1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của đạo hiếu trong phật giáo đến lối sống người việt ở đồng bằng bắc bộ hiện nay

194 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu về lối sống và ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống ở Việt Nam nói chung, lối sống người Việt ở ĐBBB hiện nay nói riêng.. Việc nghiên cứu vấn đề

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS.TS Nguyễn Hùng Hậu

2 TS Lê Tâm Đắc

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Hùng Hậu và TS Lê Tâm Đắc Nội dung luận án có

kế thừa kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước Luận án không trùng với bất kỳ một công trình nghiên cứu nào đã công bố trước đây Tôi hoàn toàn chịu

trách nhiệm trước hội đồng khoa học về tất cả nội dung trong luận án

Tác giả luận án

Đinh Thị Giang

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Triết học của Học viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên;

GS TS Nguyễn Hùng Hậu, Viện Triết học và TS Lê Tâm Đắc, Viện nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dẫn cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận án này; Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi, chỉ dẫn nhiệt tình trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án này

Tác giả luận án

Đinh Thị Giang

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận án 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận án 4

5 Đóng góp về khoa học của luận án 4

6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5

7 Kết cấu của luận án 5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1 Những tác phẩm kinh điển của Phật giáo về đạo Hiếu 6

2 Các công trình nghiên cứu về đạo Hiếu trong Phật giáo 8

3 Các công trình nghiên cứu về lối sống và ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống ở Việt Nam nói chung, lối sống người Việt ở ĐBBB hiện nay nói riêng 16

3.1 Các công trình nghiên cứu về lối sống 16

3.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan tới ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống ở Việt Nam 19

3.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan tới ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 26

4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 28

4.1 Những nội dung các công trình nghiên cứu đã đạt được 28

4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 29

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO HIẾU TRONG PHẬT GIÁO ĐẾN LỐI SỐNG NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY 30

1.1 Đạo Hiếu trong Phật giáo và Đạo Hiếu Phật giáo vùng ĐBBB trong lịch sử 30

1.1.1 Đạo Hiếu 30

1.1.2 Đạo Hiếu trong Phật giáo 31

Trang 6

1.1.2.2 Một số nội dung cơ bản của đạo Hiếu trong Phật giáo 35

1.1.2.3 Đặc điểm cơ bản của đạo Hiếu trong Phật giáo 48

1.1.3 Đạo Hiếu Phật giáo vùng ĐBBB trong lịch sử 52

1.1.3.1 Nội dung của đạo Hiếu Phật giáo vùng ĐBBB trong lịch sử 52

1.1.3.2 Đặc điểm cơ bản của đạo Hiếu Phật giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ trong lịch sử 61

1.2 Lối sống và những nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ 63

1.2.1 Khái niệm lối sống 63

1.2.2 Người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ và những nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của người Việt ở ĐBBB hiện nay 71

1.2.2.1 Người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ 71

1.2.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 73

Tiểu kết chương 1 81

Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO HIẾU TRONG PHẬT GIÁO ĐẾN LỐI SỐNG NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 83

2.1 Ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến nhận thức của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 84

2.2 Ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến cách ứng xử của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 97

2.2.1 Ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến cách ứng xử của những nhà tu hành Phật giáo 97

2.2.2 Ảnh hưởngcủa đạo Hiếu trong Phật giáo đến cách ứng xử của những người không phải là những nhà tu hành Phật giáo 107

2.3 Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống của người Việt ở ĐBBB hiện nay 118

2.3.1 Tác động của đời sống vật chất thấp kém, môi trường gia đình và xã hội thiếu lành mạnh đến đạo Hiếu trong Phật giáo người Việt vùng ĐBBB hiện nay 118

Trang 7

Hiếu trong Phật giáo người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 1202.3.3 Tác động của việc đạo Hiếu trong Phật giáo đang bị lợi dụng do tổ

chức quản lý yếu kém 121Tiểu kết chương 2 125

Chương 3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY

ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO HIẾU TRONG PHẬT GIÁO ĐẾN LỐI SỐNG NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY 126

3.1 Một số quan điểm nhằm phát huy giá trị của đạo Hiếu trong Phật giáo

đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 1263.1.1 Nắm vững và bám sát Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm đổi mới của Đảng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo 1263.1.2 Kết hợp giữa xây và chống nhằm khắc phục những nhận thức và cách ứng xử trái với đạo Hiếu trong Phật giáo 1293.1.3 Phát huy giá trị đạo Hiếu trong Phật giáo gắn liền với quá trình phát

triển kinh tế - xã hội vùng ĐBBB hiện nay 1313.2 Một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng hưởng tích cực của đạo

Hiếu trong Phật giáo đến lối sống người Việt ở ĐBBB hiện nay 1343.2.1 Tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập để người Việt ở ĐBBB hiện nay

có điều kiện phụng dưỡng cha mẹ theo đúng tinh thần đạo Hiếu trong Phật giáo 1343.2.2 Xây dựng môi trường gia đình văn hóa, xã hội lành mạnh, ổn định để phát huy giá trị đạo Hiếu trong Phật giáo 1363.2.3 Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục đạo Hiếu trong Phật giáo để có nhận thức và cách ứng xử đúng với tinh thần đạo Hiếu trong Phật giáo 1383.2.4 Tăng cường tổ chức và quản lý các hoạt động tri ân, báo ân nhằm chống lại những cách ứng xử trái với tinh thần đạo Hiếu trong Phật giáo 143Tiểu kết chương 3 148

KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN

LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 8

Đồng bằng Bắc Bộ ĐBBB Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH

Giáo hội Phật giáo Việt Nam GHPGVN

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phật giáo là một tôn giáo có nội dung sâu sắc, uyên thâm, luận bàn về nhân sinh quan và trên cơ sở đó tìm hướng giải thoát cho con người đó là con đường hoàn thiện đạo đức cá nhân trong đó có đạo Hiếu Mục đích cuối cùng của đạo Hiếu trong Phật giáo không chỉ dừng ở nhận thức mà còn hướng con người hành động theo “bát chính đạo”, nhằm giải thoát cho con người khỏi khổ đau trần thế, mang lại ổn định cho gia đình và xã hội Đạo Hiếu trong Phật giáo bàn đến mọi mặt về đạo làm người một cách rất sâu sắc và bao quát, từ việc biết ơn và báo ơn cha mẹ trong gia đình và rộng hơn nữa là biết ơn và báo ơn

Tổ quốc, đồng bào, nhân loại

Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam khoảng đầu Công nguyên thông qua hai con đường từ các nhà sư Ấn Độ truyền đến và Trung Quốc du nhập vào (Phật giáo Đại thừa) Đồng bằng Bắc Bộ nằm ở vị trí địa lý thuận lợi - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của cả nước, là nơi quy tụ của các nền văn hóa lớn nên đồng bằng Bắc Bộ là nơi tiếp nhận Phật giáo đầu tiên Dễ nhận thấy, trong lịch sử thời Lý – Trần, Phật giáo đã được giai cấp cầm quyền phong kiến Việt Nam lựa chọn làm quốc giáo và hiện nay, tư tưởng Phật giáo nói chung và đạo Hiếu trong Phật giáo nói riêng vẫn tiếp tục ảnh hưởng ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều phương diện trong lối sống của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ như nhận thức, cách ứng xử, phong tục tập quán Người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ luôn có tinh thần kế thừa và phát huy các giá trị tích cực và biến chúng thành tư tưởng đặc trưng của dân tộc Việt, cho nên việc nghiên cứu đạo Hiếu trong Phật giáo góp phần xây dựng và hoàn thiện lối sống con người Việt Nam hiện nay là một vấn đề mang tính cần thiết

Mặt khác, đạo Hiếu trong Phật giáo không chỉ có giá trị đối với lịch sử tư tưởng, văn hoá Ấn Độ và một số quốc gia phương Đông mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn đối với nhân loại ngày nay Bởi vì, thế giới mà chúng ta đang

Trang 10

sống là thế giới của những thay đổi lớn với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, của nền kinh tế thị trường, quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội biến chuyển không ngừng Tuy nhiên, loài người ngày nay cũng đang phải đối mặt trước nhiều thử thách như: các giá trị đạo đức truyền thống đang dần bị băng hoại, nhiều biểu hiện của lối sống xa lạ, trái với thuần phong mỹ tục trong một bộ phận cộng đồng dân cư diễn ra ngày càng phổ biến, đặc biệt là lớp trẻ Họ có thiên hướng đề cao cá nhân, sống ích

kỷ, lạnh lùng, không tình nghĩa, bất chấp đạo lý, ít chú ý đến nghĩa vụ và trách nhiệm đối với cha mẹ, ít quan tâm đến những người xung quanh… Nhất là thời gian gần đây, sự xuống cấp về đạo đức đang trở thành một vấn nạn với hàng loạt những hiện tượng đau lòng diễn ra ở trong gia đình và ngoài xã hội như hiện tượng con cái chối bỏ cha mẹ thậm chí sát hại đấng sinh thành ra chính mình ngày càng phổ biến

Những hậu quả đó của loài người do đâu mà có? Dưới góc độ nhân sinh quan Phật giáo, có thể thấy là do con người vô minh, tham, sân, si, khát ái mà không thấy được mình đang tự hủy hoại chính mình, dòng tộc mình và dân tộc mình Để khắc phục với những thách thức nói trên có rất nhiều phương cách khác nhau, trong đó có thể khai thác nhiều hơn nữa giá trị của các tôn giáo đặc biệt là Phật giáo với quan niệm đạo Hiếu sâu sắc, vốn đã chiếm một phần không nhỏ trong lối sống của người Việt ở đây

Vì vậy, để phát huy giá trị đạo Hiếu trong Phật giáo nhằm giáo dục người Việt ở ĐBBB hiểu và sống hướng thiện với tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, giúp mỗi người tự định hướng cho bản thân mình trong cuộc đời, giữ gìn lương tâm và thực hiện tròn nghĩa vụ của mình, sống vì mình, vì cha mẹ mình và vì mọi người trong xã hội là một vấn đề cấp thiết Việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ có ý nghĩa nền tảng nhằm khẳng định những ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay mà còn giúp cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện về những giá trị cuộc sống và

