1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê ở việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

83 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” là vô cùng cần thiết, góp phần phân tích thực trạng xuất k

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

Trang 2

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” được hoàn thành là kết quả của những nỗ lực trong suốt 2 tháng nghiên cứu của em cũng như sự giúp đỡ tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, các nhà khoa học, cán bộ, chuyên viên khoa Kinh tế & Kinh doanh quốc tế - Đại học Kinh Tế, Đại học Quốc Gia Hà Nội

Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên - giảng viên hướng dẫn đã nhiệt tình và kiên trì chỉ bảo, truyền đạt thêm kiến thức cho em để có thể hoàn thành đề tài này

Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành bài nghiên cứu này

Cuối cùng, do thời gian và công cụ nghiên cứu còn hạn chế, bài nghiên cứu của em cũng không tránh khỏi những thiếu sót Em mong nhận được những lời góp ý từ hội đồng để đề tài hoàn thiện hơn và có giá trị thực tiễn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP 4

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu 9

1.2.1 Bản chất, vai trò của xuất khẩu hàng hóa 9

1.2.2 Ý nghĩa của xuất khẩu 13

1.3 Cây cà phê ở Việt Nam và vai trò xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế quốc dân……… 14

1.3.1 Cây cà phê ở Việt Nam 14

1.3.2 Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế quốc dân 18

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê 20

1.4.1 Cầu và thị trường nhập khẩu 20

1.4.2 Giá cả và chất lượng 21

1.4.3 Kênh và dịch vụ phân phối 22

1.4.4 Môi trường cạnh tranh 22

1.4.5 Yếu tố về sản xuất chế biến 22

1.4.6 Các nhân tố thuộc về quản lý 23

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 24

2.1 Thực trạng về sản xuất, xuất khẩu cà phê của Việt Nam 24

2.1.1 Quy mô và xu hướng xuất khẩu cà phê 24

2.1.2 Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam 29

2.1.3 Cơ cấu mặt hàng cà phê Việt Nam 39

2.1.4 Năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam 39

2.2 Sự tham gia ngành cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu 42

2.2.1 Vị trí ngành cà phê Việt Nam trong thị trường thế giới 42

Trang 5

2.2.2 Sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành cà phê Việt Nam 46

2.3 Đánh giá về xuất khẩu cà phê của Việt Nam……….54

2.3.1 Những mặt thành công 55

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 57

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH VÀ NÂNG CAO GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM 60

3.1 Những cơ hội và thách thức khi Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ngành cà phê……… 60

3.1.1 Những cơ hội 60

3.1.2 Những thách thức 62

3.2 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao giá trị xuất khẩu cà phê của Việt Nam ……… 64

3.2.1 Tái canh cây cà phê để nâng cao chất lượng 64

3.2.2 Công tác xúc tiến thương mại 65

3.2.3 Tạo dựng thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường thế giới 67

3.2.4 Ổn định danh mục các mặt hàng thuộc đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi ……… 69

3.2.5 Chính sách phải được thiết kế theo hướng bình đẳng đối với tất cả các thành phần kinh tế, không được phân biệt đối xử giữa trong nước và ngoài nước 70

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chứ viết tắt Nguyên nghĩa

ACPC Hiệp hội các nước sản xuất cà phê

VICOFA Vietnam Coffee - Cocoa Association – Hiệp hội Cà phê

Cacao Việt Nam TCT Cà phê Việt Nam Tổng công ty Cà phê Việt Nam

XNK Intimex Xuất nhập khẩu Intimex

WTO World Trade Organization – Tổ chức Thương mại Thế giới

ITC International Trade center - Trung tâm Thương mại Quốc tế

Mô hình HTX Mô hình Hợp tác xã

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

GAP Good Agricultural Practices - Quy trình thực hành sản xuất

nông nghiệp tốt FTA Free trade agreement - Hiệp định thương mại tự do

CHLB Đức Cộng hòa Liên bang Đức

EFTA European Free Trade Association -

Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu RCEP The Regional Comprehensive Economic Partnership -

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực CPTPP Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-

Pacific Partnership - Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến

bộ xuyên Thái Bình Dương EEA European Economic Area - Khu vực kinh tế châu Âu

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

2.1 Năm nước nhập khẩu chính cà phê Việt Nam quý I năm 2019 38 2.2 Tỷ lệ tham gia của các chủ thể trong chuỗi giá trị cà phê 43 2.3 Chuỗi cung ứng ngành cà phê của các doanh nghiệp Việt

