1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự thực tiễn tại tp hồ chí minh ho chi minh

109 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 907,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước đã giao thêm trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định khác về phá sản, kinh tế, hành chính và của Trọng tài nước ngoài… Như vậy, trên thực tế, bản án, quyết định dân

Trang 1

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC BỘ MÁY CƠ QUAN

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Chính Học viên: Trần Thị Bích Thủy

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2006

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tổ chức bộ máy cơ quan thi

hành án dân sự 1

1.1 Khái niệm thi hành án dân sự 1

1.1.1 Khái niệm thi hành án 1

1.1.2 Khái niệm thi hành án dân sự 3

1.2 Cơ quan thi hành án dân sự 13

1.2.1 Vị trí 13

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ 15

1.2.3 Bản chất 16

1.3 Sự hình thành và phát triển cơ quan thi hành án dân sự 16

1.3.1 Giai đoạn trước năm 1993 16

1.3.2 Giai đoạn 1993 – 2003 19

1.3.3 Giai đoạn 2004 đến nay 22

1.3.3.1 Cơ quan thi hành án dân sự 22

1.3.3.2 Cơ quan quản lý thi hành án dân sự 25

1.3.3.3 Cán bộ công chức cơ quan thi hành án dân sự 28

1.3.4 Vài nét về sự hình thành và phát triển cơ quan thi hành án dân sự Tp.Hồ Chí Minh về mặt tổ chức 31

Chương 2: Thực trạng tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự 33

2.1 Thực trạng về tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự 33

Trang 3

2.1.1 Thực trạng về cơ quan thi hành án dân sự 33

2.1.2 Thực trạng về cơ quan quản lý thi hành án dân sự 42

2.2 Thực trạng mối quan hệ cơ quan THADS và các cơ quan hữu quan 50

2.2.1 Cơ quan THA và cơ quan quản lý THA 50

2.2.2 Quan hệ với Ủy ban nhân dân các cấp 52

2.2.3 Quan hệ với Ban chỉ đạo thi hành án 54

2.2.4 Quan hệ với cơ quan tiến hành tố tụng 56

2.2.5 Quan hệ với Cảnh sát hỗ trợ tư pháp 58

2.3 Thực trạng về Chấp hành viên, cán bộ làm công tác thi hành án 62

Chương3: Phương hướng đổi mới bộ máy cơ quan thi hành án dân sự 67

3.1 Ý nghĩa của việc đổi mới tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự 67

3.2 Xác định rõ vị trí, chức năng của cơ quan THADS 69

3.3 Hoàn thiện tổ chức cơ quan THADS 70

3.3.1 Nhu cầu biên chế 70

3.3.2 Các đơn vị trực thuộc THADS cấp tỉnh 72

3.3.3 Thành lập cơ quan THADS khu vực 76

3.3.4 Cán bộ công chức 78

3.4 Hoàn thiện cơ chế quản lý THADS 81

3.4.1 Phân cấp quản lý THADS cho UBND 82

3.4.2 Thống nhất hoạt động THADS 83

3.5 Đề cao cơ chế phối hợp trong THADS 85

3.6 Xã hội hóa một số nội dung hoạt động THADS 87

Kết luận

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Thi hành án dân sự là hoạt động quan trọng của nhà nước nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên cơ sở thi hành những bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án Trong những năm qua, hoạt động này đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ pháp chế của nhà nước, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nhà nước và công dân Tuy nhiên trong thực tiễn thi hành, tổ chức cơ quan thi hành án dân sự còn bộc lộ những bất cập cần được khắc phục, đổi mới trước yêu cầu của cơng cuộc cải cách hành chính, cải cách

tư pháp hiện nay Đây là chủ trương quan trọng và nhất quán của Đảng và Nhà nước đã đề ra trước xu thế hội nhập quốc tế và khu vực

Quan tâm đến hoạt động thi hành án dân sự, một số bài báo và tạp chí chuyên ngành đề cập đến công tác này nhưng nhìn chung chúng mới chỉ dừng lại ở mức độ khai thác một khía cạnh, một góc độ nhất định về thi hành án dân sự Ở mức độ cao hơn, những công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ,

luận án tiến sĩ mà tác giả được tham khảo như: chuyên đề “Xã hội hóa hoạt động THADS Một số vần đề lý luận và thực tiễn” của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý; đề tài cấp nhà nước “Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án Việt Nam” do ông Nguyễn Đình Lộc thực hiện; luận án tiến sĩ “Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” của tác giả Trần Huy Liệu… cũng khai thác ở dạng

tương tự Nhìn chung, các bài viết này chưa đi sâu vào tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự; hoặc nếu có chỉ là một mảng nhỏ trong đề tài; hoặc theo hướng đề cập cả thi hành án dân sự và hình sự trong bài viết Chính vì

thế, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Đổi mới tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự” làm luận văn thạc sĩ với mong muốn đóng góp phần nào

của mình trong luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới tổ chức cơ quan thi hành án ngày càng gọn nhẹ, hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn

Trang 5

Trên cơ sở sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh, thống kê số liệu theo trình tự thời gian kết hợp với phương pháp khoa học duy vật biện chứng, tác giả phân tích luận văn từ mức độ khái quát chung đến từng vấn đề cụ thể có phân tích, đánh giá và tổng hợp Nhưng do hạn chế trong khâu tìm số liệu nên tác giả chỉ giới hạn đề tài từ thực tiễn tại Tp Hồ Chí Minh Luận văn được xây dựng gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự

Chương 2: Thực trạng về tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự

Chương 3: Phương hướng đổi mới tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án dân sự

Cũng là người đang công tác trong ngành thi hành án dân sự, muốn góp tiếng nói của mình trong công tác ở một mức độ nhất định góp phần khắc phục những thiếu sót, hạn chế của pháp luật hiện hành cũng như trong thực tiễn thi hành hiện nay Mong nhận được sự đóng góp chân thành của Quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp để tác giả có thể hoàn thiện luận văn của mình tốt hơn và có kiến thức vững vàng hơn trong công việc

Trân trọng

Tp Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2006

Trang 6

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ

MÁY

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm thi hành án

Thi hành án cho đến nay vẫn cịn nhiều vấn đề đặt ra cần phải được nghiên cứu một cách tồn diện Mặc dù gần đây cĩ những đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này nhưng nhìn chung các đề tài đĩ mới chỉ đặt ra và giải quyết một số khía cạnh của vấn đề thi hành án (THA) ở một mức độ nhất định Về mặt

lý luận, hiện vẫn cịn nhiều vướng mắc chưa được giải quyết

 Thuật ngữ “thi hành án”

Cụm từ ghép “thi hành án” thường được dùng chung với các từ khác như: lĩnh vực THA, giai đoạn THA, đặc điểm THA, hoạt động THA Nếu hiểu các nhĩm từ lĩnh vực, giai đoạn, hoạt động như là khái niệm “thi hành án” thì chưa đúng Bởi vì các cụm từ đĩ cĩ nghĩa khơng giống nhau nên khi ghép với cụm từ

“thi hành án” cũng mang ý nghĩa khác nhau Mặt khác, nếu sử dụng nhĩm từ đĩ với các từ khác như: bản chất, chức năng, đặc điểm… thì sự sai lệch càng tăng thêm Điều đĩ thể hiện ở chỗ những từ cơng tác, hoạt động, bản chất khơng cịn

ý nghĩa ban đầu mà chỉ thấy nổi rõ nghĩa của cụm từ “thi hành án” Thơng thường, khái niệm thường được diễn đạt bằng danh từ hay cụm từ, trong đĩ danh

từ hay cụm từ là từ loại cịn tính từ chỉ kết hợp để hình thành khái niệm nhánh trong trong từ loại đĩ [16]

Ví dụ, khái niệm quản lý nhà nước là sự tác động liên tục, cĩ tổ chức, cĩ định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý [23]

Do đĩ, để đảm bảo tính chặt chẽ của các khái niệm khoa học cĩ liên quan đến THA thì “thi hành án” cần được sử dụng như khái niệm độc lập [16]

, cĩ những khái niệm chỉ loại hình THA như THA hình sự, THA dân sự (THADS), THA hành chính Từ đĩ chúng ta mới cĩ cách hiểu, cách nhìn nhận các vấn đề

cơ bản của THA như bản chất, chức năng, đặc trưng ở những mức độ chung và

cụ thể theo từng loại hình và những cụm từ như cơng tác THA, hoạt động THA, lĩnh vực THA sẽ được sử dụng theo đúng nghĩa của chúng

Trang 7

Thi hành án (nói chung) trước năm 1993 vẫn do Tòa án nhân dân

(TAND) các cấp thực hiện được xem là giai đoạn tố tụng vì: “Có xét xử thì phải có THA, thi hành án dựa trên cơ sở của công tác xét xử Xét xử và THA là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự” [2] Mỗi loại hình THA có những đặc trưng riêng, chẳng hạn THA hình sự thể hiện tính quyền lực nhà nước; còn THADS đặc trưng nổi bật là quyền tự định đoạt, tự

do thỏa thuận của đương sự Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định tính chất của mỗi loại hình THA

 Thi hành án hình sự

Hoạt động THA hình sự có đặc thù riêng, thông qua những thủ tục chặt chẽ, theo một trình tự nhất định Mặc dù việc THA kết thúc nhưng các cơ quan chức năng vẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục theo dõi các bị cáo đã mãn hạn tù hay chưa để làm thủ tục xóa án do Chánh án TAND quyết định

