1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tu hoc tu boi duong

49 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 65,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Sự biểu hiện của từ với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ không thật rõ rệt ranh giới giữ từ và ngữ khó phân biệt Để hiểu rõ hơn về những đặc điểm đơn lập của tiếng Việt được thể hiện ra [r]

Trang 1

Tài liệu số 4 HIỆN TƯỢNG SONG NGỮ, ĐA NGỮ

Song ngữ, theo cách hiểu chung nhất là hiện tượng sử dụng hai hay trên haingôn ngữ của người song ngữ trong xã hội đa ngữ Đây là một hiện tượng phổbiến trên thế giới Tuy nhiên xung quanh hiện tượng này có nhiều điểm cần làmsáng tỏ

- Người sử dụng song ngữ là người biết và sử dụng khá tốt hai hoặc trên haingôn ngữ Có người sử dụng song ngữ hoàn toàn và có người sử dụng song ngữkhông hoàn toàn hay song ngữ bộ phận

- Khái niệm “tiếng mẹ đẻ”: Khi nói đến đến hiện tượng song ngữ, người tathường nói đến một ngôn ngữ được gọi là “ngôn ngữ thứ nhất” Nói đến ngônngữ thứ nhất, người ta hay nghĩ đến tiếng mẹ đẻ, đó là tiếng của dân tộc mình

Tuy nhiên có nhiều trường hợp lại không phải như vậy UNESCO đã định nghĩa

“tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ mà con người học được trong những năm đầu của đời

mình và thường trở thành công cụ tư duy truyền thống tự nhiên”.

Nếu theo cách suy luận kiểu tương ứng 1-1, mỗi dân tộc có một ngôn ngữ,thì trên đất nước Việt Nam hiện có 54 dân tộc với 54 ngôn ngữ Tuy nhiên trênthực tế không phải như vậy Cả về số lượng về thành phần dân tộc lẫn thànhphần ngôn ngữ ở Việt Nam vẫn là một vấn đề cần tiếp tục làm sáng tỏ Chẳnghạn, hiện nay có những cộng đồng nói các ngôn ngữ khác nhau nhưng được gộpchung vào một dân tộc như người Rục, Mày, Sách, Mã Liềng, A Rem được gọichung là dân tộc Chứt Phải chăng có hiện tượng trên vì trong thực tế, một dântộc đã được gọi bằng nhiều tên khác nhau (theo thống kê của Bùi Thiết, ViệtNam có 54 dân tộc với 700 tên gọi khác nhau) hay ẩn sâu trong đó là cả vấn đềngôn ngữ - tộc người cần làm sáng tỏ? Vì thế, xét riêng về mặt ngôn ngữ, không

ít ý kiến cho rằng số lượng ngôn ngữ ở Việt Nam không dừng lại ở con số 54 mà

có thể nhiều hơn thế nữa UNESCO cho rằng Việt Nam có tới 104 ngôn ngữ.Đây là vấn đề phức tạp liên quan đến vấn đề tách nhập dân tộc cũng như táchnhập ngôn ngữ Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, có thể thấy tình hình ngônngữ ở Việt Nam có vài nét chính như sau:

1 Cư trú đan xen là đặc điểm phổ biến về sự phân bố tộc người- ngôn ngữ

ở VN Nếu như trước đây, đặc điểm này có tính phổ biến đối với cư dân các dântộc thiểu số, thì hiện nay, tình trạng cư trú đan xen được tăng lên rất mạnhkhông chỉ giữa cư dân các dân tộc thiểu số ở vùng đa dân tộc thiểu số mà còn là

Trang 2

sự đan xen giữa cư dân kinh với các cư dân các dân tộc thiểu số không chỉ ởvùng dân tộc thiểu số mà còn cả ở vùng thị thành, khu công nghiệp Điều này,

có thể giải thích được nhờ vào lí do lịch sử- xã hội cũng như lí do về tác độngcủa công cuộc đổi mới với nền kinh tế thị trường đối với sự phân bố dân cư hiệnnay

2.Các ngôn ngữ trên đất nước Việt Nam nhìn ở tổng thể có sự phân bố rất rõràng về chức năng: Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của Nhà nước trong đối

nội cũng như đối ngoại; thuật ngữ “tiếng phổ thông” để chỉ tiếng Việt trong

quan hệ với ngôn ngữ các dân tộc Vì thế việc nắm vững tiếng Việt - ngôn ngữgiao tiếp chung trong xã hội Việt Nam vừa là nhu cầu vừa là nguyện vọng củangười dân Việt Nam Cùng với tiếng Việt, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số làngôn ngữ giao tiếp của từng dân tộc “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữviết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán truyềnthống và nét văn hoá tốt đẹp của dân tộc mình (Điều 5, Chương I, Hiến phápnước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam)

3 Từ hai đặc điểm trên ta có thể thấy:

- Đa ngữ là trạng thái phổ biến trong sử dụng ngôn ngữ của cư dân ở cácvùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam Đây là trạng thái song ngữ tiếng Việt-tiếngdân tộc (thí dụ Việt - Dao, Việt- Mường ) hoặc trạng thái đa ngữ tiếng Việt –hai hoặc hơn hai tiếng dân tộc (ví dụ Việt - Hoa - Khmer) Mức độ đa ngữ ở xãhội cũng như giữa các cá nhân đa ngữ hết sức khác nhau Điều này trước hết phụthuộc vào khả năng sử dụng tiếng Việt của cư dân Đáng chú ý là trong mộtphạm vi địa lí hẹp hoặc trong phạm vi cư dân hẹp hiện đang tồn tại hai trạngthái: 1) Trạng thái song ngữ, hay đa ngữ chỉ giữa các dân tộc thiểu số với nhau;2) Trạng thái song ngữ, hay đa ngữ giữa tiếng dân tộc thiểu số và tiếng Việt

