1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của chủ nghĩa mác lênin, tư tưởng của hồ chí minh về nhà nước với vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam hiện nay

120 43 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước không những có ý nghĩa lịch sử mà còn cung cấp cho chúng ta những kinh nghiệm quý báu để tiến hành cải

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN,

TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN,

TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

Trang 4

trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC 12

1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC 12

1.1.1 Quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen về nhà nước 12

1.1.2 Quan điểm của V.I.Lênin về nhà nước 28

1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 35

1.2.1 Quá trình nhận thức về nhà nước pháp quyền 35

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân 39

Kết luận chương 1 50

Chương 2: VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY 52

2.1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NÓ 53

2.1.1 Quá trình hình thành quan điểm về nhà nước pháp quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam 52

2.1.2 Nh ng đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 59

2.2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY 68

Trang 5

2.2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng, hoàn thiện Nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay 83

Kết luận chương 2 101

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đang tiến hành thực hiện cuộc vận động sâu rộng trong toàn quốc nhằm góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Căn cứ lý luận đặt nền tảng cho việc tiếp tục khẳng định và kế thừa mô hình bộ máy nhà nước được quy định trong Hiến pháp 1992 và bổ

sung một số thiết chế mới trong Dự thảo trước hết là quan điểm xây dựng và

không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong điều kiện đặc thù của Việt Nam Quan

điểm này đã được khẳng định trong Hiến pháp hiện hành, nước ta chủ trương xây dựng một nhà nước pháp quyền vừa mang các đặc trưng phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung, vừa chứa đựng những giá trị nhân

loại vừa thể hiện các giá trị đặc thù của Việt Nam

Về phương diện lý luận, không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc Mỗi một quốc gia, dân tộc, tùy thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế -

xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp Thực tiễn xây dựng và vận hành của nhà nước pháp quyền tại các nước trên thế giới cho chúng ta thấy, mỗi một quốc gia đều có cách thức xây dựng, tổ chức nhà nước pháp quyền theo cách riêng của mình Các khảo sát kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền tại một số nước phát triển trên thế giới cho thấy ở các nước này, mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền được tổ chức vừa thống nhất vừa đa dạng, phản ánh các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, đồng thời các giá trị đặc thù của mỗi quốc gia

Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan

Trang 7

Tính tất yếu lịch sử đó của nhà nước pháp quyền bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của nhà nước ta Ngay từ khi thành lập, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

đã là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp Nhà nước được tổ chức, hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật, luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm

1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp 1992 và Luật Tổ chức QH, Luật

Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở của Hiến pháp Mỗi lần Hiến pháp được sửa đổi là những bước củng cố pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước Vì vậy quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới Sau đó

là Hiến pháp năm 1946 Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều giai đoạn phát triển mang dấu ấn lịch sử Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầm cao mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới

Lịch sử đã chứng minh rằng, các dân tộc thường có những vĩ nhân mà cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và hành động gắn liền với cả một giai đoạn lịch sử đầy sôi động, đầy biến cố của dân tộc đó; phản ánh ý chí, nguyện vọng của các dân tộc bằng hoạt động của mình đã góp phần vào sự phát triển của thời đại C.Mác, Ph.Ănghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh là những con người tiêu biểu như vậy

Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước vô cùng sâu sắc và là hạt nhân cốt lõi Nó chứa đựng những giá trị to lớn cả về phương diện lý luận và thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam; là cẩm nang để sự nghiệp đổi mới, xây dựng Nhà nước

Trang 8

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tiến trình mở rộng quan hệ quốc tế đi tới thành công

Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước không những có ý nghĩa lịch sử mà còn cung cấp cho chúng ta những kinh nghiệm quý báu để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức thực sự là công bộc của dân, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đấu tranh loại bỏ những thói hư, tật xấu trong bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo cho nhà nước luôn giữ được bản chất cách mạng, từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam

Xây dựng Nhà nước pháp quyền là xu hướng tất yếu khách quan, nhưng đối với chúng ta đây là nhiệm vụ hết sức mới mẻ Trên thế giới cũng chưa có quốc gia, dân tộc nào khẳng định đã xây dựng thành công nhà nước pháp quyền, mà mới chỉ đạt được một số thành tựu nhất định Mặt khác, không có một nhà nước pháp quyền với tư cách là khuôn mẫu chung cho tất

cả các quốc gia, dân tộc Do vậy, cùng với việc tiếp thu những giá trị có tính chất phổ biến về nhà nước pháp quyền mà nhân loại đã đạt được, chúng ta cần nghiên cứu, kế thừa và vận dụng những giá trị trong kho tàng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước để từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc trưng riêng, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, và vì dân với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh thì quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền nói

Trang 9

riêng có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng nhà nước thật

sự dân chủ, một nhà nước thật sự của dân, vì quyền và lợi ích của nhân dân

Vì vậy, tôi chọn Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của Hồ

Chí Minh về Nhà nước với vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay để làm đề tài luận văn thạc sỹ cho mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu đề tài này, theo chúng tôi có thể phân thành hai nhóm chính:

Nhóm thứ nhất, những tư tưởng cốt lõi về nhà nước trong các tác phẩm kinh điển tiêu biểu của các nhà sáng lập học thuyết Mác – Lênin

Trong học thuyết chuyên chính vô sản, học thuyết về nhà nước kiểu mới của chủ nghĩa Mác-Lênin, thuật ngữ nhà nước pháp quyền với ý nghĩa đầy đủ nhất chưa được các nhà kinh điển sử dụng Song những tư tưởng cốt lõi về nhà nước pháp quyền đã được các ông đề cập đến trong những bối cảnh khác nhau Có thể thấy, những tư tưởng nổi bật về nhà nước pháp quyền của các ông khi bàn về chế độ dân chủ mới - dân chủ vô sản, đó là dân chủ “do nhân dân tự quy định”; là bước chuyển từ “nhân dân của nhà nước” sang “nhà nước của nhân dân”, là chế độ dân chủ xuất phát từ con người và pháp luật cũng vì con người Đặc biệt là tư tưởng của các ông về nhà nước kiểu mới - nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước dân chủ cao nhất, triệt để nhất Các ông chủ trương xây dựng nhà nước hợp hiến, hợp pháp; là nhà nước đảm bảo cho “tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” Nhà nước đó xây dựng và phát triển một xã hội có khả năng tạo ra những điều kiện cơ bản để “giải phóng cá nhân” theo phương châm “xã hội sẽ không thể giải phóng nếu không giải phóng mỗi cá nhân riêng biệt” Những tư tưởng cốt lõi đó của C.Mác và Ph.Ăngghen đã được V.I.Lênin vận dụng và làm rõ hơn khi Người lãnh

Trang 10

đạo nhân dân Nga xây dựng nền pháp luật kiểu mới, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nhìn chung, tư tưởng cốt lõi về nhà nước pháp quyền trong học thuyết Mác-Lênin tập trung vào một số tác phẩm và nội chính chính sau:

Một là, về bản chất dân chủ trong nhà nước và nhà nước pháp quyền

Ở nhiều tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận bàn về dân chủ, về

xã hội công dân với tư cách là những tiêu chí của nhà nước, xã hội tiến bộ:

Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai Ông đã viết: “…Bước

thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ…; Nhà nước, tức là giai cấp vô sản được

tổ chức thành giai cấp thống trị” [40; tr 626] và “Mục đích trước mắt của những người Cộng sản là… lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp

vô sản giành lấy chính quyền” [40; tr 626]

Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Ghôta, C.Mác đã chỉ rõ: Từ “dân

chủ” nếu chuyển qua tiếng Đức thì có nghĩa là “nhân dân nắm chính quyền” [44; tr.44-45] Điều đó có nghĩa dân chính là chủ thể quyền lực nhà nước, nhân dân tạo nên nhà nước chứ không phải nhà nước tạo nên nhân dân C.Mác viết: “Chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước thành con người được khách thể hóa Cũng giống như tôn giáo không tạo ra con người mà con người tạo ra tôn giáo, ở đây cũng vậy: không phải chế độ nhà

nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra nhà nước” [37; tr 349- 350]