Theo PGS.TS Trần Đình Nhã, hoạt động này vẫn do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nên THA hình sự là một giai đoạn của tố tụng [29] bởi vì nếu tách hoạt động này ra thì mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng sẽ không thực hiện được Bản án của Tòa án mới chỉ dừng lại ở việc phán quyết một người có tội hay vô tội trên văn bản, giấy tờ Muốn nó được thực hiện trên thực tế, cần phải có giai đoạn THA, phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của hoạt động THA Vì vậy, THA hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử [29], là hoạt động gắn liền với quá trình xét xử

Theo ông Nguyễn Công Bình, THA hình sự là một giai đoạn tố tụng [29], bởi vì:

- Hoạt động THA gắn liền với quá trình xét xử, tiếp theo sau quá trình xét xử nhằm đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thi hành

- Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác với bản chất của hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý

Trang 8

Mặt khác trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003, phần THA được dành phần thứ năm (gồm 3 Chương) để quy định những nguyên tắc, thủ tục chung và một số hình phạt cụ thể Mặc dù tại Điều 33 của Bộ luật không xác định cơ quan THA hình sự là cơ quan tiến hành tố tụng cũng như không xác định những người có thẩm quyền trong cơ quan THA là người tiến hành tố tụng nhưng trên thực tế sự tranh luận về tính chất của hoạt động này là giai đoạn tố tụng hay Hành chính - Tư pháp không đáng kể Hiện nay, vẫn xem THA hình sự là giai đoạn tố tụng vì hoạt động này vẫn do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện thông qua việc ra quyết định THA của Chánh án Tòa án

Như vậy, thi hành án hình sự là giai đoạn tố tụng cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm thực hiện phán quyết của Tòa án trên thực tế

 Thi hành án dân sự

Hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau do hoạt động THADS đã được chuyển giao sang các cơ quan thuộc Chính phủ quản lý Có quan điểm cho rằng: THADS là giai đoạn tố tụng; quan điểm khác cho rằng THADS là hoạt động Hành chính - Tư pháp?

Để trả lời cho câu hỏi này, cần có sự xem xét toàn diện quy định của pháp luật cũng như quan điểm chỉ đạo, đường lối của Đảng và Nhà nước thông qua các Nghị quyết về hoạt động THADS phù hợp với vị trí, tính chất, chức năng chủ yếu của hoạt động này

1.1.2 Khái niệm thi hành án dân sự

 Là giai đoạn tố tụng

Việc điều tra, hòa giải, xét xử vụ án mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự Ở các giai đoạn này, Tòa án mới chỉ quyết định giải quyết về nội dung vụ án, mới xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên Các quyết định của Tòa án muốn được trở thành hiện thực trong cuộc sống phải thông qua hoạt động THA Tổng hợp các hành vi pháp lý thực hiện các quyết định của Tòa án trong bản án, quyết định được đưa ra thi hành

Trang 9

thành một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng dân sự Giai đoạn này được gọi là giai đoạn THA [24]

Là một khâu kế tiếp của quá trình tố tụng dân sự, THADS là một giai đoạn nằm trong quá trình giải quyết vụ án, theo đó giai đoạn trước của giai đoạn xét xử là giai đoạn chuẩn bị xét xử, còn THADS là giai đoạn hậu xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết của Tòa án [16], giai đoạn kết thúc quá trình tố tụng dân sự Ở giai đoạn này, các hành vi của cơ quan THA, những người tham gia vào quá trình THA chỉ nhằm thực hiện các quyết định của Tòa án trong bản án và được thực hiện theo những nguyên tắc do pháp luật quy định

Mặt khác, hoạt động THADS mang dấu hiệu đặc trưng của tố tụng dân sự là quyền tự định đoạt của đương sự, các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thanh toán không trái pháp luật Không giống như phương pháp được sử dụng trong THA hình sự hay hoạt động quản lý hành chính mang tính quyền lực, mệnh lệnh, phục tùng Chính

vì thế, các quyết định THA có thể đình chỉ theo sự thỏa thuận của các bên hoặc được hoãn, tạm đình chỉ

Ngoài ra, một hoạt động mang tính tố tụng không phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động đó do cơ quan nào thực hiện (cơ quan hành pháp hay cơ quan

tư pháp) vì theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, ở nước ta có 3 quyền là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp nhưng không có sự phân chia rạch ròi giữa 3 quyền này Có chăng chỉ là sự phân công, phối hợp để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao mà thôi Mặc dù, hoạt động THADS do cơ quan thuộc Chính phủ quản lý nhưng vẫn được xem là giai đoạn cuối cùng của tố tụng dân sự [17] và được quy định trong pháp luật thực định

Vì thế, Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 (có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2005) cũng dành 2 Chương, 9 Điều để

Trang 10

quy định về THADS Ngoài ra theo Điều 1 của Bộ luật thì: Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án dân sự, việc dân sự tại Tòa án; thi hành án dân sự

Cùng quan điểm này, theo thạc sĩ Nguyễn Hoài Phương trong tập bài giảng Luật tố tụng dân sự Việt Nam cho rằng: “THADS là một giai đoạn độc lập trong tố tụng dân sự trong đó các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự”

Như vậy, theo quan điểm này THADS là một giai đoạn tố tụng nhằm làm cho phán quyết của Tòa án có hiệu lực trên thực tế

 Là hoạt động Hành chính - Tư pháp

THADS khơng phải là một hoạt động tố tụng, khơng phải là một hoạt động

để xác lập bản chất của vụ án, của vụ việc Hoạt động chứng minh tranh chấp đúng pháp luật hay khơng đúng pháp luật là hoạt động của cơ quan xét xử Cịn bản án đã cĩ hiệu lực pháp luật thì cơ quan THA cĩ trách nhiệm phải tơn trọng và nghiêm chỉnh thi hành, những người liên quan phải thực hiện theo đúng quy định của Tịa án đã tuyên Trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện nay, các quy định về cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng, khơng nĩi đến cơ quan THA là

cơ quan tố tụng và Chấp hành viên (CHV) cũng khơng được xem là người tiến

hành tố tụng

Quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm dứt khi Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà nước và đã xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Còn việc thi hành phán quyết của Tòa án là một giai đoạn khác, không phụ thuộc vào quá trình tố tụng [16,17]

Theo GS TS Lê Minh Tâm, hoạt động THADS không phải là giai đoạn tố tụng bởi vì nó có tính chất khác với tố tụng, có mục đích khác với mục đích tố tụng: tố tụng là đi tìm sự thật các vụ việc đã diễn ra trên thực tế và giải

Trang 11

quyết theo quy định của pháp luật Trong khi đó THADS là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thi hành các bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Năm (05) đặc điểm của giai đoạn tố tụng:

+ Mối quan hệ của các giai đoạn

+ Tính chế ước (giai đoạn sau có quyền chế ước giai đoạn trước)

+ Nhiệm vụ của mỗi giai đoạn độc lập

+ Là giải quyết sự kiện pháp lý nên còn tranh cãi

+ Được quy định trong luật tố tụng

Theo thạc sĩ Nguyễn Thanh Thủy, tính chất tố tụng trong THADS chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tính Hành chính - Tư pháp [29] Khi thực hiện THA, tính chấp hành được đề cao, có ý nghĩa chủ đạo và có tính chất như thủ tục thi hành chứ không mang tính tố tụng như trong thủ tục xét xử

Tính chất hành chính của hoạt động THADS được thể hiện ở chỗ THADS là hoạt động thi hành hay thực thi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực Đó mới là: “điều kiện cần” và “điều kiện đủ” chính là nguyên tắc, cách thức, thủ tục về THA [17] Hoạt động chấp hành buộc người phải THA chấp hành những quyết định mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; nếu không sẽ áp dụng biện pháp mệnh lệnh bắt buộc, cưỡng chế

Mặt khác, chủ thể thực hiện hoạt động này là các cơ quan thuộc Chính

phủ nên THADS là hoạt động thực thi pháp luật Theo quy định của pháp luật, hoạt động Hành chính - Tư pháp gồm có: công chứng, hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp Tuy nhiên, với chức năng, nhiệm vụ đặc thù về THA thì có

thể gọi THADS là hoạt động thực thi pháp luật, không phải là nhiệm vụ hành

chính đơn thuần

Tính chất tư pháp của hoạt động THADS thể hiện ở chỗ đây là hoạt động bảo vệ pháp luật, đảm bảo cho quyền, lợi ích của công dân, Nhà nước được thực hiện trên thực tế và do cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện Bản án,

Trang 12

quyết định của Tòa án có hiệu lực là cơ sở để thi hành, trong khuôn khổ pháp luật quy định Một quyết định THA vượt ra ngoài bản án là quyết định vi phạm pháp luật

Đề tài cấp nhà nước: “Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án Việt Nam” do ông Nguyễn Đình Lộc thực hiện vào tháng 04/2005 cho rằng: cần hiểu thống nhất THADS là hoạt động Hành chính - Tư pháp chứ khơng phải là một giai đoạn của tố tụng tư pháp

Cĩ thể thấy rằng, các quan điểm nêu trên đều cĩ những cơ sở riêng và yếu tố hợp lý nhất định Tuy nhiên, nếu quá tách bạch, quy THADS về một trong những hoạt động thuần túy như đã nêu trên thì sẽ vấp phải những mâu thuẫn khơng thể lý giải được [17]

Ví dụ: Nếu cho rằng THADS là hoạt động hành chính thì lý giải như thế nào về thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát trong THA? Tại sao việc xâm phạm hoạt động THA lại bị xem là tội xâm phạm hoạt động tư pháp? (Điều 292

Bộ luật hình sự)

Hoặc nếu đặc trưng phổ biến của hoạt động hành chính là phương pháp phục tùng, mệnh lệnh thì trong THADS nguyên tắc tự định đoạt, tự thỏa thuận của đương sự mới là yếu tố đặc trưng Nếu cho rằng hoạt động THADS là hoạt động Hành chính -Tư pháp vì hoạt động này do cơ quan thuộc Bộ Tư pháp thực hiện là cơ quan hành chính thì đĩ là một sự nhầm lẫn bởi vì bản chất hoạt động

đĩ như thế nào khơng phụ thuộc vào chủ thể thực hiện

Nếu cho rằng hoạt động tố tụng sẽ kết thúc khi Tịa án ra phán quyết nhưng liệu khơng cĩ hoạt động THA thì phán quyết đĩ cĩ được hiện thực hĩa hay khơng?

