1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của phật giáo và đạo giáo đến tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ

119 674 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn trên, cùng với sự say mê với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, nhất là văn hóa thờ Mẫu thần của người Việt, tôi chọn vấn đề “Ảnh hưởng của P

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo đến

tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2014

Học viên

Nguyễn Thị Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành được luận văn này, trước hết em xin cảm ơn sự dạy dỗ tận tình của các Thầy giáo, Cô giáo khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội trong thời gian em học tập và rèn luyện tại khoa cũng như sự động viên giúp đỡ từ phía bạn bè và gia đình

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình, chu đáo, luôn động viên giúp đỡ em của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành luận văn này

Do thời gian và trình độ còn hạn chế, luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, bạn bè để em có thể tiếp tục hoàn thiện hơn trong các nghiên cứu sau này

Em xin cảm ơn!

Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2014

Học viên

Nguyễn Thị Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG: CHƯƠNG I: KHÁI LƯỢC VỀ TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 6

1.1 Tổng quan về tín ngưỡng, tôn giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ 6

1.1.1 Đặc trưng về văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ 6

1.1.2 Phật giáo và Đạo giáo trong bối cảnh tín ngưỡng, tôn giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ 16

1.2 Tổng quan về tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ 26

1.2.1 Lược sử các loại hình thờ Mẫu tiêu biểu 26

1.2.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ 34

CHƯƠNG II: DẤU ẤN ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO VÀ ĐẠO GIÁO ĐẾN TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 43

2.1 Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu 43

2.1.1 Ảnh hưởng của yếu tố Mật tông 43

2.1.2 Ảnh hưởng của hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát 55

2.2 Ảnh hưởng của Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ 69

2.2.1 Ảnh hưởng từ quan niệm vũ trụ luận của Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu 69

2.2.2 Ảnh hưởng của Đạo giáo thần tiên, phù thủy đến tín ngưỡng thờ Mẫu 80

2.3 Đánh giá chung về sự ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ 93

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa trên thế giới diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, văn hóa Việt Nam cũng như bất kì một nền văn hóa nào khác luôn đứng trước thử thách là làm sao có thể bảo tồn được cái bản sắc truyền thống của nền văn hóa dân tộc Điều này đã thôi thúc người Việt Nam, đặc biệt là các nhà nghiên cứu tìm về với các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, trong

đó có văn hóa tâm linh Sự hồi sinh và phát triển của một loạt các tín ngưỡng truyền thống là minh chứng rõ nét nhất cho thực tế này trong đời sống tín ngưỡng và tôn giáo của người Việt Nam Trong giới nghiên cứu khoa học cũng đã có cách nhìn nhận đúng đắn và công bằng hơn với các loại hình tín ngưỡng truyền thống này, tiêu biểu là với tín ngưỡng thờ Mẫu - loại hình tín ngưỡng đặc trưng của người Việt

Tín ngưỡng thờ Mẫu thần là một trong những loại hình tín ngưỡng lâu đời và mang đậm màu sắc bản địa của người Việt Nó đã có thời kì được cả giới quý tộc và tầng lớp bình dân coi trọng và tôn sùng Tín ngưỡng thờ Mẫu thần cũng là tín ngưỡng tiêu biểu cho quá trình nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa tôn giáo mang màu sắc dân tộc độc đáo Mặc dù trải qua một thời kỳ dài bị quy vào hiện tượng “mê tín dị đoan”, bỏ quên những giá trị văn hóa tư tưởng độc đáo của nó, nhưng trên thực tế tín ngưỡng thờ Mẫu thần vẫn tồn tại và từng bước tìm lại chỗ đứng trong xã hội hiện đại

Đi tìm nguyên do cho sức sống bền bỉ của tín ngưỡng này trong lịch sử,

có thể thấy chính sự biến đổi thông qua việc tiếp nhận ảnh hưởng của các loại hình niềm tin tôn giáo ở Việt Nam đã góp phần khiến nó tồn tại qua thời gian

và ngày càng khẳng định vị thế của mình trong đời sống tâm linh của người Việt từ quá khứ đến hiện tại cũng như trong tương lai Trong số các loại hình tôn giáo có ảnh hưởng trực tiếp đến tín ngưỡng thờ Mẫu, đặc biệt phải kể đến Phật giáo và Đạo giáo – hai tôn giáo ngoại sinh nhưng khi vào Việt Nam đã

Trang 7

có sự thâm nhập và hòa trộn với các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo bản địa, trong đó có thờ Mẫu thần

Việc nghiên cứu những ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu thần chính là một trong những cách tiếp cận gần với bản chất tồn tại của nó, tuy độc đáo nhưng cũng nhiều tranh cãi Từ đó phân định được đâu là những giá trị cần bảo tồn và phát huy cũng như đâu là những hạn chế cần khắc phục, góp phần vào việc gìn giữ những giá trị độc đáo của nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn trên, cùng với sự say mê với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, nhất là văn hóa thờ Mẫu thần của

người Việt, tôi chọn vấn đề “Ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo đến

tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ” làm đề tài luận văn Thạc sĩ

Triết học

2 Tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các loại hình tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam, nhất là Phật giáo và Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu tuy không còn xa lạ nhưng cho đến nay mới chỉ có một số công trình nghiên cứu

đề cập đến vấn đề này trong các sách nghiên cứu chuyên sâu về Đạo Mẫu và tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam, ở những góc độ khác nhau:

Giáo sư Ngô Đức Thịnh là người đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu cũng như khẳng định tính độc đáo, đa dạng rất đáng được bảo tồn của tín ngưỡng này Trong tác phẩm “Đạo Mẫu ở Việt Nam”, Giáo sư đã nghiên cứu và hệ thống một cách khá đầy đủ về Đạo Mẫu Cuốn sách đi sâu nghiên cứu Đạo Mẫu từ khía cạnh xã hội và con người, từ cộng đồng tới cá nhân, làm cho nó trở lên sinh động, có sức sống hơn Giáo sư đã nhận định:

“Từ việc thờ Nữ thần, Mẫu thần đến các Mẫu Tam phủ - Tứ phủ là một bước phát triển về nhiều mặt Tác nhân của sự phát triển ấy không chỉ có nhân tố nội sinh mà cả ngoại sinh nữa” Ngoài ra, Giáo sư cũng có rất nhiều tác phẩm khác đề cập đến đề cập đến đề tài này như: Đạo Mẫu (Nxb Khoa học Xã hội,

Trang 8

2007), Lên đồng, hành trình của thần linh và thân phận (Nxb Thế giới, 2008), Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, 2004), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng (Nxb Khoa học xã hội, 2001)…

Các nhà nghiên cứu khác cũng đã có những đánh giá về sự tác động của Phật giáo và Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam nhưng mới chỉ dừng lại ở việc đề cập đến tác động của Phật giáo hoặc Đạo giáo (đa phần là Đạo giáo) đến tín ngưỡng thờ Mẫu chứ chưa phải là những nghiên cứu tổng quát, chuyên sâu như:

- Nguyễn Đăng Duy, “Đạo giáo với văn hóa Việt Nam” - Nxb Hà Nội, 2001

- Nguyễn Đăng Duy, “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” - Nxb ĐHQG, 2000

- Nguyễn Minh San, “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” - Nxb Văn hóa dân tộc, 1998

- Phan Ngọc, “Bản sắc văn hóa Việt Nam” - Nxb Văn hóa thông tin,

Bên cạnh đó còn có nhiều bài viết về tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt trên các tạp chí: Nghiên cứu Tôn giáo, Nghiên cứu Phật học Nghiên cứu Văn hóa dân gian…

Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến sự ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo ở Việt Nam đến tín ngưỡng thờ Mẫu Tuy nhiên, các công trình có trước chưa nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề này để có cái nhìn vừa chi tiết, vừa tổng quát Kế thừa kết quả mà các tác giả trước đã đạt được, tác

Trang 9

giả luận văn đi sâu nghiên cứu các ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo đối với tín ngưỡng thờ Mẫu thần trong lịch sử, một lần nữa quay trở lại với đối tượng còn cần được khám phá đi sâu hơn nữa

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Trình bày một cách tương đối hệ thống về những ảnh hưởng

của Phật giáo và Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc

Bộ

- Nhiệm vụ: Luận văn giải quyết những vấn đề sau đây:

Thứ nhất: tổng quan về bối cảnh tín ngưỡng, tôn giáo vùng đồng bằng

Bắc Bộ trong đó nhấn mạnh đến Phật giáo và Đạo giáo

Thứ hai: tổng quan về tín ngưỡng Mẫu thần, các loại hình thờ Mẫu tiêu

biểu ở đồng bằng Bắc Bộ

Thứ ba: Phân tích những biểu hiện cụ thể tác động của Phật giáo và

Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ

Thứ tư: Bước đầu đưa ra những đánh giá tổng quát về sự ảnh hưởng

của Phật giáo và Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo đến tín

ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ

- Phạm vi nghiên cứu: Ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo đến tín

ngưỡng thờ Mẫu thể hiện trong niềm tin, không gian thờ cúng và nghi

lễ thờ cúng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, lôgic - lịch sử, xem xét vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo xuất phát từ nhu cầu tôn giáo

Trang 10

6 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn góp một phần vào việc nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo đến tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng Qua đó, thấy được những giá trị văn hóa, tư tưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, vai trò của nó trong nền văn hóa dân tộc, nhất là trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời đại ngày nay

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này

7 Kết cấu của luận văn

Cùng với phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 5 tiết

Trang 11

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: KHÁI LƯỢC VỀ TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ

MẪU Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

1.1 Tổng quan về tín ngưỡng, tôn giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ

1.1.1 Đặc trưng về văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ

Vùng châu thổ Bắc Bộ là vùng đất có lịch sử lâu đời của người Việt, đây là cái nôi hình thành văn hóa, văn minh Việt từ buổi ban đầu đồng thời cũng là vùng văn hóa bảo lưu nhiều giá trị truyền thống hơn cả Bám sát theo tiến trình lịch sử Việt Nam và những cứ liệu lịch sử có thể thấy những nét khái lược về lịch sử hình thành và phát triển của đồng bằng Bắc Bộ

Khu vực đồng bằng Bắc Bộ không phải là vùng có con người sinh sống sớm nhất ở Việt Nam nhưng đây là nơi đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ có tính quyết định sang một hình thái xã hội cao hơn – xã hội có giai cấp và nhà nước sơ khai Dấu tích sinh sống của người Việt chỉ xuất hiện ở Bắc Bộ từ cuối thời kỳ đá mới, do trước đó đồng bằng Bắc Bộ cùng với các đồng bằng khác đều đang ở giai đoạn hình thành, chưa thích hợp cho đời sống định cư lâu dài của con người Nhưng khi đã kiến tạo hoàn chỉnh, trở thành một vùng đồng bằng phì nhiêu, trù phú thuận lợi cho canh tác và sinh sống, đồng bằng Bắc Bộ nhanh chóng trở thành nơi quần tụ của những tộc người, cái nôi của những nền văn hóa rực rỡ của người Việt gắn với nền nông nghiệp trồng lúa nước với những dấu tích còn xót lại của văn hóa Phùng Nguyên, Đông Sơn…

Bước vào những thiên niên kỷ đầu công nguyên, đồng bằng Bắc Bộ và văn hóa Bắc Bộ bắt đầu phải chịu những thách thức, bị rơi vào tình trạng bị

