1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trao đổi bộ luật tố tụng hình sự 2015 kỷ yếu hội thảo trường đại học luật tp hồ chí minh khoa luật hình sự tp hồ chí minh, 2015 57tr

57 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trao đổi bộ luật tố tụng hình sự 2015 kỷ yếu hội thảo
Tác giả TS. Võ Thị Kim Oanh, Lê Thị Thùy Dương
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Thể loại Kỷ yếu hội thảo
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Viện kiểm sát là cơ quan được giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhưng lại thiếu các cơ chế pháp luật để Viện kiểm sát thực hiện tốt trách nhiệm n

Trang 2

-2000”

tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, BLTTHS được Quốc hội nước

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004

Bộ luật này đã đánh dấu một bước quan trọng trong kỹ thuật lập pháp của Việt Nam thể hiện sự tiến bộ vượt bậc của Nhà nước ta Trên cơ sở kế thừa các ưu điểm của BLTTHS 1988 và khắc phục được những hạn chế, BLTTHS năm 2003 đã đã có những đóng góp tích cực cho việc xây dựng các thiết chế tố tụng hình sự tiến bộ và tháo gỡ nhiều vướng mắc đặt ra trong thực tiễn

Công tác thi hành BLTTHS năm 2003 thời gian qua được thực hiện nghiêm túc Có thể điểm qua một số ưu điểm sau:

- Việc áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam được tiến hành thận trọng, khắc phục một bước quan trọng việc lạm dụng bắt khẩn cấp, tạm giam không cần thiết, tỷ lệ bắt, tạm giữ chuyển khởi tố hình sự đạt tỷ lệ cao Việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng được chú trọng; bảo đảm quyền có người bào chữa của những đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý, từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa tham gia tố tụng Các luật sư tham gia bào chữa cơ bản tuân thủ đúng quy định của pháp luật

Trang 3

- Việc thực hiện thời hạn giải quyết án và thời hạn tạm giữ, tạm giam trong các giai đoạn tố tụng cơ bản được thực hiện nghiêm túc, hạn chế tối đa

số vụ án quá thời hạn; tình trạng quá hạn tạm giữ, tạm giam được khắc phục Tình trạng tồn đọng án trong các giai đoạn tố tụng về cơ bản đã được giải quyết

- Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra được chú trọng, Viện kiểm sát các cấp đề cao trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra ngay từ đầu, chủ động đề ra yêu cầu điều tra đối với nhiều vụ án, bảo đảm việc điều tra có căn cứ, đúng pháp luật

- Công tác xét xử các vụ án hình sự cơ bản được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, chất lượng ngày càng cao

- Công tác giám đốc việc xét xử được tăng cường, kịp thời phát hiện, rút kinh nghiệm những sai sót trong việc xét xử; các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đã giảm hơn so với nhưng năm trước đây, kháng nghị của Viện kiểm sát cơ bản

có căn cứ, chất lượng kháng nghị được nâng lên…

Công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp có chuyển biến tích cực Việc tiếp nhận, giải quyết đơn thư, kiểm sát việc giải quyết đơn thư về cơ bản bảo đảm chặt chẽ, đúng thời hạn, thẩm quyền; hạn chế tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài, bức xúc hoặc khiếu kiện vượt cấp….1

Như vậy, có thể thấy rằng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (Bộ luật TTHS) đã đóng góp rất lớn vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật Tuy nhiên, qua thời gian dài

áp dụng, Bộ luật TTHS đã bộc lộ những quy định không còn phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; với Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng như với bản Hiến pháp mới được ban hành năm 2013 Những hạn chế này được thể hiện trên một số vấn đề như sau:

1 Viện kiểm sát nhân dân tối cáo - Báo cáo tổng kết thực tiễn 8 năm thi hành bộ luật tố tụng hình sự năm

2003 và đề xuất sửa đổi, bổ sung

Trang 4

- Còn thiếu một số nguyên tắc cơ bản hoặc một số nguyên tắc đã có nhưng chưa phản ánh đầy đủ tư tưởng, định hướng về cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế như nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội Một số nguyên tắc trong BLTTHS hiện hành còn bất cập, chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc áp dụng Một số nguyên tắc không phải là nguyên tắc cơ bản, chỉ khái quát về chức năng, thẩm quyền hoặc trách nhiệm cơ quan, người tiến hành tố tụng trong một giai đoạn tố tụng nhất định

- Do chưa xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của

tố tụng hình sự (buộc tội, bào chữa, xét xử) nên quy định về vai trò, nhiệm

vụ, quyền hạn của các chủ thể và trình tự tiến hành các thủ tục tố tụng còn chưa thật sự hợp lý

- Chưa có sự phân định hợp lý thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan điều tra, cũng như chưa quy định rành mạch thẩm quyền giữa các cấp cơ quan điều tra trong cùng hệ thống dẫn đến việc điều tra, xử lý vụ án còn chồng lấn về thẩm quyền

- Viện kiểm sát là cơ quan được giao chức năng thực hành quyền công

tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhưng lại thiếu các cơ chế pháp luật để Viện kiểm sát thực hiện tốt trách nhiệm này, thiếu các cơ chế để bảo đảm cho mọi yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát về chứng minh tội phạm được thực hiện đầy đủ…

- Tòa án là cơ quan xét xử nhưng lại đang được pháp luật giao thực hiện một số thẩm quyền chưa thật sự phù hợp, ảnh hưởng đến yêu cầu bảo đảm sự khách quan trong TTHS như: thẩm quyền khởi tố vụ án, xét xử vượt quá giới hạn truy tố của Viện kiểm sát…

- Địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của một số người tham gia tố tụng chưa được quy định đầy đủ, cụ thể Còn thiếu các cơ chế để bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng, nhất là bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Việc tham gia tố tụng của người bào chữa chưa được quy định cụ thể kể cả quyền và nghĩa vụ

- Quy định về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam chủ yếu dựa vào sự phân loại tội phạm trong Bộ luật hình sự đang là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm dụng biện pháp tạm giam thay cho biện pháp điều tra

Trang 5

- Các biện pháp ngăn chặn thay thế cho biện pháp tạm giam (bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm) còn có những nội dung không phù hợp, thiếu tính cụ thể

- Còn thiếu các quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn thực hiện giám định tư pháp, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận

và sử dụng kết luận giám định

- Các quy định về thời hạn tố tụng còn chưa thật phù hợp Vẫn còn những hoạt động tố tụng chưa bị ràng buộc bởi thời hạn, dẫn đến tùy tiện, lạm dụng trong thực tiễn

- Quy định thủ tục tiến hành một số hoạt động điều tra có nhiều điểm chưa cụ thể, không khả thi, làm cho thực tiễn áp dụng gặp khó khăn, vướng mắc

- Một số thủ tục xét xử còn mâu thuẫn, chưa thể hiện đầy đủ tính công khai, minh bạch, theo hướng tranh tụng

- Thủ tục kháng cáo, kháng nghị và thẩm quyền của Toà án cấp phúc thẩm còn bất cập, ảnh hưởng đến chất lượng và kéo dài việc giải quyết vụ