Trang 11

định hướng cho cuộc sống hiện nay, làm phong phú đời sống tinh thần của con người Việt Nam trong thời đại mới

Với những nhận thức trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Ảnh hưởng của

đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” làm luận án triết học của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích những nội dung chủ yếu về đạo Hiếu trong Phật giáo,

từ đó luận án làm rõ ảnh hưởng của nó đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, phân tích nội dung của đạo Hiếu trong Phật giáo và lối sống

người Việt ở ĐBBB

Thứ hai, phân tích và đánh giá ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo

đến các biểu hiện của lối sống như nhận thức và cách ứng xử của người Việt ở ĐBBB hiện nay

Thứ ba, đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy

ảnh hưởng tích cực của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến

lối sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu những tư tưởng chủ yếu của đạo Hiếu trong kinh điển như: Kinh Báo ân cha mẹ, Kinh Vu lan bồn, Kinh Hiếu tử, Kinh Tâm địa quán, Kinh Mục Liên sám pháp và những tài liệu liên quan (Gia huấn, luật pháp)

3.2.2 Về không gian: Tìm hiểu ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo

đến các biểu hiện của lối sống như nhận thức và cách ứng xử của 02 nhóm

Trang 12

đang sinh sống, học tập và làm việc trên địa bàn 06 tỉnh thành khu vực ĐBBB gồm Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình, Hải Phòng: Một là, những người không phải là nhà tu hành Phật giáo gồm cả tín đồ Phật giáo (Phật tử) và những người không phải tín đồ Phật giáo; Hai là, những nhà tu hành Phật giáo (tăng ni)

3.2.3 Về thời gian: Luận án giới hạn từ khi đổi mới (năm 1986), đặc biệt

là từ năm 1990, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI ban

hành Nghị quyết số 24/NQ-TW về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận mácxít, phương pháp nghiên cứu liên ngành như sử học, văn hóa học, dân tộc học, điều tra xã hội học, thống kê, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu gốc, phương pháp lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, so sánh đối chiếu, khái quát hoá…

5 Đóng góp về khoa học của luận án

Một là, luận án góp phần làm rõ đạo Hiếu trong Phật giáo nói chung và

đạo Hiếu trong Phật giáo vùng ĐBBB nói riêng trên một số nội dung cụ thể: ân cha mẹ, ân chúng sinh, ân Tam bảo, ân Quốc gia

Hai là, luận án phân tích ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối

sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay trên một số biểu hiện cụ thể như

Trang 13

nhận thức và cách ứng xử thông qua kết quả khảo sát một số tỉnh như Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình, Hải Phòng

Ba là, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng

tích cực của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống của người Việt ở ĐBBB hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần làm rõ nội dung đạo Hiếu trong Phật giáo và ảnh hưởng của nó trên một số biểu hiện của lối sống như nhận thức và cách ứng xử của người Việt ở ĐBBB hiện nay thông qua kết quả khảo sát một số tỉnh tiêu biểu như Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình, Hải Phòng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Triết học, Tôn giáo học, Văn hóa học, Đạo đức học… và các ngành học có liên quan trong các trường cao đẳng, đại học và học viện ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo, Phụ lục tổng hợp kết quả điều tra khảo sát, Phiếu thu thập thông tin, nội dung của luận án gồm 3 chương, 10 tiết

Trang 14

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Phật giáo là một trường phái triết học Ấn Độ cổ đại ra đời trong làn sóng phản đối sự thống trị của đạo Bàlamôn và sự phân biệt đẳng cấp, lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm con đường giải thoát con người khỏi nỗi khổ triền miên,

đè nặng trong xã hội nô lệ Ấn Độ cổ đại Triết học Phật giáo đã sớm khẳng định vị thế của mình trong lịch sử tư tưởng Ấn Độ và các quốc gia lân cận, trong đó có Việt Nam bởi vì dòng triết học này chứa đựng những triết lý đạo đức sâu sắc trong đó có đạo Hiếu và chính nó góp phần xây dựng một nền triết học Ấn Độ đặc trưng trong lịch sử triết học của nhân loại cho dù vẫn còn hạn chế, nhưng không ai có thể phủ nhận những giá trị đạo đức của Phật giáo Trong chiều dài lịch sử tư tưởng, nhiều học giả các nước trên thế giới luôn kế thừa, tiếp thu những mặt tích cực của đạo Hiếu trong Phật giáo vào xây dựng

và hoàn thiện lối sống trong xã hội mới Cho nên, việc nghiên cứu đạo Hiếu trong Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến lối sống người Việt Nam trong đó có người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ là một vấn đề hấp dẫn, thu hút được nhiều nhà nghiên cứu với những công trình lớn có giá trị

1 Những tác phẩm kinh điển của Phật giáo về đạo Hiếu

Phật giáo không có tác phẩm chuyên luận bàn về đạo Hiếu như trong Nho giáo nhưng những tư tưởng về đạo Hiếu được tìm thấy trong nhiều kinh điển của Phật giáo và hiện nay có nhiều học giả nghiên cứu giới thiệu, dịch và chú giải những kinh điển này nổi bật một số kinh điển sau:

Kinh Vu lan báo hiếu [57] do hòa thượng Thích Huệ Đăng dịch được

Nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành vào năm 2016 là một bản kinh ngắn kể về nguyên nhân và phương pháp báo hiếu của tôn giả Mục kiều liên đối với thân mẫu của ngài Đại ý của kinh gồm có ba phần chính: 1, nói về nguyên nhân của pháp báo hiếu Vu lan; 2, phương pháp báo hiếu nhờ vào công đạo đức cộng đồng; 3, báo hiếu là trách nhiệm chung của những người con Duyên khởi của kinh như sau: Ngài Mục kiều liên vận dụng sáu phép thần thông tìm thấy mẹ bị

Trang 15

tái sinh trong cảnh giới ngạ quỷ, đói khát và tiều tụy Ngài liền lấy bát đựng cơm đem hiến dâng cho mẹ Vì lòng tham, bà mẹ lấy tay trái che lấy cái bát, tay phải vội vã vốc cơm nhưng cơm đã biến thành lửa nên không ăn được Tôn giả sầu than trở về thưa Phật để cầu cách cứu mẹ ngài Đức Phật dạy rằng chỉ nhờ vào

uy lực đạo đức tu tập của chư tăng trong ba tháng an cư mới có thể độ được mẹ ngài Mục kiều liên Ngài Mục kiều liên đã làm theo lời Phật dạy thiết lập trai đàn, nhờ oai đức chuyển hóa nghiệp lực của chư tăng mà mẹ ngài đã thoát khỏi cảnh ngạ quỷ, tái sinh về cõi trời Nhân dịp đó, đức Phật đã khuyên tất cả những người con nên học theo gương hiếu hạnh của ngài Mục kiều liên để báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ hiện tại và cha mẹ bảy đời quá khứ

Kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân [47], sự báo hiếu được khởi đi bằng việc

đức Phật vái lạy đống xương khô trong đó có cha mẹ nhiều đời trong quá khứ của ngài, đức Phật đã giảng dạy về 10 đức ân của hai đáng sinh thành như sau:

1, Gìn giữ con khi mang thai; 2, khổ đau trong sinh nở; 3, lo lắng trăm bề đến lúc sinh; 4, nuốt đắng nhổ ngọt; 5, nhường khô nằm ướt; 6, bú mớm nuôi nấng;

7, tắm rửa săn sóc; 8, thương nhớ không nguôi; 9, quá vì con thậm chí làm ác;

10, thương con trọn đời Để con cháu đền đáp công cha nghĩa mẹ, Phật dạy phương pháp báo hiếu về phương diện vật chất lẫn tinh thần Nếu đối với cha, công ơn trời biển thuộc về phần nuôi nấng và giáo dục con cái thì đối với mẹ là

cả bầu trời tình thương, mười tháng cưu mang, ba năm bú mớm cho đến lúc con cái được trưởng thành và hạnh phúc trong đời Hiếu được công ơn trời biển của hai đấng sinh thành, tất cả những người làm con phải lo báo hiếu cha mẹ Đạo đức của lòng hiếu thảo theo kinh này khởi đi bằng đời sống đạo đức của bản thân, thấy được song thân ân trọng, nỗ lực đền đáp bằng cả tấm lòng trong mọi tình huống dù trong lúc khốn khó, lòng hiếu kính của con cháu đối với cha

mẹ trước sau như một Vì tình thương và tấm lòng của cha mẹ dành cho con cái

là không bờ bến Tất cả sự báo hiếu của con chỉ đền đáp được phần nào đó trong muôn một Những kẻ bất hiếu tự gieo bất hạnh cho bản thân và khó có cơ

Trang 16

hội sống trong hạnh phúc thật sự Do đó hiếu thảo là nhu cầu không thể thiếu của hạnh phúc và là giá trị làm thăng hoa mọi giá trị trong cuộc đời

Kinh Mục liên sám pháp [53] dạy về cách sám hối và hướng dẫn cha mẹ

về chính pháp của đức Phật Sám hối là một phương pháp tư lợi, lợi tha, một công hạnh báo hiếu rất nhiệm màu mà người muốn tu hành hiếu đạo, người muốn tu hành hiếu đạo, người muốn sám trừ nghiệp chướng cần phải ghi lòng tạc dạ Ngài Mục kiều liên là một tấm gương sáng chói tượng trưng cho lòng chí hiếu đối với đấng từ thân, ngài đã thực hành pháp sám hối mà cứu được mẹ thoát khỏi cảnh địa ngục khiến muôn đời không thể quên