Chủ nghĩa Mác cho rằng, chế độ dân chủ hoàn toàn khác với chế độ quân chủ chuyên chế, nó xứng đáng dành cho con người, bởi: “Dưới chế độ quân chủ, tổng thể tức nhân dân, bị đặt vào một trong những hình thức tồn tại, tức chế độ chính trị của họ Còn trong chế độ dân chủ thì bản thân chế

độ nhà nước thể hiện ra là một trong những tính quy định, cụ thể là sự tự

quy định của nhân dân” [37; tr 349-350]

Trang 11

Sự khác biệt giữa chế độ dân chủ với chế độ chuyên chế, theo C.Mác chính là do chế độ dân chủ có đặc trưng cơ bản là luật pháp tồn tại vì con người: “Dưới chế độ dân chủ, không phải con người tồn tại vì pháp luật, mà pháp luật tồn tại vì con người; ở đây sự tồn tại của con người là pháp luật, trong khi đó thì ở những hình thức khác nhau của chế độ nhà nước, con người lại là tồn tại được quy định bởi luật pháp Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chế độ dân chủ là như vậy” [37; tr.349 - 350]

Hai là, về chủ thể quyền lực nhà nước phải thuộc về đa số

Không chỉ làm rõ sự khác biệt giữa chế độ dân chủ với chuyên chế mà C.Mác còn chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa dân chủ vô sản và dân chủ tư sản, phê phán sự hạn chế dân chủ trong nhà nước tư sản C.Mác khẳng định dân chủ chính là chế độ nhà nước do dân nắm quyền lực Nhà nước luôn luôn mang bản chất giai cấp, không có nhà nước chung chung, dân chủ phi giai cấp Theo đó, nhà nước tư sản dù có bước tiến bộ so với các chế độ nhà nước trước đó, song do dựa trên cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội của nó, nhà nước tư sản chỉ là và khi nào (dù điều chỉnh) cũng vẫn là nhà nước của giai cấp bóc lột bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột, chống lại nhân dân, không phải là nhà nước do nhân dân nắm quyền, tổ chức thực hiện và kiểm soát quyền lực Nhà nước tư sản dù tồn tại dưới hình thức quân chủ hay cộng hoà thì bản chất vẫn là một “chuyên chính tư sản” [44; tr.46] Để thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản trong điều kiện chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, C.Mác cho rằng, phải thông qua chế độ cộng hòa dân chủ Điều này đã được

V.I.Lênin nhắc lại sau này trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng: “Tư

tưởng xuyên suốt trong các tác phẩm của C.Mác là chế độ cộng hòa dân chủ

là con đường ngắn nhất đưa đến chuyên chính vô sản” [28; tr.98-99]

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác và trong điều kiện mới, V.I.Lênin tiếp tục khẳng định bản chất giai cấp của nhà nước và phân biệt sự

Trang 12

khác nhau giữa nhà nước của giai cấp bóc lột với nhà nước của giai cấp vô sản [27; tr.303] Bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để giai cấp này trấn áp giai cấp khác: “Bất cứ một nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dùng bạo lực, nhưng toàn bộ sự khác nhau là ở chỗ dùng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với kẻ đi bóc lột, ở chỗ có dùng bạo lực đối với giai cấp những người lao động và những người bị bóc lột hay không” [34; tr.380] V.I.Lênin đã cho rằng, chỉ có nhà nước mà quyền lực thuộc về nhân dân thì nhà nước mới có thể quản lý được xã hội phù hợp với quy luật, phục vụ lợi ích nhân dân, bởi vì: “Nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số Nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác quyền lợi của đa số thì việc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa

số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy” [34; tr.52] Cũng bằng cách phân tích như vậy, V.I.Lênin đã nhấn mạnh và làm rõ nhà nước tư sản là bộ máy bạo lực có tổ chức của giai cấp tư sản đi trấn áp giai cấp công nhân và nhân dân lao động Ông phê phán nền dân chủ trong nhà nước tư sản, một thứ dân chủ nửa vời, cắt xén, giả hiệu, đồng thời Ông cũng phê phán những luận điệu ca ngợi chế độ cộng hòa dân chủ (tư sản)

là “chính quyền toàn dân” hay dân chủ nói chung, xem nhà nước tư sản là nhà nước chung chung phi giai cấp Theo V.I.Lênin, chế độ cộng hòa dân chủ chẳng qua chỉ là chuyên chính của giai cấp tư sản, chuyên chính của những kẻ bóc lột đối với quần chúng lao động: “Bất luận nhà nước nào kể cả cộng hòa dân chủ nhất, cũng chỉ là một bộ máy mà giai cấp này dùng để đàn áp giai cấp khác Nghị viện tư sản dù là nghị viện dân chủ nhất trong một nhà nước cộng hòa dân chủ nhất, trong đó quyền sở hữu của bọn tư bản và chính quyền

Trang 13

của chúng vẫn được duy trì thì vẫn là bộ máy để cho một nhúm người bóc lột dùng để đàn áp người lao động ” [34; tr.52]

Tuy nhiên, V.I.Lênin cũng nhắc nhở những người Cộng sản, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nhà nước chưa thể “tự tiêu vong” hoàn toàn được vì vẫn còn các giai cấp và sự khác biệt giữa các giai cấp thậm chí vẫn còn một nhà nước kiểu tư sản nhưng không có giai cấp tư sản V.I.Lênin viết: “Trong một thời gian nhất định, dưới chế độ cộng sản, không những vẫn còn pháp quyền tư sản, mà vẫn còn cả nhà nước kiểu tư sản nhưng không có giai cấp

Trước hết phải kể đến: tác giả Nguyễn Ngọc Minh với Nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998 Đây là

công trình nghiên cứu khá toàn diện về những tư tưởng và những đóng góp thiết thực của Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật của Nhà nước Việt Nam trong cả hai giai đoạn, cách mạng dân chủ nhân dân và cách mạng xã

hội chủ nghĩa Tiếp đó là tác phẩm của PGS.TS Hoàng Văn Hảo: Tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới - sự hình thành và phát triển Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Tác giả cũng đã nghiên cứu sự lựa chọn

kiểu nhà nước của Hồ Chí Minh đến những tư tưởng của Người về Nhà

nước Việt Nam trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong đó, phần kết luận, tác giả đã nêu lên sự "kết hợp đạo đức và pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh", từ đó nêu ra sự vận dụng tư tưởng về nhà nước pháp quyền và từng bước hoàn

Trang 14

thiện nó trong quá trình đổi mới đất nước Tiếp theo là công trình chuyên

khảo của TS Nguyễn Đình Lộc: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của

dân, do dân, vì dân Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 (đây là sản phẩm

của đề tài cấp nhà nước KX 02 13); Hay tác phẩm của Vũ Đình Hòe: Pháp

quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001;

Phạm Ngọc Anh - Bùi Đình Phong: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà

nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam Nxb Lao động, 2003; Nguyễn Anh

Tuấn (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới ở

Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2003; Bùi Ngọc Sơn: Tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh Nxb Lý luận chính trị, 2004; Nguyễn Đăng Dung

(chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2007 Trong những tác phẩm này, các tác giả đã khẳng định tư tưởng về nhà nước của dân, do dân, vì dân là một cống hiến về lý luận và thực tiễn to lớn và đặc sắc của Hồ Chí Minh Ngoài ra, trong tư tưởng về xây dựng nhà nước kiểu mới, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: Bản chất dân chủ triệt để của nó; Sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của Nhà nước; Kết hợp cả đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, điều này đã được khẳng định kể từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cho đến ngày hôm nay càng có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong giai đoạn xây dựng đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ 21 với việc khẳng định một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, đảm bảo các quyền dân chủ trong xã hội trên cơ sở pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những giá trị lý luận có tính kinh điển và những kết quả nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu trước đó, tác

Trang 15

giả luận văn đã chọn Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ

Chí Minh về nhà nước với vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay để làm đề tài luận văn thạc sỹ cho mình

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích: Trên cơ sở làm sáng tỏ những quan điểm cốt lõi của chủ

nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và nhà nước pháp quyền Từ đó, phân tích thực trạng và đưa ra một số nguyên tắc, giải pháp mang tính định hướng, nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện

những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, luận văn phân tích và làm rõ quan điểm cốt lõi của chủ nghĩa

