1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật ca trù ở đồng bằng bắc bộ tại việt nam phục vụ phát triển du lịch

31 1,5K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khai thác Các Giá Trị Văn Hóa Của Nghệ Thuật Ca Trù Ở Đồng Bằng Bắc Bộ Tại Việt Nam Phục Vụ Phát Triển Du Lịch
Tác giả Trần Thị Huyền
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 508,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật ca trù ở đồng bằng Bắc Bộ tại Việt Nam phục vụ phát triển du lịch Trần Thị Huyền Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Du lịch Ch

Trang 1

Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật ca trù ở đồng bằng Bắc Bộ tại Việt Nam phục vụ

phát triển du lịch

Trần Thị Huyền Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Du lịch Chuyên ngành: Du lịch; Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Trình bày những vấn đề cơ bản về ca trù, lịch sử phát triển của nghệ thuật

ca trù, nghệ thuật ca trù tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù Nghiên cứu thực trạng khai thác các giá trị văn hoá của nghệ thuật

ca trù vào hoạt động kinh doanh du lịch hiện nay ở Việt Nam Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch của nghệ thuật ca trù

Keywords Du lịch; Giá trị văn hóa; Nghệ thuật ca trù; Vùng Đồng bằng Bắc bộ;

Phát triển Du lịch; Việt Nam

Trang 2

muốn tìm đến những giá trị văn hóa đặc trưng của từng vùng miền Nắm bắt được điều này nên đã có nhiều loại hình nghệ thuật được đưa vào khai thác kinh doanh du lịch như chèo, múa rối nước, quan họ,… và đã đạt được những thành công nhất định Còn với nghệ thuật ca trù – một loại hình nghệ thuật quý giá, hấp dẫn của dân tộc vẫn còn ở dạng tiềm năng trong kinh doanh du lịch Việc đưa nghệ thuật ca trù vào khai thác kinh doanh du lịch không chỉ nhăm quảng bá về một loại hình nghệ thuật dân tộc độc đáo mà còn khai thác tối đa các giá trị kinh tế mang lại Vì vậy tôi đã chọn nghệ thuật ca trù làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài:

“Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật ca trù ở đồng bằng Bắc Bộ tại Việt

Qua công tác tìm hiểu tài liệu liên quan tới nghệ thuật ca trù nói chung, nghệ thuật

ca trù cho khai thác kinh doanh du lịch nói riêng Tôi nhận thấy cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề này:

Trong các thập kỷ 20,30,40 của thế kỷ XX đã có nhiều tập sách, báo của các tác giả Phan Văn Duyệt, Nguyễn Mạnh Hồng, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Đôn Phục,… viết về ca trù

Về sau, phải kể đến Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng

Huề in năm 1962 tại Sài Gòn

Năm 1980, Sở VHTT Hà Nội tổ chức biên soạn tập sách Hát cửa đình Lỗ Khê,

giới thiệu về một làng có truyền thống ca trù của thủ đô

Năm 1987, có cuốn sách Tuyển tập thơ ca trù của tác giả Ngô Linh Ngọc và Ngô

Văn Phú

Năm 2000, được sự tài trợ của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam công trình Góp

phần tìm hiểu lịch sử ca trù của Nguyễn Xuân Diện đã được in tại Nxb Khoa học xã

hội và được công bố với công chúng

Trang 3

Năm 2000, tại Viện Văn học, Nguyễn Đức Mậu bảo vệ thành công luận án tiến sĩ

ngữ văn với đề tài Thể loại hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học

Năm 2002, Giang Thu – Vũ Thiệu Loan xuất bản sách Tìm hiểu ca trù Hải Phòng;

Lê Huy Trâm xuất bản sách Khảo sát Ca công ở Thanh Hóa

Năm 2003, Hoài Yên và Nguyễn Xuân Diện xuất bản Thơ Hát nói xưa và nay; Nguyễn Đức Mậu giới thiệu và biên soạn sách Ca trù – nhìn từ nhiều phía; Hoàng Tuấn Phổ xuất bản sách Hát nhà trò Văn Trinh

