, từng là lỵ sở của trấn Sơn Nam vào thế kỷ XVI và XVII dưới triều đại nhà Hậu Lê Vào thời điểm đó, Sơn Nam bao gồm phần lớn các tỉnh như Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình và Hà Tây (cũ).
Tháng 10 năm 1831 niên hiệu Minh Mạng, triều đình Huế thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trong đó có việc xóa bỏ các đơn vị tổng, trấn và chia cả nước lại thành 30 tỉnh Tỉnh Hưng Yên theo đó được thành lập, lỵ sở của tỉnh được đóng ở khu vực Xích Đằng (phường Lam Sơn - thành phố Hưng Yên ngày nay)
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thị xã Hưng Yên tiếp tục được chính quyền cách mạng chọn làm lỵ sở của tỉnh Hưng Yên
Năm 1968, hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương đã hợp nhất thành tỉnh Hải Hưng, với lỵ sở được đặt tại thị xã Hải Dương, hiện nay là thành phố Hải Dương.
Thị xã Hưng Yên đã tạm thời mất vị thế trung tâm của tỉnh do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và điều kiện giao thông không thuận lợi, dẫn đến việc mất nhiều cơ hội phát triển.
Vào ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội Việt Nam đã ra nghị quyết chia tách tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, phục hồi lại tình trạng trước đây Sự "lột xác" này không chỉ mang lại lợi ích cho tỉnh Hưng Yên mà còn giúp thị xã Hưng Yên ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Ngày 19 tháng 1 năm 2009, Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ra Nghị định 04/NĐ - CP thành lập thành phố Hưng Yên trực thuộc tỉnh Hưng Yên trên cơ sở diện tích, dân số của thị xã Hưng Yên cũ, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho thành phố Hưng Yên Đồng thời thành phố Hưng Yên cũng được phong tặng danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân"
Thành phố Hưng Yên bao gồm 12 đơn vị hành chính, trong đó có 7 phường: Quang Trung, Lê Lợi, Minh Khai, Hồng Châu, Hiến Nam, An Tảo, Lam Sơn, và 5 xã: Bảo Khê, Trung Nghĩa, Liên Phương, Hồng Nam, Quảng Châu.
Thành phố Hưng Yên tọa lạc trong vùng trung châu thổ Bắc Bộ, thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa với lượng nhiệt ẩm phong phú Nơi đây có hai mùa rõ rệt: mùa lạnh khô và ấm kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, và mùa nóng mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10.
Nhiệt độ cao nhất vào mùa hè đạt 39-40 độ C, trong khi nhiệt độ thấp nhất vào mùa đông chỉ khoảng 5,5 độ C Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 22-23 độ C Đặc biệt, tháng 8 và tháng 9 thường chứng kiến mưa lớn và gió mạnh, đồng thời là thời điểm dễ xảy ra bão, mặc dù bão không đổ bộ trực tiếp vào thành phố, nên ảnh hưởng của chúng không mạnh mẽ như ở các vùng ven biển Lượng mưa trung bình hàng năm tại đây khoảng 1500-1600mm.
Thành phố Hưng Yên có trung bình khoảng 147 ngày mưa mỗi năm, với lượng mưa ít nhất vào tháng 1 và tăng dần đến tháng 4 Tháng 8 là thời điểm có nhiều ngày mưa và lượng mưa cao nhất Ngoài ra, từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm, khu vực này còn xuất hiện mưa phùn, đặc biệt là nhiều nhất vào tháng 2 và tháng 3 Vì vậy, khí hậu ở Thành phố Hưng Yên có đặc điểm ẩm ướt và mưa nhiều.
Vùng này có độ ẩm khá cao, với mức trung bình hàng năm đạt 86% Trong suốt các tháng, độ ẩm luôn vượt quá 80% So với các khu vực khác trong châu thổ Bắc Bộ, độ ẩm không khí và độ ẩm khô hạn ở đây cao hơn đáng kể.
*Sông ngòi và chế độ nước
Tỉnh Hưng Yên, nằm trong khu vực trung châu thổ Bắc Bộ, được bao quanh bởi một mạng lưới sông ngòi phong phú, bao gồm hệ thống sông lớn như sông Hồng và sông Luộc, cùng với các nhánh sông con như sông Cửu An, sông Hoan Ái, sông Kim Ngưu, sông Nghĩa Trụ, sông Kẻ Sặt và sông Điện Biên.
Thành phố Hưng Yên, còn được biết đến với tên gọi Phố Hiến xưa, đã hình thành và phát triển chủ yếu nhờ vào sự ảnh hưởng của hai con sông lớn là sông Hồng và sông Luộc, cùng với sự góp mặt của sông Điện Biên.
Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.1 Đánh giá các di tích lịch sử văn hóa
Từ thế kỉ XIII, Hưng Yên đã nổi tiếng với thương cảng Phố Hiến sầm uất, nơi từng đón tàu buôn từ nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Anh và Pháp Tuy nhiên, do sự dịch chuyển của sông Hồng ra biển, Phố Hiến đã dần nhường vị trí thương cảng cho Hải Phòng, nhưng vẫn giữ lại những giá trị văn hóa lâu đời Hiện nay, Hưng Yên bảo tồn một quần thể kiến trúc cổ với 128 di tích lịch sử, 100 bia ký và nhiều đền chùa, đặc biệt là quần thể di tích Phố Hiến với mật độ dày đặc, trải dài 5km và rộng 1km từ Đằng Châu (phường Lam Sơn) đến Lễ.