án

- Thủ tục giám đốc thẩm chưa chặt chẽ, còn nhiều bất cập

- Bộ luật mới chỉ quy định thủ tục tố tụng áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, chưa quy định thủ tục tố tụng đối với những người tham gia tố tụng khác là người chưa thành niên

- Các quy định của BLTTHS về hợp tác Quốc tế chủ yếu dừng ở những nguyên tắc chung, thiếu các quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn, mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

Chính những bất cập trên dẫn đến việc các quy định của BLTTHS chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng hình sự trong điều kiện cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm diễn biến nhanh và phức tạp hiện nay Chính vì vậy, việc xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự mới, tiến bộ, minh bạch, có chất lượng cao về kỹ thuật lập pháp, khắc phục ở mức cao nhất những hạn chế, tồn tại trên là một nhiệm vụ cấp thiết trong bối cảnh hiện nay Thực hiện Chương trình xây dựng luật của Quốc hội, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã phối hợp với các

Trang 6

bộ, ngành hữu quan xây dựng Dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) Đến nay, cơ quan soạn thảo đã hoàn thành dự thảo Bộ Luật Tố tụng hình sự có tổng số 471 điều, chia thành 8 phần, với 36 chương So với Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 tăng 125 điều, cụ thể: bổ sung mới 142 điều, sửa đổi 264 điều, giữ nguyên 48 điều, bãi bỏ 17 điều.2

Dự thảo Bộ luật cơ bản đã thể chế hóa các quan điểm cải cách tư pháp của Đảng, những nguyên tắc tư pháp tiến bộ liên quan đến tố tụng hình sự quy định trong Hiến pháp 2013 Dự án

Bộ luật đã tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp vẫn đang phát huy được tác dụng tích cực; sửa đổi, bổ sung các quy định không còn phù hợp, khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất pháp luật, phù hợp với quy định của các văn bản luật có liên quan

Qua nghiên cứu dự thảo, chúng tôi có một số đánh giá sau:

Ƣu điểm

- Dự thảo đã tiếp tục ghi nhận và mở rộng những nội dung của các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn án, vô nhân đạo hoặc hạ nhục – CAT năm 1984…cũng như các công ước quốc tế khác;

- Dự thảo Bộ luật cơ bản đã thể chế hóa các quan điểm cải cách tư pháp của Đảng được thể hiện ở các Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 26/5/2005, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI của Đảng về vấn đề cải cách tư pháp

- Dự thảo đã cụ thể hóa được những nguyên tắc tư pháp tiến bộ liên quan đến Tố tụng hình sự quy định trong Hiến pháp 2013 như việc ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, mở rộng quyền bào chữa cho người bị bắt, người bị điều tra, truy tố, xét xử…Chú trọng mở rộng và đảm bảo thực hiện quyền con người trong Tố tụng hình sự

2 “Phiên họp thứ 18 của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương” – Cổng thông tin điện tử Bộ quốc phòng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Trang 7

- Dự án Bộ luật đã tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp vẫn đang phát huy được tác dụng tích cực; sửa đổi, bổ sung các quy định không còn phù hợp, khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất pháp luật, phù hợp với quy định của các văn bản luật có liên quan

Những tiến bộ của Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự được thể hiện thông qua một số vấn đề cụ thể như sau:

- Về sự phù hợp giữa hệ thống quyền hạn của các chủ thể tương ứng với việc phân định chức năng cơ bản trong TTHS Dự thảo đã có những sửa đổi, bổ sung phân định rành mạch các chức năng cơ bản của TTHS (buộc tội, bào chữa, xét xử) và quy định quyền, nghĩa vụ của các chủ thể cho phù hợp với sự phân chia các chức năng cơ bản này Loại bỏ các thẩm quyền không phù hợp với chức năng tố tụng của các chủ thể, đưa các chủ thể về đúng vị trí, vai trò tố tụng của mình

- Hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự đã được bổ sung và hoàn thiện, trở thành kim chỉ nam chỉ đạo hoạt động tố tụng hình

sự, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động này: Đổi tên và bổ sung nội dung nguyên tắc Suy đoán vô tội (Điều 9); sửa đổi và bổ sung thêm nội dung một số nguyên tắc nhằm thể chế hóa các nội dung của Hiến pháp năm

2013 như nguyên tắc “Đảm bảo tranh tụng, công bằng trong xét xử” (Điều 20), “Đảm bảo quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật” (Điều 30)…

- Chế định chứng cứ trong TTHS được sửa đổi, bổ sung, khắc phục được những vướng mắc trước đây và phù hợp hơn với tình hình thực tiễn Khái niệm về chứng cứ đã được ghi nhận lại một cách cụ thể, không gây

nhầm lẫn trong cách hiểu (“Chứng cứ là những thông tin có thật…” - Điều

67 Dự thảo, thay vì “Chứng cứ là những gì có thật…” - Điều 64 BLTTHS

hiện hành) Nguồn của chứng cứ cũng đã được bổ sung đầy đủ hơn đáp ứng

sự phát triển của thực tiễn.Ví dụ: Kết luận của Hội đồng định giá tài sản; Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp…đã được xem là những nguồn chứng cứ hợp pháp (Điều 68) Quyền thu thập chứng cứ đã được mở rộng cho những chủ thể như Người bào chữa

Trang 8

(Điều 84); các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra…

- Vấn đề quyền con người trong TTHS thực sự được quan tâm, đã thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013 Có nhiều nội dung được mở rộng, bổ sung nhằm hướng đến mục đích bảo vệ một cách tối đa nhất quyền con người, quyền công dân trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự Cụ thể, người tố giác tội phạm

có quyền yêu cầu cơ quan tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản (Điều 7); bảo đảm an toàn, bí mật riêng tư trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (Điều 8); cụ thể hóa yêu cầu của nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 9); quyền bào chữa của người bị bắt (Điều 11)…

- Về các biện pháp cưỡng chế Nhằm bảo đảm tính chặt chẽ và thống nhất trong việc quy định các biện pháp tố tụng liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân, trong dự thảo Bộ luật TTHS, toàn bộ

biện pháp cưỡng chế được điều chỉnh chung trong Chương VI“Những biện

pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự” Dự thảo quy định cụ thể hơn căn

cứ áp dụng biện pháp tạm giam; bổ sung thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền Ghi nhận cụ thể các biện pháp cưỡng chế khác như: phong tỏa tài khoản ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc kho bạc nhà nước (Điều 108); Tạm hoãn xuất cảnh (Điều 109)…tạo hành lang pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp này

- Về chế định bào chữa, dự thảo đã xây dựng một chương mới gồm 13 điều quy định về bào chữa với những nội dung sửa đổi, bổ sung: người bị bắt có quyền bào chữa (phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013); mở rộng diện người bào chữa đối với trợ giúp viên pháp lý; mở rộng trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa đối với bị can, bị cáo về tội theo khung

hình phạt có hình phạt tù chung thân Chương này cũng quy định cụ thể các

thủ tục mời, cử, chỉ định người bào chữa, trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa và các cơ chế để người bào chữa thực hiện tốt việc bào chữa, cũng như trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc bảo đảm quyền của người bào chữa