Ngoài những kinh sách trên còn nhiều kinh sách khác đề cấp đến đạo

Hiếu như Kinh Thai Cốt và Kinh Huyết Bồn nhấn mạnh công đức của cha mẹ; Kinh Hiếu Tử dạy về các phương thức báo hiếu; Kinh Tâm Địa Quán với phẩm

thứ hai là phẩm báo ân, dạy cách đền ơn cha mẹ của người xuất gia và người tại

gia; Kinh Địa Tạng kể về hiếu hạnh của Bồ-tát Địa Tạng và thông qua đó

hướng dẫn cách đền ơn cha mẹ ở hiện đời cũngnhư các đời sống quá khứ; Kinh

Thiện Sinh hay Giáo thọ Thi-ca-la-việt (thuộc kinh điển Pali) dạy về đời sống

và các mối quan hệ đạo đức của xã hội loài người, trong đó có đề cập đến 5 nguyên tắc đạo đức của các bậc cha mẹ đối với con cái và 5 nguyên tắc đạo đức của con cái đối với cha mẹ Những kinh điển gốc được trình bày ở trên có giá trị lớn giúp nghiên cứu sinh có cái nhìn tổng thể về nội dung đạo Hiếu trong Phật giáo

2 Các công trình nghiên cứu về đạo Hiếu trong Phật giáo

Trong quá trình nghiên cứu về đạo Hiếu trong Phật giáo và ảnh hưởng của

nó đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, chúng tôi thấy đã có nhiều học giả nghiên cứu công phu về đạo Hiếu trong Phật giáo Những công trình này đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phân tích những nội dung

cơ bản của đạo Hiếu trong Phật giáo, đồng thời nhấn mạnh những yếu tố tích cực và ý nghĩa của đạo Hiếu trong Phật giáo trong đó có một số công trình như:

Trang 17

Cuốn Phật pháp [11] của các tác giả Minh Châu, Thiên Ân, Chơn Trí, Đức

Tâm do Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành vào năm 1992 chủ đích của cuốn sách là giới thiệu Đạo Phật cho thanh - thiếu – nhi Chương trình gồm các mục lịch sử, giáo lý, pháp hạnh, nghi lễ, mẩu chuyện đạo, kinh điển.v.v soạn tuần tự theo bốn cấp bậc Hướng – Thiện, Sơ – Thiện, Trung – Thiện, Chánh – Thiện Trong cuốn sách, các tác giả bàn nhiều đến đạo Hiếu trong Phật giáo như phần Pháp hạnh trình bày mười ba nội dung trong đó nội dung thứ sáu nói về Bốn ân trong Phật giáo… Theo các tác giả, “Làm người ở đời, được sống, được thành đạt chút gì toàn nhờ công ơn của mọi người, của xã hội và của chúng sinh… nên những ai muốn thành tựu nhân cách, muốn nhận

rõ ý niệm của đời sống tương quan, không thể không biết đến bốn ân và những phương pháp đền đáp Bốn ân: là ân cha mẹ, ân thày bạn, ân quốc gia xã hội, ân Tam bảo” (11, tr.197) Tư tưởng đạo Hiếu trong Phật giáo chưa được nói nhiều nhưng nội dung của cuốn sách phần nào giúp cho tác giả của luận án hiểu rõ hơn về giáo lý Phật giáo và những quan điểm của Phật giáo đối với đời sống xã hội hiện nay

Năm 1998, Nhà xuất bản Thống kê ấn hành tác phẩm Hành tham quan

gia huấn [6] của Bùi Huy Bích Tác phẩm tập trung bàn vấn đề giáo dục đạo

đức trong đó nội dung giáo dục đạo Hiếu là nội dung cơ bản Tác giả khẳng định vị trí quan trọng của đạo Hiếu trong bậc thang giá trị đạo đức của con người Nội hàm khái niệm đạo Hiếu nhấn mạnh nội dung con cái phụng sự cha

mẹ lúc còn sống, ở vấn đề tu thân, lập chí của người con trai, rèn đức hạnh tề gia, vâng lời, kính thờ cha mẹ của người con gái Nội dung đạo Hiếu trong tác phẩm này cho thấy, khác với gia huấn Trung Quốc với nội dung đạo Hiếu là sự quy định lý tính, nghiêm khắc, gia huấn Việt Nam nói về đạo Hiếu như một thứ tình cảm tự nhiên, vốn có của con người Nghiên cứu đạo Hiếu trong quan niệm của người xưa là cơ sở giúp tác giả luận án có những so sánh khi phân tích đạo Hiếu trong Phật giáo

Trang 18

Trong cuốn Chữ Hiếu [42], Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí

Minh xuất bản năm 2005, trên tinh thần tư tưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo, tác giả Hạnh Hương đã chỉ ra công ơn to lớn của cha mẹ, ông bà, tổ tiên; bổn phận, trách nhiệm của con đối với cha mẹ và phương pháp rèn luyện để trở thành người con hiếu thảo Tác giả cho rằng, “Ở đời không có điều gì ác bằng bất hiếu… Báo hiếu là việc mà tất cả những ai làm người đều phải ghi nhớ và phải thực hiện Đạo Phật có dành ra ngày báo hiếu cho thiện nam, tín nữ nhớ đến bổn phận thiêng liêng đối với cha mẹ, ông bà Đó là ngày rằm tháng bảy, ngày Lễ Vu Lan”[42, tr.23-26] Theo tác giả “Báo hiếu là một cách để ta vun bồi cội phúc, đây là một nhân cách cao đẹp hơn tất thảy những nhân đức khác Một người được gọi là có nhân cách, nhất định người đó phải trọn đạo Hiếu…

Để trở thành người con chí hiếu ta luôn cố gắng rèn luyện bản thân khi còn bé sao cho cha mẹ vui lòng Khi trưởng thành, cách ăn nết ở của ta luôn hướng đến mục tiêu là “đền ơn trả Hiếu” cho cha mẹ”[42, tr.26-28] Tuy nhiên, nội dung đạo Hiếu trong Phật giáo, tác giả Hạnh Hương mới chỉ dừng lại ở mức độ

cơ bản, bước đầu, vấn đề này cần nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa

Trong cuốn Hiếu hạnh xưa và nay [9] Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn

hành vào năm 2006, Cao Văn Cang đã trình bày một số lời dạy kinh điển trong Phật giáo về đạo Hiếu, trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra con đường thực hành đạo Hiếu trong đó có truyền thống báo Hiếu của đạo Phật Tác giả cho rằng, “Hiếu đạo là nền tảng của các đạo lý khác Một người bất hiếu thì chắc chắn không thể hoàn thành bất cứ đạo nào trọn vẹn được Trên đời này, việc làm được đánh giá cao quý và đáng tôn vinh nhất, chính là lòng hiếu thảo của con cái đối với đấng sinh thành” [9, tr.11] Tuy nhiên, phần trình bày về đạo Hiếu trong Phật giáo mới ở mức độ nhất định, cần làm sáng tỏ hơn

Cuốn sách Mẹ từ suối nguồn yêu thương đến chân trời giác ngộ [92] của

Thích Huệ Thông do Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn ấn hành vào năm 2007, đã giảng giải về ý nghĩa nhân văn của ngày lễ “Vu lan báo Hiếu” theo quan niệm

và triết lý nhà Phật Trên cơ sở trình bày về kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân,

Trang 19

Kinh Tâm địa quán, Trường Bộ Kinh tác giả chỉ ra công ơn cha mẹ và

phương cách báo hiếu Theo đó “có hai phương cách báo Hiếu, một là theo truyền thống hiếu đạo trong đời sống dân gian và hai là báo hiếu theo truyền thống Phật giáo mà cụ thể là thực hiện bổn phận và trách nhiệm làm con theo như lời Phật dạy… Tuy nhiên, phương cách báo hiếu trong đời sống thế gian cũng không thể nào rốt ráo và ưu việt như phương cách báo hiếu đúng với chân

lý mà Phật đã dạy” [92, tr.75] Có thể nói, đây là một trong những cuốn sách có

sự lý giải tương đối sâu sắc về đạo Hiếu trong Phật giáo, điều này chứng tỏ sự thông hiểu của tác giả về nội dung của kinh Phật

Hạnh Hiếu trong Đạo Phật [80] là một tác phẩm của hòa thượng Thích

Nhật Quang, do Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh ấn hành vào năm 2008 Cuốn sách tập hợp những bài giảng của tác giả về đạo Hiếu với các chủ đề: Báo hiếu trong Đạo Phật, Phật dạy cách báo hiếu, Hạnh hiếu của con người Phật, Biết ơn và đền ơn, hạnh hiếu trong Đạo Phật…Tác giả cho rằng,

“Hiếu là gốc, Hiếu là trên trước, Hiếu là tất cả Là con người phải tròn đạo Hiếu, phải nhớ ân nghĩa và đền trả những ân nghĩa ấy Trong tất cả các ân nghĩa, có thể nói lớn lao nhất là ân nghĩa cha mẹ”[80, tr.22] Theo tác giả,

“công ơn của cha mẹ sâu dày vô kể Muốn đền trả công ơn thâm sâu đó không

có cách gì mà trả hết” [80, tr.23] Có thể thấy, cuốn sách làm rõ quan điểm của Phật giáo về đạo Hiếu và vai trò của đạo Hiếu đối với xã hội hiện nay, tuy nhiên tư tưởng đạo Hiếu trong Phật giáo mới được trình bày dưới hình thức các bài giảng, chưa nghiên cứu chuyên sâu một cách hệ thống

Lý hoặc luận của Mâu Tử, trong bộ Tổng tập Văn học Phật giáo [87] của

Lê Mạnh Thát do Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh ấn hành vào năm 2001 Tác phẩm gồm 37 điều, trong đó có 25 điều giải thích mâu thuẫn giữa Phật giáo

và Nho giáo về đạo Hiếu của người xuất gia Theo tác giả, một người cạo bỏ râu tóc, xuất gia tu hành, sống đời sống không gia đình , vẫn là một phương thức báo hiếu trọn vẹn nhất, cao quý nhất, gọi là “đại hiếu” Tác phẩm này tuy chưa bàn một cách hệ thống đạo Hiếu trong Phật giáo nhưng giúp tác giả luận

Trang 20

án có thêm tư liệu so sánh giữa đạo Hiếu trong Phật giáo với các tư tưởng đạo Hiếu khác

Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội cũng nằm trong Tổng tập Văn học Phật giáo [87] của Lê Mạnh Thát do Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh ấn

hành vào năm 2001 Nội dung tác phẩm tuy không bàn nhiều đến đạo Hiếu trong Phật giáo nhưng thông qua những câu chuyện xả thân của Bồ tát khi thực hiện những hạnh thương vô bờ đã thể hiện những quan niệm rất rõ về hiếu đạo Những quan niệm như kính tín vâng lời, giữ tròn gia hạnh, hết lòng cung dưỡng, kính thờ cha mẹ, kính tín Tam bảo, giữ gìn cấm giới không những phù hợp với đạo lý Việt

mà còn góp phần tạo nên nền tảng đạo lý của dân tộc Việt Nam Nội dung trong tác phẩm chưa bàn sâu về đạo Hiếu, nhưng những quan điểm nêu ra là tiền đề giúp tác giả có thể luận giải sâu hơn về đạo Hiếu trong Phật giáo

Trong cuốn Tư tưởng Hiếu đạo trong Phật giáo [22] do Thích Nhuận

Đạt dịch được nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm

2012 tập hợp những bài giảng, bài nghiên cứu của một số vị pháp sư, học giả,

nhà nghiên cứu Trung Quốc về Hiếu đạo, tiêu biểu như: Tư tưởng Hiếu đạo

trong Phật giáo của G.S Nam Hoài Cần, Tư tưởng Hiếu đạo của Phật giáo trong kinh Vu lan bồn của Lưu Vĩ, Hiếu đạo vô tận – Bồ tát Địa tạng của Pháp

sư Văn Thù… Các bài thuyết giảng, bài nghiên cứu trong cuốn sách đã khái quát quan điểm cơ bản của Phật giáo về Hiếu đạo, con đường thực hành Hiếu đạo Ngoài ra, các bài giảng, các bài nghiên cứu còn so sánh giữa đạo Hiếu trong Nho gia và đạo Hiếu trong Phật giáo Thông qua cuốn sách này, tác giả của luận án thấy sự đa dạng trong cách nhìn của các học giả về đạo Hiếu trong Phật giáo

Cuốn Công ơn cha mẹ [88] của Đại Đức Thích Giác Thiện do Nhà xuất

bản Hồng Đức ấn hành vào năm 2012, trình bày sâu sắc về công ơn của cha, công ơn của mẹ, cách báo hiếu cha mẹ và chữ hiếu trong kinh A Hàm và kinh Trường Bộ Theo tác giả “Nói đến công lao của cha mẹ người xưa có câu “Cây

có cội, nước có nguồn” phàm làm người ai cũng có cha mẹ Cha mẹ là người

Trang 21

sinh ra ta, nuôi nấng từ tấm bé cho đến lúc trưởng thành Bởi vậy bổn phận làm con” phải tận tâm Hiếu kính [88, tr.7] Tác giả cũng nói “công ơn cha mẹ rộng như trời bể, làm con suốt đời báo ân cha mẹ vẫn chưa vừa Nhưng trong lúc báo hiếu, phải có quan niệm sang suốt đúng đắn mới có hiệu quả đem lại lợi ích Báo hiếu có nhiều cách, nhưng không ngoài hai phương diện vật chất và tinh thần” [88, tr.40] Cuốn sách này giúp cho tác giả luận án hiểu rõ hơn đạo Hiếu trong Phật giáo và là tài liệu rất hữu ích trong quá trình nghiên cứu

Sa-môn Thích Nhật Từ dịch Kinh Phật cho người tại gia [109] được Nhà

xuất bản Hồng Đức ấn hành năm 2013.Tác giả đã phân loại 63 bài kinh quan trọng thành năm nhóm chủ đề: đạo đức, xã hội, triết lý, thiền định và Tịnh độ Trong chủ đề kinh về xã hội, bài kinh thứ 5, tác giả trình bày bốn ân lớn; Chủ

đề kinh về Tịnh độ, tác giả trình bày nội dung: Phật nói về Kinh vu lan bồn, Phật nói Kinh báo Hiếu công ơn cha mẹ Đây là một công trình có sự đầu tư công phu và trình độ hiểu biết nhất định về kinh điển Phật giáo và điều này giúp tác giả luận án tìm hiểu sâu hơn về đạo Hiếu trong Phật giáo

Năm 2013, cuốn Phật giáo trong lòng người Việt [75] do Hạnh Nguyên

và Ngọc Lam tuyển chọn được Nhà xuất bản Lao động ấn hành Cuốn sách này gồm có hai phần chính Phần I, với tựa đề “Phật giáo trong lòng người Việt”, Phần II, “Giới thiệu – trích dẫn kinh Phật” Trong mục 18, “Đạo Hiếu qua chuyện Phật bà Chùa Hương với xã hội”, tác giả cho rằng, “đạo Phật lấy từ bi làm căn bản mà Hiếu là đích của từ bi, tâm từ bi khởi từ chỗ biết yêu thương, kính trọng cha mẹ rồi phát triển đến chỗ tận cùng là thương tất cả mọi loại chúng sinh Do đó đạo Phật là đạo Hiếu, là hiện thân của lòng từ bi, vì Đức Phật vô lượng kiếp tu hành đều lấy chữ Hiếu làm đầu” [75, tr.91]

Năm 2014, cuốn Phật giáo và xã hội [113] của Đại sư Tinh Vân do Phan

Thị Bích Trầm dịch, Nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành, đề cập đến quan niệm của Phật giáo về các vấn đề xã hội như vấn đề của cải, vấn đề về phước và thọ, vấn đề về đạo đức, chính trị, trung Hiếu… Khi trình bày về quan niệm đạo đức trong Phật giáo, tác giả chỉ ra vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội “Người

Trang 22

ta thông thường cho rằng có được của cải, đời người sẽ có giá trị; có được danh lợi và chức vị đời người sẽ có ý nghĩa Thực ra đời người thật sự giá trị không phải ở những thứ này, chủ yếu ở chỗ có hay không có đạo đức và nhân cách Đời người có phẩm cách, đạo đức mới là điều quan trọng nhất, viên mãn nhất” [113, tr.53] Tiếp đó tác giả đã trình bày năm loại đạo đức của con cái đối với cha mẹ và năm loại đạo đức cha mẹ đối với con cái Trong phần trình bày quan niệm về trung Hiếu trong Phật giáo, tác giả phân tích, so sánh giữa đạo Hiếu trong Nho giáo và Phật giáo Theo tác giả, con đường thực hiện tận Hiếu nên chú ý ba điều sau: a Hiếu tất phải thực hiện lâu dài không nhất thời; b Hiếu tất phải có thực chất chứ không phải chỉ thể hiện ở bề ngoài; c Hiếu thuận tất phải toàn diện, không phải cục bộ và từ đó tác giả phân tích những cống hiến của Phật giáo đối với trung và Hiếu Nội dung cuốn sách này giúp cho tác giả luận án có cái nhìn

đa chiều góp phần luận giải đúng tư tưởng đạo Hiếu trong Phật giáo

Cũng trong năm 2014, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cho xuất bản

cuốn Đạo Hiếu trong Nho gia [12] của Cao Vọng Chi Ngoài việc trình bày

nguyên văn tác phẩm chính của Nho giáo về đạo Hiếu – “Hiếu Kinh”, cuốn sách còn cung cấp những thông tin về cơ sở của hệ tư tưởng, những lời răn dạy

về chữ “Hiếu” đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội cũng như ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Nho gia đối với đời sống tinh thần của một số nước láng giềng với Trung Quốc, trong đó có Việt Nam Đặc biệt, trong nội dung chương thứ chín, tác giả đã có sự so sánh giữa đạo Hiếu trong Nho gia với đạo Hiếu trong các tôn giáo khác như Đạo giáo, Phật giáo, Đạo cơ đốc Điều này giúp tác giả luận án có cái nhìn đa chiều để đánh giá, luận giải đúng tư tưởng đạo Hiếu trong Phật giáo

Trong cuốn Chữ Hiếu trong đạo Phật [108], Nhà xuất bản Hồng Đức ấn

hành năm 2013, Thích Nhật Từ trình bày khá sâu sắc về đạo Hiếu trong ca dao

Việt Nam và trong kinh điển Phật giáo (kinh Vu Lan, kinh Thiện Sinh, kinh

Pháp Hoa Theo tác giả, trong ca dao Việt Nam “chữ Hiếu đóng một vai trò

quan trọng và nền tảng về đạo đức và luân lý xã hội Nó góp phần giáo dục, xây

Trang 23

dựng một xã hội ổn định và hạnh phúc”[108, tr.4] Theo tác giả “Biết ơn và đền

ơn cha mẹ là Hiếu hạnh đáng khen, tại sao chúng ta phải Hiếu hạnh, tại sao chúng ta phải Hiếu kính cha mẹ, đền ơn cha mẹ bằng cách nào” [108, tr.5] Những đánh giá sâu sắc, khách quan, toàn diện về những tư tưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo của Hòa thượng Thích Nhật Tường rất hữu ích cho tác giả luận

án trong quá trình nghiên cứu

Ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, những năm gần đây trên các tạp chí có một số bài viết đề cập đến vấn đề đạo Hiếu trong Phật giáo

Tỷ khiêu Thích Như Tịnh với bài viết Chữ “Hiếu” với “nỗi khổ treo

ngược” trong đạo Phật [98] đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 5/2009

Tác giả cho rằng “Chữ “Hiếu” trong đạo Phật cũng khác với Hiếu thuận, Hiếu dưỡng, Hiếu đạo hay Nhị thập tứ Hiếu của Nho giáo và những quan niệm về Hiếu của các đạo, các tôn giáo khác… Chữ “Hiếu” trong đạo Phật được đề cập trong rất nhiều kinh sách Phật giáo Nhìn chung “Hiếu được chia làm 2 loại: Hiếu thế gian và Hiếu xuất thế gian… Nhìn chung theo Phật giáo thì căn bản của đạo “Hiếu” là biết tự mình tu tập, nâng cao kiến thức, trau dồi trí tuệ (Tự giác) và khuyến khích cha mẹ tu phúc tu tuệ, tác động mọi người biết hướng thiện (Giác tha) để có cuốc sống an lạc” [98, tr.4]