đô hộ Tiếp theo đó là cuộc đấu tranh chống lại những chính sách bóc lột, đồng hóa phong kiến phương Bắc, bảo vệ bản sắc dân tộc trong suốt 10 thế

kỷ Đây là thời kỳ khó khăn nhưng đồng thời nó cũng là thời kỳ đã tạo nên một trong những nét đặc trưng của văn hóa Bắc Bộ sau này là tính chất hỗn dung, đa dạng nhưng mang đậm nét bản địa độc đáo

Trang 12

Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, người Việt bước vào thời kỳ tự chủ kéo dài từ 938 đến 1858 Đây là thời kỳ các vương triều liên tục thay thế nhau xây dựng một quốc gia tự chủ xen giữa là những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước, tất cả tạo thành một dòng chảy lịch sử liên tục Trong đó, đồng bằng Bắc Bộ đóng vai trò quan trọng, là kinh đô của nhiều triều đại phong kiến, đồng nghĩa với việc trở thành trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả nước

Bước vào giai đoạn bị đế quốc thực dân xâm lược kéo dài từ 1858 đến

1945, dù trải qua nhiều biến cố, chuyển tiếp của lịch sử, xã hội nhưng Bắc Bộ vẫn giữ được vị thế kinh tế - chính trị - văn hóa của mình Bản sắc văn hóa của Bắc Bộ vẫn không hề bị mất đi dù bản thân nó đã có những bước chuyển mình không nhỏ

Xem xét lịch sử hình thành và phát triển của đồng bằng Bắc Bộ để thấy vai trò, vị trí quan trọng của Bắc Bộ cũng như văn hóa Bắc Bộ trong dòng chảy văn hóa dân tộc Đây là vùng đất lịch sử lâu đời, nơi khai sinh của các triều đại, các trung tâm kinh tế, các giá trị văn hóa truyền thống…

Ở bất kì một vùng đất nào, văn hóa luôn bị quy định bởi kinh tế còn kinh tế lại bị quy định bởi điều kiện tự nhiên và môi trường sống Với đồng bằng Bắc Bộ, cũng xuất phát từ những đặc điểm riêng về địa hình, khí hậu, môi trường tự nhiên, mà từ đó cư dân đồng bằng Bắc Bộ đã tạo ra những sắc thái không thể nhầm lẫn về kinh tế - văn hóa với các khu vực khác

Về vị trí địa lí vùng châu thổ Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây - Đông và Bắc - Nam, là đầu cầu từ biển xâm lấn lục địa và đồng thời cũng là đầu cầu Nam tiến Vị trí địa lý này khiến cho đồng bằng Bắc Bộ trở thành vị trí tiền đồn để tiến tới các vùng khác trong nước và Đông Nam Á, cũng đồng nghĩa với việc Bắc Bộ là mục tiêu xâm lược đầu tiên của tất cả bọn xâm lược muốn bành trướng thế lực vào lãnh thổ Đông Nam Á Cũng chính vị trí địa lý này cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho

Trang 13

đồng bằng Bắc Bộ trong giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trở thành vùng đất hội tụ của rất nhiều hệ thống tư tưởng lớn của nhân loại

Bắc Bộ đặc trưng bởi địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng, thấp và bằng phẳng, khí hậu thất thường và khác biệt so với các vùng miền khác trong cả nước với khí hậu bốn mùa tương đối rõ nét, có một mùa đông thực sự với ba tháng có nhiệt độ trung bình dưới 18 độ nhưng đến mùa hè lại nóng ẩm

Một trong những đặc trưng tự nhiên của đồng bằng Bắc Bộ là môi trường nước với mạng lưới sông ngòi, ao, hồ dày đặc Các con sông lớn trong vùng như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã Chính yếu tố nước tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lí ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu vực này Thêm vào đó, Bắc Bộ có một hệ sinh thái phồn tạp, chỉ số đa dạng giữa số giống loài và

số cá thể rất cao, thực vật phát triển hơn động vật Vì vậy mà trong thời tiền sử, kinh tế hái lượm vượt trội hơn hẳn săn bắn

Từ những điều kiện tự nhiên trên, cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ sống bằng nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp thuần túy Lại thêm có nhiều sông ngòi, mương máng, ao hồ nên người dân trọng về việc khai thác thủy sản Đã

có lúc việc khai thác ao hồ thả cá tôm được đưa lên hàng đầu như một câu ngạn ngữ:

Nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền (nhất thả cá ao, nhì làm vườn, ba làm ruộng)

Dù sao, phương thức canh tác chính của cư dân đồng bằng sông Hồng vẫn là trồng lúa nước (khoảng 82% diện tích trồng trọt cây lương thực)

Nhưng do đất đai ở Bắc Bộ không phải là nhiều, dân cư lại đông cùng với đó là sự lạc hậu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, sự tồn tại lâu dài

và phổ biến của hình thái sở hữu nhà nước về ruộng đất đã tạo nên tính chất

đa thành phần của nền kinh tế Vì thế, để tận dụng thời gian nông nhàn, cư

Trang 14

dân Bắc Bộ đã tổ chức thêm những nghành nghề khác như tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi, đánh bắt, buôn bán nhỏ lẻ…

Về mặt xã hội, người Bắc Bộ sống quần tụ thành làng Làng là đơn vị

xã hội cơ sở của nông thôn Bắc Bộ, tế bào sống của xã hội Việt Nó là kết quả của các công xã thị tộc nguyên thủy sang công xã nông thôn Các vương triều phong kiến đã chụp xuống công xã nông thôn ấy tổ chức hành chính của mình

và nó trở thành các làng quê Tiến trình lịch sử đã khiến cho làng Việt Bắc Bộ

là một tiểu xã hội trồng lúa nước, một xã hội của các tiểu nông, một biển tiểu nông Về mặt sở hữu ruộng đất, suốt thời phong kiến, ruộng công, đất công nhiều là đặc điểm của làng Việt Bắc Bộ

Do vậy, quan hệ giai cấp ở đây "nhạt nhòa", chưa phá vỡ tính cộng đồng, tạo ra một lối sống ngưng đọng của nền kinh tế tư cấp tự túc, một tâm lí bình quân, ảo tưởng về sự "bằng vai", "bằng vế" như kiểu câu tục ngữ "giàu thì cơm ba bữa, khó thì đỏ lửa ba lần"

Sự gắn bó giữa con người và con người trong cộng đồng làng quê, không chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những di sản hữu thể chung như đình làng, chùa làng mà còn là sự gắn bó các quan hệ về tâm linh, về chuẩn mực đạo đức và văn hóa Đảm bảo cho những quan hệ này là các hương ước, khoán ước của làng xã Các hương ước, hay khoán ước này là những quy định khá chặt chẽ về mọi phương diện của làng từ lãnh thổ làng đến sử dụng đất đai, từ quy định về sản xuất và bảo vệ môi trường đến quy định về tổ chức làng xã, ý thức cộng đồng làng xã, vì thế trở thành một sức mạnh tinh thần không thể phủ nhận Nhưng cũng vì thế mà cá nhân, vai trò cá nhân bị coi nhẹ Chính những đặc điểm ấy của làng Việt Bắc Bộ sẽ góp phần tạo ra những đặc điểm riêng của vùng văn hóa Bắc Bộ

Từ đó có thể định tính văn hóa đồng bằng Bắc Bộ là văn hóa lúa nước Tiếp cận từ hệ sinh thái, nền văn hóa làng mạc ở Bắc Bộ cần được nghiên cứu các đặc điểm xã hội, tư duy của nền văn hóa lúa nước này, chẳng hạn hình thái gia đình là gia đình hạt nhân, đơn vị sản xuất cơ bản là gia đình, trong đó

Trang 15

vai trò của người phụ nữ được coi trọng Đâu phải bỗng dưng mà văn hóa cổ truyền lại nêu chủ đề phản Nho giáo: Nhất vợ nhì trời!

Nhìn từ nền tảng kinh tế tiểu nông và mối quan hệ vừa hòa hợp vừa tranh đấu giữa người tiểu nông với trời đất nóng ẩm, gió mùa, phù sa, đá ong… và với một quan hệ trên dưới là làng - nước mới có thể hiểu được triết

lý nước đôi của cư dân nông nghiệp này

Chính từ cơ sở kinh tế - xã hội này đã làm nảy sinh những sắc thái văn hóa riêng có của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đó là:

- Văn hóa nông nghiệp lúa nước và niềm tin đa thần trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo

- Truyền thống đề cao vai trò của người phụ nữ (nguyên lý Mẹ của nền sản xuất nông nghiệp)

- Nền văn hóa hỗn dung, đa nguyên, đa dạng

Từ những đặc trưng của một nền kinh tế nông nghiệp đậm nét nhưng cũng có sự đa dạng của các nghành nghề kinh tế đã tạo ra những sắc thái văn hóa riêng và chính những sắc thái văn hóa đó lại in dấu ấn đậm nét trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của cư dân đồng bằng Bắc Bộ Ở đồng bằng Bắc

Bộ, khó mà phân biệt rõ sắc thái tôn giáo và sắc thái văn hóa Tôn giáo và văn hóa Bắc Bộ hòa quyện đến mức người ta tìm văn hóa trong chính tôn giáo và ngược lại Có lẽ không chỉ bởi chúng có chung cái gốc rễ là cái xã hội nông nghiệp - nông thôn - nông dân mà còn vì với cư dân Bắc Bộ, hoạt động văn hóa thường đi kèm với hoạt động tôn giáo và xét đến cùng thì hoạt động tôn giáo cũng là để thể hiện văn hóa, các vị thần mà họ tôn thờ cũng là để thể hiện chính cái tinh thần văn hóa của họ Như vậy cũng có nghĩa là những đặc trưng văn hóa riêng có trên của đồng bằng Bắc Bộ đồng thời cũng được coi là những đặc trưng của đời sống tôn giáo tín ngưỡng của vùng đất này Trong cái đặc trưng ấy có cái đại thể của văn hóa, tôn giáo người Việt nhưng vẫn không thể bị nhầm lẫn bởi cái chủ thể được định hình từ những đặc trưng riêng có của đồng bằng Bắc Bộ

Trang 16

Đặc điểm đầu tiên của đời sống tôn giáo tín ngưỡng đồng bằng Bắc

Bộ là niềm tin mang tính đa thần, thực dụng gắn với tín ngưỡng nông

nghiệp Chính nền tảng kinh tế tiểu nông và mối quan hệ vừa hòa hợp,

vừa đấu tranh giữa người nông dân và thiên nhiên đã hình thành lên một nền văn hóa lúa nước độc đáo cùng với một hệ thống thần linh, nghi thức,

lễ hội và tín ngưỡng nông nghiệp đặc sắc

Người dân đồng bằng Bắc Bộ chủ yếu làm nghề nông, trồng lúa nước Nghề nông, nhất là nông nghiệp lúa nước sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều, không phải chỉ phụ thuộc vào một hai hiện tượng riêng lẻ nào mà cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả: trời, đất, nắng, mưa… Đó chính là đầu mối của tư duy tổng hợp – đặc trưng tư duy của văn hóa gốc nông nghiệp mà nông nghiệp lúa nước là điển hình Ngay từ thời xa xưa,

cư dân ở đây cũng như các vùng nông nghiệp khác chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm vũ trụ luận nguyên sơ, Âm – Dương giao hòa, nguồn gốc sản sinh ra vũ trụ và vạn vật Hơn nữa, trong điều kiện trình độ lao động sản xuất còn thấp kém, lạc hậu, sự trắc trở và khắc nghiệt của khí hậu, thiên tai luôn rình rập, đe dọa tới sản xuất nông nghiệp trong vùng

