Để mở ra một chân trời mới cho việc khám phá vẻ đẹp của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, chúng tôi chọn phương pháp tiếp cận trên góc độ thi pháp học - tức là đi vào khảo sát toàn bộ “các phươn
Trang 1A PHẦN DẪN NHẬP
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Thế kỷ XX có một con người khi đang còn sống đã trở thành huyền thoại, đó là Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà tư tưởng vĩ đại, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam Hơn nửa thế kỷ qua, tư tưởng của Người thật sự đã là kim chỉ nam dẫn đường cho cuộc đấu tranh vì độc lập - tự do, vì hạnh phúc của con người Ngày nay hơn bao giờ hết, trước sự tồn vong và phát triển của đất nước, những di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đèn tỏa sáng trên con đường dân tộc đi lên Trong vốn di sản quý giá mà người để lại cho dân tộc, tác phẩm văn học là một di sản lớn mà chúng ta chưa bao giờ hiểu biết hết được, đặc biệt là những bài thơ tứ tuyệt của Người luôn có một vị trí rất quan trọng trong lòng mỗi người dân Việt Nam Suốt gần nửa thế kỷ nay, các thế hệ nghiên cứu nối tiếp nhau đi vào thế giới nghệ thuật của nghệ sĩ Hồ Chí Minh, nhằm khám phá, phát hiện thêm những vẻ đẹp tiềm ẩn, chìm sâu trong thế giới tâm hồn cao đẹp, tràn đầy chất nhân văn của người nghệ sỹ – chiến sĩ Hồ Chí Minh Qua đó để có thể hiểu sâu sắc hơn nữa những giá trị trong tư tưởng vĩ đại của Người Đây là điều gần 40 năm qua các nhà nghiên cứu, phê bình đã làm, và cũng là điều khi thực hiện đề tài này, chúng tôi hằng có mong muốn góp một chút gì đó cái vào đại dương mênh mông ấy
1.2 Để mở ra một chân trời mới cho việc khám phá vẻ đẹp của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, chúng tôi chọn phương pháp tiếp cận trên góc độ thi pháp học - tức là đi vào khảo sát toàn bộ “các phương thức, phương tiện thể hiện một cách nghệ thuật, cũng như khám phá đời sống bằng hình tượng” [53]; đó là khảo sát “hình thức tác phẩm trong tính toàn diện, trong tính quan niệm” [53], hay nói khác đi “nghiên cứu cái lý bên trong sự tìm tòi, chọn lựa của nhà
Trang 2văn” Phương pháp tiếp cận này khẳng định rằng: đối với một tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là thơ thì việc khảo sát các yếu tố hình thức là rất quan trọng, vì trong quá trình tri giác nghệ thuật, toàn bộ bài thơ có được lưu giữ trong trí nhớ của người đọc hay không là nhờ vào hình thức của những câu thơ
Đối với thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi thấy rằng, đã có rất nhiều các bài viết, bài nghiên cứu từ nhiều năm qua chỉ
đi theo một hướng tiếp cận truyền thống - chủ yếu đi vào khai thác rất sâu sắc các giá trị về nội dung, nhưng lại ít chú ý tới các giá trị về hình thức nghệ thuật Vì vậy, để tránh sự lặp lại và tránh sự phiến diện trong nghiên cứu về thơ tứ tuyệt của Người, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của những thế hệ đi trước, chúng tôi thấy cần phải đi vào “giải mã” hình thức những câu thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, để có thể góp thêm một tiếng nói khách quan nữa cho quá trình đánh giá những giá trị của thơ văn của Hồ Chí Minh nói chung và thơ tứ tuyệt của Người nói riêng Qua đó để chứng minh rằng, trong nền văn học Việt Nam hiện đại chỉ riêng ở thể loại tứ tuyệt, Hồ Chí Minh là người có những đóng góp vô cùng quan trọng
1.3 Hàng chục năm nay, thơ văn Hồ Chí Minh là một nội dung
quan trọng được giảng dạy trong nhà trường, trong đó có rất nhiều bài thơ tứ tuyệt được chọn giảng trong chương trình chính khoá, và không ít những bài thơ tứ tuyệt của Người luôn làm say mê người học - thôi thúc người đọc khám phá khôn cùng Song hình như với người học, người đọc, thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh vẫn là một thế giới còn nhiều điều bí mật chưa được mở ra Do vậy, nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn tìm thêm một con đường để hiểu và giảng thơ tứ tuyệt của Người – con đường tiếp cận hình thức thơ tứ tuyệt để khám phá nội dung Với tất cả những điều vừa phân tích ở trên, đó là toàn bộ lý do của việc chúng tôi thực hiện đề tài
nghiên cứu này.
Trang 32 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Có lẽ sẽ không quá lời khi nói rằng, trong ngành nghiên cứu văn học Việt Nam chưa có một tác giả nào mà tác phẩm nghệ thuật lại được mọi giới trong xã hội, đặc biệt là giới nghiên cứu phê bình quan tâm nhiều đến như thơ văn của Hồ Chí Minh Nếu tính từ những bài viết cụ thể còn nguyên cảm xúc nóng hổi ngay khi những bài thơ của nhà thơ Hồ Chí Minh vừa mới được in ra (1960) cho đến hôm nay, con số đã lên đến hàng trăm Sự có mặt của các bài viết, bài bình luận rải rác trên các báo, các tạp chí, đến những công trình nghiên cứu có tính chất quy mô như khảo luận, bình thơ… rồi đến những công trình có tính chất qui phạm được sắp đặt thành chương mục trong các sách giáo khoa các cấp, con số ấy đã đạt đến mức kỷ lục, khó mà tổng kết được một cách đầy đủ trong một vài trang viết Điều đó nói lên tính chất qui mô đồ sộ của một hành trình nghiên cứu ngót 40 năm về thơ văn của Hồ Chí Minh
Tất cả những bài viết của một hành trình nghiên cứu về thơ văn của Hồ Chí Minh đều ít nhiều có liên quan đến việc chúng tôi nghiên cứu đề tài này Đặc biệt, trong các công trình nghiên cứu về thơ ca nghệ thuật của Hồ Chí Minh nói chung, tuy các nhà nghiên cứu chưa chủ ý đi vào nghiên cứu một cách hệ thống thi pháp thể loại thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, nhưng đều chú ý lấy dẫn chứng và phân tích từ những bài thơ tứ tuyệt - vì thật ra, thơ nghệ thuật của Hồ Chí Minh chủ yếu là thơ tứ tuyệt chiếm gần như toàn bộ Như vậy, về thực chất những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đã được nghiên cứu rất nhiều, trên cả hai bình diện – nội dung và hình thức Đó chính là nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài của chúng tôi Song nếu đi vào liệt kê hết từ tên tác giả, cũng như các bài viết của những năm qua thì e dung lượng quá lớn khó có thể thực hiện được Vì vậy, khi đi vào nghiên cứu lịch sử vấn đề của luận
Trang 4án, chúng tôi xin được chắt lọc những nét tiêu biểu của các công trình nghiên cứu như sau:
2.1 Những bài nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến khuynh hướng thi pháp học, ký hiệu học như :
Thi pháp đối lập trong “Nhật ký trong tù [33; 91] của tác giả
Nhật Chiêu Trong bài viết của mình ông bày tỏ quan điểm rằng:
Từ “thi pháp”được hiểu là phương thức phản ánh cả tâm thức lẫn thực tại trong cơ cấu nghệ thuật mang dấu ấn sinh động của người sáng tạo”[33; 92] Xuất phát từ cái nhìn thi pháp vừa nêu trên, tác
giả Nhật Chiêu đã khẳng định: chính cảm thức tự do trong “Nhật ký trong tù” đã tác động đến toàn bộ thi pháp của tập nhật ký Hầu hết các bài thơ trong tác phẩm đều được xây dựng trên thi pháp đối lập Ông đã rất thành công khi đi vào khai thác các chi tiết, các tình huống đối lập để tìm ra cả một thế giới với các cặp phạm trù đối lập trong “Nhật ký trong tù” như : Thân thể – tinh thần; tự do – nô lệ; ánh sáng – bóng tối, không gian tù ngục – không gian tự do… Chính vì khai thác triệt để các yếu tố đối lập mà tác giả đã dẫn người đọc đi sâu vào thế giới tâm hồn phong phú của nghệ sỹ Hồ Chí Minh Bài viết của tác giả Nhật Chiêu đã giúp chúng tôi có
cái nhìn sâu hơn về thi pháp những bài thơ tứ tuyệt trong Nhật ký trong tù.
Tác giả Duy Lập trong bài Thử vận dụng ký hiệu học vào việc phân tích một bài thơ của Hồ Chủ Tịch đã có những đóng
góp đáng kể Mặc dù bài thơ mà tác giả chọn để phân tích là bài
Cảnh rừng Việt bắc - một bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú,
nhưng chính việc tác giả đi vào phân tích bài thơ trên góc độ ký hiệu học đã mở ra một hướng tiếp cận mới cho thơ ca của Hồ Chí Minh và giúp cho chúng tôi có một cái nhìn khái quát hơn trong việc nghiên cứu hệ thống thi pháp thể loại thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
Trang 5Các loạt bài viết : Thời sự và vĩnh hằng [24] của giáo sư Đặng Anh Đào; Các thước đo thời gian của “Nhật ký trong tù” [131] của giáo sư Phùng văn Tửu; Không gian và thời gian trong “Nhật ký trong tù” [55] của giáo sư Lê Đình Kỵ; Theo dòng thời gian trong
“Nhật ký trong tù” [31] của giáo sư Hà Minh Đức Nhìn chung các
bài viết này tập trung khai thác theo lý thuyết thi pháp học và đã tìm ra cái hay, cái đẹp của hình thức mang tính nội dung của tập thơ nhật ký Đây là tiền đề cho người đọc, người tập nghiên cứu như chúng tôi có một hướng tiếp cận mới với “Nhật ký trong tù”của Hồ Chí Minh
Một sự kiện đáng chú ý nhất là năm 1993 Viện Văn học cho
ra mắt bạn đọc cuốn sách có tựa đề “Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù” [91], tập sách là công trình của tập thể của 21 tác giả là các
nhà nghiên cứu chuyên ngành Sách có bốn chương, trong đó chương
2 của cuốn sách đề cập đến: “Những vấn đề thi pháp và một số phương hướng tiếp cận tập thơ” Ở chương này các nhà nghiên cứu đã đi thẳng vào những vấn đề của thi pháp học như: Tính thống nhất của một chỉnh thể nghệ thuật nhỏ trong một chỉnh thể nghệ thuật lớn của tập thơ nhật ký; những vấn đề về thời gian - không gian trong “Nhật ký trong tù”; vấn đề về sự tiếp nối và những sáng tạo hiện đại trong phong cách sáng tác nghệ thuật của Hồ Chí Minh Đặc biệt là vấn đề tìm ra cái mới trong tư duy nghệ thuật của Hồ Chí Minh
Có thể nó rằng, những vấn đề thi pháp của tập thơ đã được các nhà nghiên cứu xem xét với một cái nhìn mới, đây thật sự là một sự đổi mới suy nghĩ của giới nghiên cứu phê bình đối với tập
“Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh Ông Nguyễn Bá Thành khi
đọc “Suy nghĩ mới về “Nhật ký trong tù”” có nhận xét: “Đổi mới cách nhìn, đổi mới suy nghĩa là yêu cầu cấp bách để nghiên cứu văn học hiện đại, trong đó có thơ văn Hồ Chí Minh, xác định giá trị
Trang 6đích thực của tập “Nhật ký trong tù” là một thử thách lớn của quá trình đổi mới của tư duy lý luận, tư duy khoa học” [119; 157, 158]
Mặc dù các nhà nghiên cứu đã mở ra một hướng nghiên cứu thi pháp cho thơ nghệ thuật của Hồ Chí Minh, nhưng riêng đối với mảng thơ tứ tuyệt là thể loại chiếm một số lượng lớn gần như toàn bộ sáng tác thơ nghệ thuật của Hồ Chí Minh thì chưa có công trình nghiên cứu nào có tính chất chuyên biệt để đi vào khám phá khả năng độc đáo, đặc sắc trong bút pháp sáng tạo nghệ thuật ở thể loại này của Hồ Chí Minh
2.2 Những bài viết liên quan trực tiếp đến thi pháp thể loại thơ tứ tuyệt: Ở lĩnh vực nghiên cứu này chỉ có một số ít ý kiến
trực tiếp nói về thể loại thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh như: “Thơ tứ tuyệt của Hồ chủ tịch” [30] của Giáo sư Hà Minh Đức Bài viết
tập trung vào những đặc điểm thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh Tác giả xác định cảm hứng thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là bắt nguồn từ cuộc sống - cuộc sống là điểm xuất phát, là nội dung và cũng là mục đích cuối cùng của thơ Đặc biệt là ở trong bài viết này, Hà Minh Đức đã chú ý tới hình thức của thể loại, xem đó là cái riêng trong việc sử dụng thể thơ tứ tuyệt ở Hồ Chí Minh Tác giả đi vào phân tích tính chất độc đáo trong câu kết của bài thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, theo tác giả đa số các bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh đều hàm chứa hai tầng ý nghĩa và Hồ Chí Minh là người đã tiếp nhận một cách sáng tạo thể thơ tứ tuyệt truyền thống Ông
nói: “Thơ tứ tuyệt của Bác điêu luyện và sáng tạo” [94; 346]; “Thơ tứ tuyệt mà Bác sử dụng là thể thơ tứ tuyệt cổ điển Nhiều nhà thơ tìm hiểu thơ Bác đều thấy rằng Người am hiểu sâu sắc vận dụng thành thục, linh hoạt các khổ thơ cổ điển Nhưng quy tắc khá nghiêm ngặt của thể thơ không hề gò bó hạn chế nội dung nào của thơ”[94; 352].
