1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm của ca dao dân ca đối đáp ở đồng bằng bắc bộ

196 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Của Ca Dao Dân Ca Đối Đáp Ở Đồng Bằng Bắc Bộ
Tác giả Cáp Thị Như Huệ
Người hướng dẫn TS. Hà Thị Thu Hương
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học dân gian
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (0)
  • 2. Lịch sử vấn đề (9)
  • 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (17)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (17)
  • 5. Đóng góp của đề tài (18)
  • 6. Cấu trúc của luận văn (18)
  • Chương 1: Những đặc điểm chung về vùng đồng bằng Bắc Bộ và ca dao dân ca đối đáp (18)
    • 1.1. Những đặc điểm chung về vùng đồng bằng Bắc Bộ (20)
      • 1.1.1. Đặc điểm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội (20)
      • 1.1.2. Đặc điểm môi trường văn hóa tín ngưỡng (25)
    • 1.2. Giới thuyết về ca dao dân ca đối đáp vùng đồng bằng Bắc Bộ (33)
      • 1.2.1. Giới thuyết về khái niệm (33)
      • 1.2.2. Một số thể loại ca dao dân ca (36)
        • 1.2.2.1. Hát Ví (36)
        • 1.2.2.2. Hát Trống quân (38)
        • 1.2.2.3. Hát Quan họ (41)
  • Chương 2. Một số đặc điểm nội dung của ca dao dân ca đối đáp ở đồng bằng Bắc Bộ (19)
    • 2.1. Ca dao dân ca đối đáp diễn tả tình yêu cảnh vật quê hương, đất nước (44)
    • 2.2. Ca dao dân ca đối đáp thể hiện tình yêu đôi lứa (54)
    • 2.3. Ca dao dân ca đối đáp thể hiện phong tục, tập quán (67)
  • Chương 3. Một số đặc điểm nghệ thuật của ca dao dân ca đối đáp ở đồng bằng Bắc Bộ (19)
    • 3.1. Diễn xướng (78)
      • 3.1.1. Không gian diễn xướng (78)
      • 3.1.2. Hình thức diễn xướng (86)
        • 3.1.2.1. Đối đáp (86)
        • 3.1.2.2. Ứng tác (91)
    • 3.2. Thể thơ (94)
    • 3.3. Ngôn ngữ và làn điệu (100)
      • 3.3.1. Ngôn ngữ (100)
      • 3.3.2. Làn điệu (106)
  • KẾT LUẬN (112)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (116)
  • PHỤ LỤC (45)

Nội dung

Lịch sử vấn đề

Ca dao dân ca là nghệ thuật truyền thống của dân tộc, phản ánh tâm tư tình cảm của con người trên khắp mọi miền đất nước Nhiều công trình nghiên cứu đã đóng góp quan trọng trong việc khám phá sự phong phú của thể loại này Các nhà nghiên cứu đã sưu tầm và giới thiệu dân ca từ nhiều vùng miền, nhằm duy trì nét đẹp văn hóa trong hoạt động diễn xướng và bảo tồn kho tàng ca dao dân ca Việt Nam.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, một số công trình ghi chép ca dao dân ca của người Việt đã được xuất bản, như "Tục ngữ phong giao" (1928) của Nguyễn Văn Ngọc và "Tục ngữ ca dao" (1932) của Phạm Quỳnh Tuy nhiên, các học giả trong những công trình này thường ít chú trọng đến vấn đề dị bản và không giải thích rõ ý nghĩa của điển cố, địa danh, mà chủ yếu tập trung vào việc gìn giữ di sản văn hóa cổ.

Ca dao dân ca là đối tượng nghiên cứu quan trọng trong nhiều lĩnh vực như âm nhạc, văn hóa dân gian và dân tộc học Nhiều công trình đã được thực hiện để khảo sát về ca dao dân ca, bao gồm "Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam" (1934) của Nguyễn Văn Huyên, "Dân ca" (1954) của ban Âm nhạc - Hội Văn nghệ Việt Nam, "Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam" (1978) của Vũ Ngọc Phan, "Văn học dân gian Việt Nam" (2006) do GS Đinh Gia Khánh chủ biên, và "Ca dao dân ca Việt Nam: tinh tuyển" (2005) của Kiều Văn Những nghiên cứu này đã cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu ca dao dân ca Việt Nam.

Công trình "Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam" của học giả Nguyễn Văn Huyên là một nghiên cứu có giá trị, ra đời sớm trong lĩnh vực ca dao và dân ca đối đáp.

Năm 1934, học giả Nguyễn Văn Huyên đã công bố công trình "Hát đối" nghiên cứu về hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam Ông đã phân tích hát đối trong bối cảnh các hội hát đối đáp, liên kết với phong tục tập quán của người Việt, qua đó làm nổi bật những nét độc đáo của hình thức nghệ thuật này.

Trước hết, để lý giải về sự ứng tác trong hát đối đáp của người Việt,

Nguyễn Văn Huyên đã nghiên cứu sâu sắc về điệu hát, nhóm từ và câu thơ, từ đó mang đến cho độc giả cái nhìn tổng quan về sự hình thành nhóm từ trong tiếng Việt Nghiên cứu này góp phần lý giải nguyên nhân tại sao người nông dân sử dụng ngôn ngữ một cách đặc trưng và phong phú.