- Do trình độ phát triển, áp lực dân số, sự phân bố mật độ dân cư và cácđiều kiện khác mà vị thế (thể hiện ở chức năng) giữa các ngôn ngữ có nhữngđiểm khác nhau Ngoại trừ tiếng Việt là tiếng phổ thông, các ngôn ngữ các dântộc thiểu số có các chức năng xã hội khác nhau Thí dụ có ngôn ngữ được sửdụng rộng trên cả vùng như tiếng Thái, tiếng Mường, Khmer ; lại có có nhữngngôn ngữ chỉ được sử dụng để giao tiếp trong bản thậm chí trong gia đình nhưtiếng Pà Thẻn, tiếng Xinh Mun, tiếng Rơ Ngao Điều này dẫn đến nguy cơ làm

“suy yếu” ngôn ngữ các dân tộc thiểu số không có ưu thế

- Vì ở trong trạng thái đa ngữ nên các ngôn ngữ có điều kiện tiếp xúc vớinhau và hệ quả dẫn đến là có sự giao thoa, vay mượn các yếu tố giữa các ngônngữ Tuy nhiên do quá trình tiếp xúc giữa các ngôn ngữ lại chịu áp lực của ưu

Trang 3

thế chức năng xã hội giữa chúng nên có thể thấy nhiều yếu tố của tiếng Việt, đặcbiệt là từ vựng du nhập vào ngôn ngữ các dân tộc Điều này đã tạo nên một hiệntượng là trong khá nhiều trường hợp giao tiếp của người dân tộc không phân biệtđược đâu là sự vay mượn ngôn ngữ với đâu là sự chuyển mã trong giao tiếp

- Ngoại trừ một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số có truyền thống chữ viết nhưchữ Thái, Khmer, Hmông nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam không

có chữ viết Trong nhiều năm qua, việc chế tác chữ viết cho ngôn ngữ các dântộc chưa có chữ viết là nhiệm vụ trọng yếu của các nhà ngôn ngữ học Nhờ đómột số dân tộc thiểu số đã có chữ viết Tuy nhiên xung quanh vấn đề chữ viếtcủa các ngôn ngữ các dân tộc còn có một số vấn đề cần lưu ý như sau:

+ Một vài ngôn ngữ có nhiều dạng chữ viết (như tiếng Thái có chữ Thái

cổ, chữ Thái cải tiến, chữ Thái Latinh )

+ Do đặc điểm sống phân tán của cư dân trong một dân tộc và việc sốngxen kẽ giữa các cư dân của nhiều dân tộc đã làm cho việc giao lưu giữa các dântộc nói các phương ngữ khác nhau của ngôn ngữ đó trở nên ít có điều kiện Điềunày tạo nên khỏang cách khác biệt rất lớn, thậm chí không hiểu được nhau giữacác phương ngữ của một ngôn ngữ ở một số ngôn ngữ dân tộc Đây chính là khókhăn cơ bản của việc làm chữ viết hiện nay, nhất là trong việc xác định hệ thốngngữ âm cơ bản

VIỆC DẠY TIẾNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

1.Những tiếng dân tộc (TMĐ) đã và đang được dạy ở Việt Nam :

Có nhiều TDT đã, đang được dạy ở trên 20 tỉnh, thành phố, trong cáctrường tiểu học: tiếng Khmer, Chăm, Hoa, Ê-đê, Ba-na, Hmông, Jrai; trong cáctrường THCS và THPT: tiếng Khmer, Hoa; trong các cơ quan công sở Nhànước: Hmông, Ba-na, Chăm, Cơ-ho, Jrai

2 Tình hình dạy- học TMĐ trong cộng đồng DTTS ở Việt Nam :

Dạy học TMĐ ở Việt Nam đã thực hiện hơn 50 năm và trải qua nhiều thời kìvới các hình thức dạy học, qui mô dạy học khác nhau

Hình thức dạy hai giai đoạn (1955-1960)

Các dự án thử nghiệm giáo dục song ngữ được triển khai cuối những năm

50 và đầu những năm 60 của thế kỉ XX với việc dạy chữ Thái, H’Mông, Tày Nùng ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Nghĩa Lộ và các tỉnh thuộc khu tựtrị Tây Bắc theo hình thức dạy 2 giai đoạn Giai đoạn 1, TMĐ được giảng dạy ở

Trang 4

-các lớp 1, 2, 3; Giai đoạn 2, TMĐ được giảng dạy ở -các lớp 4 và 5 Tài liệu -cácmôn học của lớp 1, 2, 3 được biên soạn hoàn toàn bằng tiếng và chữ dân tộc.Môn học vần tiếng Việt bắt đầu dạy ở lớp 3, lớp 4, 5 dạy hoàn toàn bằng tiếngViệt và sử dụng tài liệu dạy học theo chương trình chung của cả nước Thời kìnày đã có một số trường mẫu giáo dạy tiếng Tày - Nùng, trường mẫu giáo songngữ H’Mông -Việt.

Hình thức dạy hai giai đoạn này vì chưa có sự chuẩn bị tiếng Việt cho HSngay từ đầu cấp nên khi chuyển sang lớp 4, 5 học sinh chưa có đủ vốn từ tốithiểu để tiếp nhận kiến thức, nên chưa đạt hiệu quả như mong muốn

a) Hình thức dạy xen kẽ TMĐ và tiếng Việt (TV)

Hình thức dạy xen kẽ TMĐ và TV khởi đầu với việc dạy xen kẽ tiếng Nùng - Việt từ 1962-1978 ở các tỉnh thuộc khu tự trị Tây Bắc; dạy xen kẽ tiếngH’Mông -Việt từ 1970-1978 ở Lào Cai, Nghĩa Lộ, Hà Giang, dạy xen kẽ tiếngÊđê -Việt, tiếng Jrai -Việt, tiếng Ba-na và tiếng Việt từ 1982-1987 ở các tỉnhthuộc Tây Nguyên