Năm 2007, Nguyễn Xuân Diện bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Hán Nôm Lịch

sử và nghệ thuật ca trù Việt Nam - Khảo sát nguồn tư liệu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm

Ngoài ra, còn có hàng loạt các cuộc hội thảo như năm 1998, Hội thảo ca trù Cổ Đạm do Sở VHTT Hà Tĩnh tổ chức; năm 1999, Hội thảo ca trù Thăng Long – Hà Nội

do Sở VHTT Hà Nội và CLB Ca trù Hà Nội tổ chức; năm 2005, Chi hội Văn nghệ dân gian Thanh Hóa tổ chức Hội thảo ca trù Thanh Hóa; năm 2006, diễn ra hội thảo quốc

tế về ca trù tại Việt Nam; năm 2011, Hội thảo tổng kết kiểm kê ca trù năm 2009 –

2010 tại Hà Nội,…

Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu cho đến nay đều mới nghiên cứu về nghệ thuật

ca trù dưới góc độ một loại hình âm nhạc hoặc một di sản văn hoá Và chưa có nghiên cứu nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ về khai thác nghệ thuật ca trù trong du lịch

3 Mục đích và nội dung nghiên cứu

Nghệ thuật ca trù là một di sản văn hóa quý báu, mang đậm bản sắc dân tộc Vì vậy, khi nghiên cứu không ngoài mục đích tìm hiểu cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của nghệ thuật ca trù Mặt khác việc nghiên cứu nghệ thuật ca trù trong khai thác hoạt động kinh doanh du lịch nhằm tìm ra những phương thức khai thác và những, giải pháp giữ gìn, phát huy loại hình nghệ thuật này trong cuộc sống Và cũng từ đó, làm

đa dạng hóa sản phẩm du lịch, góp phần thu lợi nhuận, thúc đẩy ngành du lịch phát triển

Với mục đích nghiên cứu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung tìm hiểu

về giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù và thực trạng khai thác các giá trị văn hoá của

Trang 4

nghệ thuật ca trù vào hoạt động kinh doanh du lịch hiện nay, từ đó nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch của nghệ thuật ca trù

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng mà luận văn nghiên cứu tập trung chủ yếu là loại hình hát ca trù thính phòng phục vụ nơi ca quán, chứ không bao gồm hát cửa đình hay hát trong cung đình xưa Ngoài ra đối tượng nghiên cứu chính là sản phẩm du lịch do nghệ thuật ca trù tạo

ra cũng như các yếu tố khác liên quan khác đến việc khai thác nghệ thuật ca trù cũng như du khách , cơ sở vật chất , tổ chức quản lý, quảng bá

Tuy nhiên do điều kiện thực tế và khả năng của bản thân có hạn nên trong quá trình nghiên cứu, tôi tập trung nghiên cứu về nghệ thuật ca trù đang được khai thác hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn Hà Nội Còn nghệ thuật ca trù tại một số tỉnh thành khác thuộc Đồng bằng sông Hồng, tôi chỉ xin giới thiệu như một tài nguyên

du lịch tiềm năng

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đề tài, học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thu thập tài liệu

Tài liệu sơ cấp: thu thập các tài liệu liên quan tới các nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu về Ca trù nói chung, các tài liệu về hoạt động du lịch tại Việt Nam,…

Tài liệu thứ cấp: thu thập các tài liệu về hoạt động du lịch trên địa bàn Hà Nội, các hoạt động biểu diễn ca trù,…

- Phương pháp phân tích và tổng hợp dữ liệu:

Sau khi thu thập các tài liệu sơ cấp và thứ cấp liên quan đến luận văn, học viên thực hiện phương pháp tổng hợp tài liệu, dữ liệu đã có Đặc biệt các dữ liệu quan trọng, liên quan trực tiếp tới bài viết thì phải vừa tổng hợp và phân tích cho phù hợp

- Phương pháp tổng hợp phân tích số liệu

Kế thừa các tài liệu, sách báo, tạp chí, internet, các báo cáo, về các nghiên cứu ca trù nói chung và hoạt động du lịch liên quan tới ca trù nói riêng từ đó tác giả bổ sung hoàn thiện nội dung bài luận văn