Tác giả Nguyễn Khắc Phi trong bài Góp phần lý giải ý nghĩa và vẻ đẹp của bài thơ “Vãn cảnh” có phân tích: “Thơ tứ
Trang 7tuyệt của Hồ Chí Minh, mặc dầu mang tính hiện đại sâu sắc và có không ít chỗ phá vỡ khuôn khổ cũ, song ở đó, vẫn có thể “lắng nghe cái âm vang sâu nặng của truyền thống” vẫn có thể thấy phảng phất khắp nơi ý vị của thơ Đường, thơ Tống”.[98; 539]
Còn ý kiến của Phương Lựu trong bài “Thơ Bác với thơ
Đường” là: “Về mặt thể loại, cống hiến lớn nhất của Bác là sự sáng tạo ra thể thơ tứ tuyệt tự sự Ngược lại, thơ tứ tuyệt của Bác cũng có nhiều bài thơ trữ tình, nhưng lại có rất nhiều bài tự sự, đặc biệt là những bài có tính chất “nhật ký” thật sự [98; 492)].
Trong quá trình nghiên cứu, nhiều bài thơ tứ tuyệt được tập trung phân tích như: “Tức cảnh Pắc Bó”; “Thướng Sơn”; “Cảnh khuya”;
“Cảm thu ”; “Nguyên tiêu”; “Nhập Tĩnh Tây huyện ngục”; “Tảo giải”; “Mộ”; “Nạn hữu suy địch”; “Vọng nguyệt”… tất cả những bài thơ này đều là thơ tứ tuyệt Và trong quá trình phân tích mỗi bài thơ, các thao tác của thi pháp đã được người phân tích sử dụng ít nhiều
Tóm lại: Qua việc đi vào nghiên cứu lịch sử vần đề của thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, chúng tôi nhận thấy rằng: thứ nhất, tuy thơ tứ tuyệt là một thể loại gần như chiếm toàn bộ giá trị thơ nghệ thuật của Hồ Chí Minh, nhưng lại là một lĩnh vực chưa được các nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều Thứ hai, mặc dù số lượng bài viết về lĩnh vực này còn khá khiêm tốn, song nhiều vấn đề đã được soi sáng, lắm phát hiện lý thú Đặc biệt, chính phương pháp tiếp cận thi pháp học đối với thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh đã thật sự mở một chân trời mới cho những ai muốn đi vào khám phá, phát hiện thêm những vẻ đẹp tiềm ẩn chìm sâu trong thế giới tâm hồn cao đẹp, tràn đầy chất nhân văn của người nghệ sĩ Hồ Chí Minh
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Tiếp thu thành quả nghiên cứu của những công trình đi trước, bước đầu thể nghiệm một hướng tiếp cận mới đối với thể thơ tứ
Trang 8tuyệt của nhà thơ Hồ Chí Minh, nhằm hướng tới một số vấn đề cơ bản sau:
- Tìm đến hệ thống hình thức mang tính nội dung của những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, nhằm khẳng định giá trị riêng có của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trong nền văn học nước nhà
- Khảo sát 198 bài thơ tứ tuyệt được sáng tác bằng hai ngôn ngữ Hán và Việt, ở những giai đoạn khác nhau, để xác định sự thống nhất - nhất quán trong phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, là để tìm hiểu những giá trị tư tưởng của Người về quan điểm trong sáng tác nghệ thuật nói riêng và trong tiếp nhận văn hoá nói chung
- Góp phần tìm hiểu những giá trị cao đẹp của con người Hồ Chí Minh qua những bài thơ tứ tuyệt của Người
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng khảo sát của chúng tôi là toàn bộ những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh Gồm 198 bài (129 bài trong tập “Nhật ký trong tù”, 69 bài ngoài “Nhật ký trong tù” - trong đó có 36 viết bằng chữ Hán và 33 viết bằng quốc ngữ)
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Mặc dù luận án chọn đề tài là “Thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh” nhưng những vấn đề luận án nghiên cứu chỉ dừng lại
ở việc khảo sát và phân tích những vấn đề như: chung quanh vấn đề về thơ tứ tuyệt; vấn đề hình tượng con người; hình tượng thời gian - không gian nghệ thuật; vấn đề một số các phương thức biểu hiện và ngôn ngữ thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh Còn những góc độ khác của thi pháp vì khả năng có hạn luận án chưa có điều kiện để đề cập đến
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN.
Trang 95.1 Nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn phần nào góp tiếng nói mới về phương pháp tiếp cận thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh trên cơ sở nghiên cứu thể loại tứ tuyệt dưới góc độ của thi pháp học Nghĩa là xem thể loại, như cách nói của Bakhtin là
“nhân vật chính của văn học” như là sự phản ánh cách chiếm lĩnh
hiện thực của người nghệ sĩ Thể loại văn học, bản thân nó có tính lịch sử - nghĩa là có phát sinh, phát triển, tàn lụi; có kế thừa đổi mới… Vì vậy, tìm đến cái “mã” nghệ thuật là tìm đến cái đặc thù của thể loại như là một cách chọn lựa để bộc lộ nội tâm, hay một cái nhìn về thế giới Tất cả điều ấy đều gắn với ngôn ngữ cảm xúc, giọng điệu… [70] Từ đó giúp cho học sinh và những người yêu thích thơ Hồ Chí Minh có thêm điều kiện khách quan để tìm hiểu và cảm thụ sâu sắc cái hay, cái đẹp, cái tinh diệu của thế giới trữ tình Hồ Chí Minh Đồng thời, cũng muốn có chút ít gợi ý điều gì đó đến những người đang nghiên cứu, giảng dạy thơ văn Hồ Chí Minh trong khắp cả nước
5.2 Qua việc tìm hiểu hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, chúng tôi có điều kiện khẳng định một nguyên tắc trong quan điểm sáng tác nghệ thuật nói riêng và trong tiếp nhận văn hóa nói chung ở nghệ sĩ Hồ Chí Minh là: tạo ra những giá trị mới trên nền tảng truyền thống bền vững; và làm cho những giá trị truyền thống luôn sống trong tinh thần thời đại Đây là một nguyên tắc tiếp nhận văn hóa đúng đắn nhất
5.3 Nghiên cứu thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh trên góc độ thi pháp học, luận án đã nhận ra được rằng, sự phong phú, đa dạng không tuân thủ bất cứ khuôn mẫu nào trong quá trình sáng tác thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh là một sự thống nhất - nhất quán của phong cách sáng tạo nghệ thuật ở nghệ sĩ Hồ Chí Minh
5.4 Góp phần khẳng định một khuynh hướng mới trong nghiên cứu và phê bình văn học Đó là đi vào hình thức nghệ thuật khám phá một cách khách quan cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật và tìm
Trang 10đến cái độc đáo riêng có của mỗi người nghệ sĩ trên cơ sở sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, xem hình thức như là cái mang tính quan niệm, tính nội dung Khuynh hướng này sẽ bổ sung cho khuynh hướng thiên về lịch sử xã hội, góp phần làm cho lĩnh vực phê bình văn học nước ta được hoàn chỉnh hơn.