Nhìn chung, giữa hoạt động hành chính và hoạt động THADS có những đặc trưng riêng cần được phân biệt để làm sáng tỏ bản chất của hoạt động THADS trên cơ sở so sánh giữa 2 hoạt động này

Trang 13

Đặc trưng hoạt động hành chính

- Là hoạt động chấp hành, điều hành

- Hoạt động của công chức chỉ mang tính

tư vấn, chưa tạo ra nghĩa vụ pháp lý

- Cơ quan cấp trên có thể ra lệnh cho cơ

quan cấp dưới

- Phương pháp mệnh lệnh, quyền uy, phục

tùng

Đặc trưng hoạt động THADS

- Bản án của Tòa án là cơ sở để thi hành

- CHV thực hiện nhiệm vụ theo quy định pháp luật, tạo ra nghĩa vụ pháp lý

- Hoạt động này mang tính độc lập tương đối

- Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự

Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, cơ quan THADS và CHV phải thi hành theo đúng bản án, quyết định của Tòa án chứ không thể dựa vào mệnh lệnh hành chính hay chỉ đạo hành chính của các cơ quan hành chính cấp trên

Vì vậy, các cơ quan THA cấp trên cũng không có quyền yêu cầu cơ quan THA phải tạm dừng việc THA khi không có cơ sở pháp lý theo quy định của pháp luật Những trường hợp hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA là tuân theo cơ sở pháp lý và theo trình tự pháp luật quy định chứ không phải tuân theo bất cứ một mệnh lệnh hành chính nào

Theo quy định của Pháp lệnh THADS năm 2004 (sau đây gọi là Pháp lệnh 2004) và những văn bản pháp luật liên quan trong hoạt động THADS thì chỉ có CHV là người được nhà nước giao trách nhiệm tổ chức THADS Khi thi hành nhiệm vụ, CHV chỉ tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật, buộc người phải THA, người được THA phải nghiêm chỉnh thi hành Điều đó cho thấy hoạt động THADS của CHV mang tính độc lập Chỉ có tính độc lập tương đối thì các bản án, quyết định của Tòa án mới đảm bảo nguyên tắc hiến định: “Các bản án, quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh thi hành”

Trang 14

Trong THADS, các đương sự cĩ quyền thỏa thuận với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức THA Cơ quan THA phải tơn trọng sự thỏa thuận của

họ, chỉ khi họ khơng tự nguyện thi hành đúng nội dung thỏa thuận thì cơ quan THA mới thi hành theo nội dung bản án, quyết định Ngồi ra, trong hoạt động THA phụ thuộc rất nhiều vào các bên THA nhất là bên được THA vì trong bất

kỳ giai đoạn nào nếu bên được THA tự nguyện khơng yêu cầu THA thì hoạt động THA cĩ thể bị đình chỉ

Nhìn chung, các ý kiến cho rằng THADS là giai đoạn tố tụng hay hoạt động Hành chính - Tư pháp mới chỉ dừng lại ở một mức độ nhất định, chưa đủ

cơ sở thuyết phục vì chưa xem xét khái niệm THADS một cách tổng thể trên cở sở pháp luật thực định Để đưa ra một khái niệm THADS cần được đặt trong mối quan hệ với các văn bản pháp luật về THADS

Theo nghĩa hẹp, THADS chỉ thi hành những vụ việc liên quan đến tài sản và nhân thân phi tài sản phát sinh trong giao lưu dân sự Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh THADS năm 1993 (sau đây gọi là Pháp lệnh 1993), những bản án, quyết định dân sự của Tòa án bao gồm: bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự và bản án, quyết định khác do pháp luật quy định

Có thể nhận thấy theo Pháp lệnh 1993, bản án, quyết định dân sự được quy định ở nghĩa hẹp (hợp đồng dân sự, hôn nhân gia đình và một số loại án khác có tính chất dân sự) Sau khi Pháp lệnh 1993 ra đời, nhiều văn bản pháp luật khác đã được ban hành Đó là Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Trọng tài nước ngoài; Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động, hành chính, kinh tế… và thành lập các Tòa chuyên trách Nhà nước đã giao thêm trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định khác về phá sản, kinh tế, hành chính và của Trọng tài nước ngoài… Như vậy, trên thực tế, bản án, quyết định dân sự theo Pháp lệnh

1993 đã được mở rộng hơn rất nhiều

Trang 15

Theo nghĩa rộng, THADS theo Điều 2 Pháp lệnh 2004 là hoạt động thi hành những bản án, quyết định về dân sự, kinh tế, lao động, hành chính liên quan đến phần tài sản, phần dân sự trong bản án hình sự được thi hành gồm:

 Những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật:

- Bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

- Bản án, quyết định phúc thẩm

- Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm

- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành

 Những bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực nhưng được thi hành

ngay:

- Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, nhận người lao động trở lại làm việc

- Quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án

So với Pháp lệnh 1993, Pháp lệnh 2004 đã bổ sung những bản án, quyết định mới của hoạt động THADS, đó là:

- Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

- Quyết định tuyên bố phá sản;

- Quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam;

- Quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính

Ngoài ra, phần tài sản trong bản án, quyết định hình sự theo Pháp lệnh

2004 được quy định rõ ràng, cụ thể hơn so với trước đây, gồm: quyết định về

Trang 16

dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của Tòa án về hình sự Như vậy, đối tượng, phạm vi của hoạt động THADS đã được mở rộng rất nhiều, khơng chỉ dừng lại trong phạm vi hẹp của nghĩa dân sự, mà ở đây bao gồm cả vấn đề án kinh tế, án lao động, án phá sản, án hành chính phần tài sản và ngay cả phần dân sự của án hình sự cũng thuộc hoạt động THADS Điều đó cũng đồng nghĩa với khối lượng công việc mà cơ quan THADS phải thi hành ngày càng nhiều

 Là hoạt động tư pháp

Từ năm 1945 đến năm 1993, cơng tác THADS do Tòa án thực hiện và từ 01/07/1993 đến nay, cơng tác THADS được chuyển sang các cơ quan thuộc Chính phủ Dù do Tòa án hay Chính phủ đảm nhiệm thì cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động của các cơ quan THADS vẫn phải đáp ứng được yêu cầu đặt ra hàng đầu là: bảo đảm cho các bản án, quyết định đã cĩ hiệu lực pháp luật của Tòa án được tơn trọng và thi hành nghiêm chỉnh, đầy đủ và kịp thời

Căn cứ theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành thì THADS là hoạt động tư pháp Đặc tính này thể hiện ở những cơ sở sau:

Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm cơng tác tư pháp trong thời gian tới đề ra chủ trương tiếp tục cải cách, đổi mới tổ chức hoạt động các cơ quan tư pháp, đã nhấn mạnh:

“Thành lập cảnh sát tư pháp trên cơ sở tổ chức và lực lượng hiện có ở ngành Công an để hỗ trợ trong công tác THA hình sự, dân sự…, khẩn trương ban hành Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sư,ï Luật thi hành án… làm

cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan tư pháp”

Ngoài ra, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng nêu: “Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác THA Từng bước thực hiện việc xã hội hóa, giao cho tổ chức không phải là cơ

Trang 17

quan Nhà nước thực hiện một số công việc THA… Xây dựng lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp chính quy, đáp ứng kịp thời cho hoạt động xét xử, THA…”

Theo khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được nêu tại Điều

292 Bộ luật hình sự năm 1999 thì: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và THA trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” Quan trọng hơn là Điều 137 Hiến pháp

1992 sửa đổi quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất…”

Theo khoản 5 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2002 quy định:

“Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của TAND” Ngoài ra, Chương V quy định về kiểm sát việc THA

Mặt khác, nguyên tắc, thủ tục cơ bản trong THADS được Bộ luật tố tụng dân sự quy định tại Điều 1 và 9 Điều tại phần thứ bảy của Bộ luật

Bên cạnh đĩ, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta thì Nhà nước cĩ ba quyền, đĩ là: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Tương ứng với các quyền đĩ sẽ cĩ các cơ quan thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Ngồi ra cịn cĩ các cơ quan hỗ trợ để giúp các cơ quan này hồn thành nhiệm vụ được giao Như vậy, nếu cho rằng cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và THA là các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực tư pháp thì phải khẳng định Tịa án

là trung tâm của hoạt động tư pháp [14] Các cơ quan khác giữ vai trị quan trọng trong hoạt động xét xử của Tịa án, kết quả xét xử được thi hành trên thực tế Do

đĩ, cĩ thể xem THADS là hoạt động tư pháp bởi vì hoạt động THA khơng thể tách rời hoạt động xét xử của Tịa án nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định cĩ hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế

Nĩi đến chức năng chủ yếu của Tịa án là chức năng xét xử cũng như chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan THADS là thi hành và đảm bảo cho các bản