Trang 5

- Phương pháp khảo sát thực tế:

Do thời gian và khả năng của bản than có hạn, nên học viên tập trung chủ yếu cho công tác khảo sát thực tế tại một số địa điểm sinh hoạt nghệ thuật truyền thống nhằm phục vụ du khách trên địa bàn Hà Nội Trong đó tập trung là các địa điểm biểu diễn ca trù

- Phương pháp điều tra xã hội học:

Trong quá trình khảo sát thực tế, học viên ngoài việc quan sát còn sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học như phỏng vấn nhanh, bảng hỏi đối với các nghệ nhân, du khách, người quản lý,…

6 Bố cục đề tài

Nội dung đề tài gồm 3 chương ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Kết cấu 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về tài nguyên du lịch văn hoá ca trù

Chương 2: Thực trạng khai thác giá trị nghệ thuật ca trù áp dụng vào du lịch

Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác các giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù trong phát triển du lịch

7 Đóng góp của đề tài

Do điều kiện nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên sau khi hoàn thành đề tài, tôi chỉ mong muốn đóng góp một số ý kiến nhỏ cho việc phát triển hoạt động kinh doanh du lịch dựa trên nghệ thuật ca trù:

- Tìm hiểu tình hình thực tế của hoạt động khai thác kinh doanh du lịch dựa vào nghệ thuật ca trù

- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác kinh doanh du lịch dựa vào nghệ thuật ca trù

- Cung cấp một phần tài liệu cho việc nghiên cứu về nghệ thuật ca trù giúp thế hệ trẻ thêm yêu mến, trân trọng, giữ gìn vốn cổ của dân tộc

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH

VĂN HOÁ CA TRÙ 1.1 Tổng quan về lịch sử hình thành, phát triển của nghệ thuật ca trù

Trang 6

1.1.1 Khái niệm ca trù

- Ca trù (hay hát Ả đào) là tên gọi thông dụng hơn cả so với các khái niệm khác, cho dù chưa phải là cách gọi tối ưu Vậy Ca trù nghĩa là gì? Đó là một khái niệm chỉ một lối hát gồm rất nhiều điệu (theo thống kê của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề thì

Ca trù có 46 điệu): thét nhạc, non mai, hồng hạnh, hát nói,… Trong cách hiểu thông thường, khái niệm Ca trù có thể được thay thế bằng các khái niệm khác như đã nói ở trên mà vẫn được hiểu như nhau Ở Thanh Hóa, Ca trù còn được gọi là hát ca công, hát gõ Về nghĩa chữ thì Ca trù trước nay được giải thích là hát Thẻ Thẻ gọi bằng Trù, làm bằng mảnh tre ghi chữ đánh dấu, dùng để thưởng đào hát hay thay cho trả tiền mặt trực tiếp Khi ả đào hát, quan viên thị lễ chia ngồi hai bên, một bên đánh chiêng, một bên đánh trống Trống đánh chát và chiêng đánh một tiếng khi thấy hát hay thì thưởng cho đào một cái Trù Xong tiệc hát, đào kép ứng theo trù thưởng mà tính tiền, nhận tiền theo đúng quy định Khái niệm Ca trù sớm nhất hiện biết là thế kỷ 16 trong bài

“Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn” của Lê Đức Mao

- Ngoài ra còn có các tên gọi khác:

Ca trù

1.1.2 Lịch sử phát triển của nghệ thuật Ca trù

1.1.2.1 Truyền thuyết về tổ nghề Ca trù

Trang 7

- Bản thần phả “Sự tích tổ sư giáo phường” soạn năm 1476 ở làng Lỗ Khê (Đông Anh,