Phố Hiến cổ, thuộc phường Hồng Châu, hiện còn lưu giữ khoảng 60 di tích lịch sử và văn hóa, trong đó nhiều di tích có giá trị cao về lịch sử, kiến trúc mỹ thuật và tín ngưỡng, thu hút du khách như chùa Chuông, đền Mẫu, đền Trần, đền Thiên Hậu, chùa Hiến, Văn Miếu, đình Hiến và Đông Đô Quảng Hội Đặc biệt, có tới 17 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, khẳng định giá trị văn hóa và lịch sử của khu vực này.
Trong khóa luận này em sẽ đi sâu nghiên cứu giá trị nổi bật của một số di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia đó
"Hưng Yên tỉnh nhất thống chí" của Trịnh Như Tấu có ghi: "Chùa Chuông
Chùa Chuông ở Phố Hiến được coi là danh lam đẹp nhất, không chỉ nhờ vào cảnh quan mà còn vì nó nằm trong quần thể di tích đô thị cổ Phố Hiến, từng nổi tiếng với danh hiệu "thứ nhất Kinh."
Kỳ, thứ nhì Phố Hiến"
Kim Chung Phật tích thiên niên ký Thạch bích linh truyền vạn cổ lưu
( Chuông vàng dấu Phật còn ghi mãi Đá xanh linh nghiệm tỏa muôn hương )
Vị trí, tên gọi, diện tích, cảnh quan: Chùa Chuông tọa lạc ở phía nam thôn
Chùa Chuông, còn được gọi là Kim Chung tự hoặc chùa Chuông Vàng, tọa lạc tại Nhân Dục, phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên Đây là điểm dừng chân đầu tiên của du khách khi tham quan thành phố, nằm ở vị trí thuận lợi trong khu dân cư.
Chùa tọa lạc ở vị trí thuận lợi, dễ dàng tiếp cận cho du khách đến tham quan thành phố bằng cả đường bộ và đường thủy Chùa chỉ cách bến cảng sông Hồng khoảng 1km và cách bến xe Hưng Yên 500m.
Chùa Chuông Vàng có lịch sử hình thành gắn liền với truyền thuyết về một trận đại hồng thủy, khi nước lụt dâng cao Trong thời điểm ấy, một quả chuông trên bè gỗ đã trôi dạt đến vùng đất này, và chỉ có người dân địa phương mới vớt được chuông để mang về chùa Tiếng chuông vang xa hàng vạn dặm, được cho là món quà từ trời phật, từ đó chùa được mang tên “chùa Chuông Vàng”.
Theo tài liệu nghiên cứu và theo văn bia tại chùa, chùa được xây dựng vào thế kỉ
XV, đến năm 1702 chùa đã trùng tu thượng điện và đắp tượng Như vậy, kiến trúc hiện nay của chùa là từ thời Hậu Lê đầu thế kỉ XVIII
Chùa Chuông có kiến trúc kiểu "Nội công ngoại quốc" với các hạng mục như Tiền đường, Thượng điện, Nhà tổ, Nhà mẫu và hai dãy hành lang, được bố trí cân xứng trên trục từ cổng Tam quan đến Nhà tổ Mặt tiền chùa hướng Nam, tượng trưng cho "Bát Nhã" và "Trí Tuệ" Qua cổng Tam quan, du khách sẽ đi qua ba nhịp cầu đá xanh và một ao nhỏ (mắt rồng) trồng nhiều súng, đặc biệt nở vào mùa hè với sắc tím biếc Cây cầu bắc qua ao được xây dựng năm 1702, dẫn đến con đường lát đá xanh, được gọi là "Nhất chính đạo", con đường chân chính duy nhất giúp con người thoát khỏi bể khổ theo quan niệm Phật giáo.
Giá trị cổ vật: Chùa hiện nay còn một số hiện vật quý như 2 đôi nghê đá thời
Lê được chạm khắc công phu; 1 khánh đá dài 1,5 m chạm lưỡng long chầu nguyệt;
Bia được xây dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711) cùng với hai chuông, một chuông cao 1,15 m và một chuông cao 1,05 m, cùng 18 pho tượng cổ “Thập bát La Hán” cao 1,2 m, mỗi tượng mang một vẻ mặt độc đáo, thể hiện cảm xúc nội tâm phong phú Bia đá ghi lại quá trình đô thị hóa của Phố Hiến, cao 1,65 m và rộng 1,10 m, trang trí hình rồng chầu mặt trời, biểu tượng âm dương, và các họa tiết hoa sen, mây Chùa Chuông không chỉ là một di tích lịch sử mà còn có giá trị kiến trúc nghệ thuật, cần được nghiên cứu thêm để làm sáng tỏ lịch sử địa phương và dân tộc, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng, khi nhiều cán bộ xứ ủy vẫn còn sống và khẳng định vai trò quan trọng của di tích.
Những pho tượng nghệ thuật như : Hệ thống tượng ở tòa Tam Bảo, Thập bát
La Hán đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu nghệ thuật tạc tượng dân tộc, với nhiều hiện vật quý giá như tấm bia đá (1711) và cây hương đá tại chùa Những tư liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển thịnh vượng của đô thị cổ Phố Hiến trong thế kỷ XVI - XVII, góp phần quan trọng vào các nghiên cứu khoa học Chùa Chuông thờ Phật Adi Đà, Quan Âm Nam Hải và Văn Phù.
Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát
Ngôi chùa đã trải qua hai lần trùng tu lớn, phục hồi hệ thống khu nhà và tượng về trạng thái ban đầu, tạo nên một khu kiến trúc di tích vững chắc và hoàn chỉnh Bên cạnh gác chuông và gác khánh, nhà tăng đường mới được khánh thành vào tháng 8 năm 2003 Các Phật tử địa phương đã tự nguyện tham gia dọn dẹp và bảo trì di tích, đặc biệt vào các ngày rằm, mồng một và ngày Phật Đản, thu hút đông đảo tín đồ đến cúng lễ.
Giá trị được xếp hạng: Năm 1992, Chùa Chuông đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia
Đền Mẫu, tọa lạc trên đường Bãi Sậy, phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên, có tên tự là Hoa Giang Linh Từ và được biết đến với nhiều tên gọi như đền Mẫu, đền Mậu Dương, và đền Bà Hoa Giang Đền nằm gần đền Trần, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách tham quan quần thể di tích Phố Hiến cổ bằng cách đi bộ.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí , đền Mẫu được xây dựng vào năm Tường Hưng thứ nhất thời Thiệu Bảo (1279) trên một diện tích rộng 2875 m 2
Lịch sử hình thành và phát triển: Qua sử sách, thần tích, sắc phong của đên
Vào thế kỷ 13, đế quốc Nguyên Mông đã tiến hành xâm lược nhiều quốc gia tại Châu Âu và Châu Á Trước sức mạnh áp đảo của quân giặc, triều đình nhà Tống không thể tránh khỏi những khó khăn và thách thức lớn.
Trong bối cảnh thất bại của nhà Tống, hoàng tộc buộc phải chạy ra bãi biển Nhai Sơn để tránh sự truy đuổi của quân Nguyên Dương Quý Phi cùng các cung tần mỹ nữ đã chọn cách tự vẫn bằng cách nhảy xuống biển để bảo toàn danh tiết Theo truyền thuyết, thi thể của Dương Quý Phi trôi dạt đến vùng Xích Đằng, nơi người dân địa phương đã vớt lên và chôn cất cẩn thận, cầu nguyện cho linh hồn bà được “linh ứng” và lập đền thờ Từ đó, nơi này trở thành điểm tụ tập đông đảo, hình thành một xóm mang tên Hoa Dương, với ngôi đền ngày càng được sửa sang và mở rộng.
Nghi môn của Đền được thiết kế với quy mô ấn tượng, mang phong cách kiến trúc chồng diêm hai tầng tám mái Cửa chính được xây theo kiểu vòm cuốn, kèm theo hai cửa phụ Đặc biệt, trên vòm cuốn có bức đại tự được khắc bằng kiểu chữ Triện, tạo nên giá trị nghệ thuật độc đáo cho công trình.
Đền Dương Thiên Hậu - Tống Triều nổi bật với bức chữ Hán “Thiên Hạ mẫu nghi”, nghĩa là “Người mẹ sáng suốt trong thiên hạ” Qua nghi môn, du khách sẽ bước vào sân đền, nơi có cây cổ thụ gần bảy trăm năm tuổi, được tạo thành từ ba cây sanh, đa, si quấn quýt, tạo nên thế chân kiềng vững chắc cho ngôi đền Khu nội tự được xây dựng theo kiểu chữ Quốc, bao gồm Đại bái, trung từ, hậu cung và hai dãy giải vũ Toà đại bái có 3 gian, với kiến trúc chồng diêm hai tầng tám mái, mái uốn cong mềm mại, trang trí lưỡng long chầu nguyệt Trung từ gồm 3 gian, nổi bật với hệ thống câu đối, hoành phi và đồ tế tự sơn son thếp vàng rực rỡ Hậu cung có 5 gian, kiến trúc chồng rường con nhị, với các bức cốn chạm bong kênh hoa lá mềm mại, tạo nên không gian linh thiêng huyền bí dưới ánh sáng mờ ảo của đèn nến và khói hương.
Tiểu kết
Chương 2 của khóa luận đi sâu vào đánh giá nguồn tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên Từ những phân tích này có thể đánh giá sơ bộ về khả năng phát triển du lịch của thành phố Hưng Yên Thành phố Hưng Yên có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn rất phong phú và đa dạng Đây là điều kiện tốt cho các doanh nghiệp khi doanh dịch vụ du lịch khai thác tốt để phát triển du lịch của thành phố
Du lịch thành phố đang đối mặt với nhiều thách thức như di tích xuống cấp, đất đai bị lấn chiếm và ô nhiễm Việc đầu tư phát triển du lịch, quản lý và bảo vệ tài nguyên còn yếu, cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, cần được cải thiện để nâng cao chất lượng du lịch.
Công tác xúc tiến và quảng bá du lịch tại Hưng Yên vẫn chưa được chú trọng, dẫn đến sản phẩm du lịch nghèo nàn và thiếu hấp dẫn, khiến khách du lịch không ở lại lâu Để phát triển thương mại dịch vụ và gìn giữ bản sắc văn hóa của thành phố, các cấp, ngành của tỉnh đang nỗ lực đầu tư để tôn tạo các tài nguyên du lịch nhân văn, nhằm nâng cao hiệu quả cho các hoạt động du lịch.
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG, MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ KHAI THÁC HIỆU QUẢ TÀI
NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN CỦA THÀNH PHỐ HƢNG YÊN
Hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên
3.1.1 Việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh về tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên
Thành phố Hưng Yên chú trọng quảng bá hình ảnh du lịch không chỉ qua các phương tiện truyền thông địa phương mà còn mở rộng ra toàn tỉnh, cả nước và một số quốc gia bạn bè Phòng Văn hóa thông tin thành phố xác định rằng việc quảng bá du lịch là một phần quan trọng trong phát triển kinh tế và nâng cao giá trị văn hóa địa phương.