Trang 18

án, quyết định của Tịa án được thực hiện Các hoạt động mang tính chất hành chính như tổ chức, quản lý nhân sự của cơ quan THADS khơng phải là hoạt động chính mà nhằm đảm bảo thực hiện cĩ hiệu quả chức năng, nhiệm vụ chính

là hoạt động tư pháp [14]

Như vậy, chúng ta cĩ thể khẳng định THADS là hoạt động tư pháp, cĩ mục đích nhằm “phục vụ tốt nhiệm vụ xét xử của Tịa án” như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng Khĩa VII đã nêu Mục đích của THA là làm cho các quyết định của Tịa án cĩ hiệu lực trên thực tế Chính vì thế, từ điển Luật học đã nêu: “Thi hành án, giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tịa án nhất định cĩ hiệu lực pháp luật Vì vậy, bản án sau khi cĩ hiệu lực thi hành phải được thi hành nghiêm chỉnh” [26]

Mặc dù cơ quan THADS chưa được thừa nhận chính thức là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng theo tinh thần các văn bản pháp luật hiện hành của nước

ta như đã phân tích ở trên, cơ quan THADS đã gián tiếp được thừa nhận là cơ quan Tư pháp Do vậy, hệ thống cơ quan THADS phải xây dựng một cách độc lập, ngang tầm vị trí với những cơ quan Tư pháp khác như Tịa án, Viện kiểm sát …

Tĩm lại, Thi hành án dân sự là một trong những hoạt động tư pháp của

nhà nước nhằm thi hành các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, quyết định khác về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự và bản án, quyết định khác do pháp luật quy định

 Vai trị của hoạt động thi hành án dân sự

Là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành hoạt động THA Đây là một hoạt động liên quan đến những lợi ích thiết thân của con người, quyết định hiệu lực và hiệu quả của hoạt động xét xử trước đĩ Dù bản án của Tòa án có khách quan, tuyên “đúng người đúng tội” thì mới chỉ là lời tuyên trên giấy Phải thông qua hoạt động THA thì phán quyết của Tòa án mới đi vào thực tế

Trang 19

cuộc sống, trả lại công bằng, lẽ phải Như một người bị chiếm đoạt ngôi nhà mình đang sinh sống, sau nhiều năm đi kiện đòi công lý và cuối cùng người này được tuyên lấy lại được căn nhà Thế nhưng, không phải qua lời tuyên của bản án mà người này có toàn quyền trong việc định đoạt ngôi nhà Nếu như chỉ có hoạt động xét xử của Tòa án mà không có hoạt động THA thì phán quyết của Tòa án chỉ là lời khẩu hiệu, quyền, lợi ích hợp pháp của con người chưa được bảo đảm trên thực tế

Hoạt động THADS có vai trò giáo dục rất lớn Điều dễ nhận thấy là tổ chức cưỡng chế những vụ án phức tạp, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị của địa phương Nếu được sự quan tâm, ủng hộ của dư luận, cộng đồng và được thi hành nghiêm chỉnh, triệt để, được người dân “tâm phục khẩu phục” sẽ thay đổi nhận thức của nhân dân, tác động vào ý thức chấp hành và tuân thủ pháp luật, tin tưởng vào sự công bằng của chế độ xã hội chủ nghĩa

Hoạt động THADS khơng chỉ đơn thuần là một hoạt động nghiệp vụ của CHV và cán bộ THA mà cịn cĩ ý nghĩa xã hội rộng lớn vì tuy bản án, quyết định cĩ nghiêm khắc nhưng khơng được thực hiện nghiêm thì cũng khơng tạo niềm tin của nhân dân vào chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Một bản án có tính khả thi cùng với sự nghiêm chỉnh thi hành của những cá nhân,

cơ quan, tổ chức hữu quan góp phần đảm bảo pháp chế, duy trì kỉ cương, công bằng xã hội

Hoạt động THA còn củng cố kết quả công tác xét xử, kiểm tra được công tác xét xử của Tòa án đối với từng vụ án cụ thể Trên cơ sở đó, tổng kết, rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng xét xử, đề cao trách nhiệm của Tòa án trong việc ra những bản án không có tính khả thi

1.2 Cơ quan thi hành án dân sự

1.2.1 Vị trí

Trang 20

Hoạt động THADS đã được chuyển giao từ Tòa án sang các cơ quan của Chính phủ hơn 10 năm nhưng hiệu quả hoạt động THADS chưa cao mà tình trạng án tồn đọng đang báo động Có thể do rất nhiều nguyên nhân nhưng biểu hiện rõ nhất là vị trí, vai trò của cơ quan THADS chưa được đề cao, chưa có một chỗ đứng nhất định trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước nói chung, trong hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng

Theo quy định của Pháp lệnh 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành,

cơ quan THADS gồm có Phòng THA thuộc Sở Tư pháp và Đội THA thuộc Phòng Tư pháp Trong khi đó, cơ quan THADS hưởng lương từ ngân sách Trung ương, có con dấu riêng và tài khoản riêng nhưng lại thuộc các cơ quan

tư pháp địa phương Vì thế, vị trí của cơ quan THADS được xem như một phòng, ban của cơ quan tư pháp, không có sự độc lập Ngoài ra, trong hoạt

SỞ TƯ PHÁP UBND Q, H

THADS TỈNH

PHỊNG TƯ PHÁP

THADS Q, H

BỘ TƯ PHÁP UBND tỉnh

CỤC THADS CHÍNH PHỦ

Trang 21

động cơ quan THADS chịu nhiều sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan liên quan mà phạm vi, giới hạn chưa được xác định rõ ràng, cụ thể

Mặt khác, Tòa án đã chuyển giao công tác THADS thì cũng có nghĩa là

cơ quan THADS là một loại cơ quan thực hiện công đoạn tiếp theo của hoạt động xét xử là thi hành phán quyết của Tòa án Thế nhưng, vị trí của cơ quan này còn rất mờ nhạt và còn nhầm lẫn là cơ quan Tòa án Cho nên, trong một thời gian dài chỉ tồn tại một tên gọi cơ quan Tòa án vừa xét xử vừa THA mà bên cạnh nó đã có sự hiện diện của cơ quan THA với chức năng chủ yếu là thi hành bản án của Tòa án

Không chỉ quy định của pháp luật trước đây mà theo quy định hiện hành,

vị trí của cơ quan THADS cũng chưa được xác định một cách rõ ràng, cụ thể Có chăng chỉ là sự gián tiếp thừa nhận tính chất hoạt động THADS là hoạt động tư pháp và cơ quan THADS là cơ quan tư pháp nhưng vẫn chưa tạo được

vị trí độc lập, chưa phù hợp với tính chất tư pháp của cơ quan THADS so với những cơ quan tư pháp khác

Sơ đồ nêu trên chỉ có tính chất minh họa, chưa nhìn được một cách tổng quan cơ quan THADS đứng ở vị trí nào trong 3 loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Điều đó cũng lý giải cho tình trạng yếu kém của công tác THADS xuất phát từ quy định của pháp luật THA về tổ chức bộ máy cơ quan THADS như: tên gọi, tính chất của cơ quan này Nếu xét trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp thì cơ quan THADS phải được xây dựng trong cơ quan tư pháp ngang hàng với cơ quan tư pháp khác như Tòa án và Viện kiểm sát Có như vậy, mới tạo nên vị trí độc lập của cơ quan THADS và CHV trong hoạt động thực thi bản án của Tòa án Hiệu quả hoạt động THADS phụ thuộc rất lớn vào vị trí, tính chất cũng như mô hình tổ chức của cơ quan này Cơ quan THADS được tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao đòi hỏi phải xác định được vị trí của nó một cách ngang tầm và tương xứng

1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ

Trang 22

Nói đến Tịa án là nói đến chức năng xét xử Đây là chức năng chủ yếu của cơ quan này và được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng dân sự cũng như trong Luật tổ chức TAND Đối với cơ quan THADS, cũng như tên gọi của nó là “thi hành án” nghĩa là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và giới hạn ở những bản án, quyết định “dân sự” của Tòa án Đây không phải là một chức năng mang tính độc lập tuyệt đối của cơ quan này, hiệu quả của hoạt động THADS phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng xét xử của Tòa án Một bản án tuyên không khả thi, không thuyết phục, không hợp lòng dân thì chức năng thi hành của cơ quan THA khó có thể thực hiện Nếu như chỉ có chức năng xét xử của Tịa án mà không có chức năng THA của cơ quan THADS thì quyền và lợi ích hợp pháp của công dân không được đảm bảo, trật tự, kỉ cương xã hội sẽ không còn, không có thiết chế để bảo đảm Liệu bản án của Tòa án có được tôn trọng hay không?