Mác – Lênin về nhà nước

Thứ hai, luận văn phân tích và làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà

nước và nhà nước pháp quyền

Thứ ba, trên cơ sở lý luận đó, luận văn phân tích thực trạng và mạnh

dạn đưa ra một số nguyên tắc, giải pháp mang tính định hướng nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

3.3 Phạm vi nghiên cứu: Từ góc độ triết học, luận văn chỉ tìm hiểu,

phân tích các căn cứ lý luận và việc ứng dụng nó vào quá trình xây dựng nhà

nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và nhà nước pháp quyền Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so

Trang 16

sánh; phương pháp logic và lịch sử; phương pháp thống kê, phương pháp văn bản học…

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

5.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy triết học, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành và những người quan tâm đến vấn đề nhà nước và pháp quyền

6 Kết cấu của luận văn

Để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ đã nêu trên, kết cấu luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 2 chương, (4) tiết và (8) tiểu tiết

Trang 17

Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC

Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về Nhà nước là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ học thuyết duy vật biện chứng về lịch sử, chứa đựng những nội dung hết sức phong phú

Xuất phát cho việc nghiên cứu vấn đề Nhà nước đã được C.Mác và Ph.Ăngghen xác định một cách rõ ràng, trước hết là từ sự lật ngược quan điểm duy tâm khách quan của G.Hêghen C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng:

“những cá nhân nhất định, hoạt động theo một phương thức sản xuất nhất định, đều nằm trong những quan hệ xã hội và chính trị nhất định Trong từng trường hợp riêng biệt, sự quan sát theo kinh nghiệm phải vạch rõ, căn cứ vào kinh nghiệm và không hề thần bí hóa, không hề tư biện, mối liên hệ giữa cơ cấu xã hội và chính trị với sản xuất Cơ cấu xã hội và nhà nước luôn luôn nảy sinh từ quá trình sinh sống của những cá nhân nhất định, không phải của những cá nhân đúng như bản thân những cá nhân ấy có thể hình dung hay đúng như người khác có thể hình dung, mà là của những cá nhân đúng như trong hiện thực, nghĩa là đúng như họ đang hành động, sản xuất một cách vật chất, tức là đúng như họ hành động trong những giới hạn, tiền đề và điều kiện vật chất nhất định, không phụ thuộc vào ý chí của họ” [38; tr.36], và

“trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy

Trang 18

hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức

xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung” [43; tr.14 - 15]

Như vậy, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, việc nghiên cứu nhà nước với

tư cách là một hiện tượng xã hội không thể xuất phát từ bản thân nhà nước

Bí mật của bản chất và các tính quy định của nhà nước chỉ có thể được soi sáng khi nghiên cứu nhà nước trong quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của nó xuất phát từ những cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của nó Nói cách khác, nhà nước không phải là một hiện tượng tự nó, mang tính thực thể, mà chỉ là một hiện tượng phái sinh, có cơ sở khách quan bên ngoài nó Chính bí mật của đời sống xã hội là cơ sở khách quan tạo nên bí mật của nhà nước, và chìa khóa để khám phá những bí mật đó chính là phải xuất phát từ những con người hiện thực và quá trình đời sống hiện thực của họ, quá trình họ sản xuất và tái sản xuất ra bản thân mình và xã hội, và đồng thời cũng sản xuất

ra hàng loạt những yếu tố phái sinh khác bổ sung vào xã hội, trong đó có nhà nước Đây chính là quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, là quan điểm xuất phát khi nghiên cứu về nhà nước cũng như các vấn đề khác trong đời sống xã hội Không đứng vững trên quan điểm này thì không thể lý giải đúng đắn mọi vấn đề thuộc về lĩnh vực nhà nước, kể cả vấn đề pháp quyền, nhà nước pháp quyền

Từ ngọn nguồn của lịch sử, kiểu nhà nước đầu tiên ra đời từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy Bắt đầu từ giai đoạn xã hội loài người chưa có nhà nước nhưng kết thúc giai đoạn này thì những điều kiện mầm mống cho sự ra đời của nhà nước đã xuất hiện

Trang 19

Ở giai đoạn đầu này cuộc sống của con người còn hoang dã, hầu như phải phụ thuộc vào thiên nhiên với cách thức tồn tại giản đơn thông qua săn bắt và hái lượm Con người liên kết nhau trên cơ sở huyết thống hình thành

cơ sở kinh tế - xã hội đầu tiên, nhỏ nhất là thị tộc Trong thị tộc cũng đã có

sự phân công lao động nhưng đây là sự phân công lao động một cách tự nhiên, mọi người làm việc tùy thuộc vào sức khỏe, tuổi tác, giới tính Nền kinh tế thời kỳ này gọi là nền kinh tế tự nhiên, chưa có sự phân công lao động mang tính chất chuyên môn hóa do trình độ của con người Hội đồng thị tộc là cơ quan cao nhất có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của thị tộc như: nghi lễ tôn giáo, giải quyết những tranh chấp nội bộ, tiến hành chiến tranh, di dời dân cư… Bên cạnh đó, trong xã hội đã hình thành những quy tắc xử sự chung đó là tập quán, phong tục, đạo đức, các tín điều tôn giáo… và việc tuân theo những quy tắc xử sự này hoàn toàn do ý thức tự giác và trở thành thói quen, nếp sống của các thành viên xã hội, người vi phạm sẽ bị đưa ra Hội đồng thị tộc để xử lý

C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu về quá trình tồn tại, phát triển, thay đổi của xã hội loài người, đã khái quát sự thay đổi đó qua ba lần phân công lao động xã hội:

Lần phân công lao động thứ nhất: Ngành chăn nuôi ra đời tạo thành một ngành chính trong xã hội

Lần phân công lao động thứ hai: Ngành tiểu thủ công nghiệp ra đời Lần phân công lao động thứ ba: Ngành thương nghiệp ra đời

Và trên cơ sở phân tích, nghiên cứu sự ra đời của nhà nước Aten, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi đến một số kết luận quan trọng về nguồn gốc ra đời nhà nước

Xã hội ngày một lớn lên vượt ra khỏi khuôn khổ của thị tộc, nó đã không thể hạn chế cũng không thể xóa bỏ nổi những tệ hại xấu xa nhất đã nảy sinh

Trang 20

ra trước mắt Nhưng trong lúc đó, nhà nước phát triển một cách thầm lặng Những tập đoàn mới được hình thành do sự phân công lao động – lúc đầu

là thành thị và nông thôn, sau đó là giữa các ngành lao động khác nhau ở thành thị - đã tạo ra những cơ quan mới để bảo vệ lợi ích kinh tế của họ Như vậy là ở đây, một yếu tố hoàn toàn mới đã xâm nhập vào tổ chức cai quản: sở hữu tư nhân Quyền lợi và nghĩa vụ các công dân của nhà nước bắt đầu được quy định, những giai cấp sở hữu càng có thêm được thế lực thì những tập đoàn cùng dòng máu trước đây lại càng bị gạt bỏ; chế độ thị tộc bị thất bại một lần nữa

“Việc tích lũy của cải ngày càng tăng nhanh sau những lần phân công lao động xã hội; một thiết chế không những kéo dài mãi mãi sự phân chia xã hội thành giai cấp, một sự phân chia mới chớm nở, mà còn kéo dài mãi mãi quyền của giai cấp có của được bóc lột giai cấp không có của, và quyền thống trị của giai cấp có của đối với giai cấp không có của Và thiết chế đó đã xuất hiện: nhà nước đã được phát minh ra” [46; tr.164]

Như vậy, những thay đổi của xã hội qua từng lần phân công lao động đã làm cho bộ mặt xã hội công xã nguyên thủy dần bị biến dạng, mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, bùng nổ các cuộc đấu tranh giữa những giai cấp đối lập nhau trong xã hội, tổ chức thị tộc – bộ lạc trở nên bất lực không còn phù hợp với điều kiện mới của xã hội nữa Xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức mới có đủ khả năng điều hòa được những mâu thuẫn của xã hội Tổ chức đó chính là nhà nước

Nhà nước, được C.Mác và Ph.Ăngghen hiểu theo hai lớp nghĩa: xã hội được tổ chức theo một cách xác định và bộ máy nhà nước, hay nhà nước chính trị - biểu hiện tập trung của cách thức tổ chức xã hội ấy Quan điểm trên đã thể hiện rõ trong tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, đồng thời với việc C.Mác phê phán quan điểm biện chứng duy