Việt Nam nổi bật với khả năng ứng khẩu trong các cuộc hát, nơi người hát sử dụng các cụm từ đã trở thành ngôn ngữ quen thuộc, tạo ra một nhịp điệu riêng Qua sự liên tưởng, người hát kết nối các hình tượng, tạo ra những phản đề và tương tự, từ đó nảy sinh ý tưởng và lý lẽ Điều này cho phép người nông dân triển khai các đề tài hát một cách tự nhiên và sinh động Nguyễn Văn Huyên đã hệ thống hóa nghiên cứu về hát đối đáp ở Việt Nam, đặc biệt là trong các cuộc hát của nam nữ thanh niên.

Nam của Nguyễn Văn Huyên cũng mới chỉ nói đến mặt dân tộc và phong tục khi miêu tả hát đối của người Việt

Năm 1954, ban Âm nhạc - Hội Văn nghệ Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu và sưu tầm các bản nhạc dân ca từ khắp nơi trong nước, được xuất bản trong cuốn Dân ca, tập 1, Nxb Văn nghệ Tài liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân ca Việt Nam, mặc dù chủ yếu nhằm mục đích trao đổi kiến thức giữa các nhạc sĩ trong lĩnh vực nghiên cứu dân ca.

Để bảo tồn di sản thơ ca dân gian, các tác giả như Tô Vũ và Trần Kiết Tường đã áp dụng phương pháp ký âm và sưu tầm các khúc nhạc dân ca Việt Nam theo thang âm phương Tây.

Bên cạnh hướng tiếp cận từ góc độ âm nhạc, các nhà nghiên cứu còn đứng từ góc độ văn học để nghiên của dân ca

Năm 1977, Mã Giang Lân và Lê Chí Quế trong cuốn "Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam" đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngôn ngữ trong các thể loại văn học dân gian này Họ cho rằng ca dao và dân ca không chỉ là thơ mà còn phản ánh tinh tế cuộc sống và nguyện vọng của nhân dân Các tác giả chỉ ra rằng dân ca gắn liền với lao động, sinh hoạt nghi lễ, phong tục, cũng như đời sống tình cảm và vui chơi của người dân Cuốn sách cung cấp cái nhìn khái quát về nội dung và ngôn ngữ của ca dao, dân ca, nhưng vẫn còn một số hạn chế cần được phát triển thêm.

Trong phạm vi của giáo trình, vấn đề âm nhạc và nghệ thuật diễn xướng của dân ca vẫn chưa được đề cập nhiều Đây là một hướng nghiên cứu mở cho các nhà nghiên cứu trong tương lai.

Khi nghiên cứu ca dao dân ca, cần xem xét không chỉ các bài hát cụ thể mà còn cả hình thức sinh hoạt dân ca tại từng địa phương Việc đặt ca dao dân ca trong mối quan hệ tổng thể giữa các yếu tố là rất quan trọng, vì nếu chỉ tập trung vào một khía cạnh nào đó, sẽ khó nhận diện đầy đủ đặc trưng của thể loại này.

Về phương diện này, chúng tôi nhận thấy công trình Dân ca quan họ

Bắc Ninh, qua nghiên cứu của Trần Linh Quý và Hồng Thao năm 1997, đã xem dân ca như một chỉnh thể để phân tích và tìm hiểu nguồn gốc văn hóa tục lệ vùng quan họ Nghiên cứu này đặt quan họ trong môi trường sinh hoạt tập thể của nhân dân lao động, từ đó rút ra những kết luận về tính chất và đặc điểm âm nhạc quan họ cùng ý nghĩa sâu sắc của nó.

Với phương pháp tiếp cận nghiên cứu chỉnh thể Lê Văn Chưởng trong cuốn Dân ca Việt Nam những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp

Dân ca được xem như một tổng thể hoàn chỉnh và nguyên hợp, bao gồm ba thành tố chính: lời thơ, làn điệu và diễn xướng Dựa trên cách tiếp cận này, Lê Văn Chưởng đã áp dụng phương pháp liên ngành để phân tích và khám phá những đặc trưng riêng biệt của từng thành tố trong dân ca.

Tác giả đã nghiên cứu thang âm, điệu thức và đặc điểm nghệ thuật của âm thanh, nhấn mạnh vai trò quan trọng của làn điệu trong việc tương tác với lời thơ để tạo nên ca từ Đồng thời, từ góc độ văn học, tác giả cũng phân tích nội dung và thi pháp của lời thơ, cũng như mối quan hệ giữa lời thơ và làn điệu.

14 góc độ nghệ thuật trình diễn, tìm hiểu những thể thức diễn xướng trong mối tương quan thể hiện làn điệu và lời thơ”[5, tr 23]

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Ca dao dân ca đối đáp ở vùng đồng bằng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào ca dao dân ca đối đáp đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi có nền văn hóa phong phú Chúng tôi sẽ tìm hiểu các tiểu loại như hát Ví, hát Trống Quân và hát Quan họ, nhằm khái quát những đặc điểm nổi bật của ca dao dân ca đối đáp tại khu vực này.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu các tài liệu từ nhiều nhà nghiên cứu và sưu tầm liên quan đến hình thức hát đối đáp giao duyên, đặc biệt là ví giao duyên giữa nam nữ và dân ca quan họ Bắc Ninh Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thu thập thông tin từ các tỉnh, phòng ban, sở văn hóa địa phương và các văn bản chép tay của người dân từ những vùng có hoạt động hát dân ca đối đáp.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã khảo sát tình hình sinh hoạt Hát

Ví, hát Trống quân cũng nhƣ hát Quan họ ở một số vùng vẫn còn diễn ra

18 hoạt động văn hóa này từ đó nắm đƣợc nội dung lời ca cũng nhƣ tình hình diễn xướng ở địa phương trong vùng hiện nay như thế nào

Bên cạnh đó, các phương pháp thống kê, so sánh, xử lí tài liệu, phân tích, đánh giá cũng đƣợc sử dụng để làm sáng tỏ vấn đề.