Phòng Văn hóa Thông tin thành phố Hưng Yên không chỉ sử dụng các kênh quảng cáo truyền thống như báo tỉnh, đài phát thanh và truyền hình, mà còn đẩy mạnh quảng bá du lịch trên các website của Tổng cục Du lịch Việt Nam và các công ty lữ hành lớn Các trang web như vietnamtourism.gov.vn, saigontourist.net và dulichviet.com được tận dụng để giới thiệu điểm đến hấp dẫn Bên cạnh đó, phòng còn phát tờ rơi và tập san để cung cấp thông tin chi tiết hơn về các địa điểm du lịch tại Hưng Yên cho du khách.
Một trong những kênh quảng bá hình ảnh du lịch hiệu quả nhất của thành phố là thông qua các lễ hội và sự kiện văn hóa Những lễ hội truyền thống thu hút hàng nghìn khách mỗi năm, cùng với các lễ hội mới, góp phần nâng cao giá trị du lịch và thu hút sự quan tâm của du khách.
Lễ hội văn hóa dân gian Phố Hiến đã phát huy các giá trị văn hóa tinh thần, tín ngưỡng và lịch sử của các di tích tại thành phố Hưng Yên trong những năm qua Sự kiện này không chỉ giới thiệu mà còn quảng bá giá trị lịch sử văn hóa đến nhân dân và du khách trong và ngoài tỉnh.
, trong tương lai không xa thành phố Hưng Yên sẽ là điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước
Vào cuối tháng 11 năm 2011, Hưng Yên đã tổ chức một sự kiện quan trọng, mang ý nghĩa sâu sắc đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh.
Kỷ niệm 180 năm thành lập tỉnh (1831 - 2011) là dịp lý tưởng để quảng bá mạnh mẽ tiềm năng phát triển kinh tế, xã hội, và du lịch, cũng như truyền thống lịch sử và văn hóa đặc sắc của tỉnh đến với bạn bè và du khách gần xa.
Chính quyền thành phố Hưng Yên, đặc biệt là phòng Văn hóa thông tin, đã nhận ra tiềm năng du lịch to lớn và tích cực quảng bá hình ảnh thành phố với vẻ đẹp kinh tế, văn hóa và lịch sử Hưng Yên không chỉ nổi bật với cảnh quan thiên nhiên mà còn được biết đến với con người hiền hòa, hiếu khách, tạo điều kiện thu hút du khách.
3.1.2.Thị trường khách du lịch
Xác định thị trường trọng điểm và dự báo tiềm năng phát triển là yếu tố then chốt giúp các nhà hoạch định chính sách du lịch xây dựng chiến lược và mục tiêu phát triển du lịch thành phố Hưng Yên một cách khoa học Điều này không chỉ giúp duy trì và phát triển thị trường truyền thống mà còn thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế đến với thành phố.
Thị trường khách du lịch nội địa của thành phố chủ yếu tập trung vào du lịch tôn giáo và nghiên cứu lịch sử văn hóa, do đặc điểm tài nguyên du lịch chủ yếu là tài nguyên nhân văn Điều này dẫn đến lượng khách đông đúc vào những thời điểm nhất định trong năm, thường là trong mùa lễ hội của các di tích, trong khi vào những thời gian khác, lượng khách lại ít và không lưu trú dài tại thành phố.
Bảng 3.1.Thực trạng khách du lịch đến Hƣng Yên thời kỳ 2006 - 2010 Đơn vị: lượt khách
Tổng số ngày lưu trú 24.579 37.695 48.413 69.056 75.607
Nguồn: Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh Hưng Yên
Năm 2006 Hưng Yên đón được 29.747 lượt khách, đến năm 2010 con số đó lên tới 116.000 lượt khách, tăng 86.253 lượt khách, gấp 3,899 lần so với năm 2006
Thị trường khách quốc tế tại thành phố chủ yếu đến từ Trung Quốc, với mục đích thăm thân nhân là người Hoa Mặc dù thời gian lưu trú của họ dài, nhưng họ lại ít sử dụng các dịch vụ du lịch địa phương Ngoài ra, còn có khách đến từ Nhật Bản, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Hà Lan là một trong những quốc gia đã từng giao thương sôi nổi tại Phố Hiến trong thời kỳ hưng thịnh Hiện nay, du khách đến đây để tìm kiếm những dấu tích lịch sử, tuy lưu trú lâu và sử dụng nhiều dịch vụ du lịch, nhưng họ lại yêu cầu chất lượng phục vụ cao Hơn nữa, lượng khách thường nhỏ lẻ và ít khi quay lại, điều này tạo ra thách thức cho ngành du lịch địa phương.
Thị trường khách du lịch tại thành phố Hưng Yên còn nhỏ lẻ, do đó cần xác định rõ đối tượng khách hàng để khai thác hiệu quả Việc tìm hiểu tâm lý khách hàng là cần thiết để thỏa mãn nhu cầu và thu hút khách mới, đồng thời giữ chân khách cũ thông qua chất lượng dịch vụ và sự đa dạng của các dịch vụ bổ sung Mặc dù lượng khách du lịch tâm linh không lớn và không thường xuyên, nhưng họ lại ổn định và sẵn sàng chi trả, vì vậy đây là thị trường truyền thống cần được khai thác Đối với khách quốc tế, cần nâng cao chất lượng phục vụ và đa dạng hóa các loại hình giải trí, xác định đây là thị trường tiềm năng cho ngành du lịch của Hưng Yên.