Nam

52

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

2.1 Số lượng và giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam trong giai đoạn

2010-2018

26

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với một quốc gia, việc tăng cường thúc đẩy các hoạt động giao thương với các nước, các khu vực trên thế giới đóng vai trò vô cùng quan trọng và kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến vượt bậc Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đang dần được khẳng định vị thế của mình trên thị trường thế giới Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam không chỉ tăng về giá trị xuất khẩu qua hàng năm mà chất lượng hàng hóa cũng ngày càng được nâng cao, thị trường ngày càng được mở rộng Xuất khẩu là tiền đề tạo nguồn thu cho nhập khẩu và hoạt động công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia Để có thể phục vụ nhu cầu khách hàng trong nước và quốc tế, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đang dần chuyển dịch nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, đồng thời sản xuất trong nước sẽ phát triển để tăng khả năng cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài Điều này đặt ra nhiều thách thức cũng như cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong việc nâng cao vị thế của mình trên thị trường quốc tế và xuất khẩu đầu tư phát triển

Việt Nam là một nước nông nghiệp, khí hậu nóng ẩm quanh năm và có vùng đất đỏ bazan tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày và có giá trị xuất khẩu cao, đóng góp đáng kể vào GDP của quốc gia Các sản phẩm nông sản chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu có thể kể đến như gạo, cao su, cà phê, hạt điều… Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản quan trọng của một

số nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có Việt Nam Việt Nam đã xuất khẩu cà phê tới hơn 100 quốc gia và các vùng lãnh thổ Theo như báo cáo năm 2016 của Hiệp hội cà phê thế giới (ICO), mức tiêu thụ cà phê trên toàn thế giới đạt 155,1 triệu bao; tuy nhiên tổng xuất khẩu chỉ đạt 122,45 triệu bao Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2017, kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước đạt 1566 nghìn tấn, thu về 3500 triệu USD, chiếm 1,63% so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của

cả nước (215.119 triệu USD) Đến năm 2019, Việt Nam xuất khẩu cà phê đạt tổng cộng 1.653.265 tấn (khoảng 27,55 triệu bao), với tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 2,85 tỷ USD, giảm 11,92% về lượng và giảm 19,28% về giá so với xuất khẩu

Trang 11

năm 2019, cà phê xuất khẩu chủ yếu là cà phê Robusta Tính đến năm 2019, lượng

cà phê xuất khẩu đóng góp 15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản và chiếm 3% GDP cả nước Tuy nhiên, sự phát triển của mặt hàng này vẫn còn chứa đựng những yếu tố kém bền vững do Việt Nam nằm trong khu vực thị trường giá trị thấp

và bất ổn định nên bất kỳ biến động xấu nào của thị trường cà phê thế giới sẽ ngay lập tức ảnh hưởng tới tất cả các tác nhân trong ngành cà phê Giá trị gia tăng của mặt hàng cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu hiện nay còn thấp do hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chỉ đang tham gia vào công đoạn tạo giá trị gia tăng thấp nhất, chỉ cung cấp sức lao động phổ thông và nguyên vật liệu thô

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra đã mở ra những thuận lợi nhưng bên cạnh đó cũng có không ít khó khăn trong hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam, khiến cho tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng có những biến động lớn Do luôn phải chịu sự tác động của tình hình

cà phê thế giới nên xuất khẩu cà phê của Việt Nam còn thiếu sự bền vững Để có thể khai thác tốt tiềm năng, lợi thế về sản xuất cà phê cần đẩy mạnh sự tham gia của các doanh nghiệp và sản phẩm cà phê Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế

quốc tế Việc lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” là vô cùng cần thiết,

góp phần phân tích thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng của mặt hàng cà phê Việt Nam trong thời gian tới, nâng cao sức cạnh tranh của ngành hàng trên thị trường cà phê thế giới

2 Câu hỏi nghiên cứu

- Quy mô và xu hướng xuất khẩu cà phê của Việt Nam ?

- Năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới ?

- Làm thế nào để tăng giá trị gia tăng của ngành cà phê Việt Nam ?