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Để xác định những đặc trưng riêng của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, trên nguyên tắc chung cần khảo sát toàn bộ thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh trong mối quan hệ đối sánh với nhiều hệ thống Cụ thể, luận án sẽ được khai triển trên cơ sở quan tâm tới các mối quan hệ:
- Mối quan hệ giữa con người nhà thơ bên ngoài cuộc đời và thơ ca nghệ thuật của Người: nghiên cứu thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh thực chất là góp phần khám phá tầm vóc vĩ đại của con người Hồ Chí Minh, trong tầm vóc chung của lịch sử Việt Nam hiện đại Đây là việc làm không riêng một nhà nghiên cứu nào, hay một tác phẩm nào có thể đảm nhiệm một cách trọn vẹn, bởi một lẽ, Hồ Chí Minh xuất hiện trong lịch sử không phải để làm một nhà thơ mà Người chính là con người của chính trị, con người của những chuẩn mực đạo đức và những tư tưởng triết lý lớn lao Người thuộc mẫu người có khả năng tác động làm biến cải lịch sử, làm cho cuộc đời tốt hơn, đẹp hơn, nhưng không phải bằng ngòi bút mà bằng hành động cách mạng Người đến với thơ ca trong những hoàn cảnh thật đặc biệt Mặc dù vậy, điều ấy không có nghĩa, Người không đúng với tư cách một nhà thơ, hoặc giả giữa con người thơ và con người chính trị, con người đạo đức, con người triết lý trong Người là hoàn toàn xa lạ với nhau, mà ngược lại, đó là một thực thể thống nhất, nhất quán Ở Người có một sự hội tụ kỳ diệu của những tinh hoa dân tộc và nhân loại Có người đã từng nói: Hồ Chí Minh là con người của truyền thống nhân ái Việt Nam và cũng là con
người của nền văn hóa tương lai Người vốn là một thực thể “Một
Trang 11mà nhiều, nhiều nhưng vẫn một” [57; 5] Người vừa là người chiến
sĩ – thi sĩ, vừa là con người tiêu biểu của nền văn hóa phương Đông và cả phương Tây; là nhà dân tộc chủ nghĩa nhưng lại là người chiến sĩ cộng sản quốc tế; trong Người cái dân tộc và cái nhân loại; cái phi thường và cái bình thường v.v… tất cả đều hòa quyện vào nhau một cách tự nhiên dung dị, không dễ gì tách bạch Do đó, nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh thực chất là nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở dạng sâu sắc và tinh tế nhất – vì thơ là phần sâu sắc nhất của con người được thăng hoa lên, là suối nguồn chảy ra từ sự thôi thúc bên trong con người Chính vì lẽ ấy, khi nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh, mối quan hệ soi sáng giữa “thơ” và “người” vẫn là hệ quy chiếu tất yếu Vẻ đẹp con người trong thơ luôn luôn có sự đối xứng chiếu ứng với vẻ đẹp của con người nhà thơ trong hiện thực và ngược lại Đó là điều cần thiết để khám phá một nhà thơ nhưng lại là một vĩ nhân như Hồ Chí Minh
Song chúng ta cũng cần có một khoảng cách để bảo đảm tính khách quan của tác phẩm nghệ thuật, vì tác phẩm nghệ thuật khi nó
ra đời, nó tồn tại như một sinh mệnh sống Chúng ta phải chiếm lĩnh nó như một khách thể vốn nó vẫn tồn tại Như vậy, chúng ta sẽ có điều kiện đi thẳng vào những đặc trưng riêng của tác phẩm nghệ thuật và mới có thể khám phá được tất cả những gì chứa đựng trong nó, qua đó để khám phá ra phương diện tài năng và tâm hồn của con người vĩ đại Hồ Chí Minh Làm như vậy, sẽ tránh được sự sai lệch, trượt từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác: bàn về văn chương không khéo chỉ bàn về con người bên ngoài tác phẩm mà quên đi đối tượng cần bàn là tác phẩm nghệ thuật [135; 5]
- Mối quan hệ giữa thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh với thơ tứ tuyệt truyền thống: ảnh hưởng của thơ tứ tuyệt truyền thống, thơ ca bác học và thơ ca dân gian Việt Nam… đối với thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
Trang 12- Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh và những yếu tố trong thơ ca hiện đại
Mối quan hệ phụ thuộc ảnh hưởng qua lại giữ các bộ phận trong hệ thống hoặc giữa các hệ thống sẽ là cơ sở quan trọng giúp chúng ta xác định các đặc điểm nghệ thuật trong những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh
2 Để giải quyết những yêu cầu cụ thể, cần áp dụng những phương pháp sau đây:
Phương pháp thống kê - phân loại:
Mục đích sử dụng nhằm tập hợp lại toàn bộ những bài thơ của Hồ Chí Minh viết theo thể tứ tuyệt bằng hai thứ ngôn ngữ Hán và Việt được sáng tác trong mọi thời điểm khác nhau đề tìm đến tính thống nhất nhất quán trong thi pháp sáng tác của nghệ sĩ Hồ Chí Minh
Phương pháp đối chiếu - so sánh :
- Sử dụng phương pháp so sánh để khẳng định rằng thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh là sự tiếp nối truyền thống thơ tứ tuyệt cổ điển
- Chứng minh cho những yếu tố sáng tạo hiện đại trong thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh so với thơ tứ tuyệt truyền thống
Phương pháp phân tích tổng hợp:
Phân tích những ảnh hưởng của những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc trong hệ thống thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN: Luận án được chia làm ba phần
chính:
7.1 Phần dẫn nhập (17 trang)
Trình bày về ý nghĩa của đề tài, điểm lại các công trình chủ yếu nghiên cứu về thơ Hồ Chí Minh nói chung và thơ tứ tuyệt nói riêng Qua đó làm rõ mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài, phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu của đề tài
Trang 137.2 Phần nội dung: gồm ba chương (151 trang)
Chương 1: Chung quanh vấn đề về thơ tứ tuyệt - thơ tứ tuyệt của
Hồ Chí Minh (38 trang)
Chương 2: Thi pháp thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh nhìn trên góc
độ hình tượng (59 trang)
Chương 3: Thi pháp thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh nhìn trên góc độ
các phương thức biểu hiện (55 trang)
7.3 Phần kết luận (8 trang)
8 TÀI LIỆU THAM KHẢO (10 trang).
Trang 14B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CHUNG QUANH VẤN ĐỀ VỀ THƠ TỨ TUYỆT - THƠ TỨ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH
1.1 CHUNG QUANH VẤN ĐỀ VỀ THƠ TỨ TUYỆT
1.1.1 Về thuật ngữ :
- Dùng thuật ngữ “tuyệt cú” hay “tứ tuyệt”?
Thuật ngữ “tứ tuyệt” là cách người Việt Nam gọi thể thơ bốn câu mà người Trung Quốc gọi là “tuyệt cú”, cách hiểu này được
rất nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam như Lạc Nam trong “ Tìm hiểu các thể thơ” [81]; Bùi văn nguyên trong “Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại” [85]; Nguyễn Khắc Phi trong “Tự điển thuật ngữ văn học” [92]… đều có cùng ý kiến tán đồng
Như vậy, có đến hai cách để gọi tên một thể thơ, cho nên cũng có những ý kiến chung quanh vấn đề này: Tác giả Tạ Ngọc Liễn trong một bài viết đăng trên tạp chí “Văn nghệ trẻ”, đã đặt vấn đề có nên dùng thuật ngữ “tứ tuyệt “hay không? vì theo tác giả thì trong các tài liệu xưa chưa hề có chỗ nào sử dụng thuật ngữ
“tứ tuyệt” [64] Song một thực tế là ở Việt Nam việc dùng một lúc cả hai thuật ngữ “tuyệt cú” và “tứ tuyệt” đã tồn tại suốt thời gian rất dài Vì thế, cả hai thuật ngữ này ở Việt Nam thường được hiểu
như là một Tác giả Nguyễn Khắc Phi trong bài viết “Về khái niệm tứ tuyệt” [103] đăng trên báo “Văn nghệ trẻ” có ý kiến như sau:
“Tứ tuyệt được hiểu như một từ đồng nghĩa với tuyệt cú, một cách gọi hiện đại của một thể thơ xưa từng mang tên tuyệt cú” Do vậy,
không nên xoá bỏ thuật ngữ “tứ tuyệt”, vì đối với một thuật ngữ khi nó đã có khả năng tồn tại với một đời sống riêng thì không nên nhất thiết phải xoá bỏ, mặc dù tất yếu nó có ít nhiều mang
Trang 15một
nội hàm khác với nghĩa ban đầu Vậy là qua ý kiến trên, tuy tác giả( Nguyễn Khắc Phi) đã xem hai thuật ngữ “tuyệt cú” và “tứ tuyệt” như một từ đồng nhất với nhau, nhưng cũng trong bài viết của mình, chính tác giả đã chỉ ra dấu hiệu khu biệt giữa hai thuật ngữ này: vốn “Tuyệt cú” là một thuật ngữ đã tồn tại ổn định ngót
1500 năm nay: bốn dòng, vần chân, số chữ ở bốn dòng bằng nhau”
; còn thuật ngữ “tứ tuyệt” bản thân nó ít nhiều đã mang một nội hàm khác so với lúc ban đầu xuất hiện” Ở một bài viết khác
mang tên “Thay phần khảo luận về thơ tứ tuyệt” in trong “Thơ văn cổ Trung Hoa mảnh đất lạ mà quen” tác giả (Nguyễn Khắc Phi) còn
lưu ý độc giả về cách dùng thuật ngữ “tứ tuyệt” của người Trung
Quốc là hoàn toàn mang một hàm nghĩa khác: “Nó không chỉ một thể thơ như tuyệt cú mà chỉ là một tập hợp, một chỉnh thể gồm bốn sự vật ( có thể là lâu đài, bia mộ, bức tranh, chữ viết… ”
[101; 109] Nói về vấn đề này, tác giả Bùi Văn Nguyên trong “Thơ
ca Việt Nam hình thức và thể loại” cũng có ý kiến rằng : “Chữ tứ tuyệt theo Trung Quốc nghĩa là bốn cái thật hay thí dụ như bia lầu Nhạc Dương ( thợ bia khéo, văn bia hay, chữ chân tốt, chữ triện tốt) hoặc bốn cái xấu như bốn ngày trước các ngày lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông” [85; 213]
Vậy, vấn đề đặt ra là cần xác định nội hàm của hai thuật ngữ “tuyệt cú”, “tứ tuyệt” Hiện nay ở Việt Nam, theo chúng tôi hầu như người ta chỉ thường dùng thuật ngữ “tuyệt cú”ù cho những vấn đề nghiên cứu có tính chất chuyên sâu - một thuật ngữ có nội hàm hẹp, chỉ ứng với “những bài thơ bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn, có quy định bằng trắc, niêm luật chặt chẽ” [64]; còn “Tứ tuyệt” là thuật ngữ được dùng phổ biến trong thực tiễn sáng tác và nghiên cứu phê bình Nếu xét về đặc trưng hình thức của thể loại thì
Trang 16thuật ngữ “tứ tuyệt” có quan hệ với một cách hiểu có phần phóng khoáng hơn là “tuyệt cú” Có ý kiến khẳng định nội hàm của thuật ngữ tứ tuyệt như sau: “Tứ tuyệt một khái niệm co giãn bao hàm nhiều nghĩa, chỉ được nhiều hiện tượng, miễn là bài thơ đó có bốn câu; về số chữ trong mỗi câu có thể 5,6,7, hoặc thậm chí là tạp ngôn” [101; 109]; Tác giả Nguyễn Sĩ Đại trong “Một số đặc trưng nghệ thuật thơ tứ tuyệt đời Đường” có đưa ra một cách hiểu khá
rộng về nội hàm của tứ tuyệt: “Tứ tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết phải có niêm luật chặt chẽ” [ 22; 14].
Vậy theo chúng tôi, nếu xét trên phạm vi của cái nhìn đại chúng thì có thể đánh đồng việc dùng hai thuật ngữ “tuyệt cú” và
“tứ tuyệt” là một bởi, đối với người Việt Nam điều ấy không hề gây sự hiểu nhầm nào cả Tuy nhiên, nếu đi vào lĩnh vực chuyên sâu thì cần phải tìm được những dấu hiệu có tính chất khu biệt
Cách hiểu chữ “tuyệt” trong hai thuật ngữ “tuyệt cú” và
“tứ tuyệt”.
Từ rất lâu cách hiểu chữ “tuyệt” ở trong thuật ngữ “tuyệt cú” hay “tứ tuyệt” có hai quan điểm khác nhau:
Quan niệm thứ nhất cho rằng: Tứ tuyệt là sự cắt ra từ bài
bát cú nên hiểu “tứ” có nghĩa là bốn câu; “tuyệt” nghĩa là cắt, là dứt, ngắt Quan niệm này theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại đã có từ thời Minh Thanh ở Trung Quốc những học giả như Ngô Nột, Truyền Nhữ Bảng, Tiềm Mộc Am… đều xem tuyệt cú là thể thơ “tiệt luật thi chi bán” ( nửa bài cắt ra từ luật thi )
Ở Việt Nam, người đại diện cho ý kiến này là cụ Dương Quảng Hàm trong “Văn học Việt Nam sử yếu”: “Tứ” nghĩa là bốn,
“tuyệt” nghĩa là dứt, ngắt, lối này gọi thế vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong bài bát cú mà thành Trên cơ sở đó, ông chỉ ra năm cách ngắt khác nhau:
- Ngắt bốn câu đầu của bài bát cú, bài thơ sẽ có bốn câu ba
Trang 17vần (vần ở cuối câu 1, 2, 4) và hai câu sau là “đối liên” (câu 3, 4 đối nhau).