Tóm lại, thị trường khách du lịch của thành phố Hưng Yên còn nhỏ, lẻ, chưa được khai thác đúng mức và hiệu quả
3.1.3 Tình trạng các di tích lịch sử văn hóa của thành phố Hưng Yên
Các địa điểm cư dân đô thị cổ của Việt Nam đã hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ, với sự tồn tại kéo dài khác nhau Tuy nhiên, tất cả đều chia sẻ một đặc điểm chung là sở hữu các di tích kiến trúc, thành quách, dinh thự và cung điện đặc sắc.
64 cơ cấu mặt bằng đô thị hiện nay chỉ còn tồn tại dưới dạng phế tích kiến trúc, với nhiều đô thị cổ đã mất dấu vết, chỉ được nhắc đến trong thư tịch cổ hoặc tồn tại trên địa danh Trong số 13 đô thị cổ từ thế kỷ III đến XIX được nêu trong sách “Đô thị cổ Việt Nam” của Viện Sử học, rất ít đô thị còn tồn tại và phát triển thành những đô thị hiện đại ngày nay Do đó, việc khôi phục chính xác bộ mặt của đô thị cổ lớn nhất cả nước là điều khó khăn, và triển vọng chỉ còn là ghi dấu lại từng khu vực qua các di tích lịch sử.
Phố Hiến, thuộc thành phố Hưng Yên, từng là một đô thị phồn thịnh với 20 phường và hơn 20,000 ngôi nhà, nhưng đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử Thời gian, thiên nhiên khắc nghiệt và chiến tranh đã khiến cơ cấu đô thị cổ gần như bị phá hủy hoàn toàn Hiện nay, theo thống kê từ Bảo tàng tỉnh Hưng Yên, thành phố chỉ còn khoảng 60 công trình kiến trúc công cộng, gần 100 bia ký và hàng ngàn cổ vật, là những chứng tích quý giá về thời kỳ huy hoàng của một cảng thương mại Tuy nhiên, đa số các công trình này đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, nhiều công trình đã bị biến dạng qua các lần trùng tu và không còn giữ được nguyên trạng ban đầu.
Thực trạng hoạt động du lịch của thành phố Hưng Yên
3.2.1 Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động du lịch của thành phố Hưng Yên
Cơ sở vật chất và kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra và triển khai sản phẩm du lịch, đồng thời quyết định khả năng khai thác tiềm năng du lịch để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Cơ sở vật chất kỹ thuật và tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn, có mối liên hệ chặt chẽ Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này không chỉ nâng cao hiệu quả phục vụ du lịch mà còn kéo dài thời gian sử dụng trong năm.
Thành phố Hưng Yên đang chú trọng phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm phục vụ cho ngành du lịch Điều này bao gồm việc xây dựng các tuyến đường giao thông thuận tiện để kết nối với các thị trường khách.
67 đến thành phố mà còn chú trọng đến cơ sở hạ tầng tại các điểm du lịch
Các di tích lịch sử đang được tu sửa để cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ du khách, bao gồm sửa chữa hỏng hóc và xây dựng các công trình vệ sinh công cộng, nhà khách, và lán xe Kế hoạch này được thực hiện bởi các Ban quản lý di tích nhằm đảm bảo tính hài hòa với cảnh quan xung quanh và bảo vệ môi trường.
Tại các làng nghề truyền thống, bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu Chính quyền địa phương được yêu cầu triển khai các phương án xử lý nước thải để ngăn chặn ô nhiễm môi trường từ hoạt động của các làng nghề.
Chính quyền thành phố chú trọng nâng cao chất lượng cơ sở vật chất phục vụ du lịch, do đó, vào năm 2008, Sở Thương mại đã triển khai dự án tại vị trí bến phà Yên Lệnh cũ.
Lễ khởi công xây dựng Bến cảng đón khách du lịch Phố Hiến trên sông Hồng đã diễn ra, với công trình bao gồm 2 bến khách cùng các hạng mục như bãi đỗ xe, đường xuống bến và hệ thống thoát nước Việc xây dựng bến cảng này mang ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ngành du lịch của tỉnh và thành phố, không chỉ trong hiện tại mà còn cho tương lai Bến cảng sẽ hỗ trợ hoạt động thương mại và du lịch, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của khu vực.
Ngoài ra hệ thống các khách sạn cũng được thống kê, kiểm tra chất lượng thường xuyên (2 lần/năm)
Bảng 3.2 Thống kê số khách sạn đƣợc xếp hạng ở thành phố Hƣng Yên
Stt Tên khách sạn Hạng sao Số phòng
Nam Plaza 2 sao 20 Đường Phạm Ngũ Lão – phường Hồng Châu
Bình 1 sao 10 đường Phạm Bạch Hổ – phường Lam Sơn
1, 2 1 sao 26 Đường Triệu Quang Phục
Thái 2 sao 40 72 Trưng Trắc – phường
Giang 1 sao 26 Đường Chu Mạnh Trinh – phường Hiến Nam
Nguồn: Phòng Văn hóa thông tin thành phố Hưng Yên
Mặc dù cơ sở vật chất phục vụ lưu trú tại thành phố Hưng Yên còn hạn chế, nhưng lượng khách du lịch chủ yếu tham gia các tour lễ hội và tâm linh vẫn khá đông, mặc thời gian lưu trú ngắn Thành phố đã cơ bản đáp ứng nhu cầu của du khách Trong tương lai, chính quyền địa phương sẽ nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và kỹ thuật phục vụ du lịch, nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của du khách, xứng đáng với danh tiếng của Phố Hiến trong quá khứ.