3 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nhằm đưa ra một số giải pháp làm tăng giá trị gia tăng của ngành cà phê Việt Nam cũng như nâng cao năng lực xuất khẩu của cà phê Việt Nam

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Nghiên cứu hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong khoảng thời gian 2009-2019 để thấy được ngành cà phê Việt Nam biến động như thế nào sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008

- Không gian: Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Tìm kiếm thông tin và dữ liệu thứ cấp chủ yếu

từ các tổng luận, báo cáo, kỷ yếu hội thảo khoa học, tạp chí uy tín

- Phương pháp phân tích: dựa trên các dữ liệu thu thập được phân tích, nhận xét, đánh giá thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và vị trí của các ngành cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

6 Đóng góp của khóa luận

Đề tài có những đóng góp như sau: phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận về thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam trong bối cảnh kinh tế quốc tế nhằm đưa ra một số giải pháp làm tăng giá trị gia tăng của ngành cà phê Việt Nam cũng như nâng cao năng lực xuất khẩu của cà phê Việt Nam

7 Kết cấu của khóa luận

Phần mở đầu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về xuất khẩu cà

phê trong bối cảnh hội nhập

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

kinh tế quốc tế

Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao giá trị xuất khẩu cà

phê của Việt Nam

Phần kết luận

Trang 13

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ

LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Dự án nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách do Sida tài trợ (2003), Báo cáo nghiên cứu thị trường cà phê do Viện Nghiên cứu thương mại thực hiện đã nêu

rất rõ ràng, đánh giá cụ thể về khả năng thâm nhập của cà phê Việt Nam vào các thị trường nhập khẩu, đề ra những triển vọng phát triển sản xuất cà phê của Việt Nam, chỉ ra những đặc điểm, cơ cấu và xu hướng phát triển thị trường cà phê thế giới và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của xuất khẩu cà phê của nước ta trên các thị trường xuất khẩu chủ yếu… để từ đó khẳng định vị trí của cây cà phê trong chiến lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam và tìm ra những giải pháp thích hợp đóng góp cho sự phát triển của ngành cà phê nước ta

Theo PGS.TS Đinh Văn Thành (2007), “Điều tra, khảo sát, đánh giá tác động đến môi trường của việc trồng và chế biến xuất khẩu cà phê Đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường đối với việc gia tăng xuất khẩu mặt hàng này trong thời gian tới” đã cho thấy vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay rất đáng báo động và

chúng ta phải đưa ra những định hướng, giải pháp để hạn chế, phòng ngừa và xử lý

ô nhiễm môi trường, phát triển các vùng sản xuất cà phê sạch Những tác động của việc mở rộng xuất khẩu cà phê trong những năm tới đối với môi trường được tác giá chỉ ra trong bài nghiên cứu

Với mục đích điều chỉnh quy mô sản xuất thích hợp, cải thiện chất lượng, giảm giá thành mặt hàng cà phê, bài nghiên cứu của công ty TNHH tư vấn phát

triển bền vững (2007), “Xác định khả năng cạnh tranh của ngành sản xuất cà phê Robusta của Việt Nam” đã đưa ra những giải pháp giúp từng bước cải thiện những

nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới

Hoàng Thị Vân Anh và các cộng sự, Chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê

và khả năng tham gia của Việt Nam, Hà Nội, 2009 đã nêu rất rõ ràng, cụ thể các

nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị toàn cầu của ngành cà phê Theo đó, bao gồm

Trang 14

yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan Trong đó, các yếu tố khách quan bao gồm: các tổ chức xuất khẩu cà phê quốc tế có vai trò thúc đẩy sự ổn định giá cà phê trên thế giới ở mức có lợi cho người sản xuất, thông qua sự tham gia của các nước sản xuất vào Hiệp hội các nước sản xuất cà phê (ACPC) và Tổ chức cà phê quốc tế (ICO) Nâng cao chất lượng sản phẩm mặt hàng cà phê, nâng cao chất lượng bên trong của sản phẩm và quan tâm đến những đặc tính liên quan đến quá trình phát triển chuỗi giá trị cà phê tại nước có thu nhập thấp, các nền kinh tế đang biến đổi là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu trong việc phát triển chuỗi giá trị Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển của chuỗi giá trị cà phê tại nước có thu nhập thấp và các nền kinh tế đang chuyển đổi Việc thực hiện được những vấn đề liên quan đến các tiêu chuẩn về chất lượng, sinh thái, xã hội thúc đẩy các tác nhân tham gia sâu vào chuỗi giá trị cà phê Bên cạnh đó, các sản phẩm cà phê có chất lượng cao sẽ có khả năng tiếp cận nâng cao chất lượng sẽ có khả năng tiếp cận thị trường tốt hơn mặc dù có thể có mức giá cao hơn Chính vì vậy, chú trọng nâng cao chất lượng cà phê là hết sức quan trọng để có thể phát triển sản phẩm, trong đó có việc áp dụng các tiêu chuẩn sinh thái và xã hội Việc khuyến khích các nhân tố tham gia chuỗi giá trị áp dụng các tiêu chuẩn này để trở thành một công cụ đẩy cho các doanh nghiệp trong việc tham gia vào chuỗi giá trị cà phê toàn cầu Bên cạnh các yếu tố khách quan, các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới chuỗi giá trị toàn cầu ngành cà phê như: lợi thế so sánh của các quốc gia khi tham gia chuỗi, môi trường chính sách của các quốc gia và năng lực của các đối tượng tham gia