Và như vậy, muốn làm ăn được cư dân Bắc Bộ đành bất lực và hướng sự trợ giúp vào các vị thần linh

Người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ tôn thờ các yếu tố của tự nhiên: mưa, gió, sấm, chớp, nước… hay những loài động vật, thực vật như: cá voi, rắn, rồng, chim, hổ…những cây đa, cây đề, hòn đất, hòn đá… Đào Duy Anh viết:

“Về phương diện tôn giáo, cứ theo các truyền kỳ đời trước thì ta có thể đoán rằng tổ tiên ta ở đời thượng cổ tín ngưỡng một thứ tự nhiên đa thần giáo, tin rằng phàm các hiện tượng và thế lực tự nhiên ở trong vũ trụ, như trời đất, mưa gió, núi sông đều có thần linh chủ trương.” [1, 219 - 220]

Cùng với niềm tin đa thần trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo, nền kinh

tế nông nghiệp, đa thành phần đã tạo ra một nét đặc trưng hiếm có của văn

Trang 17

hóa và tôn giáo người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đó là truyền thống đề cao vai

trò của người phụ nữ, một tinh thần trọng nữ và sùng bái phồn thực xuất

phát từ tư duy, văn hóa nông nghiệp, dù cho gia đình của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ là kiểu gia đình phụ hệ

Có nhiều ý kiến cho rằng sở dĩ có nét đặc trưng như vậy là do những tàn dư của chế độ Mẫu hệ và Mẫu quyền đã từng tồn tại ở buổi đầu Những tàn dư này thể hiện ở mọi mặt như: huyền thoại, truyền thuyết, thờ cúng, pháp luật… ngay cả khi bị thay thế bằng chế độ phụ quyền thì những tàn dư này vẫn còn khá đậm nét

Người Việt thường nói: Nhất vợ nhì Trời! Như vậy đủ để hiểu người phụ nữ, người vợ, người mẹ quan trọng như thế nào trong một gia đình, một cộng đồng Trong tâm thức dân gian, mẹ thường được gọi là Cái, những cái to tát, quan trọng đều được gọi gắn với Cái: đường Cái, sông Cái, củ Cái… hay kiểu như:

Tháng chín thì quýt đỏ trôn Tháng ba ngái mọc cái con tìm về Nhưng để những tàn dư này trở thành một truyền thống, một nguyên lý của nền văn hóa nông nghiệp ngay cả trong xã hội phong kiến phụ quyền thì phải xuất phát từ mong muốn thiêng liêng mang tính phồn thực trong nền văn hóa trồng lúa nước và vai trò, vị trí hết sức to lớn của người phụ nữ trong gia đình, cộng đồng và xã hội

Tác giả Từ Chi đã từng nhận định rằng: Phụ nữ Việt ở một địa vị rất

“oái oăm”, có vẻ như “thấp” xong lại rất “cao” Trước đó, rất nhiều nhà nghiên cứu cũng từng chỉ ra công thức độc đáo của gia đình người Việt:

“Người chồng trị vì, người vợ cai quản” – một kiểu gia đình rất khó để phân loại rõ là Mẫu hệ hay phụ hệ Nhưng đó lại là thực tế, là truyền thống đã tồn tại ngàn đời nay trên mảnh đất này

Trong đời sống nông nghiệp, điều kiện quan trọng hàng đầu là đất và

Trang 18

nước, nó quyết định đến sự sinh sôi, phát triển và năng xuất của cây trồng nuôi sống con người Vì vậy mà nó được coi như thần linh, một biểu tượng mang tính thiêng và được gán cho thuộc tính nữ vốn mang chức năng sinh sản, tồn trữ để thể hiện mong muốn lúc nào cũng sinh sôi, nảy nở Đó là mong ước phồn thực của nền văn hóa lúa nước tiêu biểu của đồng bằng Bắc Bộ

Trong xã hội người Việt, người phụ nữ có vai trò và vị trí quan trọng trong gia đình cũng như cộng đồng xã hội, ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống Đây là điểm khác biệt với những xã hội phụ hệ khác, nhờ vậy mà coi trọng người phụ nữ trở thành một truyền thống trong văn hóa của dân tộc, ăn sâu bám rễ trong tâm tưởng người Việt

Với một nền kinh tế tiểu nông, đa thành phần, lao động của người phụ

nữ rất nổi trội và có tính chất quán xuyến, cái thực tế “của chồng, công vợ” nói lên vai trò không thể bỏ qua của phụ nữ Người phụ nữ ở đồng bằng Bắc

Bộ thể hiện năng lực làm nên giá trị cuộc sống và năng lực tạo ra của cải vật chất của họ rất lớn Bởi thế mà việc trồng lúa và tín ngưỡng trồng lúa gắn với vai trò và vị trí của người đàn bà – người Mẹ Ngay cả các hoạt động kinh tế khác như: tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi, làm vườn, chạy chợ… cũng đều có

sự tham gia của người phụ nữ Họ mới thực sự là người tham gia chính trong hoạt động kinh tế của gia đình

Người phụ nữ không chỉ thể hiện vai trò trong hoạt động sản xuất kinh

tế mà cả về mặt xã hội Với cư dân đồng bằng Bắc Bộ, truyền thống Mẫu hệ vẫn chi phối nhiều quan hệ trong gia đình Người vợ, người phụ nữ vẫn giữ vai trò hàng đầu trong tổ chức và quản lý trong gia đình, nhất là về phương diện kinh tế Họ là “nội tướng”, là “tay hòm chìa khóa”, đàn ông lo việc lớn, phụ nữ lo quản lý chi tiêu theo kiểu “đàn ông tậu nhà, đàn bà bán lợn”

Với những mối quan hệ trong gia đình, dòng tộc người phụ nữ cũng giữ vai trò quan trọng Dân gian xưa có câu “lệnh ông không bằng cồng bà”

để nhấn mạnh ảnh hưởng của người phụ nữ trong gia đình Trong gia đình,

Trang 19

người phụ nữ đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm chính trong việc nuôi dạy con cái, vì thế mà mới có “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” hay “con dại cái mang”

Trong quan hệ gia đình, dòng tộc, người phụ nữ là nội tướng còn với cộng đồng, xã hội, họ là những biểu tượng cho đất nước, quê hương, xứ sở, những vị thần sáng tạo ra văn hóa, là tổ sư của nhiều ngành nghề truyền thống… như Mẹ Âu Cơ, nữ thần Đất… là biểu thượng cho quê hương, xứ sở

Mẹ Mía, mẹ Lửa và các nữ thần là tổ sư các nghề dệt, chăn tằm, trồng bông, làm muối, nghề làm bánh, các nghề ca công… Nhiều vị nữ thần là các danh tướng, những người có công với đất nước như Hai Bà Trưng và các vị nữ tướng của hai bà, Bà Triệu, Dương Vân Nga, Nguyên Phi Ỷ Lan, vợ Ba Đề Thám, Bà Chúa Kho… Các vị nữ thần này không chỉ được nhân dân tôn sùng

mà còn được triều đình phong kiến thừa nhận bằng những sắc phong thành các vị thần, thành hoàng làng, thậm chí là thượng đẳng thần

Dù xung quanh các huyền thoại, truyền thuyết về các nữ thần còn những thêu dệt, liên tưởng mang màu sắc siêu thực nhưng đó là một thực tế hiển nhiên của xã hội người Việt: vai trò quan trọng của người Mẹ, người phụ

nữ trong mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Việt

Thực tế trên đã làm nảy sinh và nuôi dưỡng trong văn hóa và tôn giáo người Việt một truyền thống, một nguyên lý độc đáo, đại diện cho sắc thái văn hóa riêng có của cư dân nông nghiệp lúa nước, đó là truyền thống coi

trọng người phụ nữ hay còn được các nhà nghiên cứu gọi tên là nguyên lý Mẹ

của nền sản xuất nông nghiệp

Một sắc thái đặc trưng khác của nền văn hóa và tôn giáo châu thổ Bắc

Bộ đó là tính chất hỗn dung, đa nguyên, đa dạng Với bất kì một nền văn

hóa nào, việc tồn tại song song cả hai nhân tố bản địa – ngoại lai, dân tộc – quốc tế là hết sức bình thường, nó góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hóa bản địa, tạo nên sức mạnh bên trong giúp nền văn hóa bản địa tránh được

bị đồng hóa với các nền văn hóa khác

Trang 20

Với đồng bằng Bắc Bộ, đặc điểm địa lý là yếu tố góp phần quan trọng, quy định tính chất hỗn dung, đa dạng của đời sống văn hóa và tôn giáo nơi đây Đóng vai trò là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế, Bắc Bộ trở thành nơi gặp gỡ, giao thoa của rất nhiều nền văn hóa, chính vị trí địa lí này tạo điều kiện cho cư dân có thuận lợi về giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Thêm vào đó, người dân Việt Nam vốn có khuynh hướng dung hợp tất cả những điều mà mình cho là hay, là hợp dù nó đến từ những ngả đường tư tưởng văn hóa khác nhau để trau dồi nên cái bản sắc văn hóa dung hợp, khoan hòa của nền văn hóa Việt Tôn giáo tín ngưỡng ở đồng bằng Bắc

Bộ cũng không nằm ngoài khuynh hướng đó Quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, tôn giáo ở vùng Bắc Bộ đã diễn ra từ rất sớm, ngay từ buổi đầu của lịch sử

Trong sự phát triển của xã hội và sự giao lưu về văn hóa tín ngưỡng với các nền văn hóa khác, nhiều lớp văn hóa khác nhau đã tích hợp, chồng lấp mà biểu hiện rõ nét nhất là trong các loại hình tôn giáo tín ngưỡng Chẳng hạn như với trường hợp của Đạo Phật, khi vào Bắc Bộ, nó chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian bản địa, đã bản địa hóa thành Phật giáo dân gian nhưng đồng thời tín ngưỡng dân gian cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo về nhiều mặt như giáo lý, hệ thống thần linh…

Vậy là trên cái cơ sở hạ tầng nông thôn – nông nghiệp – nông dân – xóm làng của xã hội Bắc Bộ truyền thống, cùng với địa thế của một nước bán đảo ở giữa chốn giao lưu kinh tế văn hóa thì tâm thức người Việt là sự cởi mở,

đa nguyên, đa dạng, có cái “duy lý” của Nho giáo, có cái “tâm linh” của Phật giáo, có cái “siêu việt” của Đạo giáo và có cái mê tín “thần ma” của căn tính tiểu nông

Như vậy, có thể thấy từ những đặc điểm địa lý - tự nhiên của khu vực

đã tạo nên những đặc trưng về địa - kinh tế và địa - văn hóa của vùng đồng bằng Bắc Bộ Bất kì một nền văn hóa nào đều phải được tạo nên trên một cơ

sở kinh tế - xã hội nhất định, đối với nền văn hóa người Việt nói chung và của

Trang 21

cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ nói riêng thì cơ sở kinh tế xã hội đã tạo nên bản sắc của nó chính là nền kinh tế trồng lúa nước của người Việt Trên cơ sở của nền kinh tế tiểu nông, đa thành phần đã tạo ra những sắc thái văn hóa riêng có của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đó là niềm tin đa thần và trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo và truyền thống coi trọng phụ nữ Những sắc thái văn hóa này đã ăn sâu bám rễ trong tâm thức người Việt, trở thành những thành tố quan trọng của nền văn hóa Việt