Tày-Với hình thức dạy xen kẽ hai thứ tiếng, các môn học hay một số môn đượcdạy bằng 2 thứ tiếng, 2 thứ chữ Các tài liệu cũng được biên soạn bằng 2 thứtiếng xen kẽ theo hướng ở lớp 1, 2, 3 dạy học bằng TMĐ nhiều hơn Ngược lại,đến lớp 4, 5 dạy học bằng TMĐ ít dần và dạy bằng tiếng Việt nhiều lên Khôngnhững thế, học sinh còn được học nói TV trong cả cấp I để trang bị vốn TV cầnthiết Nội dung dạy học xen kẽ được sắp xếp theo chiều hướng đi từ học TMĐsang học tiếng Việt.; đi từ học nghe - nói đến học đọc, học viết; đi từ sự giốngnhau đến sự khác nhau của hai thứ tiếng, hai thứ chữ

Hình thức dạy xen kẽ TMĐ và TV đã chuyển tải được các nội dung vănhoá dân tộc và cả các kiến thức tự nhiên-xã hội gần gũi với HS khiến các em cóhứng thú trong học tập và kết quả học tập cũng tốt hơn Tuy nhiên, mức độ xen

kẽ hay sự chuyển tải nội dung kiến thức các môn học giữa hai ngôn ngữ sao chokhoa học và hợp lí vẫn là một vấn đề chưa được giải quyết

c) Hình thức dạy TMĐ của HS dân tộc như một môn học (từ 1980 đến nay)Hình thức này được triển khai rộng ở các vùng ngôn ngữ Jrai, Ba-na, Chăm,Khmer Tiếng Chăm được dạy từ từ năm 1980 ở Ninh Thuận và Bình Thuận;Tiếng Khmer được dạy từ năm 1979 đến nay ở các tỉnh vùng đồng bằng sôngCửu Long; tiếng H’Mông được dạy từ 1972 đến nay ở các tỉnh Lào Cai, LaiChâu, Nghệ An, Thái Nguyên; tiếng Êđê, Jrai, Ba-na được dạy trong những nămgần đây ở Tây Nguyên Từ năm 1995, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai dạy

Trang 5

học thí điểm 8 thứ TMĐ của 8 DT thiểu số Chương trình và SGK các môn họcnày được biên soạn, in và phát đến tận tay GV và HS ở các trường tiểu học.Dạy TMĐ cho HS DTTS nhằm đáp ứng nguyện vọng được học tiếng nói,chữ viét của đồng bào các DT; bảo tồn và phát triển văn hoá các DTTS Chính

vì thế, môn học này vừa chuyển tải kiến thức về ngôn ngữ vừa chuyển tải kiếnthức về văn hoá dân tộc; ngoài ra một số kiến thức, kĩ năng mà HS đã học bằng

TV sẽ được thực hành thêm trong, môn tiếng DT nhằm củng cố kiến thức đã họcđược

d) Dạy TMĐ như một chuyển ngữ (2000-2004)

Năm 2000, Bộ GD & ĐT đã triển khai trhực nghiệm chương trình giáo dụcsong ngữ Jrai -Việt với hình thức dạy TMĐ như một chuyển ngữ (ngôn ngữchuyển tải kiến thức hay ngôn ngữ dạy học) HS được học tiếng Jrai ngay từ lớp

1 Tiếng Jrai và tiếng Việt được dạy như một môn học từ lớp 1 dến lớp 5 Đồngthời từ lớp 1 đến lớp 3, tiếng Jrai được dùng làm ngôn ngữ giảng dạy HS Jraiđược sử dụng TMĐ để tiếp thu kiến thức các môn học Sau khi HS có nhữngkiến thức cần thiết được học từ TMĐ, các em sẽ chuyển sang học bằng tiếngViệt HS nghe nói tiếng Việt trước khi học chữ Kiến thức trong quá trình họcTMĐ trở hành cơ sở tốt để HS tiếp nhận kiến thức TV ở các lớp sau HS đượchọc các nội dung mang đậm chất văn hoá Jrai, được tiếp nhận văn hoá Jrai trướckhi tiếp cận nền văn hoá các dân tộc khác Trong chương trình này, các môn họcđược chuyển giao sang học TV từ lớp 3, riêng môn toán được chuyển giao sớmhơn (từ lớp 2)

Chương trình giáo dục song ngữ Jrai - Việt đã tiếp cận khá gần với mô hìnhgiáo dục song ngữ của thế giới và được đánh giá là thành công ở Việt Nam Trẻ

em Jrai thích đi học; kết quả học tập tốt hơn; cộng đồng ủng hộ và quan tâm hơnđến giáo dục

e) Chương trình giáo dục song ngữ dựa trên TMĐ:

Chương trình được Bộ GD & ĐT tổ chức thực nghiệm và UNICEF là nhàthiết kế chính và tài trợ cho chương trình (được triển khai từ năm 2006 và nămhọc 2008 -2009 được bắt đầu) với 3 thứ tiếng ở 3 tỉnh: tiếng H’Mông ở Lào Cai,tiếng Khmer ở Trà Vinh, tiếng Jrai ở tỉnh Gia Lai Giáo dục song ngữ dựa trênTMĐ là một chương trình giáo dục được thực hiện từ cấp mẫu giáo bằng TMĐcủa HS Ngôn ngữ thứ hai (TV) được dạy bắt đầu từ việc dạy nghe – nói, sau đó

HS được học đọc, học viết Việc sử dụng linh hoạt cả hai thứ tiếng trong dạyhọc bắt đầu từ lớp 3 đến lớp 5 là sách song ngữ Bài kiểm tra của HS dùng cả haithứ tiếng Kết quả giáo dục của HS được xác nhận bình đẳng TMĐ hoặc TV

Trang 6

Nhìn chung, cho đến nay, vẫn còn một số hình thức dạy tiếng dân tộc đangđược thực hiện ở Việt Nam, tuy nhiên phổ biến hơn cả là:

- Dạy TMĐ như một môn học (triển khai chính thức, đại trà) cho các ngôn ngữKhmer, Jrai, H’Mông, Ba-na, Chăm