Hà Nội) tổ ca trù là ông Đinh Dự và bà Đường Hoa

- Trong bài viết Ca trù qua một số truyền thuyết, tác giả Trần Thị An dẫn ý kiến của

cụ Chu Hà cho biết: tại các huyện Thiệu Yên, Thọ Xuân, Quảng Xương ở Thanh Hóa

có những dòng ca công phát triển đã thờ chung một vị tổ sư tên là Phong Quân

- Sự tích tổ cô đầu ở làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là sự tích được kể chi tiết nhất Truyền thuyết kể rằng: Vào đời nhà Lê, Đinh Lễ, tự Nguyên Sinh, người làng Cổ Đạm, con nhà gia thế, tính tình phóng khoáng, không thích công danh bó buộc, thường ôm đàn nguyệt đến bên bờ suối gảy, rồi ca hát để hòa với tiếng suối chảy Sinh đã đặt ra lối hát múa mới, rồi lấy hai thanh tre vót thật đẹp để cho nàng gõ trên mảnh gỗ theo nhịp đàn mà hát

- Lịch triều phong Đinh Lễ là Thanh Xà đại vương, Bạch Hoa là Mãn Đào Hoa công chúa, lấy ngày 11 tháng Chạp làm ngày giỗ Ở Hưng Yên, Nam Định, Hải Dương, Hà Nội đều có đền thờ hai vị tổ sư này Riêng giáo phường Thượng Mỗ (Đan Phượng, Hà Nội) thì lại thờ vị tổ sư có tên là Đinh Triết Phải chăng ông là hậu duệ của Đinh Lễ ở

Cổ Đạm? Tuy nhiên điều này chưa có đủ cứ liệu để chứng minh

Như vậy, xung quanh các truyền thuyết về tổ ca trù thì ở các làng tổ nghề thường gồm hai người (một nam, một nữ) Người đàn ông thường được gọi bằng cái tên không giống nhau, khi thì Đinh Lễ (Cổ Đạm), khi thì Đinh Dự (Lỗ Khê), lúc lại là Đinh Triết (Đan Phượng),… Các nhà nghiên cứu cũng quan sát thấy ở đâu có ả đào thì thường liên quan đến họ Đinh, đã đặt ra nghi vấn nhưng chưa thiết lập giải đáp Nhưng các truyền thuyết, hầu hết đều thống nhất rằng vùng đất Thanh Nghệ là miền quê phát tích Mặc dù chưa thể đưa ra được kết luận về sự hình thành và phát triển của thể loại qua những truyền thuyết, song đây cũng là một cứ liệu có ý nghĩa nhất định trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về nguồn gốc ca trù trong đời sống tâm thức dân gian và trong đời sống sinh hoạt dân gian

1.1.2.2 Lược sử phát triển của nghệ thuật ca trù

- Ở nước ta, từ thời Tiền Lê về trước không có sử sách nào ghi chép về vấn đề ca

vũ, nhưng từ thời Lý trở đi, có ghi chép đầy đủ với những quy định trong việc tổ chức biên chế rất nghiêm ngặt (các sách chính sử và dã sử có ghi chép rõ ràng)

Trang 8

- Đến đời Trần, các lối múa hát được biểu diễn vào các dịp lễ tết, yến tiệc, các buổi tiếp sứ hoặc trong các cuộc đi chơi của vua tôi nhà Trần

- Cho đến cuối đời nhà Hồ (1400 - 1407), cái tên Ả đào xuất hiện gắn với sự kiện người con hát họ Đào, làng Đào Xá, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên đã lập mưu giết được giặc Minh

- Đến thời Lê (niên đại Hồng Đức), ca trù phát triển rực rỡ với việc đặt ra 2 bộ: Nhã nhạc (luyện thanh) và Đồng văn (luyện tập âm luật) do quan Thái thường trông coi Âm nhạc ở dân gian thì đặt giáo phường cai quản Cũng dưới đời Lê ca trù được biết đến với các tên gọi: hát cửa quyền, hát cửa đình, hát nhà tơ, hát nhà trò, hát ả đào

- Đầu thời Nguyễn, ca trù chuyển thành lối hát thính phòng, phần múa bị tước bỏ, phần ca nhạc được nâng cao