Trong bài Đạo Hiếu của Phật giáo qua Kinh Thiện sinh của Thích Nhật

Từ [107] đăng trong Tạp chí nghiên cứu Phật học số 5/2009, tác giả cho rằng

“Thông thường khi đề cập đến đạo Hiếu trong đạo Phật người ta chỉ nói đến việc Hiếu thảo của người con mà không đề cập nhiều đến vai trò của đạo đức

và giáo dục của các bậc cha mẹ Đó là một thiếu sót rất lớn Thật ra theo tinh thần của lời Phật dạy trong kinh tạng Pali và Đại thừa, đạo Hiếu của người Phật

tử được thể hiện đầu đủ về hai mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái và con cái với cha mẹ”[107, tr.6] Theo tác giả, “đạo Hiếu trong Phật giáo bao gồm đạo làm cha mẹ và đạo làm con cái Năm nguyên tắc đạo đức của đạo làm cha mẹ và năm nguyên tắc đạo đức của đạo làm con trong kinh Thiện Sinh có thể được xem

là những chẩn mực, khuông vàng thước ngọc cho các mối quan hệ của cha mẹ và con cái trong một xã hội tiến bộ và văn minh” [107, tr.12]

Trang 24

Bên cạnh đó, bàn về đạo Hiếu còn có thể kể đến một số công trình như

Lòng Hiếu thảo cần được dạy dỗ của Diệu Thanh; Hà Thúc Minh với Đầu xuân bàn về gia đình và chữ Hiếu; Bàn về chữ Hiếu của dân tộc Việt Nam của

Trương Minh Hiền; Từ đạo Hiếu truyền thống nghĩ về đạo Hiếu ngày nay

(2007) của nguyễn Thị Thọ trên Tạp chí Triết học, số 6; Đạo Hiếu trong gia đình Việt Nam hiện nay (2014) của Hoàng Thúc Lân trên số 10 Tạp chí Khoa

học xã hội Việt Nam, tr.70-75; Đạo Hiếu và giáo dục đạo Hiếu cho thế hệ trẻ

hiện nay (2018) của Nguyễn Thị Lên trên Tạp chí Giáo dục, số Đặc biệt kỳ 1, tr

257-260, Dẫn luận về Đạo đức Phật giáo của Damien Keow, Thái An dịch,

Cha mẹ - con cái tình thương yêu lòng biết ơn &… của Ajahn Jayasaro, Ajahn

Sumedho, Diệu Liên Lý Thu Linh và Diệu Ngộ Mỹ Thanh dịch; Đạo làm con của Phạm Côn Sơn; Mẹ hiền con Hiếu của hòa thượng Tịnh Không, Vọng Tây

cư sĩ cẩn dịch, Chữ Hiếu của Nguyễn Hưng Lợi, Từ ân của mẹ của Thích Nhật Quang; Chữ Hiếu trong truyền thống Việt Nam của Nhịp cầu tâm giao…

Như vậy, nghiên cứu đạo Hiếu trong Phật giáo được khá nhiều tác giả quan tâm đánh giá, so sánh giữa đạo Hiếu trong Phật giáo và đạo Hiếu khác, từ

đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy giá trị của đạo Hiếu trong Phật giáo Điều này giúp tác giả luận án có cơ sở khách quan để tìm hiểu nội dung đạo Hiếu trong Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đối với lối sống của người Việt ở ĐBBB hiện nay

3 Các công trình nghiên cứu về lối sống và ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống ở Việt Nam nói chung, lối sống người Việt ở ĐBBB hiện nay nói riêng

3.1 Các công trình nghiên cứu về lối sống

Trong đời sống xã hội, lối sống có một vị trí đặc biệt quan trọng, cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của nó ngày càng gia tăng và thể hiện rõ nét, đặc biệt khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà

Trang 25

nước, định hướng CNXH, mở cửa hội nhập với thế giới trong bối cảnh quốc tế

có nhiều biến động phức tạp, đặt ra hàng loạt vấn đề cho việc xây dựng lối sống của xã hội, đòi hỏi các nhà nghiên cứu trong nước đi sâu tìm hiểu lý luận cơ bản về lĩnh vực lối sống Do đó, ở nước ta trong những thập niên gần đây, việc nghiên cứu lối sống của xã hội trở nên khá sâu rộng, đạt được nhiều thành tựu

Năm 1983, cuốn Về lối sống mới của chúng ta [10] của Phong Châu

được Nhà xuất bản Sự Thật xuất ấn hành, đã làm rõ khái niệm, nội dung và phương thức xây dựng lối sống mới, từ đó chỉ ra “lối sống có nghĩa là nói đến toàn bộ hoạt động sống của từng con người, của cả xã hội Nó bao gồm rất nhiều mặt và được thể hiện rất phong phú, đa dạng, tùy theo trình độ, lứa tuổi, đặc điểm giáo dục, cá tính, phong cách, đặc điểm giai cấp, dân tộc và địa phương…[10, tr.25] Công trình tuy thiên về phân tích lối sống mới xã hội chủ nghĩa, song nó có giá trị tham khảo rất lớn cho tác giả luận án

Năm 2001, cuốn Lối sống xã hội chủ nghĩa & xu thế toàn cầu hóa [67]

do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành, tác giả Thanh Lê đã chỉ ra khái niệm

về lối sống, những cơ sở, những mặt cơ bản và kế hoạch hóa lối sống xã hội chủ nghĩa Toàn cầu hóa và cuộc đấu tranh bảo vệ lối sống XHCN Theo tác

giả, “Khái niệm “lối sống” cho phép đi sâu vào một hình thái xã hội – kinh tế,

hình dung nó như một “chỉnh thể sinh động cụ thể” với những “chi tiết” của các quan hệ xã hội khác nhau: sản xuất, sinh hoạt, văn hóa, gia đình… nói lên đặc trưng của một xã hội nhất định với tư cách một loại hình và một hình thức nhất định về mặt lịch sử của hoạt động sống của con người”[67, tr.6] Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng, “Cũng không nên quên rằng trong cuộc đấu tranh tư tưởng quyết liệt hiện nay trong hoàn cảnh toàn cầu hóa, vấn đề lối sống đang là một điểm nóng”[67, tr.6] Tuy nhiên, trong công trình nghiên cứu này tác giả đưa ra được khái niệm mức sống, nếp sống nhưng chưa khoanh vùng phạm vi các yếu

tố của lối sống Mặc dù vậy, công trình nghiên cứu này là cơ sở lý luận cho tác giả luận án khi nghiên cứu về lối sống

Trang 26

Năm 2003, cuốn Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại [36] của

PGS.TS Lê Như Hoa được Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin Hà Nội ấn hành vào năm 2003 Trong phạm vi cuốn sách này, tác giả đề cập đến một số vấn đề của lối sống như: bản sắc dân tộc trong lối sống, lối sống đô thị, lối sống gia đình và lối sống thanh niên Theo tác giả “Bản sắc dân tộc biểu hiện ở tất cả các lĩnh vực khác nhau của hiện thực xã hội mà những con người cụ thể đang sống trong một thời kỳ nhất định Bản sắc dân tộc trong lối sống là những giá trị được hun đúc trong cả quá trình của cộng Đồng người Việt trong suốt chiều dài lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, thể hiện thông qua các lĩnh vực của đời sống xã hội (lao động, học tập, giao tiếp, cách ứng xử…) và được tái hiện tập trung trong nền văn hóa riêng của Việt Nam” [36, tr.6] Công trình nghiên cứu của Lê Như Hoa rất hữu ích cho tác giả luận án trong hướng nghiên cứu về lối sống xã hội

Năm 2007, trong bài Nghiên cứu về lối sống: Một số vấn đề về khái niệm

và cách tiếp cận [105], đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn số 23,

Phạm Hồng Tung đề cập tới một số vấn đề trong cách định nghĩa về “lối sống”

và cách tiếp cận trong nghiên cứu về lối sống Trong phần thứ nhất, tác giả phân tích mối liên hệ giữa văn hoá và lối sống ở các chiều cạnh khác nhau nhằm chỉ ra sự chồng lấn và ranh giới giữa hai thực thể và hai khái niệm nêu trên Trong phần thứ hai, tác giả giới thiệu định nghĩa về “lối sống” của một số tác giả Việt Nam và nước ngoài Trên cơ sở phê phán các định nghĩa đó, tác giả

đề xuất một định nghĩa mới về lối sống, trong đó nhấn mạnh chiều cạnh văn hoá chủ quan và các mối liên hệ đa chiều của lối sống

Năm 2010, Bộ khoa học và công nghệ thực hiện đề tài cấp nhà nước

KX.03/06-10 “Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay

và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế” [26] do

Nguyễn Ngọc Hà làm chủ nhiệm đã làm rõ các đặc điểm của tư duy và lối sống truyền thống của con người Việt Nam, sự biến đổi của tư duy và lối sống trong

Trang 27

thời kỳ đổi mới, những điều kiện kinh tế xã hội tác động đến tư duy và lối sống con người Việt Nam, những vấn đề đặt ra về tư duy và lối sống trước yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế Theo các tác giả, “Lối sống là sự khúc xạ hình thái kinh tế - xã hội trong nhận thức, tình cảm thái độ và hoạt động xã hội, tổ chức đời sống và sinh hoạt cá nhân của con người”[26, tr.44] Từ đó, đề tài phân tích căn cứ lý luận và thực tiễn của các phương hướng lớn và các giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục xây dựng tư duy và lối sống mới của con người Việt Nam hiện nay theo yêu cầu của đổi mới và hội nhập quốc tế

Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên cơ bản chỉ ra được khái niệm, cấu trúc của lối sống Đây là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích, là cơ sở khoa học cho tác giả luận án khi luận giải lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc

Năm 1997, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành cuốn Ảnh hưởng

của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay [97] do

Nguyễn Tài Thư làm chủ biên Cuốn sách trình bày các học thuyết tư tưởng và tôn giáo ở nước ta, phân tích kết cấu và sự tác động của chúng đối với xã hội hiện thực, đưa ra những giải pháp và kiến nghị thích hợp nhằm phát huy mặt tích cực để góp phần thúc đẩy sự nghiệp đổi mới hiện nay Về đạo Phật, các tác giả cho rằng: “Đó là một tôn giáo, nhưng đồng thời cũng là một học thuyết triết học sâu sắc Phần triết học đã tác động đến tầng lớp tri thức các thời đại Khác với Nho giáo, Phật giáo ngày nay vẫn tồn tại với cơ chế đầy đủ của nó Và do