- Về phạm vi người tiến hành tố tụng cũng như việc tăng quyền và trách nhiệm cho người THTT Dự thảo Bộ luật TTHS sửa đổi, bổ sung cũng

Trang 9

thể chế hóa yêu cầu của cải cách tư pháp về tăng quyền, tăng trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán để họ chủ động hơn trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định của mình Dự thảo sửa đổi theo hướng, đối với những thẩm quyền tố tụng quan trọng, có tính chất mở đầu và kết thúc một giai đoạn tố tụng, những thẩm quyền liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân giao Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định Những thẩm quyền nhằm phát hiện, làm sáng tỏ sự thật

vụ án, giao Điều tra viên, Kiểm sát viên quyết định, trừ thẩm quyền quyết định thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định, định giá tài sản, truy nã bị can, bị cáo Tăng thẩm quyền cho Thẩm phán được quyết định áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, cấp và thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa Dự thảo cũng đã mở rộng diện người tiến hành tố tụng đối với trợ lý Điều tra viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên để phù hợp với thực tiễn, đồng thời, tăng cường trách nhiệm của các chủ thể này trong quá trình giải quyết vụ án

- Về mô hình tố tụng, nội dung của các điều luật cho thấy vẫntiếp tục duy trì những nội dung của mô hình TTHS thẩm vấn hiện hành nhưng có tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng, phù hợp với

điều kiện cụ thể của Việt Nam Nhằm đảm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng

trong xét xử và quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử công bằng, dự thảo bổ sung quy định trách nhiệm của Tòa án trong giải quyết yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng trước khi

mở phiên tòa Dự thảo bổ sung quy định Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa có quyền yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa Đồng thời, một điểm mới trong dự thảo cho phép bị cáo có quyền đặt câu hỏi với những người tham gia tố tụng khác nếu được Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa đồng ý, thay vì chỉ có quyền đề nghị chủ tọa hỏi như hiện hành Dự thảo quy định cụ thể trách nhiệm xét hỏi của kiểm sát viên tại phiên tòa, bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả thẩm vấn, tranh tụng và những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa

Hạn chế

Trang 10

Nhìn chung, dự thảo BLTTHS đã cơ bản đáp ứng được những yêu cầu, mục tiêu đặt ra cho lần sửa đổi này Nội dung các điều luật được sửa đổi, bổ sung phần nào đáp ứng được sự thay đổi của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội hiện nay Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm mà nhóm tác giả đã trình bày, Dự thảo BLTTHS vẫn còn một số vấn đề chưa thật sự phù hợp, hoặc có những nội dung cần thảo luận và tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện Cụ thể

đó là:

- Về địa vị pháp lý của các cơ quan có thẩm quyền Quyền hạn và trách nhiệm các các chủ thể được xác định dựa trên cơ sở phân định chức năng tố tụng Tuy nhiên, một vài quy định liên quan đến quyền hạn và trách nhiệm của những cơ quan THTT, người THTTtrong dự thảo vẫn chưa phù hợp với

lý luận này Ví dụ: Theo quy định tại Điều 10 của dự thảo thì trách nhiệm chứng minh tội phạm vẫn được xác định là trách nhiệm của một số cơ quan trong đó có Tòa án, điều này theo quan điểm của nhóm tác giả là không hợp

lý bởi vì về mặt lý luận, Trách nhiệm chứng minh tội phạm phải là trách nhiệm của bên buộc tội (Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra, Điều tra viên) Chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc giảm tội, giảm mức hình phạt là quyền của bên bào chữa.Tòa án không chứng minh tội phạm, không buộc tội bị cáo Tòa án khi xét xử,trách nhiệm của Tòa án là kiểm tra

sự thật thông qua việc tranh tụng của các bên chứ không phải là tự mình đi tìm sự thật thông qua việc xét hỏi Bên cạnh đó, đối với thẩm quyền khởi tố

vụ áncủa Tòa án, Điều 161 dự thảo còn tồn tại hai phương án (duy trì hoặc hủy bỏ) Tuy nhiên, tại Điểm d, Khoản 3 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân

dân năm 2014 (có hiệu lực từ tháng 6/2015) lại quy định:

“3 Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Tòa án có quyền… khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện bỏ lọt tội phạm…”

Như vậy, để phù hợp với các văn bản pháp luật khác, Luật TTHS phải tiếp tục duy trì thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án, và điều này

dẫn đến sự phân định rành mạch các chức năng không được đảm bảo…

- Về hệ thống các nguyên tắc, một số nguyên tắc không thể hiện đầy đủ nội dung (Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội phải bao gồm cả trách nhiệm chứng minh, trách nhiệm xác định sự thật vụ án nhưng trong dự thảo lại thể hiện thành 2 nguyên tắc riêng biệt ở hai điều luật độc lập); Hoặc có những

Trang 11

thay đổi không mang tính khả thi như từ “Xét xử công khai” thành “Thực hiện công khai trong hoạt động tố tụng hình sự” (Điều 18)…; Một số

nguyên tắc có nội dungchưa phù hợp triệt để với lý luận TTHS như nguyên

tắc “Đảm bảo tranh tụng, công bằng trong xét xử” (nếu đã thừa nhận những

hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng thì không thể chỉ tranh tụng trong xét xử mà còn tranh tụng trong cả các giai đoạn khác); một số nguyên tắc có nội dung tương tự nhau nhưng lại trình bày tản mạn, tách ra thành hai nguyên tắc độc lập, (nguyên tắc được quy định tại Điều 30, Điều 31 của Dự thảo)

- Về vấn đề chứng cứ và chứng minh Nội dung một số điều luật có liên quan đến vấn đề này còn thiếu sót, cần nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện như: Lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan chưa được xem là nguồn của chứng cứ (Điều 68); Hoặc để thu thập chứng cứ, NBC có thể gặp bị can,

bị cáo chứ không chỉ gặp bị hại, người làm chứng như quy định tại Điều 84…

- Về biện pháp cưỡng chế Đối với quy định về điều kiện áp dụng biện pháp tạm giam, hiện nay vẫn còn hai phương án đối với người phạm tội ít nghiệm trọng (Điều 97), nhưng theo quan điểm của chúng tôi thì Tạm giam

là biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất nên việc áp dụng biện pháp này cần hết sức thận trọng và chỉ áp dụng trong những trường hợp thật sự cần thiết Mặc khác, theo yêu cầu của Nghị quyết 49-

NQ/TW về cải cách tư pháp đã đặt ra yêu cầu “hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp tạm giam.” Như vậy, nếu

thực hiện triệt để nội dung Nghị quyết, thì phương án thứ 1 sẽ không phù hợp (liên quan đến điều kiện áp dụng biện pháp tạm giam đối với người thực hiện tội ít nghiêm trọng)

Mặc khác, các quy định về Biện pháp đặt tiền (hoặc tài sản) có giá trị

để đảm bảo (Điều 102); Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh (Điều 109) cũng là những vấn đề cần nghiên cứu, thảo luận và hoàn thiện thêm…

- Về tính độc lập trong hoạt động xét xử Mặc dù nội dung này đã được

quán triệt ngay trong nội dung của nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét

Trang 12

xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Điều 16) Tuy nhiên, nội dung một

số điều luật có liên quan vẫn chưa đảm bảo vấn đề này, ví dụ quy định về Giới hạn về xét xử (Điều 291) nếu như duy trì như hiện này (tức là chọn phương án 1); hoặc quy định về quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung của thẩm

khi “Khi có căn cứ cho rằng bị can phạm tội nặng hơn tội mà Viện kiểm sát

đã truy tố;” (Điều 273)

Như vậy, bên cạnh rất nhiều những ưu điểm mà nhóm tác giả đã phân tích, bản dự thảo cũng còn tồn tại một số những hạn chế nhất định Tuy nhiên, đây mới chỉ là dự thảo, vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu, trao đổi và hoàn thiện những vấn đề này vẫn có thể thực hiện trong thời gian tới./

Trang 13

BÌNH LUẬN DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ

1 Nguyên tắc suy đoán vô tội (Đ 9 Dự thảo)

Đánh giá nguyên tắc suy đoán vô tội trong dự thảo BLTTHS lần này (gọi tắt là Dự thảo) theo chuẩn mực quốc tế về quyền con người và Hiến pháp Việt Nam năm 2013, chúng tôi có một số nhận xét như sau:

- Khoản 1 Đ.14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) 1966 và khoản 1 Đ.31 Hiến pháp 2013 có quy định về Nguyên tắc suy đoán vô tội Đ.9 Dự thảo BLTTHS quy định như vậy là phù hợp với chuẩn mực chung Thật ra Đ.14 (2) ICCPR chỉ quy định: Người bị cáo buộc

là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật

Nhận xét cụ thể, Dự thảo quy định nguyên tắc suy đoán vô tội chặt chẽ hơn (khoản 1) và rộng hơn (suy đoán có lợi khoản 2 Đ.9 Dự thảo) so với BLTTHS năm 2003

- Ngoài ra, theo tôi, cũng nên bổ sung quyền im lặng trong các nguyên tắc cơ bản nguyên tắc suy đoán vô tội (Đ.9) hoặc nguyên tắc xác định sự

thật vụ án (Đ.10), cụ thể: "những người bị bắt tạm giam hoặc tạm giữ, bị can hoặc bị cáo có quyền từ chối khai báo trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào." Kiến nghị này phù hợp với Đ.14 khoản 3g của ICCPR và là cơ sở để

đưa quyền im lặng (quyền từ chối khai báo) vào hệ thống quyền, nghĩa vụ của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo Cá nhân tôi cho rằng việc ghi nhận quyền từ chối khai báo của người bị buộc tội bởi ý nghĩa chính trị pháp

lý tích cực của nó Thực tế quyền từ chối khai báo có mối quan hệ mang tính đảm bảo cho các quyền cơ bản khác, như quyền được suy đoán vô tội, quyền

tự bào chữa và nghĩa vụ chứng minh của cơ quan THTT, người THTT

Trang 14

Nếu được quy định quyền từ chối khai báo thành một trong những nội

dung của nguyên tắc xác định sự thật vụ án (Đ.10), thì cần giải thích thêm:

“sự từ chối khai báo (im lặng)không được dùng làm căn cứ để xác định có tội hoặc vô tội“

2 Nguyên tắc xác định sự thật vụ án (Đ.10 Dự thảo)

Nếu đặt tên đúng hơn thì đây là Nguyên tắc trách nhiệm chứng minh

BLTTHS Liên bang Nga xem bên nào có trách nhiệm chứng minh là một phần của nguyên tắc suy đoán vô tội (khoản 2 Đ.14 BLTTHS Liên bang Nga) Sự liên quan mật thiết của hai nguyên tắc suy đoán vô tội và trách nhiệm chứng minh (trách nhiệm xác định sự thật vụ án) cũng lý giải được phần nào khả năng nhập hai nguyên tắc này với nhau Quan điểm cá nhân tôi, nếu được bổ sung vào Đ.10 của Dự thảo thì cuối Điều luật thêm đoạn:

“Người bị bắt tạm giam hoặc tạm giữ, bị can hoặc bị cáo có quyền từ chối khai báo trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào Sự từ chối khai báo (im lặng) không được dùng làm căn cứ để xác định có tội hoặc vô tội (đề xuất của cá nhân tôi)“

3 Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa (Đ.11 Dự thảo)

Ở đây chú ý Điều 11 điểm 2 qui định tất cả các cơ quan có thẩm quyền phải bảo đảm cho bị can, bị cáo có thể thực thi quyền được bào chữa Mục tiêu là “mọi người được xét xử công bằng” theo tinh thần Đ.14 (1) ICCPR (có sự đảm bảo quyền bào chữa trong hoạt động xét xử) Tuy nhiên, có thể chỉ ra một số ưu điểm cũng như hạn chế cụ thể về quyền này trong các quy định của Dự thảo có liên quan để chứng minh quyền bào chữa có đảm bảo hơn nhưng vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của ICCPR:

- Ƣu điểm:

+ Mặc dù vẫn còn thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa nhưng cũng có

sự bổ sung về đối tượng được bào chữa là người bị bắt và đối với trường hợp này không cần thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa như những trường hợp còn lại (chỉ cần trình đủ giấy tờ hợp lệ) (khoản 5 Đ.117 Dự thảo)

+ Về trách nhiệm của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thông báo cho người bào chữa biết về thời gian, địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng (Đ.119 Dự thảo)

Trang 15

- Hạn chế: các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền bào chữa chưa được

đảm bảo tối đa (vi phạm nguyên tắc công bằng):

+ Thời điểm sớm nhất được phép tiếp cận hồ sơ vụ án: khi các bằng chứng quan trọng nhất trong quá trình điều tra đã được thu thập, thay vì thời điểm kết thúc điều tra như Dự thảo

+ Chưa quy định đảm bảo bào chữa bắt buộc (compulsory defence

counsel) đối với các án phạt tù rất dài ở các nhóm tội khác (lưu ý: mức án đối với các tội rất nghiêm trọng lên đến 15 năm tù, đặc biệt nghiêm trọng lên đến tù chung thân hoặc án tử hình)

+ Chưa có hình thức đảm bảo bào chữa lựa chọn không bắt buộc (not compulsory): là hình thức đảm bảo bào chữa cho người phạm tội nghiêm trọng có hòan cảnh khó khăn bằng nguồn kinh phí do nhà nước tạm ứng

theo đề nghị của người bị buộc tội (bị can, bị cáo phải trả chi phí nếu bị kết án)

+ Chưa có những quy định đảm bảo tự do giao tiếp không bị giám sát

giữa người bào chữa với người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam Những vấn đề cụ thể trên không dừng ở phạm vi mang tính nguyên tắc,

và sẽ được trình bày cụ thể hơn ở phần nhận xét của TS Lương Thị Mỹ Quỳnh Tuy nhiên, để đáp ứng được các điều kiện đó không chỉ là vấn đề của pháp luật mà còn là của thực tiễn, vấn đề tài chính của quốc gia