- Từ khi ra đời đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ca trù chủ yếu tồn tại ở khu vực phía Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tây cũ, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hải Phòng, Huế,…) Đến năm 1940, một nghệ nhân ca trù ở Hải Phòng khi đó mới 16 tuối đã dẫn một số đào kép vào Phú Nhuận, Sài Gòn mở ca quán hát ả đào tại thành phố phương Nam này Như vậy ca trù đã lan rộng khắp Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XX Cũng trong thời gian này, người Pháp sang đô hộ nước ta, đường giao thông đi lại thuận tiện hơn, Ả đào đua nhau mở nhà hát ở các tỉnh Nạn đào rượu rộ lên Ca trù đi dần vào con đường suy tàn

- Đến năm 1945, để lập lại sự lành mạnh của nền văn hóa mới, ở Hà Nội, người ta

đã dẹp nạn đào rượu, nhưng đồng thời lối hát ca trù cũng bị lắng xuống, tinh thần ca trù bị suy giảm do thành kiến Cô đầu là xấu xa

- Từ năm 1977 trở đi, làn điệu ca trù thi thoảng mới được phát qua làn sóng của đài tiếng nói trung ương Một vài nhạc sĩ đã lấy chất liệu ca trù trong sáng để sáng tác

Trang 9

Có hai vấn đề trong sinh hoạt ca trù: thứ nhất, về địa bàn phân bố loại bia liên quan đến giáo phường chỉ thấy xuất hiện ở vùng đồng bằng sông Hồng, tỉnh có nhiều nhất là Hà Tây và Hà Nội, có lẽ vì đây đây là vùng ven đô, giao thông đi lại thuận tiện, đời sống kinh tế khấm khá hơn vùng khác nên các sinh hoạt văn hóa cũng có nhiều hoạt động hơn Thứ hai, về niên đại, văn bia tập trung vào thế kỷ 17, 18 và 19 (cụ thể thế kỷ 17 có 15 văn bia; thế kỷ 18 có 39 văn bia; thế kỷ 19 có 12 văn bia)

Trong các lối hát và ngâm vịnh cổ truyền Việt Nam hiếm có một lối hát nào lại xâm nhập sâu rộng hầu hết các sinh hoạt văn hóa tinh thần như là lối hát ca trù, một lối hát mà cả Thần và Người đều chuộng Nơi đình miếu, đền đài thâm nghiêm các vị thần thánh nghe hát trong hương trầm đượm tỏa, trong sự sùng phụng của xã dân Và trong dân gian, mỗi khi khao vọng, từ khao họ, khao thi đỗ, khao thăng chức đến khai trương cửa hiệu, mừng đón nhau đều vời đào kép ca trù, tùy việc tùy duyên mà thưởng ngoạn câu thơ khổ phách cung đàn Rồi những khi thư thả việc công, những khi buồn thế thái nhân tình, hoặc tình duyên gặp trắc trở, ai đó lại đến ca quán vịn vào tiếng hát, tiếng thơ, nhịp phách của ca trù để chia sẻ tâm sự, để hòa mình vào thế giới nội tâm,

để hào hứng dốc sạch túi tiền vào cuộc hát mà thưởng cho một ngón nghề tài hoa

1.1.2.4 Tổ chức giáo phường

Giáo phường và Ty giáo phường là thuật ngữ xuất hiện khá sớm Theo Phạm Đình

Hổ thì vào niên hiệu Hồng Đức đời Lê Thánh Tông, trong triều đình có đặt hai dinh thự Đồng Văn và Nhã Nhạc, trong dân gian thì đặt Ty giáo phường để coi các việc về

âm nhạc Theo ghi chép cổ xưa thì Ty giáo phường là tổ chức quản lý hoạt động ca xướng tương đương với cấp huyện Giáo phường các xã thuộc về Ty giáo phường của huyện, mỗi huyện có một Ty giáo phường còn một xã có thể có nhiều hơn một Giáo phường

Điều quan trọng trong nội quy giáo phường là đào kép phải giữ tư cách phẩm giá, giữ gìn nề nếp, luân lý gia đình cũng như quan hệ giáo phường và quan hệ xã hội Đào kép có nhiệm vụ kèm cặp, bảo ban, giám sát nhau khi ở nhà cũng như khi đi hát nơi

xa

Trang 10

Giáo phường ca trù không chỉ biểu diễn phục vụ trong các lễ hội dân gian ở các làng xã mà còn vượt ra khỏi địa phương để tham gia vào các nghi thức tiếp khách của nhà nước