Mỗi cơ quan có một chức năng chủ yếu do pháp luật quy định Bên cạnh chức năng chính còn có những chức năng phụ mang tính hỗ trợ cho việc hoàn thành nhiệm vụ được giao Những hoạt động mang tính chất hành chính như hoạt động phối hợp, quản lý cán bộ, tổ chức nhân sự chỉ nhằm đảm bảo phục vụ có hiệu quả cho chức năng chính của cơ quan THA là tổ chức THA theo quy định của pháp luật

Nhìn chung, việc xác định tính chất của hoạt động THA gắn với việc xác định bản chất cơ quan THADS có ý nghĩa quan trọng vì mỗi cơ quan cĩ một nguyên tắc tổ chức hoạt động riêng để từ đĩ chúng ta cĩ thể xác định mô hình tổ chức của cơ quan THA, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

hệ thống tổ chức cơ quan THA, cơ quan quản lý THA, các chức danh trong hệ thống của cơ quan này một cách phù hợp

1.2.3 Bản chất

Như đã phân tích ở phần trên, theo quy định của pháp luật hiện hành như Hiến pháp 1992, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân… cũng như tinh thần Nghị quyết 08, Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị thì THADS là hoạt động tư pháp và cơ quan THADS là cơ quan tư pháp

Trang 23

Hoạt động THADS sẽ không có hiệu quả nếu không có sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan hữu quan Ở một mức độ nào đó, cơ quan THADS ít nhiều

bị chi phối trong tổ chức hoạt động Thế nhưng với vị trí là cơ quan tư pháp,

cơ quan THADS phải được xây dựng tương xứng với những cơ quan tư pháp khác, đảm bảo trong quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án, CHV và cán bộ THA thể hiện tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

1.3 Sự hình thành và phát triển cơ quan thi hành án dân sự [1, 14]

Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, tổ chức bộ máy THADS có sự khác nhau, có thể chia làm 3 giai đoạn chính:

 Giai đoạn trước năm 1993

 Giai đoạn 1993 - 2003

Giai đoạn 2004 đến nay

1.3.1 Giai đoạn trước năm 1993

Trước Cách mạng Tháng tám, hệ thống tư pháp ở Việt Nam được tổ chức theo hệ thống của nước Cộng hòa Pháp Những nhiệm vụ tương tự như THA hiện nay đều do Thừa phát lại đảm trách dưới các tên gọi khác nhau như Mõ tòa, Thừa phát lại nhưng chúng đều có chung nguồn gốc từ tiếng Pháp là

“Huissier” (bắt nguồn từ chữ Huissiry tức là người gác cửa, trưởng tòa) [28] Nếu so sánh với cơ quan THA hiện nay thì Thừa Phát lại có một điểm giống nhau cơ bản đó là đều có chức năng thi hành các phán quyết của Tòa án, nhưng Thừa phát lại có nhiều điểm khác với THA hiện nay:

 Về tổ chức nhân sự

Thừa phát lại không phải là cơ quan Nhà nước, không được tổ chức theo đơn vị hành chính Thừa phát lại được bổ nhiệm nhưng họ là công lại, nhiệm lại không phải là công chức hưởng lương Nhà nước

 Về phạm vi hoạt động

Trang 24

Thừa phát lại hoạt động trong phạm vi Tòa án quản hạt, nơi họ được chỉ định đăït trụ sở

 Về nhiệm vụ,ï quyền hạn

Thừa phát lại có nhiệm vụ, quyền hạn rất rộng, không chỉ thi hành các bản án của Tòa án mà thực hiện cả những công việc “tiền Tòa án” như lập các vi bằng làm chứng cho Tòa án xem xét và ngay cả khi Tòa án xét xử, Thừa phát lại có nhiệm vụ tiến hành các nghi thức thủ tục tại Tòa án

Sau Cách mạng Tháng tám, chế định Thừa phát lại tiếp tục được duy trì Theo Sắc lệnh số 13 ngày 20/11/1946 của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán thì ngoài tổ chức Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã cũng được THADS Như vậy, tổ chức THADS đã được hình thành ngay trong những năm đầu sau Cách mạng Tháng tám thành công và tồn tại dưới hai hình thức là: Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã

Theo Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950 về “cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng” thì việc THADS do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thế bằng Thẩm phán Tòa án cấp huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án

Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức TAND năm 1960 Luật này đã xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên chấp hành án Ngày 13/10/1972 Chánh án TAND tối cao đã ban hành Quyết định số 186/TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của CHV Tên gọi “Chấp hành viên” ra đời từ đó và tồn tại cho đến ngày nay Chấp hành viên được đặt tại các TAND Thành phố thuộc tỉnh, huyện, thị xã, khu phố và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Chánh án TAND cấp tỉnh quyết định bổ nhiệm và ấn định số lượng

Nhìn chung, trong thời gian này, Nhà nước không tổ chức cơ quan THADS độc lập mà chỉ đặt ra các CHV tại TAND địa phương để chuyên

Trang 25

trách việc THA CHV thực hiện nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của Chánh án TAND cùng cấp và không có quyền chỉ đạo công tác của CHV Tòa án cấp dưới Chánh án TAND địa phương có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo CHV của Tòa án mình và có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn công tác THA của TAND cấp dưới

Như vậy, tổ chức và hoạt động THA trong thời gian này là một giai đoạn khép kín trong Tòa án và tùy thuộc rất nhiều vào sự chỉ đạo của Chánh án TAND địa phương Cơ chế quản lý và tổ chức THA chưa tạo được vị trí cho CHV tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra Mặt khác, vai trò của TAND tối cao (tiếp đó là Bộ Tư pháp từ năm 1981 đến năm 1992) trong việc quản lý Tòa án địa phương mới dừng lại ở vai trò quản lý chung, còn thực chất việc quản lý đội ngũ cán bộ Tòa án, cũng như việc xây dựng đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử, THA do chính quyền địa phương đảm nhiệm Nhiều năm liền mối quan tâm chú trọng của Tòa án vẫn dành cho công tác xét xử, còn THA hầu như ít quan tâm Điều này dẫn đến tình trạng án đã xét xử nhưng không được thi hành chiếm tỉ lệ ngày càng lớn

Ngày 28/08/1989, Pháp lệnh THADS được ban hành đặt cơ sở pháp lý cho việc tăng cường hoàn thiện tổ chức và hoạt động THADS Trên cơ sở đó, Quy chế CHV được ban hành kèm theo Nghị định số 68/HĐBT ngày 06/03/1990 của Hội đồng Bộ trưởng Theo đó, chỉ có CHV là người được nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án; trình tự, thủ tục THA, quyền, nghĩa vụ của các bên đương sự, biện pháp cưỡng chế THA… được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể Đây là một bước phát triển mới trong lĩnh vực THADS, đặt cơ sở pháp lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động THADS Cùng với sự đổi mới cơ chế THA, đội ngũ cán bộ làm công tác THA đã được chuyên môn hóa, có chức danh, tiêu chuẩn riêng

1.3.2 Giai đoạn 1993 - 2003

Trang 26

Bên cạnh những tiến bộ đáng kể của Pháp lệnh THADS năm 1989 so với các quy định trước đây, thì sự chỉ đạo điều hành công tác THADS vẫn do cơ quan xét xử là Tòa án thực hiện Cơ quan THA, CHV đều thuộc Tòa án và do Tòa án trực tiếp chỉ đạo nghiệp vụ và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động THA Mọi quyết định quan trọng trong thủ tục THA đều thuộc thẩm quyền của Chánh án CHV với trách nhiệm người được nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các phán quyết của Tòa án, có vị trí độc lập nhưng thực tế chỉ đóng vai trò là người giúp việc, người thừa hành sự chỉ đạo của Chánh án Do Tòa án quá tải trong công việc, mối quan tâm lớn nhất của Chánh án đều dành cho công tác xét xử Cũng do quan niệm cho rằng công tác xét xử quan trọng hơn hoạt động THA nên nhiều CHV giỏi, cán bộ THA có năng lực đều được chọn bổ nhiệm làm Thẩm phán, tổ chức nhân sự THA thường xuyên có sự thay đổi, xáo trộn Hậu quả là nhiều bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không được tổ chức thi hành, không được tôn trọng, ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn trật tự an toàn xã hội; các quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân tiếp tục bị xâm phạm, kỷ cương phép nước bị coi thường gây nên sự phản ứng của dư luận xã hội và sự bất bình trong nhân dân

Trước tình hình đó, để tăng cường công tác THADS, đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh, Quốc hội khóa IX tại kỳ họp thứ nhất ngày 06/10/1992 đã ban hành Nghị quyết về việc bàn giao công tác THADS từ TAND các cấp sang các cơ quan của Chính phủ vào tháng 6/1993 Theo đó, Pháp lệnh THADS năm 1993 được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan THADS trong toàn quốc Với yêu cầu đó, Bộ Tư pháp là cơ quan được giao trách nhiệm giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác THADS trong phạm vi cả nước

Vào thời điểm tháng 6/1993, khi nhận bàn giao công tác THA, toàn ngành có 1.126 cán bộ, CHV (trong đó có 700 CHV và 426 cán bộ) [1] Hầu

Trang 27

hết số cán bộ, CHV này chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật, trong khi đó, nguồn cán bộ có trình độ pháp lý để bổ sung cho cơ quan THA không nhiều Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc không có gì Nhiều Phòng THA và Đội THA được Ủy ban nhân dân bố trí nơi làm việc nhưng vẫn không đủ và chỉ mang tính chất tạm thời Tại thời điểm tiếp nhận, số lượng án được bàn giao sang cơ quan THA để tiếp tục tổ chức thi hành là 121.325 vụ, với tổng số tiền phải thi hành gần 120 tỷ đồng và nhiều tài sản có giá trị khác [1]

Như vậy, việc Bộ Tư pháp được giao trách nhiệm giúp Chính phủ quản lý nhà nước về THADS trong phạm vi cả nước không đơn thuần chỉ là sự chuyển giao nhiệm vụ từ ngành này sang ngành kia mà còn là sự chuyển đổi

cơ chế quản lý nhằm tạo ra sự chuyển biến căn bản trong công tác THADS

Do đó, vấn đề được quan tâm hàng đầu lúc này là tập trung kiện toàn, củng cố về mặt tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, CHV trong cơ quan THADS Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, một mặt Bộ Tư pháp đã chỉ đạo các

cơ quan tư pháp địa phương thực hiện tốt công tác tuyển dụng cán bộ đồng thời rà soát những cán bộ đủ điều kiện bổ nhiệm làm CHV, CHV trưởng; mặt khác, Bộ Tư pháp đã mở lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ cho CHV trong cả nước Nhờ đó, chỉ trong 2 năm, đến năm 1995, toàn ngành đã có 2.922 cán bộ THA (trong đó có 1.480 CHV, CHV trưởng) nhưng chỉ có 1.013 người có trình độ đại học [1]