-•Ngắt bốn câu sau của bài bát cú: bài thơ có hai vần (ở câu
2 và câu 4) và hai câu trước là “đối liên”
- Ngắt hai câu đầu và hai câu cuối của bài bát cú bài thơ có
ba vần (ở câu 1, 2, 4) và không có “đối liên”
- Ngắt bốn câu giữa bài thơ có hai vần, (ở câu 2 và câu 4) và sẽ có hai cặp câu đối: câu 2 đối câu 1; câu 4 đối câu 3
- Ngắt câu 1 + câu 2 và câu 5 + câu 6 [36; 32]
Tác giả Bùi Văn Nguyên trong “Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại” cũng giải thích chữ “tuyệt” bằng hai ý: “tuyệt” có nghĩa cắt ra từ bài bát cú; “tuyệt” cũng là cắt là dứt, nhưng là dứt câu Bởi vì, ở tứ tuyệt một câu chưa thành thơ, hai câu mới thành một vế đối liên, ít nhất bốn câu mới có vần, khi đó mới thành một bài thơ [85; 209]
Quan niệm thứ hai xuất phát từ việc đánh giá rất cao sự độc
đáo của thơ tứ tuyệt trong văn chương, nên hiểu chữ tuyệt là tuyệt diệu, tuyệt vời Cụ Bùi Kỷ trong “Quốc văn cụ thể” có viết: Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt Chỉ trong bốn câu mà thiển thâm, ẩn hiện, chính kỳ, khởi phục đủ cả cho nên gọi là
tuyệt Có lẽ dựa vào ý kiến này nên nhà nghiên cứu Lạc Nam - Phan Văn Nhiễu trong “Tìm hiểu các thể thơ” đã hiểu chữ “tuyệt” là tuyệt vời: “Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt, người Trung Quốc gọi
“tuyệt cú” tức là bài thơ hay tuyệt vời, chỉ có bốn câu 20 hoặc 28 từ mà nói lên được đầy đủ ý tứ của một đề tài theo đúng luật lệ của thơ Đường” [82;108] Tác giả Trần Trọng San cũng đồng tình với ý kiến của cụ Bùi Kỷ nên đã dẫn lại ý “Tuyệt là tuyệt diệu, mỗi câu chiếm một vị trí đặc biệt Chỉ trong bốn câu mà thiển thâm, ẩn hiện, chính kỳ, khởi phục đủ cả, cho nên gọi là tuyệt” [110; 32].
Vậy có phải tuyệt là cắt, là dứt, là ngắt… ra từ bài bát cú;
Trang 18hay tuyệt là tuyệt diệu, tuyệt vời hay không? Để đi đến một xác định cho chính xác cách hiểu chữ “tuyệt” trong thuật ngữ “tuyệt cú” hay “ tứ tuyệt” chúng ta tìm đến cội nguồn hình thành nên thể loại thơ tứ tuyệt
1.1.2 Vấn đề nguồn gốc của thơ tứ tuyệt:
Trước đây khi nói đến nguồn gốc tứ tuyệt có rất nhiều người cho rằng, “Tứ tuyệt” là do được cắt ra từ bài luật thi (bát cú)
- (đây là quan niệm thứ nhất chúng tôi đã nêu ở trên); song lại có một quan niệm ngược lại cho rằng: “Luật thi thực do tuyệt cú bội phiên nhi thành” (bát cú là do tứ tuyệt gấp đôi lên mà thành ), đây là quan niệm của các học giả Trung Quốc đời Minh Thanh như: Hồ Ứng Lân, Vương Sĩ Trinh, Lý gia Ngôn, La Văn Trạch, Đổng Văn Hoán… và những quan niệm tồn tại này khá lâu trong giới nghiên cứu về thơ tứ tuyệt
Sau này càng nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thực chất “tuyệt cú” ra đời từ rất sớm trước luật thi, có thể có mầm mống từ trong kinh thi
Ở Việt Nam, các tác giả như: Trần Trọng San khẳng định:
“Trong dân ca thời lục triều đã thấy có bài bốn câu 5 chữ hoặc 7 chữ, các nhà quí tộc mới phỏng theo đó làm ra những bài bốn câu ngũ ngôn, lục ngôn hoặc thất ngôn” [110]
Tác giả Bùi Văn Nguyên cũng rất đồng ý với ý kiến cho rằng: “Thơ cổ phong cũng như dân ca không hạn định số câu, có thể
ít nhất là hai hoặc ba bốn câu, hoặc sáu, tám, mười câu hoặc nữa là rất nhiều câu… tuy nhiên thể thơ cổ phong phổ biến nhất là thể bốn câu tám vần và thể hành” từ đó tác giả đi đến kết luận “thơ tuyệt cú là một chỉnh thể hoàn chỉnh tự nó và nó hình thành trước thể bát cú” [86; 299 ]
Tác giả Nguyễn Sĩ Đại trong cuốn “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” trên cơ sở của nhiều căn cứ khoa học đã đưa ra ý kiến khẳng định rằng, tuyệt cú là một thể loại
Trang 19thơ có trước thơ Đường, ông chứng minh nó bắt nguồn từ trong Kinh Thi, và theo ông danh từ “tuyệt cú” xuất phát từ hình thức “liên cú”
- tức là lối làm thơ hai người trở lên, mỗi người xướng một câu, hai câu làm thành một liên; lối làm thơ này rất thịnh ở thời Lưỡng Tấn, lục triều Như vậy, chữ “tuyệt” được tác giả cho là việc cắt ra từ liên cú, sự dừng lại ở bốn câu có ý nghĩa trọn vẹn
Tác giả Nguyễn Khắc Phi trong bài “Thay phần khảo luận về thơ tứ tuyệt” khi nói về nguồn gốc của tuyệt cú cũng đồng tình với rất nhiều người cho rằng tuyệt cú ra đời trước luật thi và có thể
có mầm mống từ trong Kinh thi Ông còn lý giải thêm: “Mỗi bài Kinh thi có nhiều chương (thường là 3 chương) có chương chỉ gồm ba câu song hình thức phổ biến là bốn câu Đến đời Hán – Ngụy, hình thức thơ bốn câu vẫn được duy trì, chỉ có điều khác là ở số chữ
ở mỗi câu, từ 4 chữ trong Kinh thi đã nâng lên thành 5 hoặc 7 chữ Sang lục triều hình thức thơ bốn câu lại càng phổ biến trong thơ ca dân gian cũng như trong thơ ca bác học… hầu hết dân ca đều là thơ
4 câu”.[101; 105; 106] Còn khi đề cập đến danh từ “tuyệt cú”, tác
giả Nguyễn Khắc Phi cũng bày tỏ quan điểm đồng tình với nhiều ý
kiến cho rằng tuyệt cú bắt nguồn từ hình thức liên cú: “Hình thức thơ này xuất hiện ở đời Hán: mỗi người làm một câu thơ câu nào cũng phải gieo vần, cuối cùng hợp lại thành một bài Đến đời Tấn, mỗi người phải làm hai câu Cuối Tấn đầu Tống đã xuất hiện hình thức liên cú trong đó mỗi người phải làm bốn câu Trường hợp người xướng bài đầu tiên mà không có ai làm liền theo được thì bài độc xướng đó gọi là “đoạn cú” hoặc tuyệt cú (“đoạn”; “tuyệt”nghĩa là “dứt”) dùng để đối lập với chữ “liên” nghĩa là “liền”” [101; 105; 106]
Như vậy, nguồn gốc ra đời của thể loại tứ tuyệt là xuất phát từ thể “ liên cú” có từ đời Hán Chữ “tuyệt” trong hai thuật ngữ
“tuyệt cú” hay “tứ tuyệt” hiểu nghĩa “dứt” là đúng, nhưng không phải được “dứt” ra từ bài bát cú Sau này tuyệt cú còn được gọi
Trang 20một cái tên đó là “luật tuyệt”, lý do là vì đến đời Đường, do thơ luật thi xuất hiện và được sự trọng vọng của xã hội, nên một bộ phận của thơ bốn câu đã nhập luật và những bài thơ này được gọi
“luật tuyệt”( tuyệt cú luật thi) để phân biệt với những bài bốn câu vẫn làm theo truyền thống cũ gọi là “cổ tuyệt” (tuyệt cú cổ thi) Người xưa gọi tuyệt cú là “luật tuyệt” tức là còn có ý đề cao
1.1.3 Mục đích của việc khảo sát thuật ngữ.
Mục đích của việc chúng tôi đi vào xác định thuật ngữ và tìm hiểu nguồn gốc của thơ tứ tuyệt là nhằm phục vụ cho quá trình khảo sát toàn bộ hệ thống thơ ca của Hồ Chí Minh để xác định được chính xác những bài thơ viết theo thể tứ tuyệt của Người Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “tứ tuyệt” để gọi tên cho loại thơ bốn câu của Hồ Chí Minh, vì chúng tôi đồng tình với cách hiểu nội hàm “tứ tuyệt” là một bài thơ bốn câu, không nhất thiết mỗi câu 5 hoặc 7 chữ; nhưng nên loại trừ những bài thơ viết theo thể thơ lục bát bốn câu của Việt Nam Bằng cách hiểu này, chúng tôi có thể bao quát được những bài thơ bốn câu của Hồ Chí Minh được viết với số chữ 4, 5, 6,7, hoặc có thể nhiều hơn; và không đưa dạng lục bát bốn câu vào phần khảo sát thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh
1.1.4 Những đặc điểm chung của thi pháp thơ tứ tuyệt đời Đường:
Thơ tứ tuyệt là sản phẩm độc đáo của nền văn hoá dân tộc
Trung Hoa Nếu lấy mầm mống ra đời từ Kinh thi làm mốc, tính đến
ngày nay, thơ tứ tuyệt đã tồn tại hơn 20 thế kỷ Đối với tứ tuyệt thời gian đã quá đủ để làm xong một cuộc sàng lọc tự nhiên - khẳng định một sức sống bền chặt của thể loại trong đời sống nghệ thuật Cái làm nên sức sống bền chặt ấy chính là những đặc điểm thi pháp của tứ tuyệt Ở đây chúng tôi xin nêu những nét cơ bản trong đặc điểm thi pháp của thơ tứ tuyệt như sau:
Trang 21Thứ nhất: tứ tuyệt là một thể loại có hình thức nhỏ bé, nhưng các tác giả của nó không hề đặt cho mình nhiệm vụ thể hiện những điều vụn vặt, mà luôn có tham vọng đề cập đến những vấn đề lớn lao của cuộc sống - một cách sinh động và độc đáo Các nhà nghiên cứu thường nhận xét rằng, tứ tuyệt rất bé nhỏ nhưng
là “cái bé nhỏ nguyên tử” [86] Đó chính là đặc trưng cơ bản của
thơ tứ tuyệt trong suốt quá trình phát triển của nó cho đến hôm nay Trong lịch sử thơ ca thế giới, tứ tuyệt không chịu thua bất cứ một thể loại nào Nếu làm một phép so sánh các thể thơ dài như bát cú, trường ca, trường đoản cú, các thể từ, vãn, ngâm… thì tứ tuyệt hạn chế ở chỗ: không có đủ dung lượng để liệt kê nhiều tình tiết có tính chất kể chuyện, chi ly hay miêu tả bình luận, nhưng lại mạnh hơn nhiều lần về sự ghi nhớ, khả năng lưu truyền Thơ tứ tuyệt có lợi thế là mau thuộc, dễ nhớ, dễ đi vào lòng người với một lượng thông tin vừa đủ, đó là chỗ mạnh của thơ tứ tuyệt Thậm chí, đôi khi chỉ cần một số lượng âm tiết rất nhỏ, để phản ánh hiện thực, tứ tuyệt không hề tỏ ra thua kém những bài thơ làm theo thể loại
dài Đó là trường hợp so sánh hai câu thơ tứ tuyệt trong bài “Cú kỉ hợi tuế” của Tào Tùng:
Bằng quân mạc thoại phong hầu sựNhất tướng công thành vạn cốt khô(Phong hầu, xin chớ huyên thuyên nữa;
Một tướng công thành, vạn xác khô)
Với bài “Binh xa hành”của Đỗ Phủ, một bài thơ viết theo thể
cổ phong dài Cả hai bài thơ cũng viết về đề tài chiến tranh, bài
“Binh xa hành” là bài thơ nổi tiếng chống chiến tranh xâm lược trong
lịch sử thơ ca Trung Quốc; tuy nhiên, hai câu thơ nhỏ bé trên cũng
không hề lép vế khi đặt bên cạnh “Binh xa hành” [81].