3.2.2 Đội ngũ lao động trong ngành du lịch
Thành phố Hưng Yên đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch, dẫn đến nhu cầu cao về nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực được đào tạo Sự gia tăng lượng khách du lịch trong những năm gần đây không chỉ mang lại tín hiệu tích cực cho ngành công nghiệp không khói, mà còn đặt ra mối lo ngại lớn về tình trạng thiếu hụt và yếu kém của nguồn lực trong ngành.
Bảng 3.3 Cơ cấu đào tạo lao động ngành du lịch của thành phố Hƣng Yên Đơn vị tính: Người
Trên đại học 20 25 Đại học và cao đẳng 50 75 130 170 195
Nguồn: Phòng Văn hóa thông tin thành phố Hưng Yên
Tính đến năm 2011, chỉ có 14,96% trong tổng số gần 700 lao động ngành du lịch tại thành phố có trình độ từ cao đẳng trở lên, cho thấy sự thiếu hụt cả về số lượng lẫn chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực này.
Theo thống kê từ phòng Văn hóa thông tin thành phố, công tác quản lý Nhà nước đối với đào tạo và bồi dưỡng nhân lực trong ngành du lịch hiện vẫn còn nhiều bất cập.
Nhiều doanh nghiệp trong ngành du lịch đang gặp phải tình trạng thiếu lao động có tay nghề cao Mặc dù đã tuyển dụng sinh viên mới tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo, nhưng họ vẫn phải tiến hành "đào tạo lại" và bồi dưỡng thêm để đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường.
Trình độ ngoại ngữ hạn chế và kỹ năng nghiệp vụ thiếu hụt đang cản trở khả năng khai thác nguồn lợi du lịch từ khách quốc tế, đặc biệt là từ các thị trường như Trung Quốc, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, những quốc gia đã có mối quan hệ giao thương với Phố Hiến trong thời kỳ hưng thịnh.
Ngành du lịch của thành phố đang đối mặt với thách thức về nguồn lao động chất lượng Để đáp ứng yêu cầu này, cần có quy trình tuyển sinh, đào tạo và bồi dưỡng khoa học Đồng thời, khuyến khích sinh viên ngành du lịch tham gia thực tập để tích lũy kinh nghiệm và nâng cao khả năng ngoại ngữ là rất quan trọng.
3.2.3 Các tuyến, tour du lịch đang được khai thác
Thành phố Hưng Yên đã đưa vào khai thác một số tuyến du lịch như:
Thành phố Hưng Yên, đặc biệt là khu vực Phố Nối và Phù Ủng, nổi bật với các điểm tham quan lịch sử và văn hóa như di tích Hải Thượng Lãn Ông, khu tưởng niệm cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, và nghề làm tương Bần Thời gian tham quan tại đây thường kéo dài từ 1 đến 2 ngày, tùy thuộc vào các điểm phụ mà du khách muốn khám phá, và có thể lưu trú tại khách sạn Phố Nối để thuận tiện cho việc tham quan.
Đề xuất những giải pháp nhằm bảo vệ và khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên
du lịch nhân văn của thành phố Hƣng Yên
3.4.1 Tuyên truyền, giáo dục nhân dân địa phương hiểu và ý thức được giá trị văn hóa lịch sử của di tích để cùng chính quyền địa phương bảo tồn di tích
Hầu hết các kiến trúc tôn giáo như đình, chùa, đền, miếu tại thành phố Hưng Yên đang xuống cấp nghiêm trọng Để khắc phục tình trạng này, cần một nguồn kinh phí lớn, vượt xa khả năng tài trợ của Nhà nước.
Nhà nước đã ban hành thông tư liên Bộ Văn hóa – Thể Thao – Du lịch và Bộ Tài chính nhằm quản lý và cấp phát ngân sách cho các hoạt động bảo tồn và bảo tàng trên toàn quốc Theo thông tư, có hai nguồn vốn cho việc tu bổ di tích: vốn xây dựng cơ bản và vốn chống xuống cấp Tuy nhiên, ngân sách Trung ương không đủ để đáp ứng tất cả nhu cầu của các địa phương, do đó, vốn chống xuống cấp chủ yếu mang tính chất động viên, khích lệ Uỷ ban nhân dân các cấp cần chủ động dành ngân sách địa phương cho hoạt động này Đặc biệt, nhân dân thành phố Hưng Yên có trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ một phần di sản văn hóa quan trọng của dân tộc, vì vậy, việc huy động sự đóng góp từ cộng đồng là rất cần thiết cho sự nghiệp bảo tồn di sản.
74 tích là một chủ trương đúng đắn cần được vận dụng một cách chủ động, sáng tạo
3.4.2 Trong chính sách phát triển đô thị hiện đại phải vạch ra phương hướng ưu tiên cho việc bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa
Kinh nghiệm từ các nước tiên tiến cho thấy việc bảo vệ và phục hồi di tích chỉ kéo dài tuổi thọ mà không đảm bảo bảo vệ vĩnh viễn Di tích kiến trúc sẽ bị biến đổi theo quy luật tự nhiên và tác động của môi trường Do đó, cần xác lập một chức năng xã hội phù hợp cho di tích, đồng thời đảm bảo chức năng này được khẳng định trong cấu trúc chức năng của đô thị hiện đại.