Đóng góp của đề tài

Chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ có một số đóng góp sau:

Đề tài này sẽ đóng góp vào nghiên cứu ca dao dân ca đối đáp ở vùng đồng bằng Bắc Bộ bằng cách hệ thống hóa các đặc điểm về nội dung và nghệ thuật Qua đó, nó sẽ giúp định hướng bảo tồn những giá trị văn hóa tinh thần của ông cha ta.

Đề tài này không chỉ thể hiện sự đa dạng và những đặc trưng riêng của văn hóa dân gian đồng bằng Bắc Bộ, mà còn góp phần làm phong phú thêm dòng chảy văn hóa Việt Nam, từ đó nâng cao niềm tự hào về quê hương và đất nước.

Trong luận văn này, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị và biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy phong trào diễn xướng dân ca đối đáp tại vùng này Việc này không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với việc khôi phục và phát triển văn hóa, văn nghệ dân gian của dân tộc mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống.

Cấu trúc của luận văn

Trong luận văn này ngoài PHẦN MỞ ĐẦU VÀ PHẦN KẾT LUẬN, PHẦN NỘI DUNG sẽ được chúng tôi chia thành 3 chương như sau:

Những đặc điểm chung về vùng đồng bằng Bắc Bộ và ca dao dân ca đối đáp

Những đặc điểm chung về vùng đồng bằng Bắc Bộ

1.1.1 Đặc điểm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Đồng bằng Bắc Bộ là nơi diễn ra sự hình thành của văn hóa văn minh người Việt ngay từ buổi ban đầu Khác với địa lý, việc phân vùng văn hóa hiện nay còn nhiều ý kiến chƣa thực sự thống nhất Ví nhƣ, GS Đinh Gia Khánh trong cuốn Các vùng văn hóa Việt Nam đã đặt riêng vùng văn hóa Nghệ - Tĩnh bên cạnh vùng văn hóa đồng băng miền Bắc [17, tr 56 -

Đồng bằng Bắc Bộ bao gồm các lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã, cùng với vùng văn hóa Nghệ - Tĩnh Theo GS Trần Quốc Vượng, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Hà Tây (cũ), Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, cùng với thành phố Hà Nội và Hải Phòng, cũng như phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh.

Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh” “Nhƣ vậy, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ nằm giữa lưu vực những dòng sông Hồng, sông Mã”[51, tr 249]

Đồng bằng sông Hồng và sông Mã là cái nôi của người Việt, nơi hình thành các nền văn hóa như Đông Sơn, Đại Việt và văn hóa hiện đại Từ trung tâm văn hóa này, văn hóa người Việt đã lan tỏa ra khắp các vùng miền trong cả nước.

Vùng đồng bằng Bắc Bộ nằm ở vị trí địa lý trung tâm của con đường giao lưu quốc tế, kết nối theo hai trục chính: Tây – Đông và Bắc – Nam Vị trí này không chỉ thuận lợi cho cư dân trong vùng mà còn tạo điều kiện cho họ tiếp xúc và giao lưu với nhiều luồng văn hóa đa dạng trên toàn cầu.

Đồng bằng Bắc Bộ có địa hình đồi núi xen kẽ với đồng bằng và thung lũng, với độ cao không đồng đều, nơi cao vẫn có những khu vực thấp như Gia Lương (Bắc Ninh) Khí hậu vùng này chia thành bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông, tạo điều kiện tự nhiên đặc trưng cho tập quán canh tác và sinh hoạt của người dân Là một trong những đồng bằng châu thổ lớn nhất Việt Nam, người dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp, với kinh nghiệm dày dạn trong canh tác Từ xa xưa, họ đã biết khai thác nguồn đất đai màu mỡ để trồng lúa nước, cung cấp lương thực cho dân số đông đúc trong vùng.

Làng của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ là một tổ chức xã hội cổ truyền, đại diện tiêu biểu cho hệ thống làng xã ở Việt Nam Đây là một đơn vị cư trú chủ yếu, hình thành từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước.

Làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ là một môi trường văn hóa đặc sắc, nơi người dân sinh hoạt tập thể gắn bó với các thiết chế và quy tắc cụ thể, thể hiện rõ nét tính cộng đồng sâu sắc trong xã hội truyền thống Việt Nam.

Sự tổ chức làng xã của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ phản ánh quá trình chuyển đổi từ các công xã thị tộc sang công xã nông thôn Các vương triều phong kiến đã áp dụng tổ chức hành chính của mình lên các công xã nông thôn, dẫn đến sự hình thành các làng quê.

Tính cộng đồng của làng xã ĐBBB được thể hiện qua sự sở hữu chung đất đai, chế độ ruộng đất công và nghĩa vụ đóng góp của cải, công sức Người dân không chỉ gắn bó qua các hoạt động sản xuất như vỡ hoang, xây dựng công trình thủy lợi, mà còn qua đời sống tinh thần và sinh hoạt tập thể Các công việc trong làng thường do những người đứng đầu giải quyết, cho thấy tính khép kín của làng Việt, nơi mỗi làng là một thể chế riêng biệt Điều này cũng thể hiện qua câu nói: “Phép vua còn thua lệ làng” Mối liên kết giữa con người trong cộng đồng không chỉ dựa trên sở hữu đất đai mà còn trên các quan hệ tâm linh, chuẩn mực xã hội và đạo đức, được đảm bảo bởi các hương ước và khoán ước.