1.1.2.5 Diễn trình buổi biểu diễn

* Nhạc khí và ban nhạc

Hát ca trù truyền thống tự nó khu biệt với các lối hát khác nên bộ khí nhạc rất đơn giản gồm cỗ phách, đàn đáy, trống chầu Bên cạnh đó, tiếng hát của đào nương cũng được coi là một nhạc khí – nhạc khí đặc biệt, thể hiện các bài thơ, với yêu cầu diễn cảm ý thơ, tình thơ rất cao

Có thể nói, bộ nhạc khí của ca trù đã được tinh giảm đến mức tối đa nhưng lại đến hiệu quả thật bất ngờ Âm thanh của từng nhạc khí hòa quyện với nhau, gắn bó với nhau mật thiết đến mức ta không thể thêm bớt nhạc cụ nào nữa Ban nhạc cũng rất đơn giản, gồm có ả đào vừa hát vừa gõ phách, kép đệm đàn Về sau, khi ca trù trở thành lối hát thính phòng, một thú chơi tao nhã thì quan viên trở thành một thành viên của ban nhạc Quan viên là người đi nghe hát, người thưởng thức tiếng hát của đào nương Người quan viên cầm chầu ngoài chức năng tham gia vào ban nhạc với vai trò cầm quyền âm nhạc, còn có nhiệm vụ quan trọng là chấm thưởng mỗi khi đào nương hát hay hoặc hát đến câu văn hay, chữ hay, ý hay và còn chấm cả đàn hay, phách hay

* Buổi biểu diễn

Trình tự một buổi hát có thể hình dung như sau:

Tao nhân mặc khách đến một gia đình, hay một ca quán, ở đó đã bố trí chỗ cho khách trà rượu và chỗ để đào kép hát Về phía khách sẽ tự có một quan viên đánh trống chầu

Bắt đầu buổi hát, quan viên điểm 5 hồi trống: 3 hồi đầu để giục đào kép

Đầu tiên đào nương hát một bài hát mở hay Bắc phản, tiếp đó là các bài hát nói, hát mưỡu, hát ru, mười thương, nhịp ba cung bắc, huê tình,… Mưỡu thường là câu lục bát đi kèm với Hát nói (ở trên gọi là Mưỡu đầu, ở dưới gọi là Mưỡu hậu) nêu tóm tắt ý tưởng của bài hát đó

Hòa vào với tiếng hát du dương, trong mịn là tiếng đàn đáy đục trong, khoan nhặt, tiếng phách giòn ríu ran, và tiếng trống chầu tom, chát Tất cả đan quyện vào nhau, tạo

Trang 11

nên một không gian nghệ thuật đặc biệt, tạo nên một thứ “ma lực” hấp dẫn, say đắm lòng người

1.1.3 Nghệ thuật Ca trù tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng

* Tại Hà Nội

- Làng Lỗ Khê thuộc xã Liên Hà, huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội

- Làng Phú Đô thuộc xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội

- Câu lạc bộ ca trù Thăng Long,

* Nam Định

Trang 12

Nghệ thuật Ca trù phát triển mạnh tại xã Hồng Thuận (Giao Thủy), xã Nghĩa Thắng (Nghĩa Hưng), xã Đồng Sơn (Nam Trực)

1.1.4 Các giá trị của nghệ thuật Ca trù

1.1.4.1 Giá trị văn học (Lời thơ)

- Ca trù là một loại hình ca hát có giá trị cao về mặt văn chương Các điệu hát Ca trù ngày xưa như Đại thạch, Dâng hương, Gửi thư … hãy còn mộc mạc chất phác; thì về sau với các điệu Hát nói, Hát mưỡu, Tỳ bà… từ ngữ đã chau chuốt, bóng bẩy hơn