- Dạy TMĐ như một chuyển ngữ bản chất là giáo dục song ngữ dựa trên TMĐ(kết thúc thực nghiệm dạy ngôn ngữ Jrai ở Gia Lai và đang mở ra một hướngmới tiếp tục thực nghiệm ở 3 tỉnh với sự hợp tác của tổ chức UNICEF)

Thực trạng 40-50% học sinh dân tộc thiểu số địa bàn miền núi trên cả nướcchỉ đạt trung bình hoặc yếu về kỹ năng sử dụng tiếng Việt đang là bài toán nangiải đối với giáo dục vùng cao

Theo ông Lương Đức Soòng, Giám đốc Sở GD & ĐT tỉnh Hà Giang, việcthực hiện chương trình dạy học tiếng Việt lớp 1 cho học sinh thiểu số vấp phảinhiều khó khăn, cơ bản vẫn là các em chưa nói sõi tiếng Kinh (tiếng phổ thông).Việc triển khai đề án của Bộ GD & ĐT năm 2008 về dạy tiếng Việt đặt ra 2 vấnđề: nếu dạy kiến thức phổ thông bằng TDT thì trẻ tiếp thu rất nhanh, nhưng sau

đó dạy kèm song ngữ (tiếng phổ thông và TMĐ) sẽ mất nhiều thời gian và thiếugiáo trình chuẩn Còn nếu dạy tiếng phổ thông từ đầu, học sinh khó tiếp thu,buộc giáo viên phải biết cả “nội ngữ”, tức là tiếng dân tộc thiểu số!

Do đó giải pháp của ngành Giáo dục Hà Giang là mở hàng loạt lớp dạytiếng H’Mông, Dao, Tày cho các giáo viên, nhằm góp phần nâng cao truyền thụkiến thức trong giảng dạy đối với học sinh dân tộc thiểu số

Thứ trưởng Bộ GD & ĐT Nguyễn Vinh Hiển nhận định, việc áp dụng giáotrình dạy cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 trên toàn quốc như hiện nay gây khókhăn rất lớn đối với học sinh dân tộc thiểu số Do chưa thạo tiếng phổ thông,việc tiếp thu kiến thức của những học sinh này luôn bị hạn chế

Trang 7

Trước thực trạng trên, ngày 2-9-2009, Bộ GD & ĐT đã tiếp tục ban hànhcông văn hướng dẫn nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dântộc thiểu số từ năm học 2009-2010 Theo đó, nhiều giải pháp, nội dung phù hợpđược áp dụng trong năm học này Cấp học mầm non cần huy động tối đa trẻ 5tuổi; tích cực chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp 1 với tinh thần liênthông giữa mầm non và tiểu học Các địa phương cũng cần triển khai chươngtrình làm quen với tiếng Việt trong hè đối với trẻ chưa học qua lớp mẫu giáo 5tuổi, nhằm chuẩn bị tốt khả năng lĩnh hội khi trẻ vào lớp 1.

Bộ GD & ĐT cũng chỉ đạo, việc dạy học thí điểm môn tiếng Việt lớp 1 chohọc sinh dân tộc theo định hướng chỉ đạo tăng thời lượng dạy học từ 350 tiếtthành 500 tiết sẽ được áp dụng trên toàn quốc Đối với 7 tỉnh (Lào Cai, Sơn La,Tây Ninh, Kiên Giang, An Giang, Kon Tum, Quảng Bình) đang thử nghiệm dạyhọc Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc theo tài liệu của Trung tâm Côngnghệ

Giáo dục

GIÁO DỤC SONG NGỮ CÓ THỂ CẢI THIỆN CUỘC SỐNG

CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

Mặc dù Việt Nam đạt được những tiến bộ trong việc thúc đẩy phát triểnkinh tế và xóa đói giảm nghèo, các dân tộc thiểu số vẫn còn là những ngườinghèo nhất trong nhóm được xếp vào tầng lớp nghèo, một chuyên gia về nhânquyền của Liên Hợp Quốc nhận xét Bà cũng nói thêm rằng, giáo dục song ngữ

có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc khắc phục tình trạng này : "Việctiếp cận với chương trình giáo dục thích hợp và chất lượng là chìa khóa để pháttriển và xóa bỏ đói nghèo cho các dân tộc thiểu số, việc này cũng rất quan trọng

để bảo tồn và phát huy các bản sắc văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc thiểusố" (Bà Gay McDougall, chuyên gia độc lập của Liên Hợp Quốc về các vấn đềdân tộc thiểu số)

Bà ghi nhận rằng, VN vừa có một thời kỳ tăng trưởng kinh tế tốt Bêncạnh đó, VN cũng đang trong quá trình đạt được những mục tiêu phát triển thiênniên kỷ - tức các mục tiêu đã thống nhất trên toàn cầu về xóa đói giảm nghèo,thúc đẩy tỉ lệ học sinh nhập học, cải thiện sức khỏe sinh sản, tăng tỉ lệ người dânđược dùng nước sạch và đảm bảo vệ sinh Các mục tiêu này sẽ hoàn thành vào

Trang 8

năm 2015 Tuy nhiên, ngoài những phát triển đó, vẫn còn nhiều "vấn đề daidẳng" đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số của VN.