Trang 22Do số lượng chữ bị hạn chế, nhưng để có thể đề cập được những vấn đề lớn lao của cuộc sống, tứ tuyệt không chọn cho mình con đường đi vào miêu tả những chi tiết vụn vặt của hiện thực, mà
luôn tìm đến sự khái quát hoá, nếu có miêu tả thì việc làm ấy
của tứ tuyệt cũng chỉ là cái cớ để nhà thơ đi vào bản chất bên trong của sự việc Đấy chính là đặc điểm thi pháp dễ nhận thấy nhất của thơ tứ tuyệt
Thứ hai: chính sự khái quát của tứ tuyệt đi ngược lại với số chữ hạn chế mà tứ tuyệt dung chứa, đòi hỏi tứ tuyệt dù không muốn đi vào miêu tả tỉ mỷ, tứ tuyệt cũng không thể tránh khỏi việc đề cập đến những chi tiết cụ thể Vì thế, những chi tiết cụ thể
ấy đòi hỏi phải được chọn lọc từ những cái rất điển hình, là nét tiêu biểu nhất mang tính bản chất của các sự vật mà mọi người ai
cũng có thể nhận thấy rất rõ, nhưng khi đọc lại thấy cái mới được phát hiện Đọc thơ tứ tuyệt, bên cạnh sự cảm nhận hiện thực cuộc sống như phơi bày ra trước mắt một cách rõ ràng, người đọc còn nhận thấy tứ tuyệt là nơi đựng những ý tưởng rộng lớn sâu xa gần
như vô tận Vì thế, tính chất điển hình hoá cao độ là một đặc điểm
cơ bản của thi pháp thơ tứ tuyệt.
Thứ ba: Để có thể đạt đến sự điển hình hoá cao độ, tứ tuyệt cần phải khắc phục được những hạn định ngắt nghèo về không gian, bằng cách chủ động nắm bắt thời gian, lựa chọn thời điểm một cách thích hợp nhất, đó là những thời khắc nhạy cảm, thời khắc dồn nén tâm trạng, nơi sự vật ánh lên bản chất Giúp cho người đọc nhận thức rõ hơn, sâu hơn về chính cái đang xảy ra bên trong của mình và cuộc sống quanh mình Đọc bài thơ “Khuê oán” của Vương Xương Linh:
Khuê trung thiếu phụ bất tri sầuXuân nhật ngưng trang thướng thuý lâu
Trang 23Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc Hối giao phu tế mịch phong hầu
Người thiếu phụ khuê các trong bài thơ đã bao ngày tháng bằng lòng với giấc mơ về cái “ ấn phong hầu”, nên đã để cho người chồng dẫn thân vào nơi chinh chiến, nàng quên mất đi cái hạnh phúc rất đời thường của một người phụ nữ - nàng sống vô tư (bất tri sầu) Thế rồi, một ngày xuân kia, vô tình nàng “hốt kiến” (bỗng nhìn thấy) sắc xanh của hàng dương liễu, nàng bừng tỉnh giấc và nhận ra sự bất hạnh của chính bản thân mình Cái độc đáo của bài thơ đó là khả năng thể hiện sự biến đổi tâm trạng của người phụ nữ - từ đang rất hạnh phúc trong sự chờ đợi hy vọng, bỗng biến thành thất vọng, chán trường chỉ trong một “khoảnh khắc” Thế nhưng, bài thơ vẫn hoàn toàn chinh phục người đọc bởi chính cái thời điểm được nhà thơ lựa chọn cho sự chuyển biến ấy là vô cùng hợp
lý Vây nên trong thơ tứ tuyệt, Cách lựa chọn thời điểm là một
trong những đặc điểm thi pháp quan trọng
Thứ tư: từ những đặc trưng thi pháp vừa phân tích ở trên, khi tiếp cận với những bài thơ tứ tuyệt, người đọc thường nhận thấy: tứ tuyệt vừa rất dễ hiểu mà cũng rất khó hiểu Trong một bài thơ tứ tuyệt, mỗi hình ảnh gần như làmột biểu tượng mang nhiều lớp nghĩa, cùng với những xúc cảm, những ý tưởng trong thơ tứ tuyệt dễ tạo ra những ám ảnh day dứt buộc người thưởng thức phải đào sâu, khai thác tầng tầng lớp lớp ý nghĩa ẩn sau câu chữ, sau khoảng
“dư địa” mênh mang Điều ấy là do những ẩn dụ trong thơ tứ tuyệt
luôn được dồn nén một cách cao độ Do đó, muốn hiểu được thơ tứ tuyệt cần phải hiểu hết những ẩn dụ của nó Đây là một đặc điểm thi pháp độc đáo thường gặp trong thơ tứ tuyệt Chính đặc điểm thi pháp này đã đưa tứ tuyệt đạt sự hàm súc, cô đọng- đó chính là
Trang 24vẻ đẹp của thơ ca nói chung Theo Văn Nhất Đa, nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng thời cận đại của Trung Quốc có kết luận rằng:
“Tuyệt cú là hình thức tốt nhất của thơ trữ tình” Sự cô đọng đã
biến rất nhiều những câu thơ tứ tuyệt đời Đường đã trở thành
những danh cú - thành những câu nói hàng ngày mang những chân
lý phổ quát của cuộc sống muôn thở Ví dụ khi ta đọc những câu thơ:
Tiền bất kiến cổ nhânHậu bất kiến lai giã(Nhìn phía trước không thấy người nay, Nhìn phía sau không thấy người xưa)
(Bài ca trên đài U Châu – Trần Tử Ngang)Hai câu thơ như một lời cảnh báo có giá trị nhắc nhở hậu thế
đừng bao giờ để xảy ra tình trạng hụt hẫng “khoảng không thế hệ”
Dục cùng thiên lý mụcCánh thướng nhất tằng lâu
(Vương Chí Hoán)Quốc phá sơn hà tại
(Đỗ Phủ) Hoa khai kham chiết trực tu chiếcMạc đãi vô hoa không chiết chi
(Đỗ Thu Nương) Thứ năm: để vươn tới tầm cao và chiều sâu của cuộc sống, tứ tuyệt đã dùng thủ pháp phản ánh hiện thức qua tiềm thức Đây chính là khả năng tác động vào chiều sâu tâm thức của người đọc, khắc sâu vào trí nhớ, thậm chí ám ảnh người đọc từ đời này qua đời khác Vậy nên, có không ít những câu thơ tứ tuyệt đời Đường đọc song dư âm của nó cứ vang vọng, day dứt trong tâm hồn người đọc một cái gì đó không thể lý giải một cách tường minh, nhưng
Trang 25nó cứ làm cho lòng ta rung động thảng thốt mãi không thôi Ví dụ: đọc hai câu thơ cuối trong bài “Lũng tây hành” của Trần Đào:
Khả liên vô định hà biên cốt
Do thị xuân khuê mộng lý nhân (Thương thay xương chất bờ Vô ĐịnhMà vẫn người trong mộng gối chăn)Nói về sự tàn khóc của chiến tranh và nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi của những người phụ nữ, có lẽ đây là những câu thơ được muôn vạn đời chia sẻ Bởi, nó không chỉ tác động vào các giác quan tạo ấn tượng bên ngoài, mà còn tạo ra được một sự ám ảnh không dứt Đây cũng chính là một đặc điểm thi pháp rất độc đáo của thơ tứ tuyệt
Thứ Sáu: cấu trúc của một bài thơ tứ tuyệt nếu so sánh với bài thất ngôn bát cú thì tứ tuyệt có nhiều điểm tự do hơn nhiều Tứ tuyệt chỉ cần theo đúng niêm luật mà không cần đối Quan hệ giữa các câu thơ của một bài tứ tuyệt khá lỏng lẻo Bố cục bài tứ tuyệt rất đa dạng, nó không tuân thủ nguyên tắc khai, thừa, chuyển, hợp như thể thơ bát cú Thông thường bố cục một bài tứ tuyệt là 2/2, nhưng cũng có khi là 1/1/1/1/ hay 2/1/1; 1/1/2; 1/3; 3/1
Thứ bảy: một đặc điểm thi pháp mang đặc thù trong kết cấu
của thơ tứ tuyệt là hình thức tự đối hay còn gọi là tiểu đối, tức là trong cùng một câu thơ có hai hay ba về đối nhau Đây là hình thức phổ biến nhất của tứ tuyệt Ví dụ:
Thiếu tiểu ly gia // lão đại hồi Hương âm vô cải // mấn mao tồi
( Hồi hương ngẫu thư – Hạ Tri Chương)Nguyệt lạc // ô đề // sương mãn thiên
Giang Phong // ngư hoả // đối sầu miên
( Phong Kiều dạ bạc – Trương kế)
Trang 26Với hình thức nghệ thuật này, câu thơ tứ tuyệt trở nên phức hợp: dồn nén dung lượng hiện thực được phản ánh để tăng cường quá trình phản ánh, đồng thời làm tăng cường quá trình nhận thức của nhà thơ, cũng như người đọc Đặc biệt là tăng cường các mối quan hệ làm cho tính hàm súc, đa nghĩa của tứ tuyệt có khả năng vươn tới tầm khái quát lớn lao Đây là một đặc điểm thi pháp rất đặc sắc mà không thể loại nào có được
Như vậy, chúng tôi đã đi vào tìm hiểu bảy đặc điểm trong số rất nhiều những đặc điểm thi pháp của thơ tứ tuyệt đời Đường, chừng ấy cũng đủ để chúng tôi có thể lý giải vì sao, suốt chiều dài của 300 năm thơ ca đời Đường, qua các giai đoạn từ Sơ, Thịnh, Trung, Vãn Đường rồi đến Tống, tứ tuyệt tồn tại như là một thể loại độc đáo Vây nên mãi đến ngày nay người đời vẫn lưu truyền câu: “Tuyệt cú nhất cú, nhất tuyệt”, theo nghĩa: thơ tuyệt cú mỗi
câu, mỗi hay Ông Nguyễn Thế Mỹ từng nhận xét: “Tứ tuyệt không hổ thẹn là một hạt minh châu sáng chói trong kho tàng văn hóa Trung Hoa”, với sự đóng góp không nhỏ của thơ tứ tuyệt, thi ca
đời Đường thực sự đã bước lên đỉnh cao của thi ca nhân loại Chính cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của thơ tứ tuyệt đời Đường từ lâu đã vượt khỏi ranh giới thời gian, không gian địa lí – lãnh thổ để đến với các dân tộc, trở thành tài sản chung của toàn nhân loại
1.1.5 Thơ tứ tuyệt trong nền thơ ca Việt Nam – nhìn trên góc độ khái quát:
Thơ tứ tuyệt đến Việt Nam rất sớm, cũng như các thể loại khác của thơ Đường, thơ tứ tuyệt đã có mặt ngay từ buổi đầu hình thành nền văn học thành văn ở nước ta và đã góp phần rất lớn vào sự hình thành nền móng của văn học nước nhà Thời kỳ đầu
ở Việt Nam, những bài thơ tứ tuyệt do các nhà thơ Việt Nam sáng tác cũng đã đạt đến đỉnh cao của giá trị nội dung và nghệ thuật Phan Huy Chú trong mục giới thiệu về “Giới Hiên thi tập” của
Trang 27Nguyễn Trung Ngạn đã từng ca ngợi: “Lời thơ phần nhiều hào mại, phóng khoáng, có khí phách và cốt cách Đỗ Lăng”; “ngoài ra, những câu hay rất nhiều, không kể hết Thơ tứ tuyệt lại càng hay, không kém gì thơ thịnh Đường” [14; 66] Sự đánh giá ấy đã chứng
minh rằng: người Việt Nam cũng có đủ khả năng để sử dụng xuất sắc thể loại thơ tứ tuyệt – một thể loại độc đáo được tiếp nhận từ Trung Quốc Việc ông Phan huy Chú so sánh tứ tuyệt Việt Nam với tứ tuyệt của Trung Quốc là xuất phát từ ý thức trân trọng và lòng tự hào dân tộc sâu sắc
Trong suốt mười thế kỷ nền văn học cổ điển Việt Nam ( từ thế kỷ thứ thứ X đến đầu thế kỷ XX) trải qua các nền văn học của các triều đại: Lý – Trần – Lê – Nguyễn… các nhà thơ Việt Nam
ở mọi thế hệ luôn dành cho thể loại tứ tuyệt một sự quan tâm đặc biệt, thể tài tứ tuyệt được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống tinh thần xã hội