Trang 28

đó, nó có điều kiện trực tiếp tác động đến lẽ sống của người dân” [97, tr.15] Tuy nhiên, công trình chưa đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống xã hội

Năm 1999, Nguyễn Đăng Duy đã viết cuốn Phật giáo với văn hóa Việt

Nam [17], Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành Trong phần ba của cuốn sách, tác giả

bàn về ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa tinh thần Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.Theo tác giả, ngay từ đầu du nhập nước ta, Phật giáo đã hỗn dung với tín ngưỡng bản địa Quan niệm văn hóa đạo đức của Phật giáo phù hợp với lối sống của người Việt trọng tình, trọng nghĩa, thương người, cứu người Vì vậy, Phật giáo đã góp phần vào nuôi dưỡng tinh thần bình đẳng, hoàn thiện đạo đức của người dân, chỗ dựa cho người dân trong đời sống tâm linh Thậm chí “Ngày nay trong xây dựng xã hội chủ nghĩa, đạo đức Phật giáo thương người, cứu người, hẳn là vẫn có ý nghĩa tích cực Và trong cơ chế kinh tế thị trường, thì đạo đức Phật giáo mang tính nhân quả của nó, vẫn có ý nghĩa góp phần vào làm lành mạnh kinh doanh” [17, tr.306] Nội dung cuốn sách chủ yếu nói về ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa nói chung mà chưa đề cập cụ thể ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống

Năm 2000, Nhà xuất bản Văn học xuất bản ba tập cuốn Việt Nam Phật

giáo sử luận [64] của Nguyễn Lang Nội dung cuốn sách tóm tắt những nghiên

cứu đi trước bằng phương thức trình bày kết hợp giữa viết sử và luận sử, giữa xây dựng các mốc biên niên sử truyền giáo gồm thế thứ các tông phái và lần tìm ra sợi dây thống nhất bên trong kết nối các mốc biên niên sử ấy lại, cho người đọc thấy được bản sắc của Phật giáo Việt Nam, vai trò và sự đóng góp của Phật giáo đối với lịch sử dân tộc Công trình của Nguyễn Lang rất hữu ích cho tác giả luận án nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống ở Việt Nam

Năm 2004, Đặng Thị Lan bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Triết học

Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam [62]

Trong công trình, tác giả hệ thống hóa các giáo lý cơ bản về đạo đức Phật giáo, thực trạng đạo đức ở nước ta, ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo với việc hình

Trang 29

thành đạo đức con người Việt Nam hiện nay Tác giả cho rằng, “Gần 2000 năm tồn tại trên đất Việt, Đạo Phật nói chung và đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam, đã trở thành một cái gì đó rất thân thương, gần gũi với dân tộc Việt nam, con người Việt Nam và cả đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam Phật giáo đã thâm nhập sâu sắc vào tâm hồn người Việt và từ đó trở thành sức sống văn hóa, ảnh hưởng mạnh mẽ đến đạo đức, lối sống của người

dân Việt Nam” [62, tr.84] Có thể nói, luận án đã chỉ ra những đóng góp của đạo

đức Phật giáo trong việc hình thành quan niệm sống tích cực của con người Đó

là cơ sở lý luận cho tác giả luận án khi nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ

Năm 2004, trong luận án tiến sĩ Triết học Ảnh hưởng của đạo đức Phật

giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay [40], Tạ Chí Hồng

đi sâu phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống đạo đức xã hội Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại Luận án tiến sĩ của Tạ Chí Hồng đã góp phần nhìn nhận rõ hơn đạo đức Phật giáo nói chung và đạo Hiếu trong Phật giáo nói riêng cùng với những giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Phật giáo trong đó có đạo Hiếu

Năm 2009, cuốn Lịch sử Đạo Phật Việt Nam [34], do Nguyễn Duy Hinh

chủ biên, được Nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành Trong công trình nghiên cứu này, tác giả giới thiệu tổng thể lịch sử đạo Phật Việt Nam qua các thời kỳ: truyền nhập (thế kỷ II-V), phát triển (thế kỷ VI-X), cực thịnh (thế kỷ XI-XIV)

và giai đoạn chấn hưng, canh tân Theo tác giả, “Phật giáo Việt Nam là Phật giáo dân gian mang nặng lòng mẹ, lòng từ bi của truyền thống dân tộc, đã thấm sâu vào văn hóa nghệ thuật tâm tư tình cảm người Việt, đã Việt hóa” [34, tr.8]

Là công trình nghiên cứu Phật giáo Việt Nam dưới góc độ lịch sử tư tưởng, nên tác giả dừng lại ở góc độ khái quát chứ chưa khu biệt ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống ở Việt Nam

Năm 2009 cuốn Phật giáo với văn hóa Việt Nam và Nhật Bản qua một

cách tham chiếu [103] của Nguyễn Thanh Tuấn được Nhà xuất bản Từ điển

Trang 30

bách khoa Hà Nội ấn hành Trong chương một của cuốn sách “Phật giáo với

văn hóa Việt Nam”, tác giả phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn

hóa, lối sống đạo đức, văn hóa truyền thống Việt Nam Theo tác giả “Từ giáo lý nhà Phật, Phật giáo Việt Nam đã tạo dựng truyền thống gắn bó với dân tộc; từ

đó góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền văn hóa dân tộc, sâu đậm đến mức khắc họa vào tâm tưởng, đạo đức, tâm lý, lối sống của nhân dân”[103, tr.59] Nội dung công trình chủ yếu phân tích ảnh hưởng của Phật giáo nói chung đến văn hóa Việt Nam Đây là tài liệu tham khảo bổ ích dưới góc độ ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo đức, triết lý sống, tín ngưỡng - những lĩnh vực quan trọng trong lối sống của xã hội

Năm 2011 trong cuốn Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức

xã hội ở Việt Nam hiện nay [63], Nhà xuất bản chính trị - hành chính ấn hành,

Hoàng Thị Lan chỉ ra, bên cạnh những hạn chế nhất định, tôn giáo đã có những đóng góp tích cực trong việc điều chỉnh hành vi của con người, duy trì đạo đức

xã hội, giữ gìn sự thống nhất của dân tộc và góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phù hợp để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức tôn giáo trong quá trình xây dựng nền văn hóa và đạo đức mới xã hội chủ nghĩa Tác giả nói rằng, “Trong giáo lý Phật giáo, những quan hệ đạo đức trong gia đình cũng rất được quan tâm Trong kinh Giáo thọ thi ca la việt, Đức Phật dạy rằng, làm người phải tri ân, báo ân để xứng đáng với kiếp người cao đẹp hơn loài vật Ơn cha mẹ là một trong tứ ân mà mỗi người phải thực hiện bởi vì, cha mẹ đã sinh

ra ta, nuôi dưỡng, dạy dỗ ta và tác thành cho chúng ta Do vậy, làm con phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ, làm tròn bổn phận đối với cha mẹ như trước đây cha mẹ đã làm, phải chăm sóc cha mẹ chu toàn, phải giữ gìn thanh danh và truyền thống của gia đình, dòng họ, phải xứng đáng với sự kế thừa và phải tưởng nhớ cha mẹ khi cha mẹ qua đời về phần cha mẹ phải chăm sóc con cái bằng cách: giữ cho con tránh được điều ác, khuyến khích con làm điều thiện,

Trang 31

đảm bảo cho con được giáo dục tốt, cưới vợ gả chồng xứng đáng cho con và trao truyền kế thừa cho con vào thời gian thích hợp”[63, tr.94] Cuốn sách này chỉ đề cập đến ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo nói chung, vấn đề ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo cần nghiên cứu sâu hơn nữa

Năm 2012 cuốn sách Ảnh hưởng của tư duy tôn giáo đến lối sống người

Việt [74] được Nhà xuất bản Chính trị – Hành chính ấn hành, hai tác giả Phùng

Thị An Na và Đỗ Lan Hiền đi sâu phân tích ảnh hưởng của tư duy tôn giáo trong đó có Đạo Hiếu của Phật giáo đối với lối sống của người Việt hiện nay,

từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị phù hợp, góp phần thúc đẩy sự nghiệp “đổi mới và hội nhấp quốc tế” của Việt Nam đi đến thắng lợi Theo tác giả, “Phật giáo cũng như Nho giáo đều coi trọng chữ Hiếu, đối với Phật giáo, tột cùng điều thiện không gì hơn Hiếu, tột cùng điều ác không gì hơn bất Hiếu

Do đó, người Việt thấm nhuần tinh thần của Phật giáo đều cách ứng xử Hiếu đễ với cha mẹ và người lớn tuổi Hiếu đễ trở thành một thứ “Đạo” của người Việt,

nó cũng được hiểu như một con đường để người Việt hình thành nhân cách” [74, tr.92] Tuy công trình không đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của Đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống, nhưng cuốn sách vấn là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án khi nghiên cứu về đạo Hiếu

Cuốn Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam [82] do PGS.TS Trần

Đăng Sinh và Nguyễn Chu Sâm Đồng chủ biên được Nhà xuất bản Lý luận chính trị Hà Nội ấn hành vào năm 2014 Cuốn sách là sự tập hợp các báo cáo khoa học được gửi đến Hội Thảo khoa học “Đạo làm người trong văn hóa Việt

Nam” như: Đạo Hiếu – đạo làm người trong gia đình Việt Nam của PGS.TS Trần Đăng Sinh, Đạo Hiếu trong văn học dân gian Việt Nam của TS Trần Thị Điểu, Đạo Hiếu trong ca dao Việt Nam của Hoàng Phương Thảo v v… Các bài

viết trong cuốn sách tập trung bàn về đạo làm người, trước hết là bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm của con người đối với gia đình đó là đạo Hiếu, người dân đối với đất nước đó là đạo Trung Đạo làm người là triết lý nhân sinh, phương châm sống của con người, trả lời câu hỏi: con người phải sống như thế nào cho