Bà McDougall nhấn mạnh giáo dục song ngữ là lĩnh vực cần được "ưutiên cao" tại VN Hiện nay VN có 54 nhóm dân tộc khác nhau, với những đặcđiểm văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo và các bản sắc dân tộc đặc thù riêng đangcùng chung sống

"Các dân tộc thiểu số không có cơ hội thỏa đáng để được giảng dạy bằngchính ngôn ngữ của họ từ những năm tháng đầu tiên khi đi học và gặp khó khănkhi chỉ được giảng dạy bằng tiếng Việt", bà viết trong báo cáo gửi cho Hội đồngnhân quyền của Liên Hợp Quốc tại Geneva

"Giáo dục song ngữ giúp trẻ em các dân tộc thiểu số gặt hái được nhữngthành quả tốt hơn khi còn trẻ, tạo ra một nền tảng vững chắc và cơ sở văn hóathích hợp cho việc học tập trong tương lai," bà nói, kèm theo việc trích dẫn một

dự án thí điểm thành công về giáo dục song ngữ được tiến hành bởi Bộ GD &

ĐT và Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF)

Trang 9

PHIẾU BÀI TẬP

PHIẾU BÀI TẬP 1

Dựa vào tài liệu số 5, nêu hình thức và đặc điểm của các hình thức dạy TMĐ

ở Việt Nam theo thời gian ở bảng sau:

Điền thông tin vào cột 2 theo gợi ý ở cột 1 trong bảng sau:

Những khó khăn của HS Thực trạng và nguyên nhân

Trang 10

Nội dung tài liệu học tập khó đốivới học sinh

Không có chương trình học tiếngViệt phù hợp khi đến trường (từMầm non đến Tiểu học)

Tiếng mẹ đẻ của HS chưa được

sử dụng hỗ trợ HS trong học tập

ở trường

HS không hiểu nội dung bài học

HS không tự tin trong học tập

Trang 11

Hoạt động của người tham gia

Ghi chú

số 3)

- Nhận xét, kết luận (nêu đáp

án bài tập: nối 1-4; 2-3; 3-1;

4-2)nhấn mạnh thêm vấn đề quanniệm về giới, bình đẳng giới

10’

- Yêu cầu thảo luận nhóm:

Liên hệ vấn đề bình đẳnggiới ở địa phương (quanniệm về giới, hiện tượng bấtbình đẳng giới, nêu ví dụ cụthể)

- Nhận xét, tổng hợp ý kiếncác nhóm

- Thảo luận: quan niệm vềgiới, bình đẳng giới;

những biểu hiện của bìnhđẳng giới và bất bình đẳnggiới ở địa phương

nhân vật xuất hiện trong 5/20trường hợp nghiên cứu hoặccâu chuyện kể được xem xéttới, nam nhân vật xuất hiện11/20)

- Làm bài tập theo

Phiếu bài tập số 4

- Báo cáo

- Tiếp nhận, phản hồitích cực

Trang 12

- Yêu cầu: Đọc tài liệu 8

“Vấn đề bình đẳng giới

trong giáo dục”; chỉ ra

những vấn đề mất cân bằng

giới trong giáo dục

- Yêu cầu đại diện 1 nhóm

báo cáo, các nhóm còn lại

nêu ý kiến trao đổi

có nhiều cơ hội quay trở lại

học tiếp hơn học sinh nữ

không được tiếp cận các

thông tin và thiếu cơ hội trao

đổi, thảo luận, nhất là

ở những vùng khó khăn,

vùng dân tộc thiểu số

+ Dự án SREM đã triển khai

các hoạt động nhằm nâng cao

nhận thức cho cả nam giới và

phụ nữ ở các cương vị quản

lý trong ngành giáo dục về

tầm quan trọng của bình

đẳng giới trong quá trình đổi

mới QLGD, thông qua việc

- Đọc tài liệu 8: “Bình đẳng giới trong giáo dục”.

- Thảo luận nhóm chỉ ra

những biểu hiện mất cânbằng giới, ghi vào giấyA0

- Đại diện nhóm báo cáo

- Các nhóm khác góp ý,

bổ sung hoặc nêu thắcmắc

Trang 13

tăng cường sự tham gia của

- Yêu cầu cá nhân/nhóm báocáo

- Nhận xét, kết luận vấn đềgiới thể hiện trong ngôn ngữ:

+ Ở bình diện cấu tạo từ:

Hàng loạt các từ tiếng Anh được cấu tạo có yếu tố man (đàn ông) phản ánh vị thế của nam quyền.

Trong tiếng Hán, một số từ

có nghĩa “không lấy gì làm tốt đẹp” đều có bộ nữ bên cạnh.

+ Ở Việt Nam, có hiện tượng đặt từ phụ nữ trước một số từ chỉ chức danh nghề nghiệp như: Nữ bác sĩ,

nữ kĩ sư, nữ tiến sĩ, nữ phóng viên, nữ giám đốc, nữ du kích Hình như các chức danh, nghề nghiệp này đối với nam giới là chuyện đương nhiên còn đối với phụ

nữ là chuyện lạ, chuyện hiếm.

- Đọc tài liệu số 9: “Sự phân biệt đối xử về giới thể hiện trong ngôn ngữ”.

- Dựa vào bài đọc, kết hợpkết quả bài tập 4 chỉ ranhững biểu hiện về giớithể hiện trong ngôn ngữ

- Đọc

cá nhân

và đọchợp tác

Trang 14

- Yêu cầu làm bài tập theonhóm

- Nhận xét, tổng hợp kết quảlàm bài tập và báo cáo kếtquả

- Thực hiện bài tập theo

Phiếu bài tập5

- Làm theo nhóm

- Báo cáo kết quả

- Trao đổi, thảo luận

- Sửdụngcác :Phiếubài tập,giấy A4,A0 đểsoạn bài,thảoluận vàtrìnhbày sảnphẩm

5’

- Tổng hợp, kết luận về giớitrong cuộc sống và khi sửdụng ngôn ngữ:

Trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày (nhiều vùng có thói quen gọi tên người vợ bằng tên của chồng, hay của con) và ngay trong ngôn ngữ SGK vẫn còn những định kiến về giới tồn tại

=>Người giáo viên cần nâng cao hiểu biết về giới và bình đẳng giới để khắc phục rào cản về giới trong giáo dục HS.