Thời Lý – Trần, thể tài tứ tuyệt được phát triển ở Việt Nam và được sử dụng rộng rãi trên mọi lĩnh vực của cuộc sống tinh thần xã hội Tứ tuyệt thời Lý xuất hiện đậm nét với chức năng ngoài văn học Các nhà thơ sử dụng thể loại tứ tuyệt như là một phương tiện thể hiện những tư tưởng chính trị Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt do nhà sư Pháp Thuận viết để trả lời vua Lê Đại Hành khi được hỏi về vận nước là một ví dụ điển hình:
Quốc tộ như đằng lạcNam thiên lý thái bìnhVô vi cư điện các
Xư xứ cước đao binh
(Ngôi nước như mây cuốn, Trời Nam mở thái bình;
Vô tri trên điện gác, Chốn chốn tắt đao binh)
Trang 28Dùng thơ tứ tuyệt vào mục đích chính trị còn thể hiện rất rõ
ở hình thức là những lời “sấm vĩ” tuyên truyền cho triều đại nhà Lý, tạo dư luận cho Lý Công Uẩn làm vua:
Thụ căn diểu diểuMộc biểu thanh thanhHoà đao mộc lạcThập bát tử thành(Gốc cây thăm thẳm, ngọn cây xanh xanh, cây hoà đao rụng, mười tám hạt thành) Tương truyền những bài thơ tứ tuyệt này là của nhà sư Vạn Hạnh với dụng ý ghép chữ: Hoà, đao, mộc, lạc kết hợp thành chữ Lê để chỉ nhà tiền Lê; Thập, bát, tử kết hợp thành chữ Lý để chỉ sự thành lập của nhà lý khi nhà tiền Lê kết thúc
Lịch sử những cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam còn ghi nhớ một bài thơ được đọc trong hoàn cảnh chiến đấu nước sôi lửa bỏng để bảo vệ chủ quyền đất nước, có tác dụng uy hiếp quân thù, động viên tinh thần ba quân tướng sĩ lại là một bài
thơ tứ tuyệt - “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt được sử
dụng dưới hình thức một tuyên ngôn của thần thánh, đã góp phần làm nên chiến thắng và được lưu truyền mãi mãi vào sử sách như là một bản “Tuyên ngôn” đầu tiên của dân tộc Việt Nam
Ở thời kỳ này, tứ tuyệt còn là phương tiện hữu hiệu để các nhà sư thực hiện mục đích truyền đạo và ngộ đạo Để trả lời những câu hỏi của học trò các vị sư đắc đạo thường trả lời bằng những bài thơ bốn câu, sau đó tập hợp
lại thành những bài “Tứ cú kệ” có ý tứ sâu sắc Trong những bài
“tứ cú kệ” các nhà sư gửi gắm những nhận xét về triết lý bản thể được rút ra từ cuộc sống sinh động, hoặc từ thiên nhiên phong phú
Cùng với chức năng ngoài văn học, tứ tuyệt thời kỳ này
còn là phương tiện khá “đắc địa” để cho các nhà thơ là những nhà
sư bộc lộ ra những nỗi niềm sâu kín của mình, “Thị đệ tử” của nhà
Trang 29sư Vạn Hạnh; “Thiên trường vãn vọng” của Trần Nhân Tông tuy những bài thơ này được viết ra để minh họa cho tư tưởng thiền học
với cái nhìn sắc không, nhưng chúng vẫn chứa đựng những cảm xúc
sâu lắng của tâm hồn, điều ấy làm người đọc ngạc nhiên khi nhận
ra rằng: ẩn sau chiếc áo cà sa vẫn là trái tim nhạy cảm của một
nhà thơ Vì thế, Niculin đã nhận xét: “Nhiều bài kệ có nét tập trung toát lên một tâm trạng trong sáng, có dấu ấn một cách hiểu tinh tế vẻ đẹp thiên nhiên và sự suy ngẫm bản chất cõi hư vô và cõi thực” [90; 33] Như vậy, yếu tố “trữ tình thiền” đã bắt đầu hiện
hữu nhưng chưa thật sự đậm nét trong thơ tứ tuyệt thời kỳ này
Đến đời Trần, chức năng hành chức của thơ tứ tuyệt vẫn còn thể hiện rất rõ qua những bài thơ ca ngợi hào khí của cuộc chiến tranh vệ quốc chống kẻ thù xâm lược của quân dân nhà Trần với niềm tự hào sâu sắc dân tộc và những khát vọng về một đất nước thanh bình bền vững như: “Tụng giá hoàn kinh sư” của Trần Quang Khải; “Bạch Đằng Giang” của Nguyễn Xưởng; “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão… bên cạnh đó, chúng ta còn thấy thơ tứ
tuyệt thời kỳ này còn được sử dụng như một “văn bản bang giao” Bài thơ “Tống bắc sứ Ngưu Lượng” của Trần Nghệ Tông được xem
là một thông điệp ngoại giao xuất sắc Đọc bài thơ của Trần Nghệ Tông làm chúng ta nhớ tới bài từ khúc của Ngô Chân Lưu một nhà sư và cũng là một vị quan dưới triều Lê Hoàn Cả hai nhà thơ cũng đều sáng tác theo đề tài tống biệt sứ giả, nhưng tính chất
“văn bản ban giao” từng thấy trong bài từ khúc của Ngô Chân Lưu dần dần mờ nhạt để thay thế vào đó là tâm tình cảm xúc của người đi kẻ tiễn, khiến cho thơ tống biệt đời Trần có được tính chất thanh cao, tiêu sái trong thơ ly biệt Đường Tống
Vì vậy, mặc dù thơ tứ tuyệt thời Trần vẫn thể hiện chức năng hành chức ngoài văn học, nhưng đặc điểm lớn nhất của thơ tứ tuyệt thời kỳ này là in đậm dấu ấn của yếu tố trữ tình trong sáng Triều đại nhà Trần với những ông vua Trần tài hoa - vừa là nhà
Trang 30chính trị, nhà sư, lại là những thi nhân kiệt xuất đã đóng góp rất nhiều cho nền thơ ca dân tộc
Thơ tứ tuyệt giai đoạn này rất đặc sắc, đấy là nguyên nhân làm cho các nhà nghiên cứu đời sau khi giới thiệu những bài thơ hay nhất của văn học thời Trần thường chọn những bài thơ tứ tuyệt Cụ thể trong “Hợp tuyển thơ văn Lý Trần” tập III đã giới thiệu 88 bài tứ tuyệt trong tổng số 343 bài thơ Trần được trích tuyển, chiếm tỷ lệ 25% Ở “Tuyển thơ các vua Trần” số bài thơ tứ tuyệt được giới thiệu cũng chiếm tỷ lệ 60 bài trong tổng số 101 bài Đặc biệt là những bài thơ tứ tuyệt được giới thiệu đều đi kèm với lời khen đầy tự hào
Biểu hiện rất rõ của thơ tứ tuyệt thời Trần là ngày càng bộc lộ khuynh hướng ưu tiên cho sự bộc lộ cảm xúc, suy tư về những vấn đề của đời sống chính trị xã hội hay đời sống tâm linh
Vì thế, mảng thơ tứ tuyệt viết về đời sống thế tục ngày càng chiếm ưu thế Thơ tứ tuyệt ngày càng gần với cuộc sống, nên thực hơn, đẹp hơn và luôn chứa chan cảm xúc Cảm hứng của các nhà thơ thời kỳ này thật phong phú - những bức tranh thiên nhiên tươi mát, đẹp đẽ chứa đựng những tâm sự riêng tư, những tình cảm dành cho quê hương đất nước rất chân thành và đằm thắm thường xuyên có mặt ở trong thơ Ở các bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn
Trung Ngạn “Hứng muốn về”; “Đêm đậu thuyền ở bến kinh thành”… đều khắc khoải, một nỗi nhớ quê hương da diết; rồi cảm hứng thế sự đã bắt đầu xuất hiện trong thơ tứ tuyệt: bài thơ “Đề Đường Minh Hoàng dục mã đồ” của Chu Đường Anh là một điển
hình trong sáng tác của các nhà thơ thời cuối Trần Điều ấy đưa đến một hiện thực là: nếu như trước đây trong những bài thơ tứ tuyệt thường chứa đựng cái nhìn thiền học, thì giờ đây ít nhiều đã có sự chuyển biến rõ rệt Cảnh vật được miêu tả trong thơ không phải chỉ có khung cảnh nhàn nhạt hư ảo như trong “Thiên trường vãn vọng” của Trầân Nhân Tông, mà còn có cả thiên nhiên sinh động gắn
Trang 31với cuộc sống thế tục hiện hữu trong thơ Do đó, nếu so sánh những
bài “Tứ cú kệ” đời Trần với những bài “tứ cú kệ đời Lý thì kệ
đời Trần có nhiều yếu tố tiến bộ hơn kệ thời Lý ở chất trữ tình triết lý ngày càng đậm nét, thể hiện khuynh hướng gia tăng mạnh yếu tố cảm xúc, tâm trạng khiến cho nó gần với thơ ca thế tục Bằng chứng là đề tài tứ tuyệt đã mở rộng ở khắp các phạm vi của đời sống từ chiến tranh giữ nước vĩ đại của dân tộc, đến cuộc sống tu hành ẩn dật, cuộc sống nơi làng quê thôn dã đánh dấu một bước phát triển mới của thể tài tứ tuyệt trong nền văn học Việt Nam
Đến triều Lê, nền văn học bác học Việt Nam đã có một đội ngũ văn nghệ sĩ khá hùng hậu, với những tên tuổi như Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Trãi, Nguyễn Trực, Đàm Thận
Huy, Sái Thuận… Nguyễn Dữ đã nhận xét trong “Kim hoa thi thoại truyện” rằng: “Từ khi triều Lê dựng nghiệp, thi sĩ có đến hơn 300 nhà” [18; 428],
Trong sáng tác thơ ca triều Lê tuy tứ tuyệt ít được dùng hơn về số lượng so với bát cú, nhưng chất lượng không hề giảm sút Vì thế, khi lựa chọn những bài thơ hay, tứ tuyệt vẫn được tuyển chọn cao Ví dụ tập “Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông” có 207 thì 83 bài là tứ tuyệt, chiếm tỷ lệ 40% Ở thời kỳ này, thơ tứ tuyệt bắt đầu được xem là mảnh đất riêng của các thi nhân trên lĩnh vực bộc lộ tâm tư tình cảm cá nhân - một nhu cầu không kém phần quan trọng trong đời sống tinh thần xã hội Khảo sát 12 bài tứ tuyệt của Nguyễn Trãi, chúng ta thấy đều thắm đượm chất trữ tình sâu lắng Những bài tứ tuyệt thời Lê thường vẽ nên những bức tranh phong cảnh gợi nhớ không khí tĩnh mịch của cuộc sống ẩn cư, nhàn nhã với những cảm xúc đằm thắm của nhà thơ trước vẻ đẹp làng quê
Triều Lê với tinh thần phục hưng văn hóa Đại Việt, truyền thống thơ văn Lý – Trần được khôi phục Cái nhìn sắc không mà các vị thiền sư, các ông vua đời Trần ở thế kỷ trước đã thể hiện,
Trang 32nay lại tiếp tục vang vọng trong âm hưởng các bài thơ đậm chất trữ tình của thời Lê Bên cạnh đó, việc tích cực khai thác nguồn thi liệu ngôn ngữ văn học dân gian và tiếp thu những giá trị của nền thi ca Trung Quốc đã ảnh hưởng đến toàn bộ sự phát triển thơ ca nói chung và thơ tứ tuyệt nói riêng Điều đáng nói là: việc phát huy những giá trị văn hóa dân gian đã góp phần nuôi dưỡng dòng văn chương bác học bằng chữ Nôm đậm đà bản sắc dân tộc, chính là nguồn động lực cho việc cách tân thơ ca thế kỷ XV - làm biến đổi một số yếu tố chuẩn mực trong quy cách của thơ bát cú và thơ tứ tuyệt Hiện tượng xen lẫn những câu sáu chữ vào câu bảy chữ của bài bát cú, hay tứ tuyệt là hiện tượng bình thường trong thơ Đường luật thời kỳ này Bên cạnh đó, tất cả các thi liệu dân gian, mang theo cả hơi thở của cuộc sống bình dị cũng du nhập vào văn chương bác học.