23 Ở mỗi làng ngoài những phong tục chung của vùng miền còn có những quy định riêng thể hiện trong hương ước, khoán ước của mỗi làng

“Hương ước cũng quy định chặt chẽ về sản xuất và bảo vệ môi trường, coi

Hương ước làng xã thường quy định cụ thể về việc sử dụng đất đai, sản xuất nông nghiệp và bảo vệ tài sản của mỗi gia đình Các quy định này bao gồm việc đào kênh mương, đắp và tu bổ đê điều, bảo vệ công cụ sản xuất, đặc biệt là con trâu - đầu cơ nghiệp của người nông dân Ngoài ra, hương ước cũng chú trọng đến việc ngăn ngừa phá hoại và bảo vệ mùa màng, đồng thời có những quy định liên quan đến ngành nghề thủ công và tổ chức phường hội Những quy định chặt chẽ này tạo nên sức mạnh tinh thần không thể phủ nhận trong làng xã, nhưng cũng có thể dẫn đến việc xem nhẹ vai trò của cá nhân trong cộng đồng.

Trong lịch sử, làng đã đóng vai trò quan trọng trong kinh tế, họ tộc và tín ngưỡng, nơi mà mọi người hỗ trợ nhau trong những lúc vui buồn và khó khăn Câu nói "hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau" hay "bán anh em xa mua láng giềng gần" thể hiện rõ tính cộng đồng này Đến nay, tinh thần đoàn kết vẫn còn được thể hiện trong nhiều khía cạnh của các làng xã ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Mái đình là một đặc điểm nổi bật của các làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, đóng vai trò là trung tâm văn hóa và hành chính của cộng đồng Đây không chỉ là nơi diễn ra các công việc quan trọng mà còn mang ý nghĩa linh thiêng, do đó mỗi làng đều cần xây dựng đình làng Việc xây dựng đình cần được thực hiện cẩn thận, xem xét về thế hướng và phong thủy, vì hướng đình được coi là yếu tố quyết định vận mệnh của cả làng Đình cũng là nơi cư dân tập trung để bàn bạc và giải quyết các công việc quan trọng.

Đình là nơi thờ thành hoàng làng, vị thần bảo trợ cho cộng đồng, đồng thời cũng là trung tâm diễn ra các hội làng Những lễ hội này không chỉ nhằm tưởng nhớ và tôn vinh công lao của các vị thần mà còn gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong làng Qua các sự kiện này, văn hóa được gìn giữ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên hình ảnh thân thương gắn bó với làng quê.

Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu tuổi thương mình bấy nhiêu Đình là biểu tƣợng truyền thống cho tính cộng đồng của làng xã

Chính những điều trên góp phần gắn bó những thành viên của làng, của xã với nhau một cách bền chặt

Mái đình và không gian sinh hoạt bên giếng nước, gốc đa là những hình ảnh thân thuộc đối với những người lớn lên ở làng quê.

Trong các gia đình tiểu nông ở đồng bằng Bắc Bộ, mặc dù có sự phụ quyền rõ rệt, vai trò của người phụ nữ vẫn rất quan trọng Họ đảm nhiệm nhiều công việc thiết yếu như chăm sóc đồng áng, làm nghề thủ công, buôn bán và chăm lo đời sống cho các thành viên trong gia đình Những công việc này khẳng định vị trí quan trọng của họ trong gia đình Thậm chí, việc lấy vợ được coi là một trong ba việc quan trọng nhất trong cuộc đời của một người đàn ông, bên cạnh tậu trâu và làm nhà.

Một số đặc điểm nội dung của ca dao dân ca đối đáp ở đồng bằng Bắc Bộ

Ca dao dân ca đối đáp diễn tả tình yêu cảnh vật quê hương, đất nước

Cảm nghĩ về quê hương đất nước là những cảm xúc sâu sắc của con người trước cảnh sắc quen thuộc như sông núi và xóm làng Mỗi người đều gắn bó với miền quê yêu dấu của mình, như câu hát “quê hương mỗi người chỉ một như là chỉ một mẹ thôi” thể hiện Khi nhắc đến quê hương, lòng người tràn đầy cảm xúc thân thương và niềm tự hào, chứng tỏ tình yêu với nơi “chôn nhau cắt rốn” Những cảm xúc này đã được phản ánh trong ca dao – dân gian của người Việt, đặc biệt là trong những câu hát đối đáp ở đồng bằng Bắc Bộ Qua khảo sát một số tài liệu về ca dao dân ca đối đáp, chúng tôi đã tổng hợp được những nội dung tiêu biểu về chủ đề này.

Tên sách Số bài Tỷ lệ

Ví giao duyên: nam nữ đối ca, Nguyễn Khắc Xương 30/940 0.2% Hát Ví đồng bằng Hà Bắc, Mã Giang Lân, Nguyễn

Phụ lục hát trống quân 10/129 7.7%

Dân ca quan họ Bắc Ninh, Nguyễn Văn Phú – Lưu

Hữu Phước- Nguyễn Viêm – Tú Ngọc

Qua bảng thống kê, ca dao dân ca đối đáp thể hiện rõ tình yêu quê hương đất nước với những hình ảnh quen thuộc như giếng nước, gốc đa, mái đình, và cánh đồng thẳng cánh cò bay Những cảnh vật thân quen cùng với nắng mưa đã được khắc họa một cách tự nhiên và sâu lắng trong những câu hát dân ca.