4 Nguyên tắc tranh tụng (Đ.20 Dự thảo)

Nguyên tắc xuất phát từ điều 103 khoản 5 của Hiến pháp 2013 và được qui định mới ở điều 20 khoản 1 Ngoài ra còn qui định nguyên tắc bình đẳng giữa viện kiểm sát và người bào chữa trước tòa án Nhìn chung các qui định

cụ thể về thủ tục tố tụng trước tòa có tính chất tranh tụng nhiều hơn

Quan điểm của cá nhân tôi: BLTTHS năm 2003 chỉ quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Đ.19 BLTTHS 2003) Dự thảo

bổ sung nguyên tắc bảo đảm tranh tụng và gộp với nguyên tắc bảo đảm công bằng (bình đẳng) trong xét xử trong một điều luật (Đ.20 Dự thảo) Bảo đảm tranh tụng và bảo đảm công bằng trong xét xử có quan hệ mật thiết với nhau Có thể xem bảo đảm công bằng (khoản 2 Dự thảo) là một phần (là điều kiện) của bảo đảm tranh tụng Nội dung của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng không chỉ được thể hiện ở khoản 1 mà còn ở khoản 3 (trách nhiệm tòa

Trang 16

án trong đảm bảo tranh tụng), khoản 4 (bản án, quyết định của tòa án chỉ dựa vào kết quả tranh tụng) của Dự thảo Nói ngắn gọn chỉ cần đặt tên

nguyên tắc bảo đảm tranh tụng Nội dung của nó được thể hiện ở tất cả các

khoản 1,2,3,4 của Dự thảo

Vấn đề khác cần bình luận thêm, đó là “các bên tranh tụng” Dự thảo liệt kê những chủ thể tham gia tranh tụng trước tòa án bao gồm kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có lợi ích (hoặc có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích) gắn với vụ án, mà không có sự phân biệt các bên tham gia tranh tụng

là những chủ thể có lợi ích xung đột Vậy, liệu có cần xác định rõ hai bên tham gia tranh tụng và vai trò của tòa án trong đảm bảo tranh tụng một cách bình đẳng, đúng pháp luật?3

Hơn nữa, nếu quy định chỉ có tranh tụng trước tòa án là quan niệm rất hẹp về tranh tụng, nó chỉ đồng nghĩa với tranh luận, một giai đoạn nhỏ (thủ tục) bắt buộc tại phiên tòa

tế, ngành công an (có văn bản về vấn đề này) vẫn tiến hành các hoạt động điều tra bí mật nhưng sau đó phải chuyển hóa chứng cứ để đảm bảo tính hợp pháp Nhà lập pháp kiến nghị

3 Tham khảo quy định của BLTTHS Liên bang Nga:

Điều 15 Tranh tụng giữa các bên

1 Hoạt động tố tụng hình sự được hình thành dựa trên cơ sở tranh tụng giữa các bên

2 Các chức năng buộc tội, gỡ tội và giải quyết vụ án hình sự (phán quyết) là độc lập với nhau và không thể giao cho cùng một cơ quan hoặc một người có thẩm quyền thực hiện

3 Tòa án không phải là cơ quan truy cứu trách nhiệm hình sự, không thuộc bên buộc tội hoặc bên gỡ tội Tòa án tạo những điều kiện cần thiết để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình

4 Bên buộc tội và bên gỡ tội (bào chữa) bình đẳng trước tòa án

Trang 17

Cá nhân tôi không phủ nhận vai trò của các hoạt động điều tra bí mật nhưng cần quy định rất chặt chẽ để tránh sự tùy tiện và vi phạm quyền con người, không trái với nguyên tắc pháp chế tại Đ.3 Dự thảo Thông tin thu thập được các hoạt động điều tra bí mật chưa được thừa nhận là chứng cứ theo luật TTHS Việt Nam bởi thiếu tính hợp pháp của chứng cứ Vì vậy, các

cơ quan THTT muốn sử dụng nó để buộc tội phải qua một khâu “chuyển hóa chứng cứ„ thông qua các hoạt động điều tra hợp pháp được BLTTHS quy định

Vấn đề cần lý giải thêm là TTHS Việt Nam vẫn theo mô hình thiên về

tố tụng thẩm vấn, có một giai đoạn điều tra kéo dài, có khi tiến hành bí mật

và cũng có điều kiện thu thập thông tin bí mật và tiếp tục chuyển hóa nó sao cho hợp pháp Nói tóm lại, việc chưa quy định các hoạt động điều tra bí mật vẫn không gây ra nhiều khó khăn cho cơ quan điều tra ở Việt Nam Vì vậy,

Dự thảo BLTTHS cần cân nhắc cụ thể hơn việc quy định hoạt động điều tra

bí mật Nếu có quy định thì phải hết sức hạn chế trong một số trường hợp và rất chặt chẽ (loại tội phạm nào, cơ quan điều tra nào được phép áp dụng, vấn

đề báo cáo để giám sát và công nhận các chứng cứ đó khi nó được đưa ra trước tòa) để tránh sự tùy tiện và lạm dụng

2 Việc loại trừ chứng cứ do thu thập trái pháp luật

Trong quá trình lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo có nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo BLTTHS thiếu quy định về việc xử lý các bằng chứng đã được

thu thập một cách trái với pháp luật khi mà Việt Nam chính thức gia nhập

Công ước quốc tế chống tra tấn (1984) Nếu các bằng chứng thu thập được bằng cách gây sức ép, sử dụng bạo lực, dọa dẫm hoặc lừa, thì không có giá trị sử dụng và bị loại khỏi hồ sơ Các bằng chứng được thu thập bằng cách khác có vi phạm pháp luật hoặc có vi phạm các qui định về hiệu lực thì không được phép sử dụng, trừ trường hợp việc sử dụng chúng là rất cần thiết

để phá các vụ án nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

Về vấn đề này, tôi có hai ý kiến:

Một là, các chứng cứ được thu thập bằng biện pháp bất hợp pháp sẽ bị loại trừ đã được ghi nhận tại khoản 3 Đ.68 Dự thảo Khoản 3 Điều 68 là quy định loại trừ chứng cứ nhưng lại được nghi nhận thành một nội dung trong

điều luật về nguồn chứng cứ Ở đây lưu ý là loại trừ chứng cứ chứ không

Trang 18

phải loại trừ nguồn chứng cứ Như vậy, hợp lý hơn vấn đề loại trừ chứng cứ cần được quy định tại một điều luật riêng (kế tiếp điều luật về chứng cứ) và

bổ sung đầy đủ hơn, rõ hơn về nội dung Căn cứ loại trừ chứng cứ không chỉ xem xét tính hợp pháp, tính liên quan mà còn tính khách quan của chứng cứ

Hai là, có trường hợp nào cho phép sử dụng chứng cứ được thu thập

trái pháp luật như một yêu cầu cần thiết để phá các vụ án nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng? BLTTHS không nên cho phép sử dụng chứng cứ thu thập có vi phạm pháp luật bởi rất dễ bị lạm dụng, tùy tiện và vi phạm quyền con người Theo công ước chống tra tấn, những chứng cứ có được từ sự tra tấn chỉ có thể sử dụng để buộc tội chính hành vi tra tấn đó4