Người đại biểu xuất sắc của giai đoạn này phải kể đến Nguyễn Trãi là người có công đầu trong việc đưa ngôn ngữ hội thoại dân gian thành ngôn ngữ văn học, mở ra một tiền đề cho nền văn học trong những thế kỷ sau Thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Trãi là một thế giới rất gần gũi với thiên nhiên và những gì của cuộc sống thôn dã: làng quê, cỏ cây, chim muông, hoa lá tất cả đều được miêu tả với những cảm xúc lắng đọng và tinh tế
Đến những thế kỷ từ XVI – XIX, thơ tứ tuyệt đã thật sự có những bước chuyển mình quan trọng
Cuộc nội chiến Nam Bắc triều thế kỷ XVI – XVII đã phá tan bầu không khí tĩnh lặng vốn có trong xã hội Việt Nam ở những thế kỷ trước và báo hiệu sự suy vong của nhà nước phong kiến Việt Nam sau năm thế kỷ ổn định Sự biến động lịch sử ấy đã tác động đến toàn bộ nền văn học nói chung và thơ tứ tuyệt nói riêng Chính những biến động xã hội không cho phép thơ ca tự khép kín trong thế giới tĩnh tại với những đề tài sơn, thuỷ hữu tình như trong thơ ca ở
Trang 33các thế kỷ trước Giờ đây, trong thơ in đậm dấu ấn nhận thức, phản ánh đời sống – khuynh hướng cảm khái thời thế càng được quan tâm trong bối cảnh nội chiến tàn khốc Đây chính là tiền đề làm bước chuyển cả nội dung lẫn hình của thơ ca những thế kỷ sau, trong đó có thơ tứ tuyệt
Thế kỷ XVIII – XIX , các nhà thơ đã tách ra khỏi truyền thống với các hình ảnh thi vị, để khám phá các chi tiết tương đối xác thực của cuộc sống đời thường, như nghèo khổ, đói khát, bệnh tật chùm thơ tứ tuyệt “Thôn cư thập nhị vịnh” của Cao Bá Quát là một bằng chứng cho thấy cái nhìn thi vị hóa làng quê, giờ đây được thay bằng cái nhìn trung thực; còn chùm thơ tứ tuyệt của Nguyễn Du
“Thương ngô trúc chi ca” lại là một chùm thơ mang tính “nhật ký” ghi chép những điều vụn vặt, chân thực của những sinh hoạt trong cuộc sống Như vậy, một khuynh hướng mới đã hình thành trong thơ tứ tuyệt với sự cố gắng vượt khỏi các yếu tố quy phạm, mở rộng tầm nhìn, thay đổi cảm xúc và khắc phục các yếu tố tĩnh tại bằng cách xâu chuỗi nhiều bài tứ tuyệt vào một chủ đề chung đã mở ra cho thể loại tứ tuyệt khả năng phản ánh hiện thực không thua kém các thể loại thơ dài khác Việc các nhà thơ đã chú ý đưa sự hội nhập của cuộc sống đời thường vào trong thơ, làm mở rộng các khuôn khổ quy phạm của thể loại, cùng với việc khai thác chi tiết các bức tranh đời thường và tâm trạng con người, đã đem đến cho thơ tứ tuyệt thời kỳ này một sắc màu mới
Một sự kiện nổi bật của nền thi ca Việt Nam giai đoạn này là sự có mặt trở lại của thể loại thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm, với những tên tuổi như: Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương, Nguyễn khuyến… tuy số lượng khá khiêm tốn, song nó đã tạo được những ấn tượng sâu sắc về sự hồi sinh của một hình thức thơ ca đậm tính quy phạm trước đó trong một dáng dấp mới mẻ Trong số này, người đại diện xuất sắc là nữ sĩ Hồ Xuân Hương
Trang 34Thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm của Hồ Xuân Hương, nhìn chung vẫn tuân thủ quy cách sáng tạo của thơ Đường luật, nhưng tỏ
ra thành thục hơn so với thơ tứ tuyệt chữ Nôm thế kỷ XV – XVI Bởi, đó là thời kỳ chữ Nôm mới có những thành công bước đầu trên con đường hội nhập vào văn chương bác học, nên còn nhiều bất cập, nhưng đến giai đoạn này, chữ Nôm đã có một bước tiến khá dài với nhiều thành tựu đỉnh cao, đó là điều kiện cần thiết cho những cách tân táo bạo của các nhà thơ Trong thơ tứ tuyệt chữ Nôm của Hồ Xuân Hương, bên cạnh những cách tân mới mẻ, thơ Bà còn đúc kết được cách nói, cách viết của thơ ca cổ điển truyền thống như: cách nói bỏ lửng, ngắn gọn, hàm súc tạo nên những giá trị đa nghĩa trong một phạm vi ngôn ngữ nhỏ hẹp Song điều đáng lưu ý là hệ thống đề tài trong thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương rất phong phú, bên cạnh những bài thơ cảm khái, đề vịnh về danh lam thắng cảnh, nước non, núi đèo… mang âm hưởng của thơ Nôm Đường luật thời Hồng Đức, chúng ta còn thấy những bài tứ tuyệt viết về cuộc sống, từ cuộc sống cung đình đến cuộc sống dân giã -
những cái “chúa quý, vua yêu” như “cái quạt” trong cung cấm, đến
“quả mít” sần sùi biết bao gần gũi với người bình dân cũng đều có mặt trong thơ tứ tuyệt của bà Song sự khác nhau giữa thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương với thơ Nôm tứ tuyệt thời Hồng Đức là
ở chỗ: thơ Nôm thời Hồng Đức sáng tác dựa trên tiêu chí mỹ học của thơ ca cổ điển, còn thơ Nôm Hồ Xuân Hương sáng tác dựa trên tiêu chí mỹ học và văn hóa dân gian Việt Nam Cho nên, trong thơ Nôm tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương, cái nhìn của bà là cái nhìn của một nhà thơ sống giữa lòng dân – đây là sự khác nhau rất căn bản, cũng là sự đánh dấu một dáng vẻ mới của thơ tứ tuyệt Vì vậy, mặc dù về hình thức, thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân Hương vẫn tuân thủ các quy phạm của thơ Đường Luật, nhưng với tiêu chí mỹ học mới, Bà đã đưa vào trong thơ đường luật dấu ấn của văn hóa dân gian Việt Nam Những dấu tích của nghi lễ phồn thực cổ xưa,
Trang 35những lễ hội truyền thống rồi tất cả những hình ảnh vốn luôn được miêu tả trong môi trường cao nhã cũng đều bị “kéo xuống”
dung tục hóa dưới cái nhìn của người bình dân “con ốc nhồi”, “quả mít” là những hình ảnh thôn dã quen thuộc nay lại được khoác thêm cái áo của những “hoài niệm phồn thực”; “quả cau” lại trở
thành nỗi khát khao hạnh phúc đời thường của những người lao động Thơ tứ tuyệt của Bà luôn ấm áp những khát khao đời thường, Bà chống lại những giáo lý cực đoan đè nén hạnh phúc của con người - “Kiếp tu hành” là một tiếng nói hết sức nhân văn
Có thể nói, Hồ Xuân Hương là người đã có công Việt hóa thể thơ tứ tuyệt luật Đường Thật khó mà nhận ra sự tiếp nối từ
tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm trong “Quốc âm thi tập” hay “Hồng Đức quốc âm thi tập” khi đọc những bài thơ tứ tuyệt của Hồ Xuân
Hương Bởi lẽ, trong thơ tứ tuyệt của Bà thứ ngôn ngữ mà Bà dùng không có trong thơ tứ tuyệt Nôm thế kỷ XV, đó là thứ ngôn ngữ đời thường, ít trau chuốt bóng bẩy, đậm đà chất dung dị Bà ít sử dụng từ Hán – Việt và hầu như các điển cố phổ biến trong thơ tứ tuyệt giai đoạn trước đều vắng mặt Bà đưa thành ngữ, tục ngữ,
ca dao, khẩu ngữ dân gian vào thơ làm cho thơ không kém phần hàm xúc Ngôn ngữ Hồ Xuân Hương gần với cách nói của ngôn ngữ hội hè, phố chợ; ngôn ngữ của các vai hề chèo trong văn hóa dân gian Nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ông Niculin có nhận xét
về thơ Hồ Xuân Hương: “Có vẻ như một cú đột phá vào lĩnh vực văn học nghệ thuật đỉnh cao của nền văn hóa dân gian Việt Nam”
[90; 71] Cú đột phá này có ý nghĩa như là một sự tiếp nối và mở
ra cho thơ tứ tuyệt Việt Nam thời kỳ này những yếu tố mới về nội dung và hình thức trên cái nền quy phạm của thể loại
Tiếp nối Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương và một số nhà thơ cuối thế kỷ XIX đã góp thêm vào thể loại tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm tính chất trào phúng Kế thừa lối châm biếm dân gian, ông đã đưa rất nhiều tiếng chửi thông tục vào thơ, chủ yếu là đả kích
Trang 36những tệ lậu của xã hội thực dân nửa phong kiến Do vậy, thơ tứ tuyệt của ông là những lời tố cáo, đay nghiến những cái lố lăng, cái xấu xa của xã hội Mặt khác, thơ tứ tuyệt của ông không chỉ là tiếng cười mà còn đậm chất trữ tình sâu lắng, là những giây phút trăn trở, là ý niệm về thời gian hiện tại, là nỗi lòng đau đớn trước sự băng hoại đạo đức của xã hội
Có thể thấy rằng, đến thế kỷ XIX, thể thơ tứ tuyệt đã ít nhiều có bước chuyển mình, tách rời truyền thống và những đặc điểm quy phạm của thể loại, mở đầu cho sự cách tân theo hướng hiện đại của thơ tứ tuyệt Việt Nam thế kỷ XX
Đầu thế kỷ XX, “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ” [118; 17] Ngọn