- Trong quá trình phát triển của mình, Ca trù bị coi là loại hình âm nhạc phục vụ cho mục đích chính trị Đó là những tiếng cười trào phúng, đả kích, những tiếng nói căm thù, vạch tội bọn cướp nước, bán nước; đó còn là những lời kêu gọi đồng bào, đồng chí cùng nhau đứng dậy, đòi lại nước nhà cho bằng được

- Ngày nay, hòa mình vào không khí chung của thời đại, chủ đề của Hát nói ngày càng phong phú hơn Nội dung chủ yếu là ca ngợi cảnh đẹp quê hương đất nước, ca ngợi cách mạng, sự nghiệp đổi mới của đất nước

- Có thể nói, Ca trù là tiếng hát của thơ Việt Nam Trong Ca trù có cả cổ kim, có

cả chất dân gian, bình dân đến phong kiến, bác học; có niêm luật thơ cũ mà có cả chất hiện đại của thơ mới Thơ ca trù – một lối thơ phong phú, có mẹo luật mà vẫn có thể

ra ngoài khuôn khổ Đây là một sự tổng hợp, biến hóa linh hoạt, uyển chuyển, tinh tế

mà khó thể loại thơ nào sánh nổi

1.1.4.2 Giá trị âm nhạc

- Nghệ thuật Ca trù, theo như nhiều nhà nghiên cứu thì nó mang tính hàn lâm và bác học Tính nghệ thuật không chỉ thể hiện bằng sự kết hợp hài hòa giữa nhạc và thơ, sự hòa quyện âm thanh của tiếng hát, tiếng phách, tiếng đàn, tiếng trống; mà nó còn thể hiện ở sự đồng điệu về tâm hồn giữa người biểu diễn (đào, kép) và người thưởng thức (quan viên)

+ Về cách phát âm và cách lấy hơi, mỗi lối hát lại có một phương pháp riêng Ở ca trù, nghệ nhân sử dụng “hơi trong” là chủ yếu

+ Về tiết tấu, rất ít tiết tấu có chu kì ngắn và đều như những thứ nhịp điệu của những bài hát thông thường

Trang 13

+ Một điều quan trọng cần chú ý là ở lối Ca trù này, chúng ta một hư từ nào xen vào lời hát, như những chữ: tình bằng, ấy mấy, dẫu, mã,… ở trong các lối hát chèo hay quan họ

+ Về phần bạn tấu, tức là nhạc cụ đi kèm với giọng hát đã được tinh giản đến mức tối đa

+ Các nhạc cụ: phách, đàn đáy, trống chầu

1.1.4.3 Giá trị văn hoá

- Ca trù là một bộ môn nghệ thuật độc đáo của văn hoá Việt Ca trù xưa và cổ kính như đang giấu mình trong lớp trầm tích của văn hoá Việt Nam mà mỗi người dân chúng ta đều có quyền tự hào, và tự thấy mình phải có trách nhiệm giữ gìn lưu truyền

và tìm cho nó vị trí xứng đáng trong đời sống văn hóa hôm nay

+ Lối ứng xử linh hoạt trong ca trù là điểm mà nhiều người khi thưởng thức ca trù

1.2 Di sản văn hoá Ca trù và việc khai thác di sản văn hoá Ca trù trong du lịch

1.2.1 Quá trình Ca trù trở thành di sản văn hoá thế giới

- Trước khi Ca trù trở thành di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, thì Ca trù cũng đã có một quá trình “đi ra” thế giới qua những băng ghi âm, những cuộc liên hoan âm nhạc và những giới thiệu của những người yêu ca trù

- Quá trình Ca trù trở thành di sản thế giới:

+ Viện Âm nhạc là đơn vị được Bộ Văn hoá thể thao và du lịch giao nhiệm vụ lập hồ

Trang 14

sơ quốc gia về hát Ca trù người Việt trình UNESCO công nhận là di sản truyền khẩu

và phi vật thể của nhân loại

+ Vào ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại Abu Dhab, Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất,