Đầu năm 1997 do có sự chia tách địa giới hành chính một số địa phương, Bộ Tư pháp cùng các cơ quan tư pháp trong cả nước tập trung đẩy mạnh công tác kiện toàn tổ chức cơ quan THA tại các địa phương mới được chia tách, thành lập Ngoài ra, Bộ Tư pháp đã tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ, tháo gỡ vướng mắc đối với nhiều vụ án phức tạp nên hiệu quả hoạt động THADS được nâng lên rõ rệt

Trang 28

Nếu như trước đây, trong cơ chế bao cấp, các tranh chấp dân sự thường nhỏ, ít phức tạp, phạm vi công tác THA hẹp thì đến nay số lượng vụ việc mà

cơ quan THA phải thi hành ngày càng tăng, số tiền phải thi hành ngày càng lớn Nếu vào thời điểm năm 1994 - sau 1 năm chuyển giao công tác THA, tổng số việc phải thi hành là 162.000 vụ việc với tổng số tiền phải thu trên

700 tỷ đồng thì đến 2002, tổng số vụ việc phải thi hành là 450.971 vụ việc với tổng số tiền phải thu là 12.735 tỷ 538 triệu đồng, lớn hơn gấp 18 lần so với năm 1994 (chưa kể đến một số vụ án đặc biệt như Epco-Minh Phụng phải thi hành trên 4.000 tỷ đồng, vụ Tân Trường Sanh phải thi hành trên 1.000 tỷ đồng) [1]

Đứngtrước những khó khăn, thử thách trên, ngành tư pháp nói chung và các cơ quan THADS nói riêng đã có nhiều nỗ lực vượt bậc Nhờ đó công tác THADS theo đánh giá của Chính phủ : “Hệ thống tổ chức các cơ quan THADS đã được hình thành trong cả nước, công tác THADS đã được triển khai và hoạt động có hiệu quả bước đầu, làm giảm đáng kể số lượng án tồn đọng” [19}

Mười năm xây dựng và trưởng thành của hệ thống cơ quan THADS không phải là dài so với lịch sử truyền thống ngành tư pháp Nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của ngành tư pháp nói chung và của cơ quan THADS nói riêng còn nặng nề Mục tiêu trong những năm tiếp theo là phải “tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác THADS, nâng cao hiệu quả công tác THA, giải quyết căn bản tình trạng án tồn đọng Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan THADS, nâng cao vai trò trách nhiệm của các cơ quan THA” như Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị đã đề ra

1.3.3 Giai đoạn 2004 đến nay

Nếu so sánh về mặt số học, Pháp lệnh THADS năm 1993 nhiều hơn Pháp lệnh THADS năm 1989 chỉ 7 Điều, nhưng những điều bổ sung chủ yếu tập trung vào sự chuyển đổi cơ chế THA mà không có sự sửa đổi, bổ sung về

Trang 29

trình tự, thủ tục THA Nói khác hơn, Pháp lệnh 1993 gần như giữ nguyên các quy định của Pháp lệnh 1989 Bên cạnh đó, nhiều quy định của Pháp lệnh

1993 đã trở nên không phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội; nhiều văn bản pháp luật quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai… được ban hành; nhiều vấn đề vướng mắc về cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, thủ tục THA chưa được giải quyết vì thiếu cơ sở pháp lý đã dẫn đến tình trạng án tồn đọng trong THADS có xu hướng gia tăng

Trước tình hình đó, Pháp lệnh 2004 và văn bản hướng dẫn thi hành ra đời

đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho việc tháo gỡ nhiều vướng mắc thực tế về THADS nói chung, về tổ chức bộ máy cơ quan THADS nói riêng, gĩp phần nâng cao hiệu quả THA, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,

tổ chức, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và hiệu lực thực tế của bản án

1.3.3.1 Cơ quan thi hành án dân sự

Theo Điều 11 của Pháp lệnh 2004, cơ quan THADS gồm có:

+ Cơ quan THADS cấp tỉnh;

+ Cơ quan THADS cấp huyện;

+ Cơ quan THA cấp quân khu

Để cụ thể hóa những quy định về tổ chức hệ thống các cơ quan THADS trong Pháp lệnh 2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/04/2005 về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và cán bộ, công chức làm công tác THADS (sau đây gọi là Nghị định 50) Theo đó, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan THADS có nhiều đổi mới rõ rệt, hệ thống cơ quan THADS được tổ chức theo hướng chuyên môn hóa và tập trung hơn

Nếu như trước đây tại Điều 3 Nghị định 30 quy định các cơ quan THA địa phương gồm có:

+ Phòng THA thuộc Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

Trang 30

+ Phòng THA cấp quân khu;

+ Đội THA thuộc Phòng Tư pháp quận, huyện

Nghị định 50 quy định các cơ quan THADS địa phương gồm có:

+ Thi hành án dân sự tỉnh;

+ Thi hành án dân sự quận, huyện;

+ Thi hành án quân khu và tương đương

Đối với cơ quan THADS, tên gọi của nĩ trước khi Chính phủ ban hành Nghị định 50 cũng cĩ nhiều quan điểm khác nhau, thể hiện:

Quan điểm thứ nhất: cần giữ nguyên tên gọi của cơ quan THADS như cũ

là Phịng THA và Đội THA Quan điểm này xuất phát từ ý kiến chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi thơng qua Pháp lệnh là giữ nguyên cơ chế tổ chức THA như cũ Do đĩ, sẽ bao gồm cả việc giữ nguyên tên gọi của cơ quan THADS như Nghị định 30/CP [15]

Quan điểm thứ hai: cần phải thay đổi tên gọi của cơ quan THADS nhằm

thể hiện rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này Thực tiễn hơn 10 năm qua cho thấy tên gọi là “Phịng THA” và “Đội THA” đã bất hợp lý, gây khĩ khăn trong quan hệ với các cơ quan khác trước hết là Tòa án, Công an, Viện kiểm sát và chính quyền địa phương các cấp Đó là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả cơng tác THADS ở địa phương Việc thay đổi tên gọi của các

cơ quan THADS cũng đã được Thủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm tại Hội nghị tồn quốc triển khai Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/09/2001 về tăng cường và nâng cao hiệu quả cơng tác THADS đã giao cho Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan cĩ liên quan nghiên cứu để đổi tên của cơ quan THADS cho phù hợp

Chúng tơi cho rằng, quan điểm thứ nhất tuy tạo ra sự ổn định nhưng quan điểm thứ hai hợp lý hơn và cũng khơng trái với quy định tại Điều 11, Điều 57, Điều 58 của Pháp lệnh 2004; một mặt vẫn thể hiện rõ bản chất, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan THADS; mặt khác nhằm khắc phục những bất cập đã

Trang 31

từng có trong Nghị định 30 với Điều 17 của Pháp lệnh THADS năm 1993 Do

đĩ, Điều 3 Nghị định 50 đã quy định việc thay đổi tên gọi của cơ quan THA là phù hợp Theo đĩ, cơ quan THADS gồm cĩ:

- THADS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, (gọi là Thi hành án dân sự cấp tỉnh);

- THADS huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, (gọi là Thi hành án dân sự cấp huyện);

- THA quân khu và tương đương, (gọi là Thi hành án cấp quân khu)

Việc thay đổi tên gọi của cơ quan THADS tuy khơng phải là vấn đề quá lớn nhưng thực chất đã khắc phục được những bất hợp lý, gây khĩ khăn cho cơ quan THA, làm hạn chế hiệu quả cơng tác THADS ở địa phương Mặt khác, việc thay đổi tên gọi của các cơ quan THADS đáp ứng được nguyện vọng bức xúc của đội ngũ CHV, cán bộ công chức các cơ quan THADS trong cả nước, là một sự động viên lớn đối với các cơ quan THA địa phương

Điều 3 Nghị định 50 quy định THADS cấp tỉnh chịu sự quản lý, chỉ đạo của Bộ Tư pháp về tổ chức, cán bộ, công chức, kinh phí và nghiệp vụ; chịu sự quản lý, chỉ đạo của UBND cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Pháp lệnh 2004 Thi hành án dân sự cấp huyện trực thuộc và chịu sự quản lý, chỉ đạo của THADS cấp tỉnh về kinh phí, nghiệp vụ, chịu sự quản lý, chỉ đạo của UBND cấp huyện theo quy định tại khoản 2 Điều 58 của Pháp lệnh 2004 Nghị định 50 không chỉ quy định về sự quản lý, chỉ đạo của cơ quan chuyên môn cấp trên và UBND cùng cấp để làm tốt công tác THA mà còn mở rộng hơn những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của THADS cấp tỉnh và THADS cấp huyện trong công tác tổ chức cán bộ THA, góp phần phát huy tính chủ động của cơ quan THADS

Ngoài công tác chuyên môn nghiệp vụ THA, THADS cấp tỉnh còn có vai trò, trách nhiệm trong công tác tổ chức cán bộ từ khâu chuẩn bị hồ sơ tuyển dụng, tiếp nhận cán bộ công chức THADS để báo cáo Giám đốc Sở Tư pháp