Thiên nhiên phong cảnh tuyệt vời Mây bay lơ lửng, gió trời vi vu Bức tranh phong cảnh bốn mùa Sương sa gió lạnh nắng mưa thế nào?

Dưới đất có núi có sông Chứa chất trong lòng vàng, bạc, kim cương

Có người sinh sống muôn phương Kinh, Tày, Nùng, Mán, Thổ, Mường, Thái, Dao

Bán buôn cũng dệt vó câu Gieo trồng ngô lúa muôn màu tốt tươi”

(trích câu hát Trống quân)

Và đây là khung cảnh thiên nhiên hữu tình, tươi đẹp của quê hương Quan họ (Bắc Ninh):

Thuyền thúng là thuyền thúng ơi

Đặng Xá là nơi tôi đến để chèo đò lên bãi Dương Khê Thuyền nan lướt trên dòng nước, mang theo cánh gió dịu mát Tôi chèo thuyền ra bãi cát, nơi tôi bắt được con cá lăng.

(Thuyền thúng – dân ca quan họ)

Những hình ảnh quen thuộc như cây đa, cây gạo, và cây dừa là biểu tượng thân thương của miền quê Việt Nam Đầu làng thường có cây đa lớn, trong khi cuối làng lại là cây gạo, tạo nên nét đặc trưng riêng biệt cho vùng nông thôn Những hình ảnh này không chỉ gợi nhớ về ký ức tuổi thơ mà còn thể hiện vẻ đẹp giản dị của cuộc sống làng quê.

Dù anh đi sớm về trƣa Thì vào nghỉ mát cây dừa nhà em

Hát Ví thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa thiên nhiên và con người, nơi thiên nhiên cung cấp nguồn tài nguyên phong phú giúp con người chinh phục và làm chủ môi trường sống Qua quá trình lao động cải tạo thiên nhiên, con người không chỉ tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu sống mà còn gắn kết với nhau hơn.

Cô kia áo trắng lòa lòa Lại đây đập đất trồng cà với anh Bao giờ cà chín ca xanh Anh cho một quả để dành muối dƣa

Dân ca đối đáp phản ánh sinh động cuộc sống lao động của người dân, đặc biệt ở đồng bằng Bắc bộ, nơi có truyền thống nông nghiệp thâm canh Những câu hát đối đáp thường vang lên trong các hoạt động đồng ruộng, trở thành tiếng hát xua tan mệt nhọc trong lúc lao động Chẳng hạn, chàng trai đi qua cánh đồng thấy cô gái hái dâu liền cất tiếng hát, tạo nên không khí vui tươi trong công việc.

Hỡi cô nón trắng hái dâu Nghỉ tay ta hát một câu đỡ buồn

Cô gái ý nhị đáp lại rằng:

Cảm ơn chàng đã có lòng

Em đang vội hái để tằm ăn ở nhà

(trích Hát ví) Để từ đó cất cao tiếng hát trao gửi tâm tƣ, giãi bày nỗi lòng riêng: Nam hát:

Ngẫm duyên kỳ ngộ mà may Hẳn rằng duyên nợ đây đây chắc rồi

Vậy thì anh hỏi một lời Ở đây buôn bán người xuôi nghề gì?

Nữ đáp: Ơn chàng đã có lòng vì Ngỏ lời phương tiện, muốn bề tóc tơ

Nhân khi em ở tại nhà

Làm nghề canh cửi sớm khuya chuyên cần

Vốn riêng đƣợc một vài trăm Đem đi buôn bán Đông Xuân chợ này

Buôn hàng vải lụa bấy nay Nhờ trời vốn lãi cộng rày ba trăm

Bức tranh về cuộc sống con người được hiện lên sinh động qua những công việc thường nhật của họ:

Trong quan họ người trồng tre Cho tôi biết thứ tre, Thứ tre trẻ lạt, thứ tre làm nhà Trong quan họ, người trồng cà

Trong ca dao dân ca đối đáp của quan họ Bắc Ninh, thiên nhiên và con người luôn có mối liên hệ chặt chẽ Nhiều câu hát trong tác phẩm dân gian sử dụng hình ảnh thiên nhiên để thể hiện và khắc họa vẻ đẹp của con người.

Trúc xinh trúc mọc bên đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh

Trúc xinh trúc mọc đầu đình Chị Tƣ xinh, chị Tƣ đứng chỗ nào cũng xinh

Có khi lại mượn cớ tả thiên nhiên mà nhắc đến người, đến mình:

Trên trời có đám mây xanh Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng Ƣớc gì anh lấy đƣợc nàng

Cả tỉnh Hà Nội phải dọn đàng đƣa dâu

Qua lao động, con người càng thêm gắn bó với thiên nhiên và cảnh vật quê hương Mối quan hệ tương tác giữa con người và thiên nhiên đã hình thành tình cảm sâu sắc với những cảnh vật quen thuộc.

Tình yêu quê hương, đất nước thường gắn liền với niềm tự hào về vẻ đẹp của quê mình Mọi người luôn muốn chia sẻ với bạn bè khắp nơi về cảnh sắc quê hương, khiến cái tên quê hương trở thành niềm tự hào mỗi khi được nhắc đến Hình ảnh đôi tay nâng cơi trầu, vừa mời gọi vừa thể hiện sự trân trọng, là biểu tượng của tình yêu quê hương sâu sắc.