3 Quyền đề xuất thu thập chứng cứ

Dự thảo đã có những tiến bộ trong việc quy định về quyền đề xuất (yêu cầu) thu thập chứng cứ cũng như những đảm bảo cho quyền này ở góc độ tố tụng Tuy nhiên, cần có quy định rõ ràng hơn, ít nhất là căn cứ và trách nhiệm giải thích của các bên trong việc đề xuất và từ chối yêu cầu Nội dung điều luật trong dự thảo cần bổ sung thêm là cơ quan tiến hành tố tụng

chỉ được phép từ chối yêu cầu thu thập chứng cứ nếu những gì thu thập được rõ ràng không liên quan đến vụ án Bên đưa ra đề xuất về thu thập chứng cứ phải giải thích về sự liên quan của của chứng đó Với kiến nghị

này hoàn toàn phù hợp với khoản 1 Điều 121 và khoản 3 Đ.122 Dự thảo, chỉ cần hoàn thiện thêm về mặt từ ngữ

4 Thu thập chứng cứ của người bào chữa

Ở đây có sự lo ngại người bào chữa ít có khả năng tự thu thập chứng cứ

do Dự thảo không quy định rõ những đảm bảo thu thập chứng cứ và yêu cầu

cơ quan THTT thu thập chứng cứ hoặc giúp đỡ người bào chữa thu thập chứng cứ

Quan điểm của tôi về vấn đề này như sau:

Khái niệm pháp lý về chứng cứ được quy định tài Đ.67 Dự thảo không loại trừ chứng cứ do người bào chữa tự thu thập Người bào chữa và những

4 Điều 15 của Công ước chống tra tấn (1984)Mỗi Quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng bất kỳ phát ngôn nào được đưa ra như là kết quả của tra tấn sẽ không được sử dụng làm bằng chứng trong bất kỳ tiến trình tố tụng nào, trừ khi để làm bằng chứng chống lại một người bị cáo buộc là đã thực hiện hành động tra tấn để

có lời khai người đó

Trang 19

người tham gia tố tụng khác có quyền tự thu thập hoặc cung cấp chứng cứ5

Khoản 1 Đ.122 nên bổ sung thêm “thu thập chứng cứ” cho thống nhất Khoản 2 Đ.122 của dự thảo là không cần thiết (thừa)

Với lý do trách nhiệm chứng minh thuộc cơ quan THTT và người bào chữa thường gặp khó khăn trong việc tự thu thập chứng cứ nên trước hết người bào chữa có quyền yêu cầu cơ quan THTT thu thập chứng cứ Nếu cơ quan THTT từ chối yêu cầu, đề nghị của người bào chữa phải nêu rõ lý do bằng văn bản để làm cơ sở cho hoạt động khiếu nại

Những chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền thu thập phải đảm bảo ít nhất tính hợp pháp ngay từ đầu Việc lấy lời khai theo cách thức, trình tự, thủ tục được quy định từ điều 189 trở đi chỉ dành cho cơ quan THTT, không

áp dụng cho người bào chữa, bởi họ không thể triệu tập, dẫn giải theo mệnh lệnh Đối với cơ quan THTT, chứng cứ chỉ được công nhận là hợp pháp nếu được thu thập đúng nguồn, đúng thẩm quyền, bằng biện pháp điều tra do luật định và theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định Còn đối với người bào chữa và người tham gia tố tụng khác, chứng cứ được thu thập theo khả năng của họ nhưng đảm bảo tính khách quan và liên quan đến vụ

án và được cơ quan THTT công nhận khi kiểm tra, đánh giá các chứng cứ

đó bằng ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm

Theo tôi không cần qui định rõ trong điều 122 2, người bào chữa có thể tự mình thu thập bằng chứng nào với lý do nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa thu thập chứng cứ đa dạng Nếu được, có thể bổ sung thêm trách nhiệm chi phí cho việc tự thu thập chứng cứ Trong trường hợp cơ quan THTT từ chối thu thập chứng cứ theo yêu cầu, người bào chữa phải tự thu thập đó nhưng được Tòa án chấp nhận làm căn cứ để giải quyết vụ án thì nhà nước phải chi trả kinh phí cho bên tự thu thập Đương nhiên, người bào chữa hay người tham gia tố tụng khác phải chịu chi phí cho quá trình tự thu thập chứng cứ, nếu chứng cứ đó không được chấp nhận

Ý kiến khác về quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa sẽ được

TS Lương Thị Mỹ Quỳnh chia sẻ với hội thảo

5 Khác với quy định của BLTTHS 2003 hiện hành, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác chỉ có quyền thu thập (đưa ra) tài liệu, đồ vật, yêu cầu (mà không phải là chứng cứ) Dự thảo lần này có sự thay đổi, bổ sung thêm quyền thu thập chứng cứ (xem điểm d Đ.112 và các Điều luật từ 52 đến 59 Dự

Trang 20

5 Đối chất

BLTTHS năm 2003 quy định: „Trong trường hợp có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người thì điều tra viên tiến hành đối chất“

Thực tế quy định này gây khó cho cơ quan điều tra bởi không phải lúc nào

có mâu thuẫn trong lời khai cũng phải đối chất Việc những người tham gia

tố tụng khai báo mâu thuẫn trong một vụ án khá phổ biến Ngoài đối chất,

cơ quan điều tra có thể sử dụng nhiều biện pháp điều tra khác để xác định tính đúng đắn trong lời khai hoặc không sử dụng chứng cứ từ lời khai nào đó không phù hợp với các chứng cứ khác Mặt khác, cũng cần hiểu rằng đối chất sẽ gặp một số khó khăn hoặc phản tác dụng nếu không thực hiện đúng quy trình Trong thực tiễn giải quyết vụ án thời gian qua, nhiều ý kiến cho rằng cơ quan tiến hành tố tụng đã vi phạm tố tụng nếu không cho đối chất trong trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai Nhận xét đó có tính máy móc nhưng có cơ sở bởi luật đã quy định như vậy Từ những vướng mắc đó, Dự

thảo lần này bổ sung thêm chỉ đối chất xét thấy cần thiết (Điều 193 khoản 1

Dự thảo) Việc bổ sung này có vi phạm quyền được đối chất theo điều 14 3

(e) của ICCPR không? Quyền được bảo đảm này theo ICCPR là có giá trị

mà không bị hạn chế nào

Theo tôi hiểu, đối chất trong TTHS Việt Nam là hoạt động điều tra được tiến hành khi có sự mâu thuẫn trong lời khai giữa hai hay nhiều người, không có sự phân biệt là của bên buộc tội hay bên bào chữa và chỉ được sử

dụng nếu xét thấy cần thiết Đây cũng là quyền của người có quyền quyết

định đối chất (Điều tra viên) như khoản 1 Đ.93 Dự thảo Bổ sung về hạn chế đối chất chỉ trong trường hợp cần thiết là tránh sự máy móc tổ chức đối chất ngay cả trường hợp không thật cần thiết như quy định tại Điều 138 của BLTTHS 2003