Trang 21

tâm của G.Hêghen về nhà nước Trong tác phẩm nói trên, C.Mác chỉ ra hai lớp nghĩa của nhà nước: tổng thể của sự tồn tại của nhân dân và nhà nước chính trị

Nhà nước luôn là hiện thân cho lợi ích chung và tương ứng với nó là một quyền lực công, song trên thực tế lại luôn nhân danh lợi ích chung vì một lợi ích riêng nào đó và sử dụng quyền lực công cho một bộ phận tư nào

đó trong xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận giải hiện tượng lịch sử nói trên như sau: “chính do mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng mà lợi ích chung với danh nghĩa là nhà nước mang một hình thức độc lập tách rời những lợi ích thực tế của cá nhân và tập thể, đồng thời cũng mang hình thức của một cộng đồng hư ảo Song điều đó luôn luôn diễn ra trên cơ sở hiện thực của những mối liên hệ tồn tại trong mỗi tập đoàn gia đình hay tập đoàn

bộ lạc – như những mối liên hệ về dòng máu, ngôn ngữ, phân công lao động trên quy mô và những lợi ích khác, và đặc biệt như chúng tôi sẽ trình bày sau này, trên cơ sở những lợi ích của các giai cấp khác; những giai cấp này, tách ra là do kết quả của phân công lao đông, đang tự tách ra trong mỗi tập đoàn người như vậy và trong các giai cấp đó, một giai cấp thống trị tất cả các giai cấp khác” [39; tr.47 - 48]

Như vậy, nhà nước thực chất là hiện thân của một mâu thuẫn Đó là lợi ích tự mâu thuẫn với chính mình, là hình thức lợi ích chung mâu thuẫn với nội dung lợi ích riêng gắn với một bộ phận của xã hội, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, bộ phận này là giai cấp thống trị về kinh tế So với bộ phận đại diện cho lợi ích chung và nắm quyền lực công trong xã hội nguyên thủy, nhà nước trong xã hội có giai cấp mang trong mình mặt đối lập với chính mình Đó chính là tình trạng tha hóa của tổ chức quyền lực, của lợi ích chung Chính trình độ phát triển của lao động, hay nói cách khác là mâu thuẫn trong đời sống kinh tế giữa năng suất lao động với nhu cầu cần được

Trang 22

thỏa mãn, đã đưa tới sự hình thành những giai cấp mà sự thỏa mãn nhu cầu của một giai cấp được quyết định bởi việc nó có nắm giữ hay không tư liệu sản xuất và dựa trên cơ sở thủ tiêu sự thỏa mãn nhu cầu của các giai cấp, tầng lớp khác, đã tạo nên mâu thuẫn trên trong nhà nước và cũng chỉ có sự phát triển của lực lượng sản xuất biểu hiện ra ở năng suất lao động mới có thể xóa bỏ được mâu thuẫn đó, khi mà của cải được sản xuất ra thỏa mãn một cách hoàn toàn cho tất cả mọi thành viên của xã hội, nói cách khác không còn mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, khi đó nhà nước sẽ đồng nhất trở lại với xã hội, mất đi tính chính trị của nó

Trong tác phầm Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà

nước, Ph.Ăngghen đã phân tích sự vận động của xã hội bắt đầu từ thị tộc

Trong khuôn khổ của sự phân chia xã hội trên quan hệ thị tộc, năng suất lao động ngày càng phát triển, cùng với năng suất lao động đó thì tư hữu và trao đổi, những chênh lệch về của cải, khả năng sử dụng sức lao động của người khác, và do đó, cơ sở của những mâu thuẫn giai cấp cũng phát triển lên: những yếu tố xã hội mới đó, trải qua nhiều thế hệ ra sức làm cho xã hội cũ thích ứng với những điều kiện mới “Kết quả của toàn bộ quá trình vận động ấy là xã hội cũ dựa trên liên minh thị tộc bị nổ tung do kết quả của sự xung đột giữa các giai cấp, xã hội mới hình thành và một xã hội mới thay thế nó, được tổ chức thành quốc gia, mà đơn vị cơ sở không phải là những liên minh dựa trên quan hệ thị tộc nữa, mà là những liên minh dựa trên lãnh địa – xã hội, trong đó chế độ gia đình hoàn toàn bị quan hệ sở hữu chi phối

và trong đó, từ nay trở đi, những mâu thuẫn giai cấp cùng với đấu tranh giai cấp, cấu thành nội dung của toàn bộ lịch sử thành văn từ trước đến nay đều phát triển một cách tự do” [46; tr.45]

Không chỉ dừng lại ở việc diễn giải sự vận động đưa tới sự ra đời của giai cấp như trên, Ph.Ăngghen còn đi sâu phân tích sự vận động của các

Trang 23

quan hệ lợi ích Ông chỉ ra rằng, con người ta từ lúc ban đầu bước ra khỏi loài động vật (theo nghĩa hẹp hơn của từ này) như thế nào thì họ cũng bước vào lịch sử như thế ấy: người còn là nửa động vật, thô lỗ, còn bất lực trước những lực lượng của tự nhiên, còn chưa nhận thức được lực lượng của chính mình; vì vậy họ cũng nghèo như động vật và cũng không hơn động vật mấy

về sức sản xuất Ở đây, ngự trị một sự bình đẳng nào đó trong hoàn cảnh sống, và đối với các tộc trưởng cũng có một thứ bình đẳng nào đó về địa vị

xã hội, ít ra thì cũng không có các giai cấp xã hội…Ngay từ đầu, trong mỗi công xã đó đều có một số lợi ích chung nào đó mà người ta phải trao cho những cá nhân giữ gìn, tuy là dưới sự giám sát của toàn xã hội Những cá nhân ấy có một sự toàn quyền nào đó, và tiêu biểu cho những mầm mống của quyền lực nhà nước Dần dần, lực lượng sản xuất phát triển; dân số đông đúc hơn tạo ra ở đây là những lợi ích chung, ở kia là những lợi ích đối lập giữa các cộng đồng với nhau; và sự tập hợp những cộng đồng thành một chỉnh thể lớn hơn lại gây ra một sự phân công lao động mới và việc thành lập những cơ quan để bảo vệ những lợi ích chung và để thống trị những lợi ích đối lập Những cơ quan đó với tư cách đại biểu cho những lợi ích chung của toàn nhóm, giữ một địa vị đặc biệt đối với mỗi cộng đồng riêng biệt, và trong một số hoàn cảnh nhất định, thậm chí còn đối lập với cộng đồng ấy Những cơ quan ấy chẳng bao lâu sau còn độc lập nhiều hơn nữa, một phần

do sự kế thừa những chức năng xã hội, một phần do sự cần thiết ngày càng tăng lên của những cơ quan như thế khi những sự xung đột với các nhóm khác ngày càng tăng thêm [41; tr.252 - 253] Có thể thấy rằng, quan điểm của Ph.Ăngghen về sự vận động biện chứng của các quan hệ lợi ích, đưa tới

sự xuất hiện của những mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng đã vạch ra bản chất của nhà nước trong xã hội phân chia thành giai cấp

Trang 24

Sự chuyển hóa biện chứng trong đời sống xã hội làm cho nhà nước chính trị tách khỏi nhà nước với tư cách xã hội được tổ chức theo cách thức xác định Điều này xuất hiện trong lịch sử với sự xuất hiện của giai cấp tư hữu và đặc biệt trở nên điển hình trong xã hội mà giai cấp tư sản là giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế Về vấn đề trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “vì giai cấp tư sản không còn là một đẳng cấp nữa mà là một giai cấp, nên nó bắt buộc phải tự tổ chức không phải trên quy mô địa phương mà trên quy mô toàn quốc, và phải gán cho những lợi ích thông thường của nó một hình thức phổ biến Do chỗ sở hữu tư nhân được giải thoát khỏi cộng đồng nên nhà nước đã tồn tại độc lập bên cạnh và bên ngoài xã hội công dân, nhưng thực ra nhà nước ấy chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người tư sản buộc phải dùng đến để bảo đảm cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở ngoài nước cũng như ở trong nước” [39; tr.90] Mâu thuẫn nội tại của nhà nước thể hiện trước hết ở chỗ, trong xã hội tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng nên nhà nước nào cũng mang bản chất giai cấp Đó là vì nhà nước nảy sinh ra từ nhu cầu kiềm chế những sự đối lập giai cấp; vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh những cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên nhà nước là “nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức” [46; tr.255] Quan điểm về bản chất giai cấp của nhà nước thể hiện ra như là công

cụ để giai cấp thống trị đàn áp các giai cấp bị bóc lột nhằm thực hiện lợi ích kinh tế của mình trong xã hội phân chia thành các giai cấp Quan điểm này được C.Mác và Ph.Ăngghen nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong những luận bàn về vấn đề nhà nước “Cái lực cố kết xã hội văn minh là nhà nước, nhà nước này trong tất cả thời kỳ điển hình, vẫn chỉ là nhà nước của giai cấp