Trang 32

phải đạo? Cuốn sách này giúp cho tác giả luận án thấy được sự đa dạng trong cách nhìn của các nhà nghiên cứu về Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam trong đó có Đạo Hiếu trong Phật giáo

Năm 2014, Ngô Thị Lan Anh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Triết

học Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở nước ta

hiện nay [3] Theo tác giả, khái niệm “Tâm” trong Phật giáo rất rộng và có

nhiều khía cạnh, cấp độ, trình độ “1 Tâm là ý thức, là ý chí, tình cảm, sự hiểu biết, là mặt tinh thần chủ quan trong con người, mang tính hướng thiện 2

“Tâm” là Bản thể, là Thực tướng, là Chân Tâm” [3, tr.14] Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả tập trung đi sâu vào nghiên cứu ở cấp độ thứ nhất của “Tâm” Từ đó, tác giả phân tích ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay Từ những vấn đề đặt ra, tác giả đề xuất giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở Việt Nam hiện nay Tác giả cho rằng xuất phát từ cái “Tâm” tốt, con người sống Hiếu thuận hơn, sống có tình nghĩa, có trước sau… Phật dạy: Muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ Cho nên, con cái phải Hiếu thảo với cha mẹ Với người Việt Nam, đạo lý làm người đầu tiên phải học là Hiếu kính với cha mẹ, ông bà Đạo

lý đó đã trở thành bản tính tự nhiên của người Việt Nam Dưới sự ảnh hưởng của một số tôn giáo, trong đó có đạo Phật, việc nhớ ơn và báo ân cha mẹ đã khắc sâu hơn nữa trong tâm khảm mỗi người dân đất Việt Đây chính là biểu hiện “Tâm” cốt cách của con người Việt Nam” [3, tr.45] Mặc dù, tiếp cận dưới góc độ chữ “Tâm” nhưng thực ra tác giả cũng đã nói được quan niệm của Phật giáo về đạo Hiếu Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích giúp tác giả luận án tiếp tục đi sâu tìm hiểu vấn đề này

Thời gian gần đây, một số bài viết trên các tạp chí có đề cập đến một số vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống ở Việt Nam hiện nay Nguyễn Tài

Thư với bài viết Phật giáo và sự hình thành nhân cách con người Việt Nam

hiện nay [97], Tạp chí Triết học, số 4/ 1993 cho rằng trong tư tưởng Phật giáo

Trang 33

đang phục hồi, phát triển và góp phần hình thành nhân cách của một bộ phận người Việt Nam gần đây Trước nhu cầu phát triển của xã hội hiện nay, vấn đề đặt

ra với nhân cách con người Việt Nam mang đậm dấu ấn của Phật giáo cũng cần

thay đổi để thích nghi trong tình hình mới

Trong bài viết Đạo đức Phật giáo với vấn đề xây dựng nhân cách con

người Việt Nam [93], Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 1/2002, Hoàng Thị Thơ

cho rằng, khi nhận định về các vấn đề lịch sử, tư tưởng, văn hóa, đạo đức… của dân tộc Việt Nam không thể bỏ qua yếu tố Phật giáo Trong sự hình thành nhân cách con người Việt Nam, vai trò của Phật giáo, đặc biệt là đạo đức Phật giáo có ảnh hưởng khá đậm nét Giáo lý Phật giáo chứa đựng hệ thống tư tưởng nhân văn tiến bộ, tư tưởng canh tân về đạo đức, từ bi, thiện lành… Những tư tưởng của đạo đức Phật giáo được in đậm trong đặc trưng tính cách con người Việt Nam

Ngoài ra còn có một số bài viết khác như Ảnh hưởng của Phật giáo đối

với đạo đức (1999) của Lê Hữu Tuấn; Một số vấn đề của Phật giáo Việt Nam trong đời sống hiện nay (2002) của Lê Hữu Tuấn; Vai trò của Phật giáo đối với sự ổn định và phát triển xã hội (2008) của Nguyễn Thế Cường và Nguyễn

Thị Ngọc Lan; Phát huy giá trị nhân văn Phật giáo trong xây dựng xã hội mới

hiện nay (2009) của Ngô Văn Minh; Một số ảnh hưởng của Phật giáo trong lối sống của người Việt Nam hiện nay (2010) của Nguyễn Quang Trường… Các

bài viết kể trên, trong phạm vi bài báo, đưa ra được những gợi ý, những khuyến nghị bước đầu về ảnh hưởng của Phật giáo đối với lối sống xã hội Việt Nam hiện nay Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chúng ta có thể vận dụng và kế thừa những ảnh hưởng tích cực của đạo Hiếu trong Phật giáo để xây dựng lối sống Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Mặc dù các công trình, các bài viết nêu trên đã tiếp cận dưới những góc

độ và mức độ khác nhau về ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống ở Việt Nam nhưng nhìn chung mới dừng lại ở mức độ khái quát, chưa trình bày vấn đề một cách toàn diện, hệ thống về những ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến các phương diện của lối sống xã hội Tuy nhiên,

Trang 34

những ý kiến luận giải đề cập trong các công trình đi trước là nguồn tài liệu tham khảo, gợi mở quan trọng giúp tác giả luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề đang đặt ra

3.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan tới ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

Nghiên cứu về đồng bằng Bắc Bộ và ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay được đề cập trong các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác Cụ thể:

Năm 2000, trong sách Người Việt vùng Đồng bằng Bắc Bộ [35], Nhà

xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội ấn hành, dưới góc độ tiếp cận địa lý văn hóa, tác giả Diệp Đình Hoa tìm hiểu Người Việt cổ chiếm lĩnh Đồng bằng Bắc Bộ, cuộc sống tín ngưỡng và tâm linh, môi trường nhân văn, văn hóa dân gian và văn hóa cách ứng xử của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ Tác giả cho rằng,

“Đạo Phật ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ có hơn 2000 năm lịch sử… đạo Phật khi vào nước ta, cụ thể là vùng đồng bằng Bắc Bộ đã bị bản địa hóa, Việt Nam hóa Với tính hòa tan, cư dân Đồng bằng Bắc Bộ đã biến một đạo ngoại lai thành một đạo bản địa, phù hợp với niềm tin và nhận thức của mình” [35, tr.375-376] Xuất phát từ góc độ tiếp cận địa lý văn hóa nên công trình của diệp đình tác giả Hoa nghiêng về biểu hiện ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hóa Phật giáo và ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đề cập ở mức độ nhất định

Năm 2002, cuốn Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ

tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay [84] của Trần Đăng Sinh

được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội ấn hành Cuốn sách trình bày có

hệ thống về nguồn gốc, bản chất và những khía cạnh triết học của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ Từ thực trạng việc thờ cúng tổ tiên diễn ra hiện nay, tác giả đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy những yếu tố tích cực, khắc phục những yếu tố tiêu cực của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tác giả cho rằng, “đạo

Trang 35

Hiếu - đạo làm người có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong các nguyên tắc cách ứng xử của người Việt, thể hiện triết lý nhân sinh vừa dung dị, mang tính thực tiễn, tính phổ quát, vừa sâu sắc Phụng dưỡng ông bà, cha mẹ lúc sống, thờ phụng khi chết, không chỉ là tín ngưỡng mà còn là lẽ sống, được hình thành, bồi đắp qua bao thế hệ và trở thành mỹ tục, thuần phong, ăn sâu trong tiềm thức của mỗi người” [84,tr.132] Nội dung công trình thiên về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, nên ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống của người Việt ở ĐBBB không phải là hướng nghiên cứu chính

Năm 2006, Viện nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng của Học viện chính

trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện đề tài cấp bộ “Ảnh hưởng của

Phật giáo đến đời sống tinh thần nhân dân vùng Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay”

[16] do Phạm Văn Dần làm chủ nhiệm Công trình đã phân tích thực trạng và nguyên nhân ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống tinh thần nhân dân vùng Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay và cho rằng, “mặc dù là một tôn giáo ngoại sinh, nhưng vào nước ta, Phật giáo đã nhanh chóng thấm sâu, có ảnh hưởng to lớn đến người dân Việt Nam nói chung và nhân dân vùng Đồng bằng Bắc Bộ nói riêng Là người Việt Nam không thể không Hiếu kính cha mẹ, niềm tri ơn và báo ơn ấy đã trở thành bản tính tự nhiên, ăn sâu vào tâm khảm của người dân vùng Đồng bằng Bắc bộ Đạo Hiếu đã thể hiện sinh động qua ca dao, dân ca Tinh hoa và tinh thần cao đẹp này không phait tự nhiên mà có, mà chính là nhờ ảnh hưởng của cả một nền giáo dục” [16, tr.84] Trong tất cả những ảnh hưởng lớn nhất và sâu rộng nhất cũng vẫn là sự ảnh hưởng của đạo Phật, một tôn giáo, một nền giáo dục đã có mặt với dân tộc từ buổi đầu của công nguyên, mà đạo Phật là đạo Hiếu

Năm 2010, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội đã ấn hành cuốn Cơ

duyên tồn tại của Phật giáo Việt Nam hiện nay (qua một số tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ) của Vũ Minh Tuyên [106] Cuốn sách đã làm sáng tỏ một cách toàn

diện cơ duyên quy định sự tồn tại và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay đặc biệt qua sáu tỉnh thành ở đồng bằng Bắc Bộ từ cơ duyên kinh tế - xã

Trang 36

hội đến cơ duyên nhận thức và cơ duyên tâm lý quy Để làm rõ điều kiện tồn tại của Phật giáo Việt Nam hiện nay, tác giả cũng khai thác khá nhiều ảnh hưởng quan niệm đạo đức Phật giáo trong đó có đạo Hiếu đến đạo đức, lối sống, phong tục tập quán… của người Việt nói chung và ở các tỉnh đồng bằng Bắc

Bộ nói riêng Trên cơ sở đó, cuốn sách đưa ra những giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo trong xã hội hiện nay