Tôi là con gái Bắc Ninh Tôi ra Hà Nội, tôi liền buôn chanh

Làng Đào Xá, nơi người dân tự hào thể hiện vẻ đẹp quê hương qua những câu hát Quan họ Bắc Ninh, vẫn say mê hát ca những nét đẹp và cảnh sắc đặc trưng của làng mình.

Làng em nhất xã chia làm ba thôn Làng em đã nức tiếng đồn

Cả làng làm quạt bán buôn đủ nghề Nhiều người đi học đi thi Người thì đỗ trạng người thì vinh hoa…

Trong những câu hát, lời hát, người dân làng Đào Quạt giới thiệu rõ nét về quê hương, nghề truyền thống và những con người nơi đây, với những thành công như “người thì đỗ trạng người thì vinh hoa” Mảnh đất Đào Quạt không chỉ sản sinh ra những người chăm chỉ lao động mà còn rất tài giỏi, góp phần tạo nên danh tiếng cho vùng đất này Hình ảnh làng với các truyền thống văn hóa và nghề nghiệp riêng đã trở thành nét độc đáo, gắn bó với mỗi người dân Đào Quạt và là niềm tự hào của cộng đồng nơi đây.

Giếng nước, gốc đa, đình làng, và ngõ xóm là những hình ảnh quen thuộc trong câu hát dân ca, tạo nên sự gần gũi và thân thuộc Những cảnh vật này không chỉ làm nổi bật vẻ đẹp của quê hương mà còn khắc sâu tình yêu và lòng mến thương của người nghe đối với con người và mảnh đất được nhắc đến.

… Làng em có giếng Đình Ba Tuần phòng cẩn mật cho ta chơi bời

Làng em chín giếng chàng ơi Xung quanh lát đá nước thời trong veo…

Người hát không chỉ bày tỏ niềm tự hào về quê hương mà còn giới thiệu những nét đặc sắc và truyền thống của địa phương Tại làng Đào Quạt, nghề làm quạt không chỉ là một nghề truyền thống mà còn mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng.

Những chiếc quạt không chỉ đóng góp vào nền kinh tế mà còn thể hiện niềm tự hào của người dân làng Sự khéo léo của họ đã tạo ra những sản phẩm độc đáo, góp phần làm phong phú thêm văn hóa địa phương.

Làng tôi tên gọi làng Đầu (1)

Có nghề đan quạt đủ màu đỏ xanh Quạt to thì để dâng vua Quạt vừa đủ bán cho người khách sang…

Quê hương là nơi gắn bó thân thiết với mỗi con người, bao gồm ruộng đồng, bờ bãi, giếng nước, sân đình và con đường làng nhỏ Những hình ảnh này không chỉ là niềm tự hào của dân làng mà còn tạo nên tình yêu quê hương và sự kết nối giữa mọi người Trong môi trường văn hóa chung, họ cùng nhau trải qua những khoảnh khắc vui buồn, hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống Đối với người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, niềm vui lớn nhất chính là mùa màng bội thu, phản ánh tâm hồn chân chất và đôn hậu của những người nông dân nơi đây.

Mấy năm hai vụ đƣợc mùa Đến rằm tháng Tám tha hồ mà vui

Ca dao dân ca đối đáp thể hiện tình yêu đôi lứa

Tình yêu từ lâu đã là nguồn cảm hứng cho nghệ sĩ trong văn học nghệ thuật, thể hiện qua sự đa dạng và phong phú Trong ca dao, dân ca Bắc Bộ, tình yêu lứa đôi chiếm ưu thế, phản ánh sâu sắc cảm xúc riêng tư Mã Giang Lân nhận định rằng ca dao về tình yêu nam nữ là phong phú và sâu sắc nhất, với những cuộc gặp gỡ, thổ lộ tình cảm trong lao động và lễ hội Những câu ca dao này thể hiện mọi sắc thái của tình yêu, từ hạnh phúc, mơ ước đến nỗi nhớ nhung và đau khổ Thống kê từ tài liệu ca dao dân ca cho thấy nội dung tình cảm đôi lứa là chủ đề chủ yếu trong văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Tên sách Số bài Tỷ lệ

Ví giao duyên: nam nữ đối ca, Nguyễn Khắc Xương 880/940 93.6% Hát Ví đồng bằng Hà Bắc, Mã Giang Lân, Nguyễn

Phụ lục hát trống quân 70/129 54.3%

Dân ca quan họ Bắc Ninh, Nguyễn Văn Phú – Lưu

Hữu Phước- Nguyễn Viêm – Tú Ngọc 190/288 65.9%

Trong hát đối đáp, phần hát giao duyên là điểm thu hút nhất, thể hiện tình yêu đôi lứa chiếm phần lớn nội dung ca dao dân ca ở đồng bằng Bắc Bộ Những cảm xúc đa dạng của các đôi nam nữ được thể hiện sinh động qua cuộc hát, từ việc hỏi han, thử tài đến việc trao gửi tâm tình Những tâm tư thầm kín nhất của con người được phơi bày qua từng lời hát.

Nguyễn Khắc Xương trong cuốn "Ví giao duyên – Nam nữ đối ca" đã đề cập đến việc trên các sạp sách trước Cách mạng, có nhiều quyển sách mang tên như “Câu hát huê tình tâm soạn”, “Huê tình vấn đáp” và “Hát huê tình đối đáp” Những tên gọi này cho thấy hát huê tình là một phần quan trọng và phổ biến trong thể loại ví giao duyên.