Bảo tàng Hưng Yên cần nghiên cứu sâu hơn về văn hóa dân gian và lễ hội truyền thống tại các di tích kiến trúc tôn giáo của thành phố Việc phân loại và đánh giá các hình thức sinh hoạt văn hóa là cần thiết để bảo tồn những giá trị tích cực, đồng thời hạn chế hiện tượng tiêu cực xung quanh lễ hội Tuy nhiên, các lễ hội truyền thống ở Hưng Yên nên được phát triển tự nhiên theo quy luật của chúng, tránh việc áp đặt kịch bản lễ hội, vì điều này có thể làm mất đi sự đa dạng và tính chất dân gian độc đáo của từng di tích.
3.4.3 Đầu tư nghiên cứu để xây dựng những tour du lịch độc đáo, riêng biệt phù hợp với tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố
Thành phố Hưng Yên sở hữu 128 di tích lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật, trong đó có 17 di tích được công nhận cấp Quốc gia Nơi đây còn lưu giữ hàng nghìn cổ vật quý giá, thể hiện những giá trị độc đáo về lịch sử và văn hóa.
Có 75 di tích tại Hưng Yên, tạo điều kiện cho việc xây dựng nhiều tour du lịch văn hóa và tôn giáo, hoặc kết hợp với Hà Nội, Hà Nam để hình thành tour “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến” dọc sông Hồng bằng thuyền Những tour này không chỉ quảng bá hình ảnh thành phố Hưng Yên mà còn thúc đẩy việc khôi phục Phố Hiến xưa, đồng thời tạo nguồn thu hấp dẫn để bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa nơi đây.
Em xin đề xuất một số tour như sau:
Du lịch sông Hồng trong 2 ngày 1 đêm bằng tàu thủy từ Hà Nội đến Đa Hòa, Dạ Trạch và Phố Hiến không chỉ mang đến trải nghiệm tham quan các làng nghề và di tích lịch sử văn hóa, mà còn là cơ hội để khôi phục trang phục truyền thống của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ Nhân viên trên tàu có thể mặc trang phục này để phục vụ du khách, đồng thời cung cấp các món ăn truyền thống và tổ chức các hoạt động nghệ thuật dân gian như hát chèo và hát ả đào, tạo nên một trải nghiệm du lịch độc đáo và đậm đà bản sắc văn hóa.
Du lịch sông Hồng với mục đích cho du khách tận mắt nhìn thấy hình ảnh
Tour du lịch "trên bến dưới thuyền" tại Phố Hiến sẽ được khai thác khi bến tàu Yên Lệnh hoàn thành, tái hiện sinh hoạt của cư dân và thương lái thế kỷ XVI, XVII Đây không chỉ là một tour du lịch mà còn giáo dục thế hệ trẻ về niềm tự hào quê hương Hưng Yên Đối tượng khách tiềm năng bao gồm Trung Quốc, Hà Lan, Tây Ban Nha và Nhật Bản, những quốc gia từng có giao thương tại cảng Phố Hiến.
Du lịch sinh thái vườn nhãn tại Hưng Yên mang đến cho du khách trải nghiệm độc đáo từ tháng 4 đến tháng 8 Trong tour, du khách sẽ khám phá những vườn nhãn rộng lớn, chứng kiến quá trình người dân địa phương sản xuất mật ong, hái nhãn, và chế biến long nhãn cùng chè sen Ngoài việc tham gia vào các hoạt động cùng người dân, du khách còn có cơ hội mua sắm các đặc sản địa phương Chuyến đi không chỉ giúp du khách thưởng thức hương vị của nhãn mà còn hiểu rõ hơn về cuộc sống và văn hóa của người dân Hưng Yên.
Nếu có thể đưa vào khai thác, em tin những tour du lịch trên sẽ đem lại hiệu quả cao, góp phần phát triển du lịch của thành phố
3.4.4 Khuyến khích đầu tư vào du lịch, ưu tiên những dự án có tính hiệu quả cao
Trong chính sách phát triển đô thị hiện đại, việc bảo vệ di tích lịch sử văn hóa của thành phố Hưng Yên cần được ưu tiên hàng đầu Quy hoạch tổng thể cho thành phố phải tạo sự cân bằng giữa di sản kiến trúc truyền thống và các công trình hiện đại Hồ Bán Nguyệt cùng với 8 công trình tôn giáo tại phường Lê Lợi sẽ là những điểm nhấn quan trọng trong quy hoạch tương lai Hưng Yên phải chấp nhận sự kết hợp giữa công trình mới và di tích kiến trúc, nhưng các công trình hiện đại cần hòa nhập mà không làm mất đi giá trị lịch sử của di tích Trong trường hợp tranh chấp về quy hoạch, cần ưu tiên bảo vệ các di tích, vì chúng là những giá trị quý báu đã tồn tại và được gìn giữ qua hơn 300 năm.
3.4.5 Phát triển du lịch cộng đồng để hướng tới tương lai lâu dài
Phát triển du lịch cộng đồng và xây dựng chiến lược giáo dục du lịch là rất quan trọng để bảo tồn cảnh quan và môi trường tự nhiên Cần có chiến lược cụ thể từ cấp tỉnh đến địa phương, nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng Giáo dục trách nhiệm bảo vệ môi trường cho người dân và khuyến khích họ đối xử lịch sự, thân thiện với du khách sẽ tạo ra một môi trường du lịch hấp dẫn và bền vững.
Để bảo vệ và giữ gìn cảnh quan sạch đẹp, cần thường xuyên nhắc nhở mọi người thông qua các kiến nghị tại những nơi thích hợp, như gần thùng rác Những thông điệp như "Không ngắt hoa", "Không dẫm lên cỏ" và "Xin mời hãy bỏ rác vào đây" nên được đặt tại các vị trí dễ thấy Ngoài ra, việc lắp đặt biển quảng cáo lưu ý khách tại những khu vực đông người qua lại, như bãi đỗ xe và các tuyến đường dẫn đến di tích, cũng rất cần thiết.