Các chủ thể, bao gồm bị can, bị cáo có quyền yêu cầu đối chất, điều đó phù hợp với điểm e khoản 3 Điều 14 ICCPR Bị can, bị cáo có quyền khiếu nại việc từ chối yêu cầu đối chất, thẩm vấn những người đưa ra chứng cứ buộc tội mình theo quy định chung về khiếu nại Đây không phải là thủ tục

thẩm vấn chéo bắt buộc như trong TTHS của một số nước

Trang 21

VỀ MỘT SỐ ĐIỀU TRONG DỰ THẢO SỬA ĐỔI

BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TS Lương Thị Mỹ Quỳnh Giảng viên khoa luật Hình sự

Bài viết tập trung nhận xét và đánh giá Dự thảo sửa đổi BLTTHS về 2 nội dung: (1) Quyền bào chữa; (2) Quyền im lặng

I Quyền bào chữa của người bị buộc tội

Cơ sở pháp lý: Điều 14 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (ICCPR) ghi nhận: một người bị cáo buộc về một hành vi phạm tội sẽ có quyền (1) được có khoảng thời gian hợp lý và các điều kiện đầy đủ để chuẩn

bị việc bào chữa, và có quyền trao đổi với người bào chữa (viết tắt là NBC)

do mình lựa chọn; (2) có quyền tự bào chữa hoặc thông qua NBC do mình lựa chọn; (3) NBC chỉ định sẽ được cung cấp cho một người vì lợi ích chung của công lý, hoặc trong trường hợp một người không có khả năng chi trả cho NBC6

Ở phạm vi khu vực, hiện tại quyền có NBC được ghi nhận trong các Công ước về quyền con người ở 3 khu vực, bao gồm Châu Âu, Châu Mỹ, và Châu Phi

qua những quyền cơ bản dưới đây

Trang 22

So với nội dung được ghi nhận tại ICCPR, Pháp luật TTHS Việt Nam

- Bổ sung thêm chủ thể được bảo đảm quyền đối với người bị bắt (Điều

11 về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa) cho phù hợp với quy định của Hiến pháp 2013;

- Ghi nhận người bị buộc tội có quyền được trình bày lời khai; đọc chép

và sao chụp tài liệu, biên bản tố tụng liên quan đến việc bào chữa trong từng giai đoạn tố tụng; có quyền yêu cầu triệu tập người làm chứng

- Dự thảo cũng đã bổ sung thêm một Chương riêng về Hoạt động bào chữa, trong đó quy định rõ hơn các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa,

cụ thể là:

+ Thời điểm tham gia vụ án (ngay khi có người bị bắt giữ) Có quyền tham gia từ khi lấy lời khai của người bị bắt và người bị tạm giữ và khi hỏi cung bị can; có mặt trong hoạt động khám nghiệm hiện trường, kê biên tài sản; xem các biên bản tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa, sao chụp hồ sơ liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra… (Điều 112)

+ Có quyền triệu tập nhân chứng; tự mình thu thập chứng cứ và đề nghị

cơ quan THTT bằng văn bản ghi nhận chứng cứ do mình thu thập;

+ Bổ sung đầy đủ hơn trách nhiệm của cơ quan THTT trong việc tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện chức năng của mình như: gặp gỡ thân chủ bị giam giữ; thông báo cho NBC thời gian và địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng; tạo điều kiện cho việc sao chụp tài liệu liên quan đến hoạt động bào chữa; liên hệ người bào chữa nếu người bị giam giữ có yêu cầu nhờ người bào chữa; tạo điều kiện cấp giấy chứng nhận NBC trong từng

Trang 23

giai đoạn tố tụng (trừ trường hợp tham gia bào chữa khi có người bi bắt (Điều 112 và Điều 117);

+ Mở rộng đối tượng được hưởng chính sách bào chữa chỉ định đối với người bị bắt và bị tạm giữ;

+ Mở rộng diện bào chữa chỉ định đối với những người phạm tội có mức nghiêm trọng có thể bị truy tố mức án chung thân

Thứ nhất, bào chữa chỉ định (bào chữa bắt buộc, bào chữa miễn phí)

Trang 24

việc xác nhận điều này là khá phức tạp.10

.11

.12

BLTTHS hiện hành và Dự thảo sửa đổi cùng thống nhất cách hiểu bào những trường hợp cần thiết bắt buộc phải có người bào chữa tham gia tố tụng đồng thời với nghĩa vụ phải chỉ định người bào chữa của cơ quan THTT trong các trường hợp đó Tuy nhiên, đúng như nhận xét của diễn giả, trong cả Dự thảo sửa đổi BLTTH, thì nhà làm luật vẫn ghi nhận rất hạn chế phạm vi cần phải chỉ định NBC, mặc dù đã mở rộng hơn so với Bộ luật hiện hành

So sánh với tinh thần Điều 14 của CPPR và quy định của nhiều nước, chúng tôi đề xuất mở rộng đối tượng được bào chữa bắt buộc miễn phí cần nên áp dụng đối với cả người phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng theo tinh thần của Điều 10 BLHS là có cơ sở

Thứ hai, chính sách bào chữa đối với người bị buộc tội là người nghèo, có hoàn cảnh khó khăn

Trang 25

Như đã phân tích, theo các văn bản pháp lý quốc tế,

Pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành chưa ghi nhận bảo đảm quyền bào chữa miễn phí đối với người bị buộc tội là người có hoàn cảnh khó khăn (nghèo) Với tinh thần của ICCPR, một trong những tiêu chí bảo đảm có người bào chữa miễn phí là khi người bị buộc tội chứng minh được anh ta không có khả năng tài chính để thuê người bào chữa Trên thực tế, quyền này được gián tiếp ghi nhận trong Luật trợ giúp pháp lý 2006 Luật này có ghi nhận chính sách các đối tượng là hộ nghèo sẽ được trợ giúp miễn phí bởi các văn phòng trợ giúp pháp lý trong đó có hoạt động bào chữa miễn phí Tuy nhiên, để tạo sự thống nhất và rõ ràng trong quy định của pháp luật, vẫn cần thiết phải được ghi nhận trong BLTTHS Do vậy, chúng tôi đề xuất hướng quy định chi phí thuê NBC trong trường hợp đối với người nghèo cần phải có cơ chế thực hiện rõ ràng để đảm bảo song song hai mục đích (quyền lợi của nhà nước và quyền lợi của công dân bị buộc tội)

Thứ ba, quyền tham gia của NBC trong các hoạt động tố tụng

9)

Trang 26

Ở nội dung này, Điều 63 của dự thảo sửa đổi BLTTHS là sự thể chế hóa quy định tại Điều 103 Hiến pháp 2013 về nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa xét xử VAHS, trong đó không chỉ bảo đảm quyền của bị cáo mà của cả những người tham gia tố tụng khác như (người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan) Bên cạnh đó, Điều 112 Dự thảo sửa đồi BLTTHS đã ghi nhận các nội dung về thời điểm tham gia các hoạt động tố tụng đối với người bị buộc tội Tôi cho rằng điều này đã thể hiện sự thống nhất các vấn đề cần cụ thể hóa Hiến pháp 2013