Tới đây anh hát huê tình Đêm thanh trăng rạng, bạn mình đối chơi Gặp phải lúc trăng thanh gió mát Thế nào vui bằng hát huê tình

“Huê tình” chỉ là nội dung giao duyên của “ví giao duyên nam nữ” ”[54, tr 15]

Tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, nam nữ thanh niên thường gặp gỡ nhau trong quá trình lao động, từ đó thể hiện những phẩm chất tốt đẹp của con người Bối cảnh giao lưu giữa chàng trai và cô gái trong ca dao, dân ca thường diễn ra tại những không gian sinh hoạt quen thuộc, gắn liền với đời sống lao động như đường làng, bờ đê, bến sông, bờ ao, sân đình, giếng nước và cánh đồng.

Chị em đi cấy đồng mùa

Gặp ngày tháng sáu mƣa to ƣớt đầu Thế mà em vẫn tươi màu, Thấy anh đội nón, ngẩng đầu em trông

Anh ơi, hãy dừng lại giữa cánh đồng, cho em mượn chiếc nón để che mưa Hôm nay, trời đổ mưa rào, giúp chúng em cấy lúa sớm mà không lo hao hụt giống Hy vọng rằng, mai sau, mùa màng sẽ bội thu, đầy ắp thóc lúa.

Em về em lấy học trò nhƣ anh

Qua sông sông chẳng có cầu Xuống thuyền cô gái nghiêng đầu làm duyên

Tóc em nhƣ thể tóc tiên

Em tựa mạn thuyền nhƣ bóng Hằng Nga Đường về Cát động còn xa Cho anh sang với kẻo mà trời mƣa

- Em là cô gái Bảo Từ Soi gương mặt nước bao giờ thành quen

Tóc mây gió thổi vô duyên

Em đứng mạn thuyền, vẫn đợi chờ ai Đường về bên ấy còn dài Đôn Thƣ, Cát Động, Kim Bài quê chung

Thuyền em chở khách sang sông Anh mau xuống bến để không lỡ đò

Những cuộc gặp gỡ tình cờ trong cuộc sống thường nhật tạo nên những kỷ niệm sâu sắc cho các chàng trai và cô gái, đồng thời là nơi bộc lộ những tâm tư chân thành của họ Tuy nhiên, dưới chế độ phong kiến xưa, trai gái không được phép tự do đến với nhau, đặc biệt là các cô gái phải tuân theo sự sắp đặt của cha mẹ, khiến cho việc yêu đương và gặp gỡ trở thành điều cấm kỵ.

Quy tắc cách ly nam nữ chủ yếu áp dụng trong giới quý tộc và gia đình nhà nho, nơi cha mẹ giữ quyền lực tuyệt đối đối với con cái Tuy nhiên, ở nông thôn, nam nữ thường xuyên tiếp xúc trong các công việc như cấy lúa, gặt hái, và làm đường, tạo cơ hội cho họ giao lưu và thể hiện tình cảm qua những câu hát trong lao động và lễ hội Tình cảm giữa họ nảy sinh một cách tự nhiên, từ ánh mắt, nụ cười và những cử chỉ thân thiện, không bị áp lực hay sắp đặt Điều này cho thấy sự công khai trong việc thể hiện tình cảm nam nữ, phản ánh tư duy cởi mở hơn trong xã hội phong kiến.

58 chống lại quy tắc “cách ly nam – nữ” của lễ giáo Trung Hoa xƣa ảnh hưởng sâu nặng trong đời sống sinh hoạt của người Việt một thời

Qua lời ca, câu hát, họ cảm nhận được sự thủy chung và chân thành của nhau, cùng với nét đẹp tâm hồn (cái duyên, cái nết) mà từ đó hình thành nên duyên vợ chồng.

Gặp đây anh nắm cô tay, Anh yêu vì nết anh say vì tình Ngƣợc xuôi chi nữa bởi mình Duyên ta đã bén với tình thì thôi

Anh còn son em cũng còn son Ƣớc gì ta đƣợc làm con một nhà

Và cùng nhau ƣớc mơ về một mái ấm gia đình:

Chung thầy chung mẹ mình ơi Chung khăn rửa mặt chung mùi hương lan Chung giường, chung chiếu, chung màn Chung chăn đắp ấm chung giường ngồi chơi

Mặc dù bị ràng buộc bởi các luật lệ phong kiến, những lời ca vẫn thể hiện công khai những xúc cảm riêng tư về tình yêu và ước vọng hạnh phúc lứa đôi Đặc biệt, hình thức hát Trống quân là một minh chứng rõ nét cho điều này.

Hát giao duyên là hình thức đối đáp giữa nam và nữ, phản ánh mọi khía cạnh của tình yêu qua các giai đoạn như gặp gỡ, ướm hỏi, ngỏ lời, thề nguyền, thách cưới, chia tay và trách móc Những biểu hiện này được thể hiện qua tiếng hát say sưa, lành mạnh và khoẻ khoắn của người lao động.

Khi bắt đầu cuộc hát, nam và nữ thường thăm dò nhau bằng những câu hỏi về tình trạng hôn nhân Trong thể loại hát Trống quân, người nam thường sử dụng lời ướm hỏi để tìm hiểu đối phương, chẳng hạn như hỏi xem họ đã lập gia đình hay chưa.

Tháng Tám anh đi chơi xuân Đồn đây mở hội trống quân anh vào Trước khi hát, anh có lời rao:

Không chồng thì vào, có chồng thì ra

Có chồng thì tránh cho xa Không chồng thì hãy lân la tới gần

Bên nữ không thua kém gì đáp lại rằng:

Trống quân em lập lên đây, Áo giải làm chiếu, khăn quây làm mùng Đùa vui dưới ánh trăng trong

Có con cũng hát, có chồng em cũng chơi

Con em thì mƣợn vú nuôi Chồng em thì để hát chơi xóm nhà

Trong Hát Ví, nghệ thuật đối đáp thường bắt đầu khi người hát mượn cớ từ một vật của đối phương để thể hiện tâm tư của mình Ví dụ, chàng trai khéo léo mượn chiếc nón của cô gái để truyền tải những cảm xúc sâu sắc qua lời ca.