Các loại hình tín ngưỡng bản địa của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đều ít nhiều có chứa đựng những đặc trưng nói trên Nó không những là biểu hiện rõ nét nhất những giá trị văn hóa độc đáo của người Việt mà còn trở thành nơi lưu giữ tốt nhất những giá trị này Trong những loại hình tín ngưỡng bản địa đó không thể không nhắc đến tín ngưỡng thờ Mẫu - loại hình tín ngưỡng dân gian thuần phác nhưng rất độc đáo của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ

1.1.2 Phật giáo và Đạo giáo trong bối cảnh tín ngưỡng, tôn giáo vùng đồng

bằng Bắc Bộ

Việt Nam nói riêng và vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng là mảnh đất

đa tôn giáo Thực tế lịch sử đã cho thấy rằng sự đa dạng tôn giáo ở đây là một tiến trình, có thuận lợi, có khó khăn và cũng có cả sự chọn lọc đào thải rất mạnh mẽ Tính chất địa - chính trị, địa văn hóa giao nối của Bắc Bộ đã tạo điều kiện cho sự du nhập các tôn giáo lớn trên thế giới và khu vực, tạo nên bối cảnh đa tôn giáo của vùng đất này Trong đó, hai tôn giáo được coi là du nhập sớm nhất vào đồng bằng Bắc Bộ là Phật giáo và Đạo giáo

Đồng bằng Bắc Bộ cũng được coi là một trong những nơi lưu giữ những vết tích đầu tiên của hai tôn giáo này ở Việt Nam Nhưng, cũng giống như bất kỳ một tôn giáo tín ngưỡng nào (cả bản địa và ngoại sinh), Phật giáo và Đạo giáo đặt chân đến miền đất này đã có sự cộng hưởng mạnh mẽ và sâu sắc với những nét văn hóa riêng có của đồng bằng Bắc Bộ Đặc biệt là trong bối cảnh tín ngưỡng của đồng bằng Bắc Bộ, Phật giáo và Đạo giáo ở đây đã mang

Trang 22

những nét đặc trưng, đậm dấu ấn văn hóa tín ngưỡng Bắc Bộ so với Phật giáo

và Đạo giáo ở các vùng miền khác và cả với chính nguyên gốc của nó

Với trường hợp của Phật giáo, sự tồn tại và sức ảnh hưởng của nó ở Việt Nam đã quá rõ ràng nhưng trên hết, ở đồng bằng Bắc Bộ, Phật giáo có tính tương đối thuần nhất, tồn tại lâu dài và gắn bó nhuần nhuyễn với văn hóa truyền thống của người Việt hơn cả

Phật giáo (Đạo Phật) là một trong những tôn giáo lớn có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời trên thế giới Quê hương của Phật giáo là vùng đất

Ấn Độ - cái nôi của văn minh nhân loại nói chung và khu vực Châu Á nói riêng, đây cũng là nơi khởi đầu của rất nhiều các tôn giáo, các học thuyết triết học nổi tiếng trên thế giới Phật giáo ra đời vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI trước công nguyên ở vùng Bắc Ấn Người sáng lập Phật giáo là Sakya Muni

Ngay sau khi ra đời, Phật giáo đã nhanh chóng bước vào thời kì truyền

bá kéo dài ra nhiều nơi, đến nhiều dân tộc ở xung quanh, vì vậy có thể thấy lịch sử phát triển của Phật giáo khá đa dạng về trường phái tu tập

Giáo lý nhà Phật với các quan niệm vô thường, vô ngã, nhân quả, nghiệp báo… phản ánh các nguyên lý chi phối đời thường Nhờ vào sự uyển chuyển vốn có, Phật giáo có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khác nhau Vì vậy, Phật giáo có được chỗ đứng vững chắc trong đời sống tinh thần ở những mảnh đất mà nó đặt chân đến, sự du nhập vào Việt Nam là một ví dụ điển hình

Phật giáo vào Việt Nam là một minh chứng tiêu biểu cho quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa của người Việt Theo nhiều nguồn cứ liệu lịch sử thì

có thể Phật giáo đã du nhập vào nước ta khoảng đầu của công nguyên trực tiếp từ Ấn Độ Theo nhiều nghiên cứu thì từ đầu công nguyên, đã xuất hiện trung tâm Phật giáo Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành – Bắc Ninh) Phật giáo nước ta sau này còn tiếp nhận nguồn từ Trung Quốc Như đã được chứng minh, khi vào đất Việt, Phật giáo cũng phải biến đổi cho phù hợp với phong tục tập quán của cư dân bản địa

Trang 23

Học giả Lê Mạnh Thát đã đưa ra giả thuyết Phật giáo du nhập từ thời đại Hùng Vương, nhưng phải chính thức từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI, Phật giáo mới có sự bám rễ vững chắc và có sự xuất hiện của những nhân vật Phật giáo cũng như các bộ kinh Phật giáo đầu tiên được dịch

Có thể thấy, ngay từ khi mới đến đồng bằng Bắc Bộ, Phật giáo đã tỏ ra rất biết thu nhận những yếu tố tôn giáo và văn hóa bản địa một cách tích cực

và có hiệu quả Điều đó xuất phát từ phương châm "khế cơ khế lý" và tinh thần từ bi vốn có tác dụng tương thích tối đa trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa Thêm vào đó, trên nền tảng tín ngưỡng bản địa và thái độ cởi

mở, không chút kì thị, người Việt dễ dàng tiếp nhận thuyết nhân quả, luân hồi, nghiệp báo, các nếp sinh hoạt như tam quy, cúng dường, bố thí, tiết dục, chay tịnh, công đức… của nhà Phật Chính sự hòa hợp giữa tín ngưỡng bản

đi ̣a có sẵn với những sinh hoa ̣t văn hóa , giáo lý cơ bản của Phật giáo đã hình thành nên một loại tín ngưỡng Phật giáo bình dân trong thế kỷ đầu t iên của công li ̣ch

Đến thế kỷ thứ X, sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam về cơ bản đã hoàn thành Từ đây đã ta ̣o mô ̣t tiền đề vững vàng cho sự phát triển của Phâ ̣t giáo Việt Nam về sau, mà đỉnh điểm là Phật giáo thời kỳ Lý – Trần

Thời kỳ Lý – Trần, Phật giáo đứng ở trung tâm của hoa ̣t đô ̣ng chính tri ̣, văn hóa, xã hội thậm chí có những lúc là quyết định vận mệnh quốc gia mà đối với bản thân Phật giáo cũng đã xây dựng cho nó một hệ tư tưởng mang đậm màu sắc dân tộc, một giáo hô ̣i Phâ ̣t giáo Viê ̣t Nam đô ̣c lâ ̣p, mang bản sắc riêng, và lớn hơn thế n ữa, nó còn tạo nên bản sắc văn hóa , bản sắc chính trị trong giai đoa ̣n li ̣ch sử này , tạo nên bản sắc của dân tộc ta khi đó Ở những giai đoạn sau này, Phật giáo không còn được ưu tiên (thời Hậu Lê đến thế kỷ XIX), chấn hưng ở thế kỷ XX, song có thể nhận định Phật giáo vẫn luôn đồng hành, hòa hợp cùng với dân tộc

Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ, trong bối cảnh sự đa dạng tín ngưỡng, tôn giáo đó, dường như lại càng nổi bật vị trí, vai trò của nó như một tôn giáo

Trang 24

ngoại nhập lâu đời nhất, cũng là tôn giáo có tiềm năng nhất và tồn tại lâu dài nhất Không thể phủ nhận sự tích cực của Phật giáo trong việc tiếp thu nhuần nhuyễn những yếu tố văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo bản địa là một phần quan trọng để Phật giáo được coi như kết cấu văn hóa và truyền thống văn hóa của người Việt Người ta có thể thấy bóng dáng của Phật giáo trong những sinh hoạt văn hóa thường ngày, trong phong tục tập quán, trong cả tinh thần yêu nước, ý chí độc lập dân tộc Phật giáo đã thực sự hòa mình vào đời sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ

Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ có quá trình phát triển lâu dài, tiêu biểu cho những đặc trưng của Phật giáo Việt Nam nhưng nó cũng có những đặc điểm được coi là riêng biệt so với các vùng, miền khác

Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ ngay từ buổi đầu đã ăn nhập với tín ngưỡng truyền thống Sự hình thành trung tâm Luy Lâu gắn với câu chuyện nhà sư Ấn Độ Khâu Đà La và nữ Phật tử Man Nương gắn liền với tục thờ Tứ Pháp là minh chứng rõ nét nhất cho sự kết hợp tư tưởng Phật giáo thời kỳ đầu với tín ngưỡng nông nghiệp bản Sự hội nhập của Phật giáo với tín ngưỡng tôn giáo bản địa như đã nói sản sinh ra hiện tượng các thần tự nhiên được nữ hóa và Phật hóa khá độc đáo không chỉ khác biệt với các vùng miền khác mà còn độc đáo so với các nước và với nguyên bản Phật giáo Có thể thấy, Phật giáo đã rất nhanh nhạy khi nắm bắt và kết hợp được với cái tính chất nông nghiệp cốt lõi chi phối mọi mặt đời sống cư dân Bắc Bộ

Đồng thời, người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ cũng không coi Phật giáo như tôn giáo nặng về giáo lý cao siêu để đạt tới Niết Bàn (mặc dù không thể phủ nhận sự tồn tại của Phật giáo bác học với nhiều thành tựu nổi bật bên cạnh Phật giáo bình dân) Người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đã làm Phật giáo trở nên gần gũi, thân thuộc, bình dị như chính nếp sống nông nghiệp của họ Dưới con mắt của người Việt, các vị Phật cũng không được phân định rạch ròi

từ tên gọi cho đến chức năng Phật được gọi bằng những cái tên dân dã như ông Bụt, Phật nhịn ăn để mặc, Phật nhịn mặc để ăn Được hiểu chung là một đấng có phép thần thông, hiểu biết mọi chuyện trên đời và luôn cứu giúp

Trang 25

người nghèo khổ Tinh thần từ bi của Phật giáo được dân gian diễn giải là cứu khổ cứu nạn gắn với hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát được thờ phụng rất phổ biến trong các chùa và cả ở tư gia vùng đồng bằng Bắc Bộ

Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ khác biệt so với các vùng miền khác còn bởi tính đồng nhất cao so với các vùng khác Tính đồng nhất cao thể hiện ở sự kết hợp ba tông phái: Mật tông, Thiền tông và Tịnh Độ tông Hầu hết các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam đều nhận định rằng, ngay từ đầu,

ba yếu tố Thiền - Tịnh - Mật đã có sự gắn bó chặt chẽ với nhau đến mức khó

có thể phân biệt Tất nhiên, cùng với sự phát triển của dân tộc, yếu tố Thiền tông (chú trọng tri thức, có tính trừu tượng cao) ngày càng gia tăng nhưng yếu tố Tịnh Độ tông (coi trọng niềm tin, dễ tu dễ chứng, phù hợp với tầng lớp bình dân) và yếu tố Mật tông (coi trọng phù trú, bùa phép ) cũng không

hề suy giảm

Khuynh hướng xiển dương Mật tông hay sự kết hợp của Mật tông và Tịnh Độ tông khá phổ biến ở Phật giáo Bắc Bộ bởi lý do căn bản là người Việt vốn rất coi trọng quan niệm hồn linh và những phương pháp ma thuật, bùa chú Trên cái nền tảng ấy, nếu có sự thâm nhập, mọi tôn giáo thâm nhập, không riêng gì Phật giáo, đều phải nỗ lực, dù điểm xuất phát tại xứ mới không hoàn toàn ăn nhập với giáo lý vốn có, để chiều chuộng sự ưa thích và đòi hỏi tâm linh sâu sắc trong đời sống của người Việt

Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ còn khác biệt bởi sự gần gũi với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên - tín ngưỡng có tính nổi trội, phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ Sự phối trộn giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ với Phật giáo xuất phát từ sự gặp gỡ trong việc hướng con người giữ tròn đạo hiếu với cha mẹ được thể hiện rất rõ qua các tích truyện Phật giáo và dân gian như truyện Mục Kiền Liên báo hiếu, truyện Quan Âm Diệu Thiện, truyện Quan Âm Thị Kính

Ở các ngôi chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ thường có nhà tổ, thờ cúng sư

tổ là người có công lập chùa và trụ trì sau đó Ngày mất của sư tổ các chùa đều làm lễ giỗ giống như lễ giỗ ông bà, tổ tiên trong gia đình, tất nhiên cỗ

Trang 26

cúng là cỗ chay Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang được coi là đệ nhất, đệ nhị và đệ tam tổ của dòng Thiền Trúc Lâm, được tạc tượng thờ ở Côn Sơn Các chùa còn thường tổ chức giỗ hậu cho những người trước khi mất đã gửi hậu bằng tiền hoặc ruộng đất Bàn thờ vong trên chùa có bát nhang, bia

đá, ảnh thờ của những vong hồn không có người cúng giỗ ở gia đình

Rõ ràng là Phật giáo với giáo lý có nhiều điểm gần gũi, phù hợp với đời sống người Việt và thái độ cầu thị, khéo léo tiếp thu những yếu tố tôn giáo và văn hóa bản địa một cách tích cực và nhuần nhuyễn mà du nhập suôn sẻ và có được chỗ đứng vững chắc trong kết cấu văn hóa và truyền thống bất chấp bối cảnh đa dạng tôn giáo có phần trái chiều và những yêu cầu và đòi hỏi tâm linh sâu sắc trong đời sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ

Với Đạo giáo, cách thâm nhập và hòa trộn cũng có phần giống với Phật giáo ở đồng bằng Bắc Bộ Tuy nhiên, Đạo giáo, do sự biến thể, do hoàn cảnh lịch sử, đặc thù chính trị nên cũng có khác với Phật giáo

Đạo giáo là một tôn giáo của Trung Quốc hình thành vào thế kỷ thứ I

Nó được xem như tôn giáo đặc hữu chính thống của Trung Quốc, Về sau, cùng với Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đã tạo nên cục diện Tam giáo có ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hóa Trung Quốc

Trong phạm vi nghiên cứu này thì Đạo giáo được xem xét với tư cách một tôn giáo được ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển những khía cạnh thần bí trong tư tưởng của tín ngưỡng Trung Quốc, kết hợp thuật thần tiên, luyện đan, phù chú và cúng tế quỷ thần

Nội dung cơ bản của Đạo giáo bao gồm hệ thống Đạo tạng (tổng tâp kinh điển Đạo giáo), Đạo quán (không gian tu đạo thờ thần, cử hành pháp sự,

cư trú dưỡng sinh của Đạo giáo); hệ thống thần điện (hệ thống các vị thần linh phức tạp, không thống nhất và liên tục được bổ sung); những phương pháp tu luyện, phương thuật mang tính chất phù thủy, huyền ảo bao gồm các phương pháp luyện đan, bùa chú trừ tà ma, lên đồng, bói toán, xem phong thủy… ngoài ra, các lễ hội, các ngày lễ định kỳ và không định kỳ cũng là một trong những nội dung quan trọng của Đạo giáo Nhìn chung, việc sùng bái thần tiên,

Trang 27

cầu trường sinh bất tử, đề cao tự nhiên, cách sống theo tự nhiên là đặc điểm

cơ bản nhất trong nội dung của Đạo giáo Bởi vậy, Đạo giáo chủ yếu hướng con người đến thế giới thần tiên, tới một cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc vĩnh cửu, trường sinh, bên cạnh đó, Đạo giáo cũng chủ trương tìm kiếm sự bất tử ngay trên trần gian với một loạt các phương thức như: luyện đan, tập dưỡng sinh, tu tiên…

Với những nội dung phong phú, độc đáo trên, Đạo giáo đã ảnh hưởng đến rất nhiều mặt của đời sống xã hội Trung Quốc như kinh tế, chính trị, triết học, văn chương, nghệ thuật, dưỡng sinh, y học, địa lý, hóa học… đồng thời những ảnh hưởng của Đạo giáo trong lĩnh vực tôn giáo văn hóa cũng nhanh chóng vượt khỏi biên giới Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á lân cận như Hàn Quốc, Nhật Bản và cả ở Việt Nam

Đạo giáo được cho là du nhập vào nước ta từ những thập kỷ đầu Công nguyên, dưới thời nhà Hán đô hộ Nước ta lúc bấy giờ là vùng đất lý tưởng cả

về tự nhiên và xã hội cho những đạo sĩ tu luyện và truyền bá Đạo giáo Tài liệu lịch sử ghi chép rất rõ về những viên quan cai trị kiêm đạo sĩ nổi tiếng như thái thú Sĩ Nhiếp, thứ sử Trương Tân, huyện lệnh Cát Hồng

Ngay từ đầu, Đạo giáo du nhập vào nước ta mang đậm tính chất phương sĩ, ma thuật vốn có nguồn gốc từ những tín ngưỡng shaman giáo và

ma thuật ở Trung Quốc Trên cơ sở tín ngưỡng bản địa có tính chất đa thần giàu chất trực quan, người Việt tìm đến và tin vào ma thuật của Đạo giáo như những phương tiện hữu hiệu nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm tâm linh của họ, muốn xa lánh, xua đuổi những thế lực có hại, muốn nhờ vả, gần gũi những thế lực có lợi

Với sự ủng hộ của tầng lớp cai trị thời kỳ đầu, cùng với sự gần gũi với tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo sơ kỳ ở đồng bằng Bắc Bộ với phương pháp tu tiên và phép dưỡng sinh bất tử đã khá phổ biến trong tầng lớp trên, thậm chí

đã dẫn đến sự đối phó của Phật giáo đối với những biểu hiện của Đạo giáo trong giai đoạn này Phải chăng, chính việc Đạo giáo được tiếp nhận nhanh chóng nhờ những điểm gần gũi và khả năng đáp ứng nhu cầu tâm linh của

Trang 28

người Việt là một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự hội nhập mạnh mẽ với tôn giáo bản địa của Phật giáo?

Đạo giáo khi vào Việt Nam trước sự tác động của điều kiện kinh tế xã hội và nền tảng văn hóa tư tưởng bản địa đã có những biến chuyển, thay đổi cho phù hợp Trên cơ sở đó, Đạo giáo Việt Nam đã hình thành nên những đặc trưng riêng biệt khi hòa nhập vào Việt Nam như:

Về mặt lý luận, Đạo giáo ở Việt Nam không trước tác được các kinh sách mang tính triết học như Đạo giáo Trung Quốc Đạo giáo ở Việt Nam thường chỉ lưu hành các sách về biện pháp thực hiện, chứ không mang tính lý luận, chủ yếu là các sách dạy cách lên đồng, phù thủy, bùa chú, gọi hồn, trừ

tà, các thuật bói toán, tướng số, chiêm bốc, phong thủy Trong khi Đạo giáo Trung Quốc thì làm ra được nhiều bộ kinh sách lớn, và có nhiều nhà lý luận lỗi lạc như Quách Phác, Cát Hồng, Trần Đoàn

Về mặt tổ chức, Đạo giáo ở Việt Nam không có tổ chức thống nhất cho cả nước, kiểu như Tăng đoàn của Phật giáo chẳng hạn Các Đạo quán Đạo giáo ít có quan hệ với nhau Người tới Đạo quán Đạo giáo thường là

tự nguyện, không có lý do tôn giáo nào bắt buộc họ phải tới cả, mà chủ yếu họ tới để vãng cảnh, cầu xin thần tiên ban phúc, rồi trở về cuộc sống bình thường

Việc hình thành và đặc điểm của Đạo giáo ở Việt Nam chịu ảnh hưởng khá lớn từ Thiên Sư đạo của Trương Đạo Lăng do đạo này thống soái khu vực Tây Nam Trung Quốc, rất gần với Việt Nam Vì Thiên Sư đạo là Đạo phái phù lục, thiên về sử dụng pháp thuật, bùa chú, cầu đảo, nên rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian của đại bộ phần quần chúng bình dân người Việt suốt từ

cổ đại, vốn sùng bái quỷ thần Từ đây cũng thấy rằng, Đạo giáo ở Việt Nam phần đông là Đạo giáo phù lục

Đạo giáo truyền vào đồng bằng Bắc Bộ với cả hai nhánh: Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy Chử Đồng Tử được coi là ông tổ của Đạo giáo Việt Nam nên còn có tên là Chử Đạo Tổ Ngoài ra, những hình tượng nguyên sơ

Trang 29

của người Việt như Lạc Long Quân, Tản Viên, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Phù Đổng Thiên vương hay Trần Hưng Đạo sau này đều lần lượt được Đạo giáo hóa và thần thánh hóa

Đạo giáo Thần tiên được đặc trưng bởi việc luyện linh đan, tu luyện phép trường sinh bất tử, tu tiên rất được tầng lớp quý tộc ở đồng bằng Bắc Bộ

ưa chuộng Vào thế kỷ thứ II trước công nguyên, ở Bắc Bộ đã thấy xuất hiện nơi đặt lò luyện linh đan ở trên núi Yên Tử mà dấu vết nay vẫn còn Đạo thần tiên với các tư tưởng xa lánh cuộc sống trần gian, giữ cho tâm hồn phiêu diêu

tự tại đã có ảnh hưởng to lớn đến tầng lớp quý tộc phong kiến thời Đại Việt ở Bắc Bộ

Đạo giáo đi vào Việt Nam, đặc biệt là Đạo giáo phù thủy, tìm thấy ngay

rất nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng dân gian mang tính ma thuật của người dân Việt nên Đạo giáo ăn sâu vào người Việt rất dễ dàng

Bước phát triển đỉnh cao của Đạo giáo ở Việt Nam là vào thế kỷ thứ XVIII, dưới thời nhà Lê, xuất hiện một trường phái Đạo giáo Việt Nam có tên

Nội Đạo, đạo có đến 10 vạn tín đồ Phái đạo này phát triển từ Thanh Hóa vào

đến Nghệ An rồi lan ra Bắc đến tận Hà Nội

Ngày nay, Đạo giáo Việt Nam với tư cách là một tôn giáo không còn tồn tại nữa, tuy nhiên những ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội, nhất là tại các vùng kém phát triển thì vẫn còn rất mạnh mẽ Ở rất nhiều lĩnh vực, nhất là trong đời sống tâm linh của người Việt vẫn còn những dấu ấn đậm nét của Đạo giáo, tiêu biểu là thuật phong thủy và thuật xem tướng, bói toán