Thứ tư, quyền tiếp cận hồ sơ vụ án

Tôi cho rằng việc qui định cho phép tiếp cận hồ sơ vụ án ở giai đoạn kết thúc điều tra như trong dự thảo là quá muộn là không linh hoạt, đồng thời không cho phép có được việc bào chữa hiệu quả đối với tất cả các cuộc điều tra lớn Vì vậy, tôi cho rằng nên cho phép xem hồ sơ khi thấy không có nguy cơ có thể tác động một cách trái phép vào các bằng chứng cần được thu thập (ví dụ như thông cung với các đồng phạm, những người này không

bị bắt giam hoặc là nguy cơ gây tác động lên người làm chứng)

Thứ năm, quyền của NBC tiếp cận với người bị bắt giữ và tạm giam trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử

.13 Ủy ban về quyền con người của Liên hợp quốc đã

lưu ý rằng quyền được tiếp cận tới NBC là hết sức quan trọng đối với việc

bảo vệ quyền của người đang bị giam giữ (Bình luận chung số 20, đoạn 11)

Tổ chức này cũng lưu ý, việc liên lạc với NBC cần phải được thực hiện

trong những điều kiện bảo đảm sự bí mật của việc trao đổi và “luật sư cần phải được tư vấn và đại diện cho thân chủ của mình theo các chuẩn mực nghề nghiệp đã được thiết lập mà không được có sự hạn chế, áp lực hoặc tác động không chính đáng từ bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào.” (Bình luận chung số 13, đoạn 9) Trong phần lớn các vụ việc có liên quan tới vấn đề này của Ủy ban về quyền con người của Liên hợp quốc, quyền được liên lạc

với NBC được xem là điều kiện cần để bảo vệ các quyền của người bị buộc

13 Nội dung tương tự cũng được quy định tại Điều 8.2(d) ACHR, Điều 6(3)(c) ECHR, Điều 7(1)(c) AfCHPR, Nguyên tắc 8 - 22 của Tập nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về vai trò của luật sư, Nguyên tắc 18 của Bộ nguyên tắc về bảo vệ chống lại bất kỳ hình thức bắt giam hoặc phạt tù, và Quy tắc 93 của Bộ quy tắc ứng xử tối thiểu của Liên hợp quốc đối với tù nhân

Trang 27

tội khi đang bị tạm giam, hay khi họ không thể thuê NBC hoặc khi việc liên

lạc cá nhân của người bị buộc tội bị từ chối.14

Cũng với tinh thần trên, các bản án của ECtHR15

cũng cho rằng sự liên lạc giữa người bị giam giữ với thế giới bên ngoài (bao gồm cả với người bào chữa) phải được cho phép một cách tự do và bảo đảm sự riêng tư Sự liên lạc

có thể được thực hiện thông qua thư, điện thoại hoặc bất kỳ phương tiện liên lạc nào

Với tinh thần trên, Điều 120 của Dự thảo vẫn còn rất hạn chế khi gợi ý việc gặp gỡ thân chủ phải có đơn đề nghị của NBC Điều này không đúng với tinh thần của ICCPR và hạn chế hoạt động bào chữa Tôi đề xuất cần

chỉnh sửa lại Điều 120 rằng: "người bị bắt, người bị tạm giam, tạm giữ được phép liên lạc tự do với người bào chữa của mình và những nội dung của việc liên lạc đó không bị giám sát Nếu có đủ lý do nghi ngờ về việc quyền này bị lợi dụng thì điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán được giao phụ trách vụ việc có quyền hạn chế việc liên lạc trong một khoảng thời gian nhất định Quyết định hạn chế của điều tra viên phải được viện kiểm sát cùng cấp thông qua trong vòng 24 tiếng sau khi nhận được quyết định của điều tra viên."

Thứ sáu, quyền tham gia thu thập bằng chứng

Theo Điều 112.1(b), quyền của NBC sẽ bị hạn chế nếu quy định chỉ cho phép họ hỏi người bị bắt giữ, bị can nếu được Điều tra viên hoặc KSV đồng ý và không hoàn toàn phù hợp với tinh thần của ICCPR về quyền thu thập chứng cứ của NBC Rõ ràng, nếu NBC không được quyền trao đổi với thân chủ, việc ghi nhận bằng chứng trong các lần lấy lời khai, hỏi cung có thể gặp khó khăn nếu như quyền được yêu cầu đồi chất khg được bảo đảm Tôi cũng đề xuất bổ sung Điều 193 của Dự thảo về hoạt động Đối chất theo hướng nên cho phép bị can, bị cáo được quyền yêu cầu tiến hành đối chất với nhân chứng để khẳng định tính chính xác về chứng cứ Đồng thời, NBC nếu có cũng cần được tham gia khi tiến hành đối chất, kể cả các trường

Trang 28

hợp đối với những người tham gia tố tụng khác (Điều 63 về người đại diện hợp pháp của đương sự)

Thứ bảy, về quyền tự thu thập bằng chứng của NBC

Tôi cho rằng quy định của Dự thảo về vấn đề này chưa chặt chẽ và chưa rõ ràng về quyền của NBC Dự thảo ghi nhận NBC có quyền tự thu thập bằng chứng, có quyền đề xuất chứng cứ, cơ quan THTT có trách nhiệm

hỗ trợ NBC trong việc tiếp cận với cá nhân tổ chức để thu thập chứng cứ Tuy nhiên, Dự thảo cũng ghi nhận cơ quan THTT cũng có quyền từ chối chứng cứ mà NBC đề xuất Chính vì thế, tôi đề xuất nên quy định rõ ràng loại chứng cứ nào NBC được thu thập? NBC có được gặp gỡ những người tham gia như nhân chứng, nguyên đơn để thu thập chứng cứ ? Tất cả những điều này sẽ tạo cơ sỡ pháp lý vững chắc hơn về nguồn chứng cứ mà NBC cung cấp, đặc biệt trong trường hợp có tiêu cực từ phía cớ quan THTT

II Quyền im lặng

Quyền im lặng đã được xây dựng trên nguyên tắc „đặc quyền chống lại

sự tự buộc tội‟ (privilege against self-incrimination).16

Một số văn bản pháp luật quốc tế chỉ ghi nhận hoặc là đặc quyền chống lại sự tự buộc tội hoặc là quyền im lặng, một số khác quy định cả hai Công ước LHQ về các quyền dân sự và chính trị (điểm g khoản 3 điều 14) và Công ước về các quyền của trẻ em (điểm iv khoản 2 điều 40) ghi nhận nguyên tắc: „Mọi người không bị bắt buộc phải khai báo để chống lại mình hoặc phải nhận tội‟.Theo đó, một người không bắt buộc phải trả lời những câu hỏi có khả năng dẫn đến việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Hiện tại, Dự thảo vẫn đang bỏ ngỏ về quyền im lặng Trên thực tế cũng tồn tại hai luồng quan điểm trái chiều Những ý kiến ủng hộ ghi nhận quyền

im lặng chủ yếu từ giới luật sư và nhà nghiên cứu học thuật; ngược lại, ý kiến trái chiều không ủng hộ chủ yếu trong ngành điều tra, và kiểm sát

Theo quan điểm cá nhân, Quyền im lặng cần phải được nhìn nhận trên cơ sở:

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w