Gặp đây anh bắt nón này Khéo nói anh giả vung tay anh cầm

Nón này nón của tri âm Thì cho anh mƣợn anh cầm vài hôm

Anh ta cầm chiếc nón của cô gái, vừa để dò hỏi tính cách của cô, vừa xem cô có tình cảm với mình hay không “Nón này là của tri âm, cho anh mượn vài hôm nhé.” Đây là một cách tỏ tình tế nhị, buộc cô gái phải có câu trả lời Tuy nhiên, việc trả lời không dễ dàng; nói thẳng có thể không tiện, còn nói khéo lại có thể làm mất lòng Cô gái, với sự thông minh của mình, đã đáp lại một cách khéo léo.

Nón này thầy mẹ anh mua Nếu phải của thiếp thiếp đƣa cho chàng Nón em bốn chữ niêm phong

Có con rồng bạch nó nằm trong khua

Lời hát không chỉ phản ánh tâm tư mà còn thể hiện phẩm hạnh và sự khéo léo trong ứng xử của người con gái Dù có tình cảm với chàng trai, nàng vẫn không thể để chàng cầm chiếc nón, có lẽ vì lo lắng khi về nhà sẽ khó giải thích với cha mẹ Phản ứng của cô gái cho thấy sự thông minh và sắc sảo của nàng.

Khi đã yêu nhau thì trao đổi những lời yêu thương mà cũng có khi là lời nhắc:

Ví dù nàng có yêu ta Thì đừng quản ngại đường xa lối gần

Khi yêu, nỗi nhớ và mong muốn gặp gỡ người mình thương luôn hiện hữu, khiến người ta không ngại ngần vượt qua khoảng cách Tuy nhiên, trong trường hợp này, dù tình yêu mạnh mẽ, địa hình cách trở đã ngăn cản cô gái gặp gỡ bạn mình, khiến lòng cô không vui Cô đã thẳng thắn bày tỏ nỗi lòng của mình.

Cách nhau một con sông ngang Giờ về cũng dở giờ sang cũng rầy

Cho nên em đứng bên này Đò ngang chẳng có nước đầy một sông

Lội sang sợ ƣớt yếm hồng Giờ về nhớ bạn trong lòng không vui

Một số đặc điểm nghệ thuật của ca dao dân ca đối đáp ở đồng bằng Bắc Bộ

Ngày đăng: 12/07/2021, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Kế Bính (2001), Việt Nam phong tục, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn hoá – Thông tin
Năm: 2001
2. Nguyễn Hữu Bổn (sưu tầm, biên soạn), Hát trống quân Dạ Trạch, Tài liệu điền dã tháng 3 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát trống quân Dạ Trạch
3. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2003
4. Chu Ngọc Chi (1934), Các bài hát Ví, nhà in Thái Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài hát Ví
Tác giả: Chu Ngọc Chi
Năm: 1934
5. Lê Văn Chưởng (2004), Dân ca Việt Nam: những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Việt Nam: những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
6. Ngô Đạt (2005), Hát Ví ở Bắc Giang, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát Ví ở Bắc Giang
Tác giả: Ngô Đạt
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
7. Lâm Minh Đức (2005), Dân ca quan họ Bắc Ninh: 100 lời cổ, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca quan họ Bắc Ninh: 100 lời cổ
Tác giả: Lâm Minh Đức
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2005
8. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984), Ca dao dân ca Nam Bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca Nam Bộ
Tác giả: Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1984
9. Tuấn Giang (2006), Giá trị nghệ thuật của diễn xướng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị nghệ thuật của diễn xướng dân gian Việt Nam
Tác giả: Tuấn Giang
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2006
10. Dương Quảng Hàm (1961), Việt Nam Văn học sử yếu, Bộ QGGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Năm: 1961
11. Bùi Trọng Hiền (1998), Hát trống quân Dạ Trạch, Báo cáo Khoa học, Viện Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát trống quân Dạ Trạch
Tác giả: Bùi Trọng Hiền
Năm: 1998
12. Nguyễn Văn Hòa (2011), Dân ca Thái vùng Tây Bắc – Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Thái vùng Tây Bắc – Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hòa
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2011
13. Lan Hương (2005), Ca dao Việt Nam về tình yêu đôi lứa, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam về tình yêu đôi lứa
Tác giả: Lan Hương
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
14. Nguyễn Xuân Kính (2006), Thi pháp ca dao, Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
15. Đinh Gia Khánh (1983), Ca dao Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1983
16. Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1989
17. Đinh Gia Khánh (1995), Các vùng văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vùng văn hóa Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
18. Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa dân gian Việt Nam dưới sự phát triển của xã hội Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam dưới sự phát triển của xã hội Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
19. Đinh Gia Khánh (chủ biên) (2006), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
21. Vũ Tiến Kỳ (chủ biên) - Nguyễn Đức Can (2010), Tục ngữ ca dao Hƣng Yên, Nxb Văn hoá – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao Hƣng Yên
Tác giả: Vũ Tiến Kỳ (chủ biên) - Nguyễn Đức Can
Nhà XB: Nxb Văn hoá – Thông tin
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w