Các biện pháp này không chỉ khuyến khích người dân địa phương tham gia vào phát triển du lịch cộng đồng mà còn nhắc nhở du khách về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và cảnh quan tại điểm đến du lịch.
Tiểu kết
Để Hưng Yên phát triển bền vững và thu hút du khách, cần có những định hướng rõ ràng cùng giải pháp hiệu quả cho hoạt động du lịch Việc bảo tồn giá trị văn hóa và lịch sử là rất quan trọng trong quá trình phát triển Dưới đây là một số giải pháp nhằm góp phần vào chiến lược phát triển du lịch bền vững tại Hưng Yên.
Đánh giá nguồn tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên giúp chúng ta có cái nhìn khách quan về tiềm năng du lịch địa phương Với nguồn lực phong phú, du lịch Hưng Yên hứa hẹn sẽ phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào sự phát triển du lịch của khu vực và toàn quốc.
Thực hiện khóa luận này em đã giải quyết được một số vấn đề sau:
Tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn, đóng vai trò quan trọng trong phát triển ngành du lịch Việc tìm hiểu cơ sở lý luận chung về tài nguyên này giúp nhận diện và đánh giá đúng giá trị của chúng Các phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch cần được áp dụng một cách hệ thống để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả trong khai thác.
Thành phố sở hữu giá trị tài nguyên nhân văn phong phú, bao gồm các di tích lịch sử văn hóa độc đáo, những lễ hội truyền thống đặc sắc, các làng nghề thủ công truyền thống giàu bản sắc và nghệ thuật dân gian truyền thống đa dạng.
Bài viết đánh giá những hạn chế trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hưng Yên, đồng thời phân tích thực trạng hoạt động du lịch tại đây Thành phố Hưng Yên sở hữu nhiều tiềm năng du lịch nhân văn, nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc phát triển bền vững và hiệu quả Việc nhận diện các vấn đề hiện tại sẽ giúp cải thiện hoạt động du lịch và tối ưu hóa giá trị tài nguyên văn hóa của thành phố.
- Đưa ra các giải pháp cho việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố
Trong lần đầu tiếp cận công tác nghiên cứu, tôi nhận thấy vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự quan tâm và đóng góp từ thầy cô cũng như các bạn để nâng cao hiểu biết và có cái nhìn toàn diện hơn về đề tài này.
Việc đánh giá tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn, là một nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi kiến thức sâu rộng, thời gian nghiên cứu và nguồn kinh phí đáng kể Tuy nhiên, đây là công việc cần thiết và quan trọng, tạo nền tảng cho việc thực hiện chiến lược phát triển ngành du lịch một cách hợp lý và hiệu quả Đặc biệt, điều này càng có ý nghĩa đối với thành phố Hưng Yên, nơi du lịch có thể phát huy những thế mạnh sẵn có và khắc phục một số khó khăn mà tỉnh đang gặp phải.
Chính quyền tỉnh và thành phố Hưng Yên cần triển khai các chính sách hợp lý nhằm phát triển ngành du lịch, từ đó thúc đẩy nhanh chóng mục tiêu trở thành thành phố loại 2 xanh, sạch, đẹp và phát triển bền vững của tỉnh.
* Tài liệu tham khảo trên sách in
1 Cục thống kê Hưng Yên - Niên giám thống kê 2010, Nxb Thống Kê, 2010
2 Bùi Thị Hải Yến (Chủ biên), Phạm Hồng Long - Tài nguyên du lịch – Nxb Giáo dục, 2009
3 Hoàng Hữu Xứng, Hoàng Hữu Thường, Nguyễn Hữu Độ, Nguyễn Thuật, Phan Đình Bình - Đại Nam Nhất Thống Chí (tập III) - Nxb Viện sử học thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2006
4 Hội Văn học nghệ thuật Hưng Yên - Phố Hiến lịch sử văn hóa – Nxb Sở Văn hóa thông tin, 1998
5 Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên) – Địa lý du lịch – Nxb thành phố Hồ Chí Minh,
6 Nguyễn Thị Huyền - Báo cáo thực trạng của văn hóa phi vật thể của thị xã Hưng Yên, Nxb Bảo tàng Hưng Yên, 2007
7 Phạm Văn Tuấn - Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh du lịch năm 2010, Nxb Sở Văn hóa thể thao và Du lịc tỉnh Hưng Yên, tháng 4 – 2010
8 Quốc hội Việt Nam - Luật Du lịch - Nxb Lao động, 2006
9 Tổng cục du lịch - Non nước Việt Nam – Nxb Lao động – Xã hội, 2010
10 Sở Văn hóa thông tin – Thể thao Hải Hưng - Phố Hiến – Kỷ yếu hội thảo khoa học - Nxb Sở Văn hóa thông tin – Thể thao Hải Hưng, 1994
11 Trần Đức Thanh - Nhập môn khoa học du lịch – Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005
12 Trần Mạnh Hùng - Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên đến năm 2020, Thị xã Hưng Yên, tháng 3 –
13 Trần Văn Thông – Quy hoạch du lịch – Những vấn đề lý luận và thực tiễn –
Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2005
14 Vũ Triệu Quân - Bài giảng địa lý du lịch (dùng trong các trường trung học chuyên nghiệp Hà Nội) – Nxb Lao động Hà Nội, 2009