Trang 32

Đối với THADS cấp huyện, theo quy định các khoản 4, 5, 6 Điều 16 Nghị định 50 thì ngoài công tác chuyên môn nghiệp vụ, còn quản lý cán bộ, công chức THADS cấp huyện

Nhìn chung, những quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của THADS cấp tỉnh, THADS cấp huyện phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đã đặt ra theo tinh thần của các Nghị quyết Đại hội Đảng đã đề ra, là cơ sở pháp lý quan trọng để từng bước thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác THADS, tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo và vai trò, trách nhiệm của các cơ quan THADS địa phương

1.3.3.2 Cơ quan quản lý thi hành án dân sự

 Theo quy định tại Điều 57 của Pháp lệnh 2004:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về THADS trong phạm vi cả nước Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý nhà nước về THADS

- Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác THADS trong quân đội

 Theo Điều 2 Nghị định 50, cơ quan quản lý THADS gồm có:

+ Cục THADS thuộc Bộ Tư pháp;

+ Cục THA thuộc Bộ Quốc phòng;

+ Sở Tư pháp;

+ Phòng Tư pháp

Đối với cơ quan quản lý THADS trong quân đội, đây là cơ quan được giao nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý cơng tác THA trong quân đội Nhưng với tên gọi như trước đây là Phòng Quản lý THA thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan này gặp rất nhiều khĩ khăn trong mối quan hệ với các đơn vị khác thuộc Bộ Quốc phòng, với Tư lệnh các quân khu, phần nào làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý THA trong quân đội

Trang 33

Để khắc phục hạn chế này, Điều 2 Nghị định 50 đã quy định: “Cục THA thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về THADS trong quân đội” Đây chính là điều kiện thuận lợi

để tạo sự chuyển biến trong quản lý cơng tác THA trong quân đội để tiến tới thống nhất cơng tác THA hình sự và cơng tác THADS trong quân đội vào một đầu mối là Cục THA thuộc Bộ Quốc phòng

Pháp lệnh 2004 quy định Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý Nhà nước về THADS trong phạm vi cả nước Vai trò quản lý THADS của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện đã được Pháp lệnh 2004 cụ thể hóa thêm một bước thể hiện tại Điều 58 Pháp lệnh 2004

Theo quy định tại khoản 1 Điều 58, UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chỉ đạo công tác THADS, yêu cầu cơ quan THA báo cáo công tác THADS

ở địa phương;

b) Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp

c) Chỉ đạo UBND cấp dưới, cơ quan THA, các cơ quan chuyên môn phối hợp với các đoàn thể liên quan trên địa bàn trong công tác THADS;

d) Yêu cầu cơ quan THA tổ chức kiểm tra, thanh tra; chỉ đạo các cơ quan phối hợp kiểm tra, thanh tra công tác THADS ở địa phương;

e) Cử Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND làm Chỉ tịch Hội đồng tuyển chọn CHV;

f) Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THA cấp tỉnh;

g) Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác THADS

Ngoài ra, Khoản 2 Điều 58 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp quận, huyện

Nhìn chung, quy định của Pháp lệnh 2004 về nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh, cấp huyện rõ ràng và cụ thể hơn trước đây theo hướng đề cao

Trang 34

vai trò của UBND trong hoạt động quản lý THADS ở địa phương Đặc biệt trong công tác cán bộ cơ quan THADS, vai trò của UBND rất lớn như quy định UBND chỉ đạo tổ chức cưỡng chế các vụ án lớn, phức tạp; cử Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch làm Chủ tịch Hội đồng tuyển chọn CHV, hoặc có ý kiến bằng văn bản trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan THA Điều đó cũng khẳng định: hoạt động THADS gắn liền với địa phương nên cần được phân cấp mạnh hơn nữa cho địa phương Như vậy, việc quản lý THADS được kết hợp giữa quản lý theo ngành của Bộ Tư pháp và quản lý theo lãnh thổ của UBND cùng cấp vừa đảm bảo tính độc lập của cơ quan THA và CHV, vừa đảm bảo không tách rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương song vẫn đáp ứng được nguyên tắc đảm bảo sự quản lý tập trung của Bộ Tư pháp (Điều 57 Pháp lệnh) và đảm bảo sự chỉ đạo của UBND cùng cấp (Điều 58 Pháp lệnh)

Nhìn chung, Nghị định 50 tập trung quy định cụ thể tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng, còn nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý THADS như Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp chỉ khái quát ngắn gọn Để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương trong việc quản lý THADS, với tinh thần tăng cuờng phân cấp mạnh hơn nữa cho địa phương, khoản 2 Điều 10 Nghị định 50 quy định: “Giám đốc Sở Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong việc quản lý tổ chức, cán bộ của các cơ quan THADS địa phương” Theo Quyết định số 1148/2005/QĐ-BTP ngày 18/05/2005, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ủy quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp thực hiện 13 loại công việc về tổ chức, cán bộ cơ quan THADS địa phương

1.3.3.3 Cán bộ công chức cơ quan THADS

Trong mỗi cơ quan khác nhau thì có những chức danh khác nhau để thực hiện nhiệm vụ của cơ quan đó Đối với Tòa án thì người giữ vị trí trung tâm để thực hiện chức năng xét xử là Thẩm phán, hay đối với Viện kiểm sát thì người giữ vị trí trung tâm để thực hiện chức năng công tố là Kiểm sát viên…

Trang 35

Đối với cơ quan THA thì CHV là người giữ vị trí trung tâm trong hoạt động THA

 Chấp hành viên

Theo quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh 2004 thì: “CHV là người được nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định dân sự quy định tại Điều 2 của Pháp lệnh này CHV được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ là 5 năm Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc THA”

Là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, khi thi hành nhiệm vụ, CHV chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ CHV có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính thực thi của pháp luật Nói một cách khác, người không phải là CHV thì không có quyền ra bất cứ một quyết định nào trong quá trình THA

Để tạo điều kiện cho CHV hoàn thành nhiệm vụ được giao, Điều 14 Pháp lệnh 2004 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của CHV và được cụ thể hóa tại Điều 18 Nghị định 50, cụ thể:

- Nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp, pháp luật;

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao;

- Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn gây thiệt hại thì cơ quan THA nơi CHV công tác phải có trách nhiệm bồi thường CHV đã gây ra thiệt hại nếu có lỗi thì tùy từng trường hợp cụ thể có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan THA theo quy định của pháp luật;

- CHV có nghĩa vụ từ chối thực hiện nhiệm vụ được giao khi có căn cứ cho rằng việc đó là trái pháp luật

Trang 36

Ngoài ra, Nghị định 50 còn quy định những việc mà CHV không được làm nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của CHV

Nhìn chung, quy định pháp luật về CHV trên cơ sở kế thừa có bổ sung những điểm mới của Pháp lệnh 1993, Nghị định 30, cụ thể:

Nhiệm vụ, quyền hạn của CHV trước đây đã nhiều thì nay còn nhiều hơn:

- Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định;

- Áp dụng đúng đắn các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục THA, bảo đảm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự;

- Triệu tập đương sự, người có liên quan đến trụ sở cơ quan THA hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi THA để thực hiện việc THA;

- Giải thích, thuyết phục các đương sự tự nguyện THA;

- Ấn định cho người phải THA thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định THA để tự nguyện thi hành trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế THA;

- Xác minh tài sản, điều kiện THA của đương sự, kể cả trong thời gian đương sự tự nguyện thi hành;

- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu xác minh địa chỉ, tài sản của người phải THA;

- Quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm việc THA theo quy định của Pháp lệnh;

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền;

- Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật trong khi THA và đề nghị Thủ trưởng cơ quan THA kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm… CHV trước đây do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định độc lập nhưng theo quy định mới, Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ quyết định bổ nhiệm CHV theo đề

Trang 37

nghị của Hội đồng tuyển chọn CHV Thành phần của Hội đồng tuyển chọn CHV cơ quan THADS địa phương gồm có: Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh; Phó Chủ tịch Hội đồng là Giám đốc Sở Tư pháp; các Ủy viên: Trưởng THADS cấp tỉnh, đại diện lãnh đạo Sở Nội vụ, đại diện thường trực Ban Chấp hành Hội luật gia cấp tỉnh

Thông qua công tác bổ nhiệm CHV theo nhiệm kỳ đã giúp lãnh đạo Bộ

Tư pháp rà soát, đánh giá lại số lượng, chất lượng đội ngũ CHV trên phạm vi cả nước đồng thời đòi hỏi từng CHV phải tự nhìn nhận, đánh giá, kiểm điểm lại chính mình, cả về phẩm chất đạo đức, lẫn năng lực chuyên môn, mỗi CHV phải tự hoàn thiện mình, trao dồi đạo đức, không ngừng học tập nâng cao trìnnh độ chuyên môn

Tóm lại, quy định của Pháp lệnh 2004 và Nghị định 50 về CHV là sự tiến bộ rõ rệt góp phần hoàn thiện, nâng cao đội ngũ CHV và tổ chức bộ máy cơ quan THADS, khẳng định vị trí quan trọng của CHV trong hoạt động bảo vệ pháp chế, duy trì kỉ cương, trật tự công bằng xã hội…

 Thẩm tra viên

Đây là một chức danh hoàn toàn mới so với quy định pháp luật trước đây Để cụ thể hóa các quy định của Pháp lệnh 2004, Nghị định 50 đã quy định ở Cục THADS thuộc Bộ Tư pháp có chức danh Thẩm tra viên, Thẩm tra viên chính và Thẩm tra viên cao cấp; ở cơ quan THADS cấp tỉnh có Thẩm tra viên, Thẩm tra viên chính; ở cơ quan THADS cấp huyện có Thẩm tra viên

Mặc dù Nghị định 50 đã phát sinh hiệu lực hơn một năm nhưng những chức danh này chưa được quy định cụ thể về tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, bổ nhiệm nên chưa có được sự thống nhất Nhiều câu hỏi đặt

ra như: Thẩm tra viên là ai? Nhiệm vụ, quyền hạn ở giai đoạn nào trong hoạt động THA? Trong hoạt động có mâu thuẫn, chồng chéo với nhiệm vụ, quyền hạn của CHV hay không?