Có thể thấy, cũng giống như Phật giáo, Đạo giáo khi vào Bắc Bộ trước

sự tác động của điều kiện kinh tế xã hội và nền tảng văn hóa tư tưởng bản địa

đã có những biến chuyển, thay đổi cho phù hợp Trước những yêu cầu và đòi hỏi tâm linh sâu sắc của người Việt cùng với bối cảnh đa dạng tôn giáo có phần trái chiều, Đạo giáo đã có sự thâm nhập, những biến thể lan truyền mạnh

Trang 30

mẽ và bền bỉ đến nỗi ngay cả khi Đạo giáo với tư cách là một tôn giáo hoàn chỉnh đã không còn nhưng những dấu ấn và ảnh hưởng của Đạo giáo trong đời sống người Việt thì vẫn còn rất đậm nét, đặc biệt là trong các loại hình tín ngưỡng bản địa

Sự linh hoạt của Đạo giáo ở Bắc Bộ còn được thể hiện ở chỗ ngoài việc thờ các vị thần của Đạo giáo thì còn có sự thờ phụng với các vị thần tiên của riêng mình mà nổi bật nhất là việc thờ phụng Đức Thánh Trần diễn ra rất phổ biến trong những nơi thờ tự khác nhau ở Bắc Bộ

Cả Đạo giáo và Phật giáo khi vào đồng bằng Bắc Bộ đều tự nguyện chấp nhận có sự biến đổi linh hoạt, khéo léo để chiều theo đời sống tâm linh thực dụng, đa thần của người Việt Giao lưu, tiếp xúc, dung hòa là những từ thường được dùng để nói đến đặc trưng nổi bật của tư duy, lối sống của người Việt trên mảnh đất cố hữu Bắc Bộ Trong bối cảnh tôn giáo cũng mang nặng ảnh hưởng của tư duy đó thì "sự hỗn dung tôn giáo hay khuynh hướng dung hòa tư tưởng và tôn giáo chắc chắn là một bản tính trong tâm thức Việt Nam" [86, 491] mà bất kỳ một tôn giáo nào khi đặt chân và có mong muốn gắn kết với mảnh đất này đều phải chấp nhận, dẫu có đôi khi sự biến đổi này hoàn toàn không ăn nhập với giáo lý vốn có của nó

Sự dung hòa này thường đi theo hai hướng, với tín ngưỡng tôn giáo bản địa và giữa các tôn giáo có cùng xuất phát điểm ngoại sinh với nhau Nhưng nổi bật nhất và cũng mang lại nhiều nội dung độc đáo nhất cho văn hóa Bắc

Bộ ở đây nằm ở sự cộng sinh, dung hòa hết sức khéo léo nhuần nhuyễn giữa các tôn giáo ngoại nhập với các loại hình tôn giáo tín ngưỡng bản địa, mà một trong những loại hình tín ngưỡng có quá trình dung hợp lâu đời, có những nội dung tích hợp sâu sắc nhất phải kể đến là tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

ở đồng bằng Bắc Bộ

Trang 31

1.2 Tổng quan về tín ngƣỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ

1.2.1 Lược sử các loại hình thờ Mẫu tiêu biểu

Trong sự đa dạng của các loại hình tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam, thờ Mẫu (Đạo Mẫu hay tín ngưỡng Mẫu) được coi như một hiện tượng độc đáo,

nó vừa mang trong mình bản sắc của nền văn hóa nông nghiệp người Việt đồng thời cũng bao chứa những yếu tố văn hóa ngoại lai Dân gian đã khéo léo kết hợp tất cả những yếu tố của tín ngưỡng dân gian và yếu tố tín ngưỡng ngoại lai từ quan niệm đa thần, đạo tổ tiên, đạo Thánh, đạo Phật… để tạo nên một diện mạo hoàn chỉnh cho thờ Mẫu

Trên những cơ sở kinh tế - xã hội – văn hóa trên, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã được hình thành từ rất lâu đời, khởi nguồn là tục thờ Nữ thần của

cư dân Việt cổ đến bước phát triển cao hơn là thờ Mẫu thần và cuối cùng là thờ Tam phủ - Tứ phủ, một thứ “Đạo Mẫu” mang đậm màu sắc Đạo giáo Vậy khái niệm Mẫu được hiểu như thế nào? Tín ngưỡng thờ Mẫu là gì? Phải định nghĩa như thế nào để thấy được những đặc trưng của tín ngưỡng này?

Mẫu là một danh xưng gốc Hán Việt được hiểu là mẹ hay mụ, mạ, mế…dùng để chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó, là tiếng xưng hô của người con đối với người mẹ đã sinh thành ra mình

Mẫu cũng được hiểu theo ý nghĩa rộng hơn đó là sự tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào đó (có thật hoặc không có thật) như: Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi thiên hạ…

Mẫu cũng được dùng để chỉ sự sinh sôi nảy nở, sinh hóa không ngừng của động vật như những danh xưng: Mẹ cây, Mẹ đất, Mẹ nước, Mẹ núi rừng,

Mẹ lúa, Mẹ chim, Mẹ cá, Mẹ xứ sở… Mặc dù đồng nhất Mẹ, Mẫu với tự nhiên, vũ trụ (Bà Mây, Bà Mưa, Bà Sấm, Bà Chớp, Bà Nữ Oa…), với bản thể

vũ trụ (Bà Kim, Bà Mộc, Bà Thủy, Bà Hỏa, Bà Thổ) nhưng Mẫu ở đây không phải là người mang tính sáng thế mà chỉ mang đùm bọc, che chở và sinh sôi nảy nở (sáng tạo) mà thôi

Tuy chưa thống kê đầy đủ nhưng có thể thấy cách tôn xưng Mẫu, Quốc

Trang 32

Mẫu, Thánh Mẫu có liên quan mật thiết đến tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện ở việc các vị thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu, ngay từ lớp thờ Nữ thần, Mẫu thần, các vị thần đã mang các danh xưng Vương Mẫu, Quốc Mẫu như Ỷ Lan – Mẫu nghi thiên hạ, mẹ Thánh Gióng – Vương Mẫu, thần núi Tam Đảo – Quốc Mẫu… nhất là ở lớp thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ mang danh xưng Mẫu, Thánh Mẫu như Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Thiên – Đệ nhất Thánh Mẫu (có lúc đồng nhất với Mẫu Liễu Hạnh), Mẫu Thượng Ngàn – Đệ nhị Thánh Mẫu, Mẫu Thoải – Đệ tam Thánh Mẫu, Mẫu Địa – Địa tiên Thánh Mẫu… Xuất phát từ cách gắn danh xưng Mẫu để tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào đó hay để chỉ sự sinh sôi, nảy nở, sinh hóa không ngừng của vạn vật, bản thể vũ trụ dần dần đã đưa đến sự “nâng cao”, “lên khuôn” thành các vị thần đứng đầu của Đạo Tam phủ - Tứ phủ

Từ đó, có thể chỉ ra nội hàm của khái niệm “Thờ Mẫu”, đó là một hình thức thờ cúng tín ngưỡng đặc trưng thể hiện niềm tin, sự kính trọng, tôn vinh đối với sức mạnh, quyền năng của Mẫu – đấng sáng tạo và bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của vạn vật

Một cách khái quát nhất có thể thấy tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam phủ - Tứ phủ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu – đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của vũ trụ, đất nước và con người

Các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam phủ - Tứ phủ có quan hệ mật thiết với nhau nhưng chúng không phải là đồng nhất Mỗi lớp là một bước phát triển, một quá trình “nâng cao”, “lên khuôn” từ một số hành vi tôn thờ rời rạc đến một thứ tín ngưỡng, một “đạo” có tính hệ thống hơn gọi chung là tín ngưỡng thờ Mẫu hay Đạo Mẫu Việt Nam

Trong đó, thờ Nữ thần là thờ những vị thần là nữ Ở nước ta, chưa có một số liệu nào thống kê chính xác số lượng nữ thần được tôn thờ nhưng có một điều chắc chắn là tập tục này đã có từ lâu đời và khá phổ biến trong dân

Trang 33

gian Các nữ thần được tôn thờ có thể là nhiên thần (Tứ pháp: Pháp Vân, Pháp

Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi; mẹ Lúa, Mẹ Đất…) có thể là nhân thần: các vị tổ nghề (nữ thần dệt, nghề trồng bông, làm muối, nghề mộc…), các nữ thần là danh tướng, người có công với đất nước (Bà Trưng, Bà Triệu, nguyên phi Ỷ Lan…) Các vị Nữ thần kể trên từ bao đời nay đã được nhân dân ta tôn làm Thánh, Thần, được các triều đình phong kiến sắc phong thành những vị Thần, Thành hoàng của nhiều làng, thậm chí là được phong thượng đẳng thần, được dân chúng tôn vinh là Tứ bất tử như trường hợp của Liễu Hạnh công chúa

Tục thờ Mẫu thần là bước phát triển cao hơn từ thờ Nữ thần, Mẫu thần trong trường hợp này là chỉ những nữ thần là chủ thể của sinh nở mới được tôn thờ Trong dân gian, danh xưng Mẫu gắn với chức năng sinh nở, chăm sóc, nuôi dạy con cái Và rõ ràng là người xưa đã khoác cho tự nhiên, vũ trụ thuộc tính nữ, mang tính sinh sản, tồn trữ và che chở Việc gắn thần linh với các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ, gắn với chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người đã trở thành một trong những quy luật cho quá trình chuyển từ các Nữ thần thành các vị Mẫu thần với mong ước đem đến sự sinh sôi, nảy nở cho con người và vạn vật Từ đó, các yếu tố trời, đất, sông nước, rừng núi… trở thành Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn, Thần núi Tam Đảo, núi Ngọc Trản ở Huế và núi Linh Sơn ở Nam Bộ Ngoài ra, danh xưng Mẫu còn bao hàm ý nghĩa tôn xưng, như Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh… hay có thể các Mẫu có nguồn gốc nhân thần, đa số là Thái hậu, Hoàng Hậu, Công chúa khi sống có công với đất nước, khi mất hiển linh

và được tôn là Quốc Mẫu, Vương Mẫu

Xét về mặt bản chất thì cả thờ Nữ thần và thờ Mẫu thần đều nằm trong

hệ thống đạo thờ Thần Việt Nam, đi theo con đường tiếp thu Đạo giáo Trung Hoa, tạo ra bước phát triển về nhiều mặt để đạt đến lớp tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ

Từ việc thờ Nữ thần, Mẫu thần đến thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ là một bước phát triển về nhiều mặt, trong đó không thể không nhắc đến vai trò quan

Trang 34

trọng của Đạo giáo Trung Hoa Thờ Mẫu đã tiếp thu ảnh hưởng của Đạo giáo

ở những quan niện về tự nhiên, đồng nhất con người với tự nhiên, quan niện Tam phủ - Tứ phủ, một số vị thánh của Đạo giáo đã thâm nhập vào điện thần

Tứ phủ như Ngọc hoàng, Thái Thượng Lão Quân, Nam Tào, Bắc Đẩu đến các truyện thần tiên, huyền ảo, các phép thuật phù thủy trừ tà ma, nghi thức nhập đồng… Chính nhờ những ảnh hưởng này mà tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ -

Tứ phủ đã có bước phát triển đáng kể về tính hệ thống của nó: từ một tín ngưỡng vốn tản mạn, rời rạc đã bước đầu có hệ thống tương đối nhất quán về điện thần với các phủ (Thiên – Địa – Nhạc – Thoải), các hàng (Ngọc hoàng – Mẫu – Quan – Chầu – Ông Hoàng – Cô – Cậu) tương đối rõ nét, một điện thần đã quy về vị điện chủ cao nhất là Mẫu (với Tứ phủ là Mẫu Liễu Hạnh); một tín ngưỡng dân gian đã bước đầu chứa đựng những nhân tố của một quan niện về hệ thống vũ trụ luận nguyên sơ, chia thành bốn miền do hóa thân của bốn vị thánh Mẫu cai quản; một ý thức nhân sinh, ý thức cội nguồn dân tộc đã được thể hiện rõ nét; đồng thời thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ cũng đã bước đầu hình thành một hệ thống tổ chức, hệ thống thờ cúng trong các đền phủ, những nghi thức đã được chuẩn hóa với nghi lễ Hầu bóng và lễ hội “tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ”, hệ thống tín đồ, con nhang đệ tử cũng như chức sắc chuyên nghiệp…

Có thể thấy, sự ra đời của Đạo Tam phủ - Tứ phủ ở thế kỷ XVI là điểm hoàn tất cho một quá trình phát triển lâu dài, mang tính tất yếu của tín ngưỡng thờ Mẫu được đánh dấu bằng sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh Điều này thể hiện sự phát triển mang tính nội tại của tín ngưỡng Thờ Mẫu, vừa phản ánh nhu cầu của xã hội lúc bấy giờ mà cụ thể là nhu cầu tâm linh của nhân dân Xã hội Việt Nam thế kỷ XVI là thời kỳ buôn bán phát triển, đặc biệt là buôn bán nhỏ lẻ ở các vùng quê, nó đẩy vai trò của người phụ nữ lên cao hơn bao giờ hết, đồng thời trong bối cảnh xã hội thường xuyên xảy ra các cuộc khởi nghĩa nông dân, xã hội loạn lạc, ly tán thì sự xuất hiện của hình ảnh Thánh Mẫu Liễu Hạnh thể hiện ước mơ khát

Trang 35

vọng của người dân Vậy là, Đạo Tam phủ - Tứ phủ lúc này trở thành nơi đáp ứng, thỏa mãn những ước mơ không chỉ của những người dân mà còn

là khát vọng của cả một dân tộc, một thời đại

Đồng thời, thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ đánh dấu sự xác lập của một phủ thuần túy mang tính chất nhân thần là Phủ Trần Triều – nơi thờ Đức Thánh Trần và các thuộc hạ của ông Từ một vị anh hùng có công lao to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông hào hùng của dân tộc, ông bước vào điện thần Tứ phủ, trở thành một vị Thánh thuộc dòng Long Vương, Bát Hải Đại Vương, được đặt riêng một phủ và đặt ngang hàng với Thánh Mẫu trong đối xứng Vua Cha – Thánh Mẫu và lễ hội “tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ” Trong đền thờ của Ông ở Kiếp Bạc có hai ngọn núi xòe rộng ôm lấy ngôi đền là núi Nam Tào, Bắc Đẩu, vậy là Ông được coi như Ngọc Hoàng, một danh xưng cao hơn cả Thánh Mẫu Việc khoác nên một người anh hùng dân tộc hình ảnh của thần linh như với Trần Hưng Đạo trong trường hợp này thể hiện ý thức dân tộc, lòng yêu nước đã được linh thiêng hóa trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở những biểu tượng cao nhất

Như vậy, có thể thấy, tín ngưỡng thờ Mẫu với ba lớp thờ Nữ thần - Mẫu thần - Tam phủ, Tứ phủ như trên nảy sinh và phát triển trên cơ sở thờ Nữ thần,

nó thuộc loại hình tín ngưỡng thờ Thần, một đặc trưng tâm linh mang bản sắc Việt Nam rõ rệt nhất Đồng thời, giữa các lớp thờ này vẫn có sự thâm nhập và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, trong đó, nổi bật hơn cả là tục thờ Nữ thần và Mẫu thần đều tiếp thu ảnh hưởng trở lại của Mẫu Tam phủ, Tứ phủ thể hiện qua điện thờ, nghi lễ thờ cúng, tục lên đồng và lễ hội

Không nên đồng nhất hoàn toàn giữa thờ Mẫu với Mẫu Tam phủ, Tứ phủ mà từ thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần đến Mẫu Tam phủ, Tứ phủ là một bước phát triển về nhiều mặt nhưng có thể thấy rằng, thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ là loại hình thờ Mẫu mang tính hệ thống, rõ rệt và đầy đủ nhất Quan trọng hơn, nó vẫn đang tiếp tục phát triển và có nhiều cơ hội để trở thành Đạo Mẫu Việt Nam

Trang 36

Việc phân định tôn giáo hay tín ngưỡng với thờ Mẫu còn nhiều điều phải thảo luận nhưng một cách khái quát nhất có thể chỉ ra một số đặc trưng

về điện thần, lễ hội và nghi lễ của thờ Mẫu, cụ thể là thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ - loại hình thờ Mẫu hoàn chỉnh nhất trong ba loại hình thờ Mẫu, như:

Về hệ thống điện thần, nếu như gạt bỏ những sai biệt có tính địa phương thì hệ thống điện thần thờ Mẫu có sự phân chia thành các thiên thần

và nhân thần, nữ thần - nam thần, phân thành hàng, thứ bậc, các phủ riêng mang nhiều ý nghĩa khác nhau Phủ trong Tam phủ, Tứ phủ mang ý nghĩa rộng và bao quát tương ứng với các miền khác nhau trong vũ trụ: Thiên phủ (miền trời), Địa phủ (miền đất), Thoải phủ (miền sông biển) và nhạc phủ (miền rừng núi) Đứng đầu mỗi phủ như vậy là một vị Thánh Mẫu, giúp việc cho bốn vị Thánh Mẫu còn có nhiều vị Thánh thuộc các hàng Quan, Chầu, Ông Hoàng, Cô, Cậu cũng phân theo bốn phủ nói trên Thứ bậc chính của mỗi

vị thánh tùy thuộc vào việc họ thuộc hàng nào từ trên xuống dưới hay thuộc phủ nào mà họ cai quản

Có một đặc điểm thú vị trong hệ thống thần linh thờ Mẫu là bên cạnh

xu hướng nhân thần hóa, lịch sử hóa là xu hướng chính trong quá trình thêu đệt lên thần tích các Thánh thì cũng xuất hiện xu hướng trần thế hóa, địa phương hóa để các Thánh trở nên gần gũi và phù hợp với đặc trưng của từng địa phương Cụ thể có rất nhiều vị Thánh, thần của thờ Mẫu đều có xuất thân nhập thế với những công lao, kỳ tích gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc đồng thời cũng có sức mạnh siêu nhiên, có thể xua đuổi tà

ma, mang lại tài lộc, sức khỏe cho con người

Điện thần thờ Mẫu mang dáng dấp của một vũ trụ thu nhỏ, trong đó, Mẫu - Mẹ, nữ tính thâu tóm quyền năng sáng tạo, sinh sôi và bảo trữ Đó là một vũ trụ mang tính nhất nguyên (nguyên lý Mẫu) nhưng lưỡng cực (âm - dương, nữ tính - nam tính) Đó là ở tầm vĩ mô, còn ở tầm vi mô, hệ thống điện thần của thờ Mẫu lại mô phỏng như một gia tộc, theo quan niệm truyền thống, hơn thế nó còn là một gia tộc đã được cung đình hóa Chính tính chất này đã

Trang 37

tạo cho hệ thống điện thần thờ Mẫu có sự gần gũi, tăng niềm tin và tạo cảm giác bảo trợ, che chở tốt với các tín đồ, đồng thời nó cũng làm điện thần thờ Mẫu đậm nét linh thiêng, cao quý

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, hệ thống nghi lễ và lễ hội rất phong phú và

đa dạng, mang nhiều sắc thái độc đáo có thể phân biệt với tín ngưỡng và tôn giáo khác Nhưng điển hình nhất vẫn là nghi lễ Hầu đồng và hệ thống lễ hội

"tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ"

Hầu đồng là nghi lễ chính của thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Đó là nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị Thánh Tam phủ, Tứ phủ vào thân xác các ông Đồng, bà Đồng nhằm tái hiện lại hình ảnh các vị Thánh, nhằm phán truyền, chữa bệnh, ban phúc lộc cho các tín đồ của thờ Mẫu Hầu đồng có nhiều biến thể rất đa dạng ở từng vùng miền khác nhau

Trong một buổi lễ hầu đồng, ông Đồng hay bà Đồng thoát khỏi trạng thái tâm sinh lý bình thường, tự coi mình như giá (ghế) cho các vị Thánh nhập vào Một buổi lễ hầu đồng đầy đủ gồm ba mươi sáu giá, tuy nhiên, không phải lúc nào, vị Thánh nào cũng giáng đồng, thậm chí có vị Thánh không bao giờ giáng đồng

Các vị Thánh khi giáng đồng bao giờ cũng làm những điều tốt lành, phù hộ và ban tài phát lộc cho các con nhang đệ tử Một trong những chức năng cơ bản của nghi lễ Hầu đồng là để chữa bệnh, đoán số và ban phước lộc Cũng từ nghi lễ này mà thờ Mẫu tiếp nhận thêm một lượng tín đồ mới thông qua việc Thánh phán truyền một người nào đó có căn quả hay không? Rồi từ

đó, tùy mức độ nặng hay nhẹ của căn mà người có căn đội bát nhang hay phải làm lễ trình đồng mở phủ, trở thành đệ tử cửa Thánh Mẫu

Hầu đồng không chỉ là nghi lễ tiêu biểu của thờ Mẫu, nó còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa độc đáo nhất của thờ Mẫu Hầu đồng được coi như hình thức diễn xướng tổng hợp với âm nhạc, múa thiêng, hát chầu văn và sân khấu hết sức độc đáo, được coi như một trong những màu sắc nổi bật của văn hóa dân gian truyền thống của người Việt

Trang 38

Cùng với Hầu đồng, hệ thống lễ hội "tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ" là một trong những đặc trưng tiêu biểu của tín ngưỡng thờ Mẫu Tuân theo lịch tiết "xuân thu nhị kì" truyền thống, thờ Mẫu cũng tưng bừng mở hội vào dịp tháng Tám và tháng Ba âm lịch Lễ hội thờ Mẫu cũng có tính chất chung của lễ hội cổ truyền Việt Nam, ở đó người ta tiến hành các nghi

lễ và sinh hoạt văn hóa mang tính phong tục Tuy nhiên, thờ Mẫu có những đặc trưng riêng, do vậy mà lễ hội của thờ Mẫu cũng mang những sắc thái riêng biệt

Tương truyền tháng tám có ngày hóa của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và ngày hóa của Bát Hải Đại Vương, vì thế, tháng tám là dịp mở hội chính tại đền Kiếp Bạc (nơi thờ Đức Thánh Trần) và đền Đồng Bằng (nơi thờ Bát Hải Đại Vương và Đức Thánh Trần) cũng như khắp các đền phủ thờ Mẫu Trong dịp lễ giỗ Cha này thường có các nghi lễ rước trên sông, mở hội đua thuyền, hát văn chầu và tiến hành nghi thức lên đồng để trừ ma tà rất tiêu biểu của dòng Thanh đồng