Trang 25

thống trị, và trong mọi trường hợp, về thực chất, vẫn là bộ máy dùng để đàn

áp giai cấp bị áp bức, bị bóc lột” [46; tr.261] Và, “chính quyền nhà nước chẳng qua là một tổ chức mà các giai cấp thống trị - địa chủ và các nhà tư bản đã lập nên cho mình để bảo vệ đặc quyền xã hội của mình” [48; tr.525] Mặc dù mang bản chất giai cấp như vậy, song nhà nước luôn thể hiện

là đại diện cho lợi ích chung, lợi ích phổ biến và luôn tuyên bố mình được

sự thừa nhận chung của toàn thể xã hội Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, nhà nước ngay từ khi ra đời đã là một thiết chế bảo vệ của cải

mà các cá nhân vừa mới có được chống lại những truyền thống cộng sản của những thị tộc, một thiết chế không những thần thánh hóa sở hữu tư nhân rất

bị khinh rẻ trước đây, và tuyên bố sự thần thánh hóa nó là mục đích tối cao của mọi xã hội loài người, mà còn in dấu ấn của sự công nhận của xã hội nói chung lên những hình thức mới, phát triển nối tiếp nhau, của việc kiếm được tài sản, nói cách khác là của việc tích lũy tài sản ngày càng nhanh, thiết chế không những kéo dài mãi mãi sự phân chia xã hội thành giai cấp, một sự phân chia mới chớm nở, mà còn kéo dài mãi mãi quyền của giai cấp có của được bóc lột giai cấp không có của, và quyền thống trị của giai cấp có của đối với giai cấp không có của

Quan điểm về bản chất giai cấp của mọi nhà nước, có nghĩa là điều đó cũng đúng với nhà nước vô sản, dù nhà nước này không còn là nhà nước theo nguyên nghĩa, mà là nhà nước nửa nhà nước và là hình thức cuối cùng của mọi nhà nước chính trị C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ một sự thật là, nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ

Chính nhờ hình thức đại diện cho lợi ích chung, nhờ sự tồn tại như một quyền lực công, cho nên nhà nước có một sức mạnh đặc biệt trong xã hội có

Trang 26

giai cấp, và vì thế, giai cấp nào muốn nắm quyền lãnh đạo xã hội đều buộc phải chiếm đoạt và sử dụng bộ máy nhà nước Đây là mục tiêu của tất cả các cuộc cách mạng xã hội Nói cách khác, mọi cuộc đấu tranh trong nội bộ nhà nước, đấu tranh giữa phái dân chủ, phái quý tộc và phái quân chủ, đấu tranh cho quyền bầu cử…chẳng qua chỉ là những hình thức hư ảo của những cuộc đấu tranh thực sự giữa các giai cấp khác nhau Cũng do đó mà giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị thì giai cấp ấy trước hết phải chiếm lấy chính quyền để đến lượt mình có thể biểu hiện lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến, điều mà giai cấp ấy buộc phải thể hiện trong bước đầu Điều

đó cũng đúng đối với giai cấp vô sản – giai cấp mà quyền thống trị của nó phải thủ tiêu toàn bộ hình thức xã hội cũ và sự thống trị nói chung

Đặt trong xã hội phân chia thành các giai cấp đối lập, các thiết chế công cộng và quyền lực công đều mang tính chính trị, chỉ là chính mình trên danh nghĩa, còn thực chất lại tự mâu thuẫn với chính mình, không phải là một thể đồng nhất C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc về một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích chung của họ và là hình thức dưới đó toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện một cách tập trung, nên từ đó có thể rút ra kết luận là mọi thiết chế công cộng đều thông qua nhà nước và mang một hình thức chính trị” [39; tr.90]

Ở một chỗ khác, các Ông nói rằng, khi những đối kháng giai cấp mất đi trong tiến trình của sự phát triển và toàn bộ sản xuất đã tập trung trong tay những cá nhân đã liên hợp lại với nhau thì quyền lực công cộng cũng mất tính chất chính trị của nó [40; tr.628]

Trước C.Mác, chưa có một sự lý giải nào phản ánh đúng bản chất nhà nước Phải đến C.Mác và Ph.Ăngghen thì mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội mới được làm sáng tỏ Chính sự vận động trong đời sống xã hội, mà tập

Trang 27

trung nhất ở đời sống kinh tế đã làm cho nhà nước tách ra, trở thành một bộ phận độc lập, đối lập với xã hội Và trong mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, xã hội luôn là cái quyết định, hay cụ thể hơn, chính trình độ phát triển của lao động, quá trình sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp đã quyết định không chỉ nhà nước mà mọi yếu tố của kiến trúc thượng tầng Trong

tác phẩm Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác viết: “trên thực

tế, gia đình và xã hội công dân là những tiền đề của nhà nước, chính chúng mới là những yếu tố thực sự tích cực; nhưng trong tư duy tư biện thì tất cả điều đó đều bị đặt lộn ngược” [37; tr.313] Điều đó có nghĩa là “phải coi xã hội hiện tồn…là cơ sở của nhà nước hiện tồn” [44; tr.46] Nói cách khác,

“nói chung không phải nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà

xã hội công dân chế định và quyết định nhà nước, rằng do đó phải lấy những quan hệ kinh tế và sự tiến triển của những quan hệ ấy để giải thích chính trị

và lịch sử chính trị chứ không phải ngược lại” [46; tr.321]

C.Mác và Ph.Ăngghen, một mặt khẳng định vai trò quyết định của đời sống xã hội đối với nhà nước và, trong đời sống xã hội lại đặc biệt khẳng định vai trò quyết định cuối cùng là quan hệ kinh tế Mặt khác, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng lưu ý đến vai trò của các nhân tố khác trong xã hội đối với nhà nước như truyền thống, đặc tính dân tộc và của chính những yếu tố khác trong kiến trúc thượng tầng cũng như sự tác động trở lại mạnh mẽ của nhà nước đến các yếu tố đó

C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch ra tính chất lịch sử của hiện tượng nhà nước, đó là nhà nước không phải xuất hiện và tồn tại mãi mãi với xã hội loài người Đã từng có những xã hội không cần đến nhà nước, không có khái niệm nào về nhà nước và chính quyền nhà nước cả Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, giai đoạn tất nhiên phải gắn liền với sự phân chia xã hội thành giai cấp thì sự phân chia đó làm cho nhà nước trở thành một tất

Trang 28

yếu C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định rằng, xã hội loài người đang bước nhanh đến gần một giai đoạn phát triển sản xuất, trong đó sự tồn tại của những giai cấp không những còn là một sự tất yếu nữa, mà còn trở thành một trở ngại trực tiếp cho sản xuất Các giai cấp sẽ không tránh khỏi biến mất Giai cấp tiêu vong thì nhà nước cũng không tránh khỏi tiêu vong; “Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất trên cơ sở liên hợp tự do và bình đẳng giữa những người sản xuất, sẽ đem toàn thể bộ máy nhà nước xếp vào cái vị trí thực sự của nó lúc bấy giờ Vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi

và cái rìu bằng đồng” [46; tr.257 - 258]

Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đặt vấn

đề xây dựng một xã hội mới, trong đó nhà nước tổ chức được đời sống chung của nhân dân, bảo đảm được sự phát triển tự do tối đa và phát triển

toàn diện con người Tự do đặt trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản được