Ca trù chính thức được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp

1.2.2 Di sản văn hoá Ca trù - một sản phẩm du lịch độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc

- Nghệ thuật Ca trù là một di sản quý báu của dân tộc ta

+ Trong dân nhạc Việt Nam chỉ có Ca trù mới sản sinh ra một thể loại văn học là Hát nói và đó là điều thực sự khác với các loại dân nhạc khác như quan họ, chèo, lý,… + Ca trù còn hấp dẫn người xem ở những nhạc khí vô cùng đơn giản nhưng lại có khả năng hoà tấu tuyệt vời, tạo nên những giai điệu hấp dẫn, tạo nên cái cốt cách của lối hát

- Ca trù còn mang nặng bản sắc dân tộc Bởi nó là tiếng hát của thơ Việt Nam, của nhạc Việt Nam; là tiếng hồn của dân tộc, luôn song hành với sự thăng trầm của lịch sử

- Với những giá trị độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật Ca trù cho thấy đây là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nếu ngành du lịch biết khai thác Trên thực tế đã có nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống (chèo, múa rối nước, quan họ,…) khi đưa vào phục vụ khách đã mang lại sự thích thú cho du khách và hiệu quả kinh tế cho ngành

du lịch Do vậy việc bảo tồn và phát huy loại hình âm nhạc này cần có sự phối kết hợp của các bộ ngành

1.2.3 Triển vọng thu hút khách của nghệ thuật Ca trù

- Thế giới biến đổi và phát hiện đời sống ngày càng được nâng cao thì du lịch văn hoá ngày càng phát triển mạnh mẽ

- Cũng theo xu hướng chung, ở nước ta cũng đã có sự kết hợp khá tốt các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh để tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, đặc thù

- Việc đưa Ca trù vào hoạt động du lịch là việc nên làm, có tính khả thi Cùng với nhiều sản phẩm du lịch khác, nghệ thuật Ca trù sẽ tạo thành một sản phẩm du lịch rất riêng biệt và có sức hấp dẫn với du khách

Trang 15

1.3 Những vấn đề đặt ra trong việc khai thác nghệ thuật ca trù phát triển du lịch

1.3.1 Tính tất yếu của việc khai thác nghệ thuật ca trù phát triển du lịch

Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh trong Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn

hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, ông có nói về khuynh hướng

biến đổi văn hóa trên thế giới thì một khuynh hướng đang diễn ra mạnh mẽ đó là các loại hình văn hóa truyền thống đang nhanh chóng thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hiện đại

Còn trong “Hội nghị đánh giá kết quả kiểm kê di sản văn hóa ca trù 2009-2010”

vừa diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13/10 đến ngày 16/10/2011 , đã có nhiều ý kiến tâm huyết của các học giả, các nhà quản lý trên địa bàn toàn quốc đối với ca trù-môn nghệ thuật truyền thống đặc sắc của dân tộc Đặc biệt là những đề xuất có giá trị trong công cuộc bảo vệ ca trù, nhằm đưa ca trù từ vị trí là “Di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp” thành di sản “đại diện của nhân loại”

Như vậy, chúng ta có thể thấy ngay được vấn đề khai thác du lịch đối với nghệ thuật ca trù đang rất được quan tâm, coi đây như một giải pháp hữu hiệu cho vấn đề bảo tồn phát huy nghệ thuật ca trù Và theo tiến trình phát triển, hội nhập chung của nền văn hóa Việt Nam thì chúng ta thấy rõ việc khai thác nghệ thuật ca trù trong du lịch là tất yếu, vừa để cộng đồng tiếp cận dễ hơn, vừa giúp cho nghệ thuật ca trù phát huy hết các giá trị văn hóa của mình

1.3.2 Những bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế

Vấn đề khai thác các giá trị văn hóa truyền thống trong hoạt động kinh doanh du lịch đã được các quốc gia trên thế giới áp dụng từ rất sớm và đều mang lại những hiệu quả kinh tế, văn hóa, xã hội rõ rệt Tôi có thể điểm ra đây một vài ví dụ tại các quốc gia có hoạt động du lịch văn hóa sôi động trên thế giới:

+ Tại Trung Quốc

+ Tại Thái Lan

+ Tại Hàn Quốc

Ngày đăng: 17/01/2014, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w