Lễ giỗ Mẹ diễn ra vào dịp mùng ba tháng ba âm lịch tại tất cả các đền phủ thờ Mẫu nhưng chính vẫn là ở Phủ Giầy Lễ giỗ mẹ thường tiến hành lễ rước trên bộ, đặc biệt là lễ rước từ đền Mẫu đến chùa gắn với sự tích Thánh Mẫu được Phật Bà Quan Âm cứu nạn và đã quy y theo Phật Trong lễ giỗ Mẹ, hầu đồng vẫn là nghi thức không thể thiếu nhưng nghi thức hầu đồng ở đây thuộc dòng đồng cốt, có nhiều điểm khác biệt so với dòng Thanh đồng trong dịp lễ giỗ Cha tháng tám

Tục lệ "tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ" như là điểm quy tụ nét đặc sắc nhất của nghi lễ hội hè thờ Mẫu Nó đồng thời thể hiện quan niệm vũ trụ luận âm dương tương khắc tương sinh và hệ quy chiếu gia tộc trong ứng

xử xã hội, cũng như thể hiện những sắc thái văn hóa truyền thống đặc sắc nhất của thờ Mẫu

Như vậy, thờ Mẫu là một hình thức tín ngưỡng dân gian tiêu biểu, là loại hình tín ngưỡng sơ khai, xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, được sáng tạo

Trang 39

trên cơ sở tâm thức nông nghiệp nguyên thủy Xuất phát từ tục thờ Nữ thần - chính là sự sùng bái, thờ phụng các hiện tượng tự nhiên được gắn với tính nữ

ở buổi đầu, rồi đến tục thờ Mẫu thần - tôn sùng các Mẫu - Thánh Mẫu vừa có nguồn gốc thiên thần vừa có nguồn gốc nhân thần, là hình thức tín ngưỡng

"nâng cao", "lên khuôn" từ nền tảng thờ Nữ thần rất phổ biến và cổ xưa Tuy vậy, cùng với sự tác động của lịch sử và ngoại cảnh cũng như đặc biệt phải kể đến sự phát triển của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, thờ Mẫu đã tiếp thu những ảnh hưởng của các loại hình tôn giáo ngoại lai cùng với sự vận động mang tính nội tại để từng bước hình thành một thứ tín ngưỡng có hệ thống hơn là tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ được coi như sự xác lập mang tính hệ thống về nhiều mặt của thờ Mẫu mà tiêu biểu là sự bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống điện thần, nghi lễ và lễ hội mang đậm màu sắc, dấu ấn riêng của thờ Mẫu Từ đó, thờ Mẫu đã tiếp tục xác lập một cộng đồng tín đồ với các thứ bậc khác nhau, phổ biến ở hầu khắp các tầng lớp xã hội và vẫn đang không ngừng mở rộng, thu hút thêm trong xã hội hiện đại

1.2.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ

Tôn giáo tín ngưỡng là thành tố quan trọng làm nên bản sắc của văn hóa Nó được coi như phần bình diện sâu sắc nhất, là hạt nhân, là linh hồn của văn hóa, nó quy định tính chất và đặc trưng của văn hóa Tôn giáo tín ngưỡng không chỉ làm phong phú đa dạng cho nền văn hóa mà còn nơi lưu giữ cái bản sắc, những đặc tính của nền văn hóa quy định nó Ở khía cạnh này, tín ngưỡng thờ Mẫu có thể được coi như một hiện tượng đặc trưng cho nền văn hóa của đồng bằng Bắc Bộ

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ ra đời và phát triển trên những cơ sở kinh tế, xã hội và văn hóa, tín ngưỡng của vùng đồng bằng Bắc

Bộ Do vậy, nó có sự khác biệt nhất định so với tín ngưỡng thờ Mẫu ở các vùng miền khác Sự khác biệt này thể hiện ở nhiều nội dung như cách thức phát triển và mối liên hệ giữa ba lớp thờ Nữ thần - Mẫu thần - Mẫu Tam phủ,

Trang 40

Tứ phủ, hệ thống điện thần, hệ thống nghi lễ, lễ hội, về danh xưng của các Mẫu, không gian thờ cúng

Như đã biết, thờ Mẫu ra đời trên nền tảng hạ tầng nông nghiệp - nông thôn của xã hội Bắc Bộ truyền thống kết hợp với nền tảng tư tưởng có sự giao thoa giữa những yếu tố tâm linh có tính bản địa mộc mạc với những yếu tố có tính hệ thống của tôn giáo ngoại lai Đây là một trong những yếu tố quan trọng quy định đặc trưng của thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ Ra đời từ rất sớm trong một xã hội dân gian mang đậm nét ảnh hưởng của tâm thức nông nghiệp, nơi mà giống cái giữ vai trò quyết định trực tiếp trong sản xuất ra của cải vật chất, canh tác nông nghiệp, người nông dân đồng bằng Bắc Bộ đã gửi gắm mong ước phồn thịnh, sinh sôi nảy nở vào trong các hình thức thờ cúng tâm linh, trong đó có thờ Mẫu Tâm thức nông nghiệp nguyên thủy của người Việt đã gán cho tự nhiên thuộc tính sinh nở, tồn trữ và che chở của người phụ

nữ, người Mẹ (Mẫu) Cùng với quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, thờ Mẫu cũng như các loại hình tín ngưỡng tôn giáo khác đã tiếp thu những ảnh hưởng của các loại hình tôn giáo ngoại lai, nó đã từng bước hoàn thiện, phát triển về tính hệ thống

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ là đại diện đầy đủ nhất cho

mô hình kinh điển Nữ thần – Mẫu thần – Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam Nếu như thờ Mẫu ở Nam Trung Bộ chỉ có hai lớp thờ là Nữ thần – Mẫu thần hay thờ Mẫu ở Nam Bộ có đủ ba lớp nhưng có

sự tách biệt nhất định giữa ba lớp thờ dẫn đến các sắc thái nghi lễ cũng khác biệt thì thờ Mẫu ở Bắc Bộ lại có sự phát triển tuần tự và gắn bó chặt chẽ giữa

ba lớp thờ Nữ thần – Mẫu thần – Mẫu Tam phủ, Tứ phủ

Thờ Mẫu ở Bắc Bộ là một hình thức tín ngưỡng dân gian tiêu biểu bởi

nó là loại hình tín ngưỡng sơ khai, xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, được người Việt sáng tạo trên cơ sở tâm thức nông nghiệp nguyên thủy "Xuất phát

từ một tín ngưỡng nguyên thủy tôn thờ các vị thần linh tự nhiên gần gũi, che chở cho con người, như Trời, Đất, Nước mà trong quan niệm dân gian thì đó

Ngày đăng: 07/07/2015, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB. Văn hóa thông tin
Năm: 2002
2. Trần Thúy Anh (2009), “Quan hệ với thiên nhiên của người Việt qua một số biểu tượng động vật”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ với thiên nhiên của người Việt qua một số biểu tượng động vật”, "Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Trần Thúy Anh
Năm: 2009
3. Toan Ánh (1997), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, (Quyển thượng), NXB. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXB. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
4. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hóa dân gian Việt Nam, những suy nghĩ, NXB. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam, những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB. Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
5. Phan Kế Bính (1999), Việt Nam phong tục, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB. Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
6. Trần Lâm Biền (1990), Quanh tín ngưỡng dân dã Mẫu Liễu và điện thờ, Tạp chí nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nghiên cứu văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 1990
7. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1996
8. Nguyễn Từ Chi (1996), Nhận xét bước đầu về gia đình của người Việt. Trong "Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam", NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1996
9. Doãn Chính (cb, 2004), Đại cương lịch sử Trung Quốc, NXB. Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Trung Quốc
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia Hà Nội
10. Trương Hải Cường (2005), Bước đầu tìm hiểu về tín ngưỡng Mẫu, “Đạo Mẫu ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học. QX 2002.21, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu về tín ngưỡng Mẫu, "“Đạo Mẫu ở Việt Nam”
Tác giả: Trương Hải Cường
Năm: 2005
11. Nguyễn Đăng Duy (1996), Văn hóa tâm linh, tập 1, NXB. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB. Hà Nội
Năm: 1996
12. Nguyễn Đăng Duy (2000), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia
Năm: 2000
13. Trịnh Thị Dung (2010), Biểu hiện của yếu tố nữ trong Phật giáo Việt Nam qua hình tượng Phật bà Quan Âm, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học, ĐHKHXHNV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu hiện của yếu tố nữ trong Phật giáo Việt Nam qua hình tượng Phật bà Quan Âm
Tác giả: Trịnh Thị Dung
Năm: 2010
15. Lê Tâm Đắc, Tạ Quốc Khánh (2003), Tính hỗn dung của người Việt thể hiện qua đối tượng thờ trong các ngôi chùa ở Hà Nội, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo
Tác giả: Lê Tâm Đắc, Tạ Quốc Khánh
Năm: 2003
16. Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc (1984), Các Nữ thần Việt Nam, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nữ thần Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1984
18. Trang Thanh Hiền (2010), Phật - Mẫu trong mối quan hệ đa chiều của điện thần, điện Phật ở Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc Mẫu Tây Thiên Vĩnh Phúc trong Đạo Mẫu Việt Nam, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật - Mẫu trong mối quan hệ đa chiều của điện thần, điện Phật ở Việt Nam
Tác giả: Trang Thanh Hiền
Năm: 2010
19. Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1999
20. Nguyễn Duy Hinh (2001), Người Việt Nam với Đạo giáo, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Việt Nam với Đạo giáo
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2001
21. Nguyễn Duy Hinh (2004), Bồ Tát Quán Thế Âm trong các ngôi chùa vùng đồng bằng sông Hồng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồ Tát Quán Thế Âm trong các ngôi chùa vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
22. Nguyễn Duy Hinh (2007), Một số bài viết về tôn giáo học, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bài viết về tôn giáo học
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tranh Đạo Phật, Đạo Lão và Thánh Mẫu - Ảnh hưởng của phật giáo và đạo giáo đến tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ
Hình 1 Tranh Đạo Phật, Đạo Lão và Thánh Mẫu (Trang 114)
Hình 2: Tranh Phật Bà Quan Âm - Ảnh hưởng của phật giáo và đạo giáo đến tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ
Hình 2 Tranh Phật Bà Quan Âm (Trang 115)
Hình 3: Lễ kéo chữ ở Phủ Dày - Ảnh hưởng của phật giáo và đạo giáo đến tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ
Hình 3 Lễ kéo chữ ở Phủ Dày (Trang 116)
Hình 4: Nghi lễ Hầu đồng - Ảnh hưởng của phật giáo và đạo giáo đến tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ
Hình 4 Nghi lễ Hầu đồng (Trang 116)
Hình 5: Điện Hòn Chén - Ảnh hưởng của phật giáo và đạo giáo đến tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ
Hình 5 Điện Hòn Chén (Trang 117)
Hình 6: Hồ Bán Nguyệt ở Phủ Dầy - Ảnh hưởng của phật giáo và đạo giáo đến tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ
Hình 6 Hồ Bán Nguyệt ở Phủ Dầy (Trang 117)
Hình 7: Tam Tòa Thánh Mẫu - Ảnh hưởng của phật giáo và đạo giáo đến tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ
Hình 7 Tam Tòa Thánh Mẫu (Trang 118)
Hình 8: Tranh Ngũ Hổ - Ảnh hưởng của phật giáo và đạo giáo đến tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ
Hình 8 Tranh Ngũ Hổ (Trang 118)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w