 Chuyên viên (thư ký) thi hành án

Trang 38

Theo quy định của Nghị định 50, cơ cấu tổ chức các cơ quan THA có Trưởng THA, Phó Trưởng THA và các chức danh khác (hay cán bộ khác) Nghị định chỉ quy định “các chức danh khác” một cách chung chung, không có tên gọi cụ thể cho các chức danh này

Theo đó, có thể hiểu Chuyên viên hay cán bộ khác là những người giúp việc cho CHV trong hoạt động THA như ghi biên bản THA, phối hợp xác minh và làm những công việc khác theo sự phân công của CHV, Trưởng THA

Tên gọi “các chức danh khác” trong tổ chức cơ quan THA thường dưới dạng là “Chuyên viên” hay gọi là “Thư ký THA” Tên gọi là Chuyên viên thực chất là sự vay mượn chức danh cán bộ công chức cơ quan tư pháp ở ngạch Chuyên viên

Tiêu chuẩn để được tuyển dụng làm Chuyên viên THA là phải có trình độ Đại học luật hoặc Đại học khác tương đương và Lý lịch rõ ràng, trong sạch thông qua kỳ thi tuyển công chức các môn liên quan của ngành và môn ngoại ngữ Thời gian tập sự là 12 tháng, hưởng 85% lương, không có chế độ phụ cấp nghề nghiệp nào khác

Nhìn chung, điều kiện để được tuyển dụng làm Chuyên viên THA tương đối cao nhưng chế độ chính sách đối với đội ngũ này hầu như không có Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tuyển dụng cho cơ quan THADS toàn quốc nói chung và tại Tp Hồ Chí Minh nói riêng Mặt khác với tên gọi như hiện nay là Chuyên viên chưa tương xứng mà nên thay đổi tên gọi Chuyên viên thành Thư ký THA giống như một chức danh của Tòa án là Thư ký Tòa án

1.3.4 Vài nét về sự hình thành và phát triển cơ quan THADS Tp.Hồ Chí Minh về mặt tổ chức

Việc bàn giao cơng tác THADS tại Tp Hồ Chí Minh được tiến hành từ ngày 28/06/1993 đến ngày 12/07/1993 Lúc đầu cĩ 88 cán bộ công nhân viên

Trang 39

THA được chuyển giao sang Cuối năm 1993, THA Thành phố cĩ 95 người (51 CHV, 44 cán bộ công nhân viên)

Năm 1997 do cĩ sự chia tách địa giới hành chính, hình thành thêm 04 quận, huyện nên Bộ Tư pháp đã cĩ quyết định thành lập thêm các Đội THA Quận 2, Quận 7, Quận 9, Quận 12 Tồn Thành phố cĩ 22 Đội THA quận, huyện

Cuối năm 2003 quận Bình Tân được tách từ huyện Bình Chánh, quận Tân Phú được tách từ quận Tân Bình Sở Tư pháp cĩ đề án thành lập mới Đội THA quận Bình Tân và quận Tân Phú Sở Tư pháp đã kịp thời phân bổ biên chế cho các cơ quan THADS theo chỉ tiêu biên chế Bộ Tư pháp quy định, đề nghị bổ nhiệm CHV, CHV trưởng, Đội trưởng Số lượng cán bộ cơng chức cĩ 278 người,

cĩ 119 CHV (Phịng THA Thành phố cĩ 21 CHV), 100 Chuyên viên, cán sự cĩ

21 người, Kế toán viên cĩ 7 người, Kế tốn trung, sơ cấp 18 người, Thủ quỹ 2 người, Lưu trữ 1 người, Đánh máy 7 người, Lái xe 2 người, Tạp vụ 1 người Qua 10 xây dựng và phát triển, với sự quan tâm của Đảng và nhà nước, sự nỗ lực của ngành tư pháp nĩi chung, cơ quan THADS nĩi riêng, đội ngũ làm cơng tác THA Thành phố, nhất là CHV khơng ngừng được củng cố, kiện tồn Riêng năm 2003, THADS Thành phố được Bộ Tư pháp giao 379 biên chế (THA Thành phố 60 người) Với biên chế này đã cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ, phần nào khắc phục tình trạng khĩ khăn về biên chế trong các năm qua Vào thời điểm mới thành lập, chất lượng cán bộ THA rất thấp vì cán bộ công chức

cĩ chuyên mơn nghiệp vụ đều tập trung cho Tòa án

Ngày 14/01/2004 Pháp lệnh THADS ra đời, hiệu quả hoạt động THADS nói chung và tại Tp Hồ Chí Minh nói riêng không ngừng được nâng cao đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của ngành THA trong tình hình mới

Thực hiện Quyết định 736/QĐ-BTP ngày 04/05/2005 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, các cơ quan THADS Thành phố đã hồn tất việc đổi tên gọi theo quy định Pháp lệnh THADS 2004

Trang 40

Đến nay, THADS Tp Hoà Chí Minh có 25 đơn vị gồm 1 THADS Thành phố, 24 THADS quận, huyện

Hiện tại THADS Thành phố được bố trí:

+ 01 Trưởng THA và 03 Phó Trưởng THA;

+ 21 CHV;

+ 22 cán bộ THA;

+ 03 nhân viên văn phòng; 01 văn thư đánh máy + 02 hợp đồng;

+ 04 kế toán + 02 hợp đồng, 01 thủ quỹ, 01 tạp vụ; 01 thủ kho, 02 phụ kho +

03 bảo vệ

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Thu Ba (2003), “THADS một chặng đường 10 năm”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, (Số đặc biệt), tr.13-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: THADS một chặng đường 10 năm”, "Tạp chí Dân chủ & "Pháp luật
Tác giả: Lê Thị Thu Ba
Năm: 2003
2. Nguyễn Công Bình (1998), “Mấy vấn đề về THADS trong việc soạn thảo Bộ luật tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học, (5), tr.43-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về THADS trong việc soạn thảo Bộ luật tố tụng dân sự”", Tạp chí Luật học, (5)
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Năm: 1998
3. Bộ Tư pháp, Báo cáo về công tác THADS năm 2004, năm 2005 và 6 tháng đầu naêm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về công tác THADS năm 2004, năm 2005 và 6 tháng đầu
5. Cục THADS - Bộ Tư pháp (2006), Đề án xây dựng biên chế đến năm 2010 cho các cơ quan THADS địa phương (dự thảo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng biên chế đến năm 2010 cho
Tác giả: Cục THADS - Bộ Tư pháp
Năm: 2006
6. Mai Phương Hoa (2005), “Một số suy nghĩ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan THADS theo quy định mới”, Tin THADS, (5), tr.11-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan THADS theo quy định mới”," Tin THADS
Tác giả: Mai Phương Hoa
Năm: 2005
7. Chu Thị Hoa (2005), “Bàn về cơ cấu tổ chức cơ quan THADS”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, (12), tr.36,37-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cơ cấu tổ chức cơ quan THADS”, "Tạp chí Dân chủ "& Pháp luật
Tác giả: Chu Thị Hoa
Năm: 2005
8. Học viện Tư pháp (2005), Kỹ năng THADS”, Nxb Thống kê, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng THADS”
Tác giả: Học viện Tư pháp
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
9. Traàn Phửụng Hoàng (2006), “Một số vần đề về tổ chức của THADS caỏp tỉnh, Tin THADS, (2), tr.20-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vần đề về tổ chức của THADS caáp tỉnh, "Tin "THADS
Tác giả: Traàn Phửụng Hoàng
Năm: 2006
10. Hoàng Thọ Khiêm (1999), “Một số ý kiến về cơ chế quản lý công tác THADS hiện nay”, Thông tin khoa học pháp lý, (8), tr.61-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về cơ chế quản lý công tác THADS hiện nay”, "Thông tin khoa học pháp lý
Tác giả: Hoàng Thọ Khiêm
Năm: 1999
11. Hoàng Thế Liên, Nguyễn Thanh Thủy (2001), “Những vướng mắc trong cơ chế phối hợp về THADS”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, (5), tr.11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vướng mắc trong cơ chế phối hợp về THADS”, "Tạp chí Dân chủ & Pháp luật
Tác giả: Hoàng Thế Liên, Nguyễn Thanh Thủy
Năm: 2001
12. Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh (2005), Về những tiến bộ trong công tác THADS năm 2004 tại Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những tiến bộ trong công tác THADS
Tác giả: Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2005
7. Pháp lệnh cán bộ công chức (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003) Khác
8. Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới Khác
9. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Khác
10. Nghị định số 30/CP ngày 02/06/1993 của Chính phủ về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác THADS, cơ quan THADS và CHV Khác
11. Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp Khác
12. Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước Khác
13. Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/09/2004 của Chính phủ về kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để bảo đảm THA Khác
14. Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/09/2004 của Chính phủ quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong THADS Khác
15. Nghị định 50/2005/NĐ-CP ngày 11/04/2005 của Chính phủ về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và cán bộ, công chức làm công tác THADS Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w