C.Mác quan niệm “là ở chỗ biến nhà nước, cơ quan tối cao vào xã hội, thành một cơ quan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội” [44; tr.46] Tự do ở mức độ cao hơn hay thấp hơn của các hình thức nhà nước được xác định bởi mức độ chúng hạn chế tự do của nhà nước, giới hạn đó được xác định trong pháp luật mà cơ quan nhà nước, viên chức nhà nước phải tuân theo

Tiêu chí đề cao dân chủ, pháp luật và tính nhân văn của pháp luật như

là những giá trị cơ bản của nhà nước pháp quyền, có thể thấy rằng C.Mác

và Ph.Ăngghen đã hướng tới một nhà nước pháp quyền đích thực của xã hội mới

Về mặt nhà nước, C.Mác chủ trương xây dựng một chế độ dân chủ triệt

để, dân chủ là do nhân dân tự quyết định, là bước chuyển từ xã hội thần dân sang xã hội công dân, là từ nhân dân của nhà nước sang nhà nước của nhân dân Dân chủ là xuất phát từ con người và pháp luật cũng vì con người, để cuối cùng thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai

Trang 29

cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do cho tất cả mọi người Xã hội mới

sẽ tạo ra những điều kiện cơ bản để giải phóng cá nhân, bởi vì xã hội sẽ không giải phóng được cho mình nếu không giải phóng mỗi cá nhân riêng biệt và do vậy, xã hội đó phải được xây dựng trên cơ sở pháp luật

Như vậy, xét về nguồn gốc, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, nhà nước nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ những sự đối lập giai cấp đã phát triển ngay trong nội bộ xã hội thị tộc Nhà nước không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội mà nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định

Ph.Ăng ghen đã chỉ ra hai đặc trưng cơ bản của nhà nước:

Thứ nhất, nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ Cách tổ chức những công dân của nhà nước theo lãnh thổ để họ thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của họ ở nơi cư trú, là một đặc điểm chung của tất cả các nhà nước Thứ hai, Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt Quyền lực công cộng là cần thiết tồn tại trong mỗi nhà nước Để duy trì quyền lực công cộng của nhà nước, thì việc tổ chức và duy trì lực lượng vũ trang, cảnh binh, nhà tù có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Để duy trì quyền lực công cộng, nhà nước phải có chế độ thu thuế do các công dân đóng góp để nuôi

bộ máy nhà nước

Xét về mặt bản chất, nhà nước là công cụ quyền lực của giai cấp có thế lực nhất, của giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về chính trị, do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột các giai cấp khác

Hình thức cao nhất của nhà nước, tức là chế độ cộng hòa dân chủ (nhà nước của giai cấp vô sản), một hình thức nhà nước đang ngày càng trở thành một tất yếu, một hình thức nhà nước mà chỉ có trong đó cuộc chiến đấu

Trang 30

quyết định cuối cùng của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản mới có thể được tiến hành đến cùng Chừng nào giai cấp vô sản càng trưởng thành để có thể

tự giải phóng mình thì họ sẽ tự tổ chức thành một Đảng riêng biệt, bầu ra những đại biểu của riêng mình

Như vậy, có thể thấy C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra được nguồn gốc đích thực của sự ra đời nhà nước, đó là sản phẩm của xã hội loài người, mang tính lịch sử, nó chỉ ra đời và tồn tại khi trong xã hội có những điều kiện nhất định Qua đó bác bỏ những quan điểm thần học về nguồn gốc nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò, sứ mệnh của các giai cấp, nhất là giai cấp bị trị trong xã hội cùng quá trình hoàn thiện nhà nước Điều này đã góp phần loại bỏ những quan điểm thần học sai lầm về nguồn gốc và bản chất nhà nước mà giai cấp thống trị xã hội trước đó đã tìm mọi cách khai thác triệt để nhằm dễ bề cai trị quần chúng nhân dân là lực lượng bị áp bức và thống trị; là cơ sở để nhân dân hiểu rõ về bản chất nhà nước cũng như tạo động lực đấu tranh cải tạo xã hội

Bên cạnh đó, trong di sản lý luận của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng có những quan điểm về nhà nước và pháp luật kiểu mới, tuy không nhiều nhưng hết sức khái quát, cô đọng trong nghiên cứu xây dựng nhà nước

và pháp luật kiểu mới C.Mác cho rằng, nhân dân phải đập tan nhà nước của giai cấp bóc lột giành lấy chính quyền, xây dựng nhà nước của mình Nhà nước vô sản phải bảo đảm chủ quyền của nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Khi phân tích nhà nước phong kiến, phê phán quan điểm của Hêghen, C.Mác chỉ rõ: “nếu nhà vua có chủ quyền, vì đại biểu cho

sự thống nhất của nhân dân, thì bản thân nhà vua chỉ là người đại biểu cho chủ quyền của nhân dân, là tượng trưng cho chủ quyền đó Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân” [37; tr.374]

Trang 31

Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chủ

trương xây dựng một chế độ dân chủ triệt để, trong đó tự do của mỗi người

là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người; nhà nước kiểu mới phải giải phóng con người, đảm bảo sự phát triển tự do tối đa và phát triển toàn diện con người Dân chủ trong nhà nước kiểu mới là dân chủ do nhân dân tự quy định Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật không chỉ là công cụ, phương tiện của nhà nước mà còn là vũ khí của nhân dân và bản thân nhà nước để thực hiện mục đích và yêu cầu dân chủ đó Ngay từ những năm 1842-1843 trong những cuộc tranh luận về tự do báo chí, C.Mác đã khẳng định vai trò đó của pháp luật: “tự do được thừa nhận về mặt pháp lý tồn tại trong nhà nước dưới hình thức luật pháp Luật pháp không phải là những biện pháp đàn áp chống lại tự do Ngược lại luật pháp là những tiêu chuẩn khẳng định rõ ràng, phổ biến…không phụ thuộc vào sự ti tiện của cá nhân riêng lẻ Bộ luật là kinh thánh của tự do của nhân dân” [37; tr.95]

Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen,

C.Mác còn nhấn mạnh: “dưới chế độ dân chủ, không phải con người tồn tại vì luật pháp, mà luật pháp tồn tại vì con người; ở đây sự tồn tại của con người là luật pháp, trong khi đó thì dưới những hình thức khác nhau của chế độ nhà nước, con người lại là tồn tại được bởi quy định của luật pháp Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chế độ dân chủ là như vậy” [37; tr.350]

C.Mác còn cho rằng, trong nhà nước pháp quyền phải đề cao tính trách nhiệm của cơ quan và cán bộ công chức nhà nước Họ được giao quyền lực khi thực thi công vụ nhưng phải chịu trách nhiệm pháp lý về các quyết định

và hành vi của mình trước công dân Nếu làm trái pháp luật, gây thiệt hại cho công dân thì phải bồi thường, kể cả trong hoạt động tư pháp và quản lý hành chính nhà nước

Trang 32

Xây dựng nhà nước pháp quyền phải đề cao vai trò của pháp luật Các quan điểm của C.Mác về pháp luật không nhiều, nhưng cô đọng, chặt chẽ C.Mác cho rằng, pháp luật luôn luôn có tính giai cấp, đó là kết tinh ý chí của giai cấp thống trị về mặt kinh tế, đó cũng là giai cấp thống trị chính trị trong

xã hội Nhưng ý chí đó phải chịu sự chi phối, ràng buộc của tồn tại xã hội, thực tại khách quan của xã hội Với ý nghĩa đó, C.Mác đã nhấn mạnh: “nhà lập pháp phải coi mình như là nhà khoa học tự nhiên Ông ta không làm ra pháp luật, ông ta không phát minh ra chúng mà chỉ nêu chúng lên; ông ta biểu hiện những quy luật nội tại của những mối quan hệ tinh thần thành những đạo luật thành văn có ý thức Chúng ta sẽ phải chê trách nhà lập pháp

là vô cùng tùy tiện, nếu như ông ta thay thế bản chất của sự việc bằng những điều bịa đặt của mình” [37; tr.235] Rõ ràng cần phải có pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhưng pháp luật phải phản ánh và phù hợp với hiện thực khách quan của xã hội Pháp luật không được vượt quá điều kiện kinh tế - xã hội “… xã hội không lấy pháp luật làm cơ sở Đó chỉ là ảo tưởng của những nhà luật học Ngược lại, pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra, mà không phải do ý muốn tùy tiện của một cá nhân…chừng nào bộ luật không còn thích hợp với quan hệ xã hội nữa thì nó sẽ biến thành một mớ giấy lộn” [42; tr.332 - 333] Theo nguyên tắc, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, trong nhà nước pháp quyền, mọi thành viên của xã hội, cán bộ công chức nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật Tính tối thượng của pháp luật trong nhà nước pháp quyền còn được C.Mác đề cập khi phân tích thẩm quyền của Quốc hội Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền lập pháp, nhưng bản thân Quốc hội không có quyền lực nào hết, nhân dân ủy thác cho Quốc hội quyền bảo vệ quyền của nhân dân