- Giải đáp thắc mắc về cácnội dung bài học

- Tổng kết nội dung đã học

- Tiếp nhận, ghi chép

- Nêu ý kiến thắc mắc(nếu có)

TÀI LIỆU HỌC TẬP Tài liệu số 8 BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIÁO DỤC

Trang 15

- Trong GD & ĐT), sự bất bình đẳng bén rễ ngay trong hệ thống giáo dục

và biểu hiện ở tỷ lệ học sinh nữ tham gia ở cấp tiểu học và THCS thấp hơn tỷ lệhọc sinh nam, nhất là ở các vùng nghèo và vùng dân tộc thiểu số Học sinh nam

có nhiều cơ hội quay trở lại học tiếp hơn học sinh nữ Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnhmiền núi đi học còn thấp, chủ yếu là các em phải ở nhà giúp gia đình, trường nộitrú ở quá xa nhà và một vài nơi vẫn còn tục lệ lấy chồng sớm Báo cáo 'Đánh giátình hình giới ở Việt Nam 12-2006' do các tổ chức quốc tế: WB, ADB, DFID vàCIDA phối hợp thực hiện cho thấy, trong quá trình đổi mới nội dung, chươngtrình sách giáo khoa, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc lồng ghép giới vàochương trình và các hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhưng hiện nay vẫn còn có cácđịnh kiến giới trong các tài liệu giáo dục và sách giáo khoa trong việc chia sẻviệc nhà, phân biệt đối xử trong lực lượng lao động và các hành vi mang lại rủi

ro cho nam và nữ thanh niên (khảo sát sách giáo khoa Giáo dục Công dân lớp 9mới cho thấy: nữ nhân vật xuất hiện trong 5/20 trường hợp nghiên cứu hoặc câuchuyện kể được xem xét tới, nam nhân vật xuất hiện 11/20 và nhân vật trungtính xuất hiện 4/20)

- Trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi Luật Bình đẳng giới đượcthông qua và có hiệu lực, việc thực hiện bình đẳng giới trong giáo dục nói chung

và trong QLGD đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tỷ lệ nữ cán bộQLGD ngày càng tăng, nhất là ở các cấp học cao, vị thế và vai trò của nữ CBQLngày càng được khẳng định rõ nét Tuy nhiên, trong thực tế tỷ lệ nữ cán bộGLGD vẫn còn thấp, phần lớn chỉ giữ vị trí phó Họ thường không được thamgia vào quá trình đưa ra quyết định, không được tiếp cận các thông tin và thiếu

cơ hội trao đổi, thảo luận, nhất là ở những vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số

- Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (SREM) đã tiến hành khảo sát tạicác tỉnh Kiên Giang, Gia Lai, Kon Tum, Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang và PhúYên, nơi được xem là tỉnh 'khó khăn' cho thấy: Phụ nữ đang phải gánh nặng gấphai lần so với nam giới, điều đó có phần ảnh hưởng đến sự phát triển chuyênmôn của phụ nữ Suy nghĩ truyền thống về việc phân chia vai trò của nam giới

và nữ giới trong gia đình vẫn còn Thực tế nhiều trường hợp chồng không chia

sẻ công việc nhà với vợ Công việc gia đình là cản trở chính đối với sự phát triểnchuyên môn của phụ nữ, đặc biệt khi họ phải dành thời gian cho tập huấn và tựhọc

Trang 16

- Để cải thiện điều kiện và tăng sự tham gia của nữ CBQL trong tiến trìnhđổi mới QLGD, Dự án SREM đã triển khai các hoạt động nhằm nâng cao nhậnthức cho cả nam giới và phụ nữ ở các cương vị quản lý trong ngành giáo dục vềtầm quan trọng của bình đẳng giới trong quá trình đổi mới QLGD, thông quaviệc tăng cường sự tham gia của nữ CBQL giáo dục ở các vùng xa xôi, hẻo lánh

và làm nổi bật sự đóng góp của họ vào sự nghiệp đổi mới QLGD Nhiều ý kiếncủa nữ cán bộ ngành giáo dục đã đề xuất đưa năng lực 'quản lý gia đình' vào tiêuchí bổ nhiệm hiệu trưởng bởi vì các công việc quản lý gia đình có liên quannhững chức năng quan trọng trong công việc của hiệu trưởng, như quan tâm,chăm sóc, khả năng nắm bắt tổng quan vấn đề, khả năng thực hiện nhiều côngviệc cùng một lúc

- Ngoài sự quan tâm của Nhà nước trong đổi mới các cơ chế chính sách,

cơ sở hạ tầng xã hội được cải thiện để họ có điều kiện để phát triển sự nghiệp(hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo tốt hơn ) Để nâng cao quyền hạn hơn nữa cho phụ

nữ trong giáo dục, nhiều ý kiến cho rằng: Cần thực hiện hai giải pháp Trước hết

là, giải pháp về mặt chính trị, tức là thiết lập một hệ thống luật pháp nhằm thúcđẩy sự bình đẳng giới và đánh giá tác động của các chính sách để bảo đảm hiệuquả của chúng Thứ hai là, giải pháp về mặt văn hóa, tức là thay đổi nhận thứccủa mọi người trong xã hội nhằm góp phần loại bỏ những suy nghĩ định kiến vềvai trò và chức năng của phụ nữ và nam giới Thực hiện bình đẳng giới khôngchỉ liên quan nữ giới mà liên quan cả nam giới vì chỉ khi nào đạt được sự bìnhđẳng giữa nam giới và nữ giới, chất lượng cuộc sống và điều kiện kinh tế-xã hộimới được nâng lên

Tài liệu số 9

SỰ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỀ GIỚI THỂ HIỆN TRONG NGÔN NGỮ

Là chiếc hàn thử biều của xã hội, ngôn ngữ thường phản ánh và lưu giữ lại

trong bản thân nó những biến động của xã hội Chính vì vậy, dấu ấn của sự phânbiết đối xử về giới thể hiện khá rõ trong ngôn ngữ

Việc phân biệt giới thể hiện rõ rệt nhất là ở bình diện cấu tạo từ Hàng loạt

các từ tiếng Anh được cấu tạo có yếu tố man (đàn ông) phản ánh vị thế của nam

quyền Thí dụ: congress man (nghị viện), Chairman (chủ tịch), saleman (thươnggia), spokeman (người phát ngôn), loài người, nhân loại cũng cần có yếu tố man(human, mankind)

Trang 17

Còn trong tiếng Hán, theo thống kê của một số nhà ngôn ngữ học, một số từ

có nghĩa “không lấy gì làm tốt đẹp” đều có bộ nữ bên cạnh.