gió phương Tây đã thật sự làm biến đổi xã hội Việt Nam, một sự biến đổi có tính chất là một bước ngoặt lịch sử Nó ảnh hưởng trực tiếp đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có thơ ca Văn nghệ sĩ thời kỳ này mang nặng tư tưởng cách tân, đòi “tháo cũi sổ lồng” đối với những thể loại thơ ca cổ điển có khuôn mẫu, gò bó và thơ tứ tuyệt không phải là trường hợp ngoại lệ Song nếu
so với thể loại bát cú thì thơ tứ tuyệt ít bị biến đổi hơn nhiều Người
ta vẫn thấy sự hiện hữu của tứ tuyệt trong phong trào Thơ mới với những nhà thơ trẻ và bắt đầu nổi tiếng như Nguyễn Bính, Lưu Trọng
Lư, Thế Lữ, Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu Mặc dù số lượng tứ tuyệt rất ít, nhưng nó vẫn giữ được khả năng phản ánh hiện thực, vẫn tiếp tục dung chứa được cái yếu tố mới; tức là thể loại này không đến nỗi khuôn sáo, mà nó có một khả năng thích nghi khá bền vững với thời đại mới Về căn bản vẫn là hình thức bốn câu, những bóng dáng của cảm hứng cổ điển giờ đây đã biến mất
nhường chỗ cho một cảm hứng “Âu hóa” tràn vào trong thơ Cách
chọn chữ, đúc vần, cái quy phạm chặt chẽ của thơ ca cổ điển thiên về quy luật hình thức xưa kia đã được thay thế bằng quy luật nội tâm bên trong Tế Hanh trả lời Nguyễn Công Hoan khi được hỏi về thơ:
Trang 37“Theo tôi, thơ không theo quy luật chữ, mà theo quy luật hơi của tác giả, tức là thể thơ phải theo tiếng nói tình cảm mà tác giả muốn diễn đạt” [45; 15] Đối với thơ hình thức thơ bốn khổ, mỗi khổ thơ
bốn câu là kiểu sáng tác chủ yếu của các nhà Thơ mới Có thể liệt kê ra rất nhiều như “Tràng Giang” của Huy Cận, “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu, “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm, “Đây Thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mạc Tử… Tuy mỗi khổ thơ không được chặt chẽ như một bài thơ tứ tuyệt cổ điển, nhưng nó vẫn mang dáng dấp của một bài tứ tuyệt Như vậy, thực tế đã chứng minh rằng: thể loại tứ tuyệt cổ điển đã có thể hội nhập, thích nghi với hiện đại trong một chỉnh thể mới
Đặc biệt, các nhà thơ hiện đại của nền văn học cách mạng vẫn tiếp tục chú ý sử dụng thể loại tứ tuyệt vào việc phản ánh hiện thực của cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược Trong nền văn học cách mạng, bên cạnh những bài tứ tuyệt mang sắc màu hiện đại lại có không ít những bài thơ tứ tuyệt vẫn giữ được khuôn mẫu nghiêm ngặt của thể loại tứ tuyệt truyền thống Điều ấy làm nên sự đa dạng của thể loại tứ tuyệt Thế kỷ XX, các nhà thơ hiện đại sáng tác theo tứ tuyệt rất nhiều nhưng điển hình nhất cả về số lượng lẫn chất lượng phải kể đến là hai nhà thơ tiêu biểu đó là Hồ Chí Minh và Chế Lan Viên
Nhìn lại một cách khái quát về sự có mặt của thể loại thơ tứ tuyệt trong nền văn hoá Việt Nam từ cổ điển đến hiện đại, chúng tôi thấy rằng: Thơ tứ tuyệt có một vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt là do sự độc đáo riêng có của thể loại tứ tuyệt có thể nói tứ tuyệt là hình thức tốt nhất để con người có thể gửi vào trong đó những tình cảm sâu kín nhất Chính vì thế, trải qua bao biến đổi không ngừng của lịch sử, tứ tuyệt vẫn tồn tại như một giá trị văn hoá tinh thần không thể thiếu của người Việt Nam
Trang 381.2 THƠ TỨ TUYỆT CỦA HỒ CHÍ MINH.
1.2.1 Đặc điểm hành chức của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh:
Nói đến sức sống của thể thơ tứ tuyệt trong văn học Việt nam
ở thế kỷ XX, chúng ta không thể không kể đến một hiện tượng đặc biệt của nền văn học, đó là sự xuất hiện nhiều bài thơ tứ tuyệt trong sự nghiệp sáng tác của lãnh tụ Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là nhà thơ cách mạng – đúng hơn là vì cách mạng mà Người làm thơ Hiện thực lớn lao của thời đại cách mạng vô sản đã đi vào trong thơ Người một cách phong phú và sinh động Trong thơ tứ tuyệt của Người gần như không thiếu bất cứ điều gì của cuộc sống con người và thời đại Chúng tôi đi vào khảo sát
198 bài thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh sáng tác ở những thời điểm khác nhau và nhận thấy: so với thơ tứ tuyệt truyền thống thì chức năng hành chức của thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh vô cùng phong phú và đa dạng như:
1 Thơ tứ tuyệt tự sự – nói đúng hơn là tứ tuyệt phóng sự với cái nhìn chuẩn xác của một nhà báo - điển hình là những bài tứ tuyệt tươi ròng những tin tức nóng bỏng về tình hình thời sự trong nước và ngoài nước Ví dụ: ở ngay dưới tiêu đề bài “Việt hữu tao động ” (Việt Nam có báo động) ta thấy có liền một hàng chữ nhỏ
với nội dung: “tin xích đạo trên báo Ung Ninh 14-11” rất giống một
hàng tít thường được đăng tải trên trang nhất của một tờ báo nhằm gây sự chú ý của độc giả; ở bài “Song thập nhất” (Ngày 11 tháng 11) cả ba bài tứ tuyệt đều chứa đựng một cái nhìn sắc sảo của một nhãn quan chính trị nhạy bén của một vị lãnh tụ cách mạng, chỉ có bốn câu thơ nhỏ bé, Hồ Chí Minh như vạch ra cả một đường lối chiến lược cách mạng trong bối cảnh lịch sử lúc ấy:
Kháng Nhật tinh kỳ mãn Á châuTinh kỳ đại tiểu hữu sai thù;
Tinh kỳ đại đích cố tu hữu,Tiểu đích tinh kỳ bất khả vô
Trang 39(Cờ kháng Nhật dậy khắp châu ÁCờ lớn, cờ nhỏ có khác nhauCờ lớn cố nhiên là phải cóNhưng cờ nhỏ cũng không thể không có)
(Song thập nhật - III) Bài “Anh phỏng Hoa đoàn” (đoàn đại biểu Anh sang thăm Trung Hoa)
Mỹ đoàn khứ liễu Anh đoàn đáoĐáo xứ hân phùng nhiệt liệt tình;
Ngã dã “phỏng Hoa đoàn” nhất bộ,Khước tao đặc chủng đích hoan nghênh
(Đoàn Mỹ đi khỏi, đoàn Anh tớiĐến đâu cũng được tiếp đón nhiệt tình
Ta cũng là một “Đoàn đi thăm Trung Hoa”,Lại gặp một kiểu hoan nghênh đặc biệt)
(Đoàn đại biểu Anh sang thăm Trung Hoa)cũng chỉ mấy câu thơ tứ tuyệt nhỏ gọn, nhưng người đọc gần như đã hình dung được tính chất phức tạp bối cảnh thế giới trong giai đoạn này
Chức năng tự sự của thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh còn thể hiện
ở những thông tin thời sự rất “văn xuôi” – đời thường đại loại như những tình tiết: mới đến nhà lao phải nộp tiền theo lệ thường là 50 đồng – bài “Nhập lung tiền” (tiền vào nhà giam); hay trong tù, mỗi người đều có một hoả lò lớn, nhỏ, để thổi cơm, đun trà, nấu thức ăn – bài “Ngục trung sinh hoạt” (Sinh hoạt trong tù); hoặc ở bài
“Đăng quang phí” (Tiền đèn) - vào tù phải nộp khoản tiền đèn, tiền Quảng tây mỗi người 6 đồng; còn ở bài “Công kim” (tiền công): thổi một nồi nước phải sáu hào, một chậu nước sôi một đồng bạc; rồi một đồng mua hàng chỉ đáng sáu hào … đọc những bài thơ tứ tuyệt vừa kể trên, người đọc như thật sự được nghe một bản báo cáo tổng kết hết sức chi tiết về những việc từ lớn đến nhỏ trong
Trang 40nhà tù Quốc dân đảng thời ấy.
2 Thơ tứ tuyệt được dùng vào việc tuyên truyền vận động quần chúng tham gia cách mạng Chủ yếu là những bài thơ tứ tuyệt được Hồ Chí Minh viết bằng Quốc ngữ với mục đích kêu gọi thuyết phục quần chúng nhân dân lao động, nên những bài thơ tứ tuyệt này giống với bài hùng biện trước đám đông, tính chất tự sự – khẩu ngữ rất đậm nét Đó là trường hợp của các bài:
Bài “Thơ đề tranh cổ động báo Việt Nam độc lập”
Việt Nam độc lập thổi kèn loaKêu gọi dân ta trẻ lẫn giàĐoàn kết vững bền như khối sắtĐể cùng nhau cứu nước Nam ta Bài “Bấy lâu mơ ngủ mãi không thôi”
Bấy lâu mơ ngủ mãi chưa thôi!
Cách mạng ồn ào khắp mọi nơiNày trống văn minh khua dậy đấtKìa chuông độc lập gõ vang giời
Bài: “Đã làm cách mạng chớ lôi thôi”
Đã làm cách mạng chớ lôi thôiCách mệnh thì ta cách tới nơiTrước phải dành quyền cho cả nướcSau ra cách mạng cả bầu giời
( Hai bài Bấy lâu mơ ngủ mãi không thôi và bài Đã làm cách mạng chớ lôi thôi đều được đăng trên báo thanh niên số ra ngày 10
tháng 10 năm 1926)
Điều rất độc đáo ở Hồ Chí Minh là Người đã đem vào cho thể loại tứ tuyệt một vẻ đẹp của sự kết hợp hài hòa giữa chính trị và thơ ca Vì vậy nhiều khi một bài thơ tứ tuyệt có chức năng là một bài văn chính luận :
Ruộng rẫy là chiến trườngCuốc cày là vũ khí,