Trang 33

Như vậy, trên đây là những quan điểm cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước, nhà nước pháp quyền Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay chúng ta cần tiếp tục nhận thức đầy đủ, đúng đắn quan điểm của các nhà lý luận kinh điển chủ nghĩa Mác, từ

đó vận dụng sáng tạo, phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

1.1.2 Quan điểm của V.I.Lênin về nhà nước

Vào đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc Nhiệm vụ chủ yếu đặt ra đối với những người mác xít trong giai đoạn lúc bấy giờ là tổng kết một cách sáng tạo kinh nghiệm mới cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và trên cơ sở đó phát triển hơn nữa lý luận Mác xít về cách mạng xã hội chủ nghĩa và học thuyết về nhà nước Tác phẩm

Nhà nước và cách mạng, cùng với những tác phẩm viết sau này của

V.I.Lênin đã tạo thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về nhà nước xã hội chủ nghĩa

Là người kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã có những đóng góp quan trọng cho học thuyết Mác về nhà nước Những đóng góp của V.I.Lênin không chỉ thể hiện ở việc làm sáng tỏ những quan điểm

cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về nhà nước, đem lại vũ khí sắc bén cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân giành lấy, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, cũng như chống lại mọi âm mưu xuyên tạc, bác bỏ học thuyết Mác về nhà nước mà còn đi sâu phát triển học thuyết Mác về nhà nước trên một số phương diện phù hợp với sự phát triển mới của thực tiễn

Tư tưởng về nhà nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống

lý luận của V.I.Lênin, bởi nó không thuần túy là những lý thuyết khoa học

mà gắn bó chặt chẽ với quan điểm chính trị; nó không đơn giản là những suy

tư tinh thần mà gắn liền với những hoạt động thực tiễn sinh động của ông

Trang 34

Chính vì vậy, tìm hiểu những tư tưởng của V.I.Lê-nin về nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chúng ta trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

V.I.Lênin chỉ ra rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử Với tính cách là công cụ thống trị nằm trong tay các giai cấp thống trị, nhà nước xuất hiện khi xã hội phân hóa thành những giai cấp đối kháng “nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không điều hòa được Bất

cứ ở đâu, lúc nào và chừng nào, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được thì nhà nước xuất hiện” [30; tr.9] Là tổ chức chính trị mang tính giai cấp, nhà nước của giai cấp thống trị có các công cụ quyền lực nhờ đó giai cấp thống trị bắt quần chúng lao động, là đại bộ phận chiếm đa số trong dân cư phải phục tùng mình

V.I.Lênin tiếp tục quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen để khẳng định rằng: chỉ có trong xã hội có giai cấp, nhà nước mới tồn tại và phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội bằng cách trở thành một công cụ trấn áp trong tay một giai cấp nhất định Theo V.I.Lênin, “nhà nước chỉ là một tổ chức thống trị của một giai cấp” và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai cấp này trấn áp giai cấp khác, rằng nền cộng hòa tư sản dân chủ nhất cũng chỉ là một bộ máy để giai cấp tư sản áp bức giai cấp vô sản” Thể hiện, V.I.Lênin đã tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh bản chất giai cấp của nhà nước

Tiếp tục phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về đặc trưng của nhà nước là quyền lực công cộng thoát ly xã hội, trở thành cái đối lập với

xã hội V.I.Lênin dùng khái niệm nhà nước để chỉ bộ máy nhà nước trong xã hội có giai cấp “đặc trưng của nhà nước là sự tồn tại của một giai cấp đặc biệt, tập trung quyền lực trong tay Dĩ nhiên, không ai có thể dùng hai tiếng nhà nước để gọi một cộng đồng, trong đó tất cả mọi thành viên đều thay phiên

Trang 35

nhau quản lý” [25; tr.550] Sự tập trung quyền lực chính trị vào tay một giai cấp đặc biệt cũng là một phương diện thể hiện bản chất nhà nước

Sự tập trung quyền lực vào tay một giai cấp đặc biệt đã đưa loài người đến một sự lựa chọn “nếu quyền lực trong nước nằm trong tay một giai cấp

có quyền lực phù hợp với quyền lợi của đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo đúng nguyện vọng của đa số nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc của quốc gia theo nguyên vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy” [31; tr.52]

Có thể hiểu nhà nước là một bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay giai cấp cầm quyền, là giai cấp đã tổ chức ra và sử dụng bộ máy nhà nước

đó để nắm quyền thống trị xã hội, bảo vệ địa vị quyền lợi của giai cấp mình Nhà nước là công cụ sắc bén nhất để giai cấp thống trị sử dụng nó duy trì sự thống trị của giai cấp mình đối với toàn xã hội

Bản chất này còn được thể hiện rõ trong định nghĩa của V.I.Lênin về

nhà nước: Nhà nước là một bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp

này đối với giai cấp khác Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị này được

thể hiện ở ba loại quyền lực: quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị và quyền lực tư tưởng Trong đó, quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở để đảm bảo cho sự thống trị giai cấp Tuy nhiên, bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột, vì vậy cần phải có một bộ máy nhà nước để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị về mặt kinh tế nhằm đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị bóc lột Nhờ có nhà nước nên giai cấp thống trị thoạt đầu chỉ giữ quyền thống trị về mặt kinh tế, nhưng sau đó đã trở thành giai cấp thống trị cả về mặt chính trị và tư tưởng Tuy nhiên, trong một xã hội có giai cấp đối kháng thì nhà nước luôn thể hiện theo đúng nghĩa

Trang 36

của nó, tức là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giai cấp khác Ngược lại, nếu các giai cấp này không mâu thuẫn, đối kháng thì khi đó nhà nước không còn thể hiện theo đúng nguyên nghĩa của nó nữa, vì nhà nước này không phải chỉ nhằm mục đích duy trì sự thống trị giai cấp mà nó còn là công cụ của đại đa số nhân dân lao động, sử dụng để tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội Vì vậy, muốn hiểu được bản chất giai cấp của nhà nước, chúng ta cần xem xét quyền lực nhà nước đó thuộc về giai cấp nào, nhà nước đó vì lợi ích của giai cấp nào trong xã hội, giai cấp này chiếm đa số hay thiểu số trong xã hội đó

Hiểu theo ý nghĩa thực sự của danh từ thì nhà nước là một bộ máy đặc biệt phục vụ cho giai cấp này đàn áp giai cấp khác, nó tồn tại trong các hình thái kinh tế xã hội nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa Trong thời kỳ quá

độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chuyên chính vô sản là tất yếu lịch sử, giai cấp vô sản dùng chính quyền nhà nước để đàn áp thiểu số dân

cư là bọn bóc lột Chuyên chính vô sản là nhà nước quá độ và nó khác về cơ bản với nhà nước bóc lột Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nhà nước từ chỗ là công cụ thống trị giai cấp, chuyển thành cơ quan thể hiện ý chí của toàn dân Như V.I.Lênin đã chỉ ra, với việc hoàn thành xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, nhà nước sẽ hoàn toàn không cần thiết nữa

Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin đã vạch ra thực

chất và nhiệm vụ của chuyên chính vô sản, vai trò tổ chức cực kỳ to lớn của

nó trong việc xây dựng xã hội mới sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin nhấn mạnh tính chất quá độ, lịch sử của chuyên chính vô sản là nhà nước của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh tính chất dân chủ của nhà nước vô sản,

sự khác biệt cơ bản của nó với nền dân chủ tư sản V.I.Lênin viết, chuyên

Trang 37

chính vô sản là một kiểu nhà nước mới “nhà nước dân chủ kiểu mới (dân chủ đối với những người vô sản và nói chung những người không có của) và chuyên chính kiểu mới (chống giai cấp tư sản)” [30; tr.43] Nhà nước vô sản bảo vệ quyền lợi của những người lao động V.I.Lênin chỉ rõ, sự khác biệt

cơ bản của chuyên chính vô sản với nhà nước tư sản biểu hiện ở các hình thức tổ chức nhà nước và ở vai trò lịch sử mà nó thể hiện

Cơ sở của chuyên chính vô sản, nguyên tắc tối cao của nó vạch rõ thực chất dân chủ của nhà nước vô sản, là sự liên minh của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, với toàn thể nhân dân lao động và với các tầng lớp dân chủ khác trong nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân Cơ sở khách quan của khối liên minh ấy là sự thống nhất của các quyền lợi cơ bản

về chính trị và kinh tế của giai cấp công nhân, của giai cấp nông dân và toàn thể những người lao động V.I.Lênin viết “nếu không có sự liên minh ấy thì không thể có dân chủ vững bền, không thể có cải tạo xã hội chủ nghĩa được” [30; tr.49]

V.I.Lênin đã gọi nền chuyên chính vô sản là “việc tổ chức đội tiên phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp bức” [30; tr.109] Chuyên chính vô sản trấn áp sự kháng cự của giai cấp bóc lột đã bị lật đổ đang mong muốn khôi phục lại chủ nghĩa tư bản; chuyên chính vô sản dùng chính quyền nhà nước để bảo vệ và củng cố những thành quả của cách mạng chống lại những âm mưu khôi phục “thiên đường” mà

họ đã mất Tuy nhiên, V.I.Lênin đã chỉ ra, thực chất của chuyên chính vô sản, sức mạnh của nó không phải ở bạo lực, mà là ở tính tổ chức và tính kỷ luật của giai cấp công nhân

Nhiệm vụ cơ bản đặt ra trước chuyên chính vô sản là thủ tiêu mọi chế

độ người bóc lột người, là xây dựng chủ nghĩa xã hội Để thực hiện nhiệm

vụ đó, cần có một chế độ quản lý mới thật sự có tính chất nhân dân và được

Trang 38

xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ Và tính tất yếu của nguyên tắc

đó trong hoạt động kinh tế và trong hoạt động nhà nước của chuyên chính

vô sản bắt nguồn từ bản chất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên chế

độ công hữu về tư liệu sản xuất Tiếp theo, V.I.Lênin chỉ ra rằng chuyên chính vô sản là cần thiết để bảo vệ đất nước và củng cố mối liên hệ quốc tế của giai cấp vô sản đã chiến thắng với nhân dân các nước khác để mở rộng

và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin chú ý rất nhiều tới

vấn đề nhà nước tiêu vong ở giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa Nhấn mạnh sự tiêu vong của nhà nước là cả một quá trình dài, nó phụ thuộc vào tốc độ phát triển của giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng sản

V.I.Lênin cũng đặc biệt coi trọng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với mọi

tổ chức, hoạt động của nhà nước Người khẳng định tính tất yếu khách quan

về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước “chủ nghĩa Mác giáo dục Đảng công nhân, là giáo dục đội tiền phong của giai cấp vô sản, đội tiền phong này đủ sức nắm chính quyền và dắt dẫn toàn dân tiến lên chủ nghĩa

xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một xã hội mới, đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động và những người bị bóc lột để giúp họ tổ chức đời sống xã hội của họ, mà không cần đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản” [30; tr.109] Và, về nguyên tắc “Đảng cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không phải nghi ngờ gì nữa” [30; tr.109] Người cũng chỉ rõ, để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo

ấy, Đảng phải được xây dựng, củng cố để thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân

V.I.Lênin nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước có đủ năng lực, phẩm chất cách mạng V.I.Lênin yêu cầu người lãnh đạo là những người có uy tín nhất, có sức ảnh hưởng nhất, có

Trang 39

kinh nghiệm nhất Người cán bộ, công chức phải thành thạo trong công việc của mình, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, V.I.Lênin hết sức quan tâm vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Người chỉ ra rằng: muốn đổi mới bộ máy nhà nước phải một là học tập, hai là học tập, ba là học tập mãi mãi, và phải làm sao cho học thức thực sự ăn sâu vào trí não, trở thành một

bộ phận khăng khít của cuộc sống V.I.Lênin cũng nhấn mạnh yêu cầu tự giác học tập, rèn luyện trong nhà trường, trong thực tiễn công tác, trong nghiên cứu…

Trong hoạt động của nhà nước Xô viết, V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong chế độ

xã hội chủ nghĩa, pháp luật là ý chí của nhà nước và của nhân dân lao động Theo V.I.Lênin “nếu nó là ý chí của nhà nước thì phải được biểu hiện dưới hình thức một đạo luật do chính quyền đặt ra; nếu không thế thì hai tiếng ý chí chỉ là một sự rung động không khí do những âm thanh rỗng tuếch gây lên” [29; tr.429]

V.I.Lênin cho rằng, trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, do tác động nhiều của yếu tố liên quan đến văn hóa, đến trình độ phát triển kinh tế -

xã hội, đến tập quán, thói quen… nên người ta chưa thể ngay lập tức tự giác tuân theo mọi luật lệ của chính quyền Xô viết, và vì vậy, “chúng ta cần có nhà nước, chúng ta cần có cưỡng bức Các tòa án của Xô viết phải là những cơ quan của nhà nước vô sản, thực hiện sự cưỡng bức đó Nhiệm vụ to lớn của tòa án là phải giáo dục dân chúng về kỷ luật lao động” [33; tr.200] Người yêu cầu cần phải chấp hành nghiêm túc pháp luật, nhất là các cơ quan, cán bộ Đảng và nhà nước Khi cán bộ vi phạm pháp luật phải xử nặng hơn nhân dân Pháp chế xã hội chủ nghĩa phải được thực hiện thống nhất trên toàn quốc

Trang 40

Như vậy, sự phát triển của V.I.Lênin đối với quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về nhà nước, điểm quan trọng nhất chính là ở chỗ, đặc tính phổ biến của mọi nhà nước đó là giai cấp Như thế, biểu hiện về mặt lịch sử trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người là mối quan hệ biện chứng của hai mặt chuyên chính và dân chủ Rõ ràng, trên phương diện này, nhà nước là một cách thức tổ chức đời sống xã hội, một giai đoạn trong tiến trình phát triển của xã hội, là một vòng khâu của sự phát triển Đây chính là quan niệm duy vật và biện chứng có tính nguyên tắc trong việc lý giải đời sống xã hội nói chung, vấn đề nhà nước nói riêng và gắn liền với những cố gắng to lớn của V.I.Lênin trong sự phát triển chủ nghĩa Mác Hơn nữa, V.I.Lênin là người trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền và xây dựng nhà nước kiểu mới – nhà nước Xô viết, nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân Nga Vì vậy, những quan điểm, tư tưởng của V.I.Lênin hết sức phong phú, có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.2.1 Quá trình nhận thức về nhà nước pháp quyền

Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh có dịp tiếp xúc với nhiều loại hình nhà nước ở khắp năm châu, Người tìm hiểu, nhận xét, phê phán, suy ngẫm để khi trở thành người khai sinh ra Nhà nước Việt Nam, nhà nước dân chủ nhân dân kiểu mới đầu tiên ở Đông Nam Á, Hồ Chí Minh đã hình thành ý tưởng xây dựng một nhà nước pháp quyền kiểu mới, nhà nước của dân, do dân, vì dân khi nước nhà độc lập Trên con đường đó, Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy ở đó chủ nghĩa nhân đạo cao cả

Và trong suốt cuộc đời của mình, Người luôn hướng về dân, lo cho dân, vì hạnh phúc ấm no của nhân dân thông qua việc hình thành những nền tảng tư tưởng chủ đạo cho việc xây dựng một nhà nước pháp quyền kiểu mới Đó là

Ngày đăng: 07/05/2021, 18:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w