Trong tiếng Việt, yếu tố phân biệt giới cũng thể hiện khá rõ rệt ở việc cấu tạo

từ Trước đây có hiện tượng đặt từ phụ nữ trước một số từ chỉ chức danh nghề

nghiệp như: Nữ bác sỹ, nữ kỹ sư, nữ tiến sỹ, nữ phóng viên, nữ giám đốc, nữ dukích Hình như các chức danh, nghề nghiệp này đối với nam giới là chuyệnđương nhiên còn đối với phụ nữ là chuyện lạ, chuyện hiếm Các nhà ngôn ngữhọc đã khảo sát hiện tượng cấu tạo từ kiểu này và thấy rằng chúng được sử dụngkhá phổ biến vào những năm 60 và 70 của thế kỷ trước Hiện nay cách dùng từnày hầu như không còn nữa Điều này phản ánh vị thế xã hội của phụ nữ đãđược nâng lên, người phụ nữ đã tham gia rộng rãi vào các lĩnh vực hoạt động màtrước kia chỉ là nam giới

Ở Việt Nam, nhiều vùng có thói quen gọi tên người vợ bằng tên của chồng,hay của con Nhìn bề mặt đây là một thói quen văn hoá dường như rất bìnhthường nhưng thực tế là sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử, nó phản ánhngười phụ nữ bị ở địa vị phụ thuộc sau khi kết hôn

Có những sự khác biệt trên là vì giới, là một vấn đề rộng lớn, không chỉ đơnthuần là đặc trưng cá nhân mà còn bao gồm các hành động và quan hệ xã hội,chính trị và ý thức hệ

( Theo Nguyễn Văn Khang,

Ngôn ngữ học xã hội - những vấn đề cơ bản – NXB khoa học xã hội)

PHIẾU BÀI TẬP PHIẾU BÀI TẬP 3

Hãy nối thuật ngữ ở cột 1 với khái niệm phù hợp ở cột 2

1 Giới tính

1 Có nghĩa là nam và nữ có các cơ hội ngang bằng đểnhận thức một cách đầy đủ quyền con người của mình đểđóng góp vào và được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế,văn hoá, xã hội

2 Giới

2 Là quá trình mang đến sự công bằng cho nam và nữ

Để đảm bảo tính công bằng cần phải tiến hành các biệnpháp để bù đắp lại những thiệt thòi mang tính lịch sử và

xã hội Điều này dựa trên nền tảng nam và nữ là các đối

Trang 18

tác đầy đủ trong mỗi gia đình, cộng đồng và xã hội

3 Bình đẳng giới

3 Mô tả sự khác nhau về mặt sinh học giữa nam và nữ, sựkhác nhau này là phổ biến và được xác định ngay từ khicon người được sinh ra

4 Công bằng giới

4 Là hiện tượng cấu trúc xã hội xảy ra do xã hội gán chohai giới tính các vai trò, nhiệm vụ, cách cư xử và phongcách khác nhau dựa trên cơ sở tín ngưỡng và truyền thốngcủa một xã hội nhất định

Trang 19

PHIẾU BÀI TẬP 4

Bảng thống kê vấn đề về giới thể hiện trong SGK Giáo dục công dân lớp 9.

Mẹ có con trai nhiễm HIV dương

tính

Giám đốc doanh nghiệp

Cô gái bất hạnh kết hôn sớm

Chủ tịch tỉnh

Một cô gái có quan hệ tình dục trước

hôn nhân

Thầy giáo nổi tiếng

Một nữ công nhân bỏ việc bất hợp

Nêu ý kiến của thầy/cô theo gợi ý trong bảng sau:

Gợi ý những vấn đề về giới trong

cách sử dụng ngôn ngữ trên lớp và

SGK THCS

Ý kiến của bạn (nêu các biểu hiện cụ thể )

Ngôn ngữ có dụng ý những vấn đề

về giới không?

Các bài học, truyện kể có đưa ra số

Trang 20

nhân vật nam và nữ bằng nhau không?

Trẻ em trai và gái có được đề cập tớinhư nhau trong các hoạt động không?

Vai trò, trách nhiệm và hoạt độngcủa trẻ em gái và trai có phản ánh bằngnhau trong vấn đề tăng cường quyềnnăng và ra quyết định không?

Vai trò trong gia đình, cộng đồng, sự

tự nguyện của trẻ em trai và gái cógiành được vị trí và giá trị ngang nhauhay không?

Trẻ em gái và trẻ em trai có được mô

tả trong tranh ảnh minh hoạ với sốlượng, tần suất, địa vị ngang bằngnhau hay không?

Trong lớp học, GV có so sánh kếtquả thực hiện nhiệm vụ của HS nam

và HS nữ không?

Trang 21

B ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG VIỆT

I MỤC TIÊU

Sau bài này, NTG có khả năng :

Kiến thức:

- Hiểu được những đặc điểm cơ bản nhất của một ngôn ngữ đơn lập

- Những đặc điểm cơ bản nhất của tiếng Việt như một ngôn ngữ đơn lập

Kĩ năng:

- Biết sử dụng những đặc điểm của tiếng Việt vào việc dạy học tiếng Việt và

các bộ môn khoa học khác cho HS DTTS cấp trung học cơ sở vùng khó khăn

nhất

Thái độ:

- Có ý thức thường xuyên vận dụng những hiểu biết về tiếng Việt vào việc

dạy học cho HS DTTS cấp trung học cơ sở vùng khó khăn nhất

II TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC

- Máy chiếu, giấy A0, A4, bút dạ, băng dính, kéo để phục vụ cho việc

trình bày kết quả tìm hiểu và phân tích các ví dụ của cá nhân, của nhóm trước

lớp

- Tài liệu học tập; phiếu bài tập

IV PHƯƠNG TIỆN ĐÁNH GIÁ

- Thông qua kết quả của việc phân tích các bài tập

- Thông qua kết quả làm việc của cá nhân/nhóm

IV KẾT QUẢ MONG ĐỢI

- NTG nhận thức được nét tương đồng và khác biệt giữa tiếng Việt và

tiếng dân tộc để có thể tìm ra cách học và cách sử dụng tiếng Việt một cách có

hiệu quả nhất

- Biết cách phân tích tính đơn lập của tiếng Việt về các mặt ngữ âm, từ

vựng – ngữ nghĩa và ngữ pháp thông qua các lời nói cụ thể

Hoạt động của người tham gia Ghi chú

- SửdụngGiấy A0,bút dạ,băngdính để

Trang 22

của tiếng Việt về mặt ngữâm.

trình bàysảnphẩm

- Sửdụng các

kĩ thuậtdạy họctích cực

kết quả làm việc, chuẩn

bị cho việc trình bày trướclớp

20’

Yêu cầu: Các nhóm trìnhbày sản phẩm

- Các nhóm trình bàytrước lớp

- Lớp nhận xét, góp ýkiến, bổ sung

10’

- Nhận xét kết quả làm việccủa các nhóm

- Kết luận về những đặcđiểm đơn lập của tiếng Việt

về mặt ngữ âm

- Giải đáp thắc mắc

- Lớp lắng nghe, có thểđặt một số câu hỏi để traođổi thêm

- Nêu thắc mắc, phản hồi

ĐẶC ĐIỂM ĐƠN LẬP CỦA TIẾNG VIỆT

Trang 23

- Để dạy tốt chương trình Tiếng Việt ở THCS, người giáo viên không thểkhông có những hiểu biết nhất định về tiếng Việt Thực tế cho thấy, chưa mộtgiáo viên nào được đánh giá là dạy tốt Tiếng Việt ở nhà trường nói chung, ởTHCS nói riêng lại không có một số vốn hiểu biết nhất định về tiếng Việt Có sựhiểu biết về tiếng Việt chưa hẳn đã dạy tốt bộ môn Tiếng Việt, nhưng chắc chắnngười dạy tốt bộ môn này phải là người có những kiến thức nhất định về tiếngViệt Chính vì vậy, việc nắm được một số đặc điểm của tiếng Việt là kiến thứcnền hết sức cần thiết, góp phần tích cực vào việc giúp giáo viên dạy đúng rồitiến đến dạy hay bộ môn Tiếng Việt ở nhà trường

- Tiếng Việt thuộc họ Nam Á - một họ ngôn ngữ đã có từ rất xa xưa được

sử dụng trên một khu vực rộng lớn ở vùng Đông Nam Á Vùng này thời cổ làmột trung tâm văn minh lớn của thế giới

- Tiếng Việt có đặc điểm là một ngôn ngữ đơn lập Đặc điểm này đượcthể hiện ở tất cả các mặt: ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp Các nhànghiên cứu đã nêu lên một số đặc điểm tiêu biểu của ngôn ngữ đơn lập như sau:

+ Hệ thống âm vị có nhiều nguyên âm

+ Không có sự biến hoá ngữ âm

+ Không có sự biến hoá hình thái của từ

+ Đặc điểm của từ loại được thể hiện không thật rõ ràng

+ Trật tự từ chặt chẽ trong cấu trúc ngữ pháp

+ Sự biểu hiện của từ với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ không thật rõ rệt

(ranh giới giữ từ và ngữ khó phân biệt)

Để hiểu rõ hơn về những đặc điểm đơn lập của tiếng Việt được thể hiện ranhư thế nào, dưới đây chúng ta sẽ xem xét một cách cụ thể hơn về từng phươngdiện: ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp

● Số lượng nguyên âm tiếng Việt khá phong phú Có thể nói, số lượngnguyên âm của tiếng Việt so với một số ngôn ngữ thường gặp khác như Anh,Pháp, Nga là trội hơn Tiếng Việt có tới 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi:

- a, ă, â, i (y), ê, e, u, ư, ô, o, ơ

- iê (ia, ya, yê), uô (ua), ươ (ưa)

Chính số lượng nguyên âm nhiều như vậy đã phản ánh rõ nét đặc tính đơnlập của tiếng Việt

● Bên cạnh việc có nhiều nguyên âm, số lượng thanh điệu trong tiếngViệt cũng khá phong phú Số lượng các thanh điệu đó là:

- Thanh không (thanh ngang)

- Thanh huyền

Trang 24

Ví dụ:

- a, ô

- a lô, a ha, la hét, hò la

- cái ô, ô hô, dô hò

Đây là một trong những dấu hiệu dễ nhận nhất của ngôn ngữ đơn lập.Khẳng định tiếng Việt không biến âm không có nghĩa là khi đi vào hoạtđộng, các âm tiết tiếng Việt không có sự biến đổi âm thanh Trong hệ thống từláy tiếng Việt, ở một số trường hợp láy nhất định, tiếng Việt cũng chấp nhận sựbiến đổi hoặc ở thanh điệu, hoặc ở phần âm cuối

Ví dụ:

- trắng → trăng trắng ( đổi thanh); trắng trẻo (đổi vần)

- xốp → xôm xốp (đổi âm cuối)

- ngọt → ngòn ngọt (đổi âm cuối)

- đẹp → đẹp đẽ, đèm đẹp (đổi âm cuối)

Tuy vậy, những trường hợp biên âm như vậy trong tiếng Việt là khôngđáng kể

● Trong cấu tạo của âm tiết tiếng Việt, nguyên âm và thanh điệu là nhữngthành phần bắt buộc phải có mặt Đó là hai yếu tố cần và đủ để cấu tạo nên một

âm tiết đơn giản nhất

Ngày đăng: 12/07/2021, 09:50

w