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, còn một số công trình có nội dung và hướng nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật

giáo đến lối sống người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay như Quản lý lễ hội

truyền thống của người Việt ở Châu thổ Bắc Bộ từ năm 1945 đến nay (2007),

luận án Tiến sĩ Văn hóa học của Bùi Hoài Sơn; Mấy vấn đề về tín ngưỡng, tôn

giáo khu vực Đồng bằng sông Hồng hiện nay (2007) của Nguyễn Quốc Tuấn và

Nguyễn Ngọc Quỳnh đăng trên tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, số 3; Khía cạnh

triết học trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng Đồng bằng Bắc Bộ

(2013) luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Hữu Thụ; Sự dung hợp giữa Phật

giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (Qua khảo cứu tại một số chùa ở thành phố Hà Nội) (2016) luận án Tiến sĩ Triết học của Phan

4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

4.1 Những nội dung các công trình nghiên cứu đã đạt được

Thứ nhất, các công trình đi trước đề cập một số nội dung cơ bản của đạo

Hiếu trong Phật giáo; đưa ra khái niệm, cấu trúc của lối sống; tiếp cận ảnh

Trang 37

hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống ở Việt Nam dưới những góc

độ khác nhau nhưng ở mức độ khái quát, chưa toàn diện, hệ thống về những ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống trong xã hội

Thứ hai, các công trình đã chỉ ra vai trò của đạo Hiếu trong Phật giáo đến

lối sống ở Việt Nam và tính tất yếu phải kế thừa những giá trị và khắc phục những hạn chế trong quan niệm về đạo Hiếu của Phật giáo đối với quá trình xây dựng xã hội mới ở nước ta hiện nay

Thứ ba, vấn đề ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống của

người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đã được đề cập nhưng không nhiều và nằm rải rác trong các công trình nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận văn hóa mà Phật giáo

có liên quan đến

4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Thứ nhất, dựa trên những tài liệu từ những công trình đi trước tác giả luận

án bước đầu đưa ra khái niệm đạo Hiếu trong Phật giáo nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu nội dung của nó

Thứ hai, để hiểu toàn diện về đạo Hiếu trong Phật giáo và ảnh hưởng của nó

đến lối sống của người Việt Nam, tác giả luận án cần phải nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như triết học, sử học, văn học, tôn giáo học…

Thứ ba, vấn đề “ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống của

người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” là một công trình mới, chưa có một học giả nào chuyên sâu nghiên cứu nên đã tạo điều kiện cho tác giả luận án tiếp tục đào sâu nghiên cứu nhằm luận giải một cách khoa học về sự ảnh hưởng của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay

Thứ tư, trên cơ sở đi sâu phân tích thực trạng, luận án đưa ra những giải

pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của đạo Hiếu trong Phật giáo đến lối sống của người Việt ở ĐBBB hiện nay

Trang 38

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO HIẾU TRONG PHẬT GIÁO ĐẾN LỐI SỐNG NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG

BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY 1.1 Đạo Hiếu trong Phật giáo và Đạo Hiếu Phật giáo vùng ĐBBB

Trong cuốn Tư tưởng hiếu đạo trong Phật giáo của Thích Nhuận Đạt dịch có bài Hiếu đạo vô tận - Bồ tát Địa Tạng của pháp sư Văn Thù cho rằng:

“Hiếu là Hiếu kính, Hiếu thuận, Hiếu dưỡng; Đạo là lẽ tất nhiên, hoặc là con đường nhất định phải đi qua Hợp cả hai lại: Hiếu đạo là chánh đạo mà người con, người đệ tử đối với cha mẹ, sư trưởng phải cung kính, thuận theo, cúng dường và phụng dưỡng” [22, tr.66]

Theo Việt Nam phong tục “Hiếu là biết kính trọng thương mến cha mẹ,

biết vâng lời cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ” [7, tr.30] Gốc của chữ Hiếu

là Hán tự thuộc về bộ tử (vì Hiếu = tôn kính cha mẹ) Chữ Hiếu gồm hai phần: phần trên là chữ Khảo (già) bỏ bớt nét và phần dưới là chữ Tử (con), Do vậy,

có thể hiểu nôm na là kẻ làm con phải phụng sự cha mẹ chính là đạo Hiếu

Trong bài viết Đạo Hiếu - đạo làm người trong gia đình Việt Nam, Trần Đăng

Sinh quan niệm, “Đạo Hiếu có thể hiểu là triết lý, lẽ sống, phương châm cách ứng xử của con cái đối với ông bà, cha mẹ trong gia đình” [82, tr.39]

Những định nghĩa trên cho thấy, tuy thời đại khác nhau nhưng quan điểm

cơ bản về đạo Hiếu là giống nhau nếu có khác nhau thì chỉ khác nhau quan điểm về cách thức báo hiếu vì đạo Hiếu là thuộc về ý thức tư tưởng và cũng như các ý thức tư tưởng khác, đạo Hiếu đều hình thành trên cơ sở kinh tế nhất định,

Trang 39

khi “thời đại khác nhau…, hoàn cảnh sinh hoạt về chính trị, kinh tế, và văn hóa cũng thay đổi Tất cả đều ảnh hưởng đến con người và biến đổi “đạo” làm người một cách tự giác hay không tự giác”, [37, tr.10]

Từ những quan điểm của các học giả cũng như thực tiễn cuộc sống,

chúng tôi cho rằng, đạo Hiếu là quy tắc cách ứng xử mà nhờ đó con người tự giác

điều chỉnh hành vi của mình để báo đáp công ơn của cha mẹ, ông bà, tổ tiên

Đặc trưng cơ bản của đạo Hiếu gồm: Thứ nhất, đạo Hiếu thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của con người; Thứ hai, đạo Hiếu phản ánh rõ nét trong mối quan hệ giữa con cái với ông bà, cha mẹ, tổ tiên; Thứ ba, nội dung của đạo

Hiếu ảnh hưởng quyết định đến định hướng hành vi của mỗi cá nhân

Đạo Hiếu có cấu trúc phức tạp và được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, đạo Hiếu có 3 yếu tố cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau đó là

ý thức đạo Hiếu, hành vi đạo Hiếu, quan hệ đạo Hiếu

Đạo Hiếu có nhiều chức năng, nhưng nổi bật là chức năng giáo dục, chức năng nhận thức và chức năng điều chỉnh hành vi Ba chức năng của đạo Hiếu

có quan hệ chặt chẽ với nhau, sự vận hành của chức năng này là tiền đề, điều kiện cho sự vận hành chức năng khác trong đó chức năng điều chỉnh hành vi là chức năng quan trọng nhất

Như vậy, đạo Hiếu là những quy tắc, chuẩn mực đạo đức giúp con người nhận biết, phân biệt được những giá trị đúng – sai, tốt - xấu, thiện – ác trong việc lựa chọn, đánh giá các vấn đề xã hội, từ đó con người tự điều chỉnh hành

vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội, hình thành quan điểm và nguyên tắc sống của bản thân trong mối quan hệ với bố mẹ, ông bà, tổ tiên

1.1.2 Đạo Hiếu trong Phật giáo

1.1.2.1 Khái niệm về đạo Hiếu trong Phật giáo

Phật giáo cũng như Nho giáo và đạo đức truyền thống đều coi trọng đạo

Hiếu, coi đạo Hiếu là căn bản của đạo đức Trong Hiếu kinh của Nho giáo nói

“Hiếu là nền tảng của đức hạnh, giáo dục cũng xuất phát từ đây”, “Bách thiện

Trang 40

Hiếu vi tiên” (Trong trăm cái thiện, chữ Hiếu là đầu); trong kinh Nhẫn nhục của Phật giáo cũng cho rằng “Cái thiện tột cùng không gì lớn hơn Hiếu, cái ác

tột cùng không gì hơn bất Hiếu”

Đạo Hiếu trong Phật giáo trước hết là sự biết ơn và báo đáp công ơn to

lớn của cha mẹ Trong kinh Đại bảo tích, đức Phật khuyên các đệ tử: “Các ông thường phải hiếu dưỡng cha mẹ” Trong kinh Tâm địa quán, đức Phật nói “cha

có từ ân, mẹ có bi ân, Ân của từ phụ cao như núi, ân của bi mẫu sâu như biển lớn” [139], lại nói “ở trong thế gian, cái gì là quý nhất? Bi mẫu còn sống gọi là quý nhất Cái gì là nghèo nhất? Bi mẫu mất đi là nghèo nhất Lúc bi mẫu còn sống là trăng sáng, khi bi mẫu mất đi là đêm tối Vì thế, các ông phải siêng

năng nỗ lực tu tập, hiếu dưỡng cha mẹ” [139] Kinh Lục độ tập cũng nói: “dâng

thức ăn cho các hiền thánh không bằng hiếu dưỡng cha mẹ” [dẫn theo 22,

tr.72] Các kinh điển khác như kinh Hiếu tử, kinh Thiện Sinh, kinh Vu lan, kinh

Báo ân cha mẹ… đều tuyên dương hiếu đạo và ca ngợi hiếu đạo đối với cha

mẹ

Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của tư tưởng đạo Hiếu trong Phật giáo là giúp mọi người giải thoát, nên đạo Hiếu trong Phật giáo không chỉ dừng trong phạm vi gia đình mà được mở rộng phạm vi tri ân, báo ân quốc gia xã hội và tất

cả chúng sinh Phẩm báo ân trong kinh Tâm địa quán, nói rằng ngoài ân cha

mẹ, con người còn phải ân Tổ quốc, ânTam Bảo và ân chúng sinh

Từ phân tích kinh điển của Phật giáo chúng tôi cho rằng, đạo Hiếu trong

Phật giáo là quan niệm của Phật giáo về công ơn, cách báo ơn của con người đối với cha mẹ, chúng sinh, Quốc vương và Tam bảo trên con đường đi đến giải thoát

Phật giáo quan niệm đạo Hiếu không chỉ là sự cung kính phụng dưỡng về vật chất và tinh thần cho cha mẹ mình, mà còn hiếu dưỡng cha mẹ mọi người trong thiên hạ; không chỉ với cha mẹ hiện tại mà còn với cha mẹ trong quá khứ

và vị lai Bởi lẽ, “Tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta, ta đời

Ngày đăng: 21/08/2019, 06:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w