Theo Bùi Đức Tuân, Chuyên đề lồng ghép mới tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện thực thi các cam kết WTO: trường hợp ngành nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội, 2012: chuỗi giá trị nông sản toàn cầu bao gồm rất nhiều công

đoạn khác nhau từ cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, nuôi trồng, chăm sóc, thu hoạch, cơ chế… đến vận chuyển phân phối và sử dụng sản phẩm Chuỗi giá trị nông sản có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau Trong quá trình toàn cầu hóa, các chủ thể trong chuỗi có thể đến từ các quốc gia khác nhau, cùng tham gia hoạt động vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành nông nghiệp

Trang 15

Ngoài ra, nghiên cứu đã trình bày chuỗi giá trị cà phê toàn cầu khá đầy đủ như sau:

Thứ nhất, nông dân thu hoạch cà phê từ nông trại, sau đó có thể thực hiện quá trình làm khô hoặc làm ướt hạt cà phê sẽ nhận thu về giá trị xuất trại Sau đó, cà phê tươi được nhà máy hoặc người thu mua thực hiện một trong hai quy trình làm khô hoặc làm ướt và được bán với giá tại nhà máy; hạt cà phê được trung gian thu mua cho xuất khẩu với giá FOB (giá FOB là giá tại cửa khẩu của bên xuất, chưa bao gồm chi phí bảo hiểm và vận chuyển hàng hóa tới cảng của bên nhập Người bán giao hàng cho người mua qua lan can tàu tại cảng xếp hàng, khi hàng đã lên tàu nghĩa là người bán đã hết trách nhiệm Trong điều kiện này thì người bán chỉ việc vận chuyển hàng từ kho của mình ra cảng và làm thủ tục hải quan hàng xuất khẩu, còn việc thuê tàu thì do bên người mua chịu trách nhiệm)

Tiếp theo, cà phê được nhập khẩu tại nước nhập với giá CIF (giá CIF là giá tại cửa khẩu của bên nhập, đã bao gồm chi phí bảo hiểm, vận chuyển hàng hóa tới cửa khẩu của bên nhập) Việt Nam thường xuất khẩu cà phê theo giá FOB, nhập khẩu cà phê theo giá CIF Người nhập khẩu sau đó bán lại cho người bán buôn với giá bán buôn Quy trình rang cà phê được thực hiện bởi người bán buôn và sau đó được bán lại cho các nhà máy với mức giá tại nhà máy Cuối cùng, người bán lẻ sẽ bán cà phê cho người tiêu dùng tại thị trường nước nhập khẩu với giá bán lẻ như tại các nhà hàng, khách sạn hay cho người tiêu dùng cuối cùng

Trang 16

Hình 1.1: Chuỗi giá trị cà phê toàn cầu

Nguồn: Fitter Robert & Raphael Kaplinsky,2001

Đây là nguồn tài liệu làm cơ sở lý luận khá đầy đủ và vô cùng hữu ích cho bài luận văn

Bùi Đức Tuân, Chuyên đề lồng ghép mới tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện thực thi các cam kết WTO: trường hợp ngành nông nghiệp Việt

Trang 17

Nam, Hà Nội, 2012 đã chỉ ra khá rõ vị trí của cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị

toàn cầu Theo nghiên cứu này, Việt Nam dù là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới nhưng mới chỉ tham gia vào phần tạo ra giá trị chứ chưa tham gia sâu vào hoạt động tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm như chế biến, đóng gói, marketing và bán sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng với thương hiệu của mình Vì vậy,

cà phê Việt Nam không thu về nhiều giá trị gia tăng so với các nước khác Tuy nhiên, phân tích trong chuyên đề này cũng chỉ mới đề cập đến giải pháp chung để ngành nông nghiệp Việt Nam tăng cường thâm nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, chưa đưa ra được giải pháp riêng cho ngành cà phê

Lê Huy Khôi, Giải pháp nâng cao giá trị gia tăng cho mặt hàng cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu, Hà Nội, 2013 đã đưa ra được các quan

điểm, giải pháp giúp nâng cao giá trị gia tăng cho ngành cà phê Việt Nam trong thời gian tới, đồng thời cũng đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho ngành cà phê trong từng khâu của chuỗi giá trị cà phê toàn cầu, tập trung vào các khâu chế biến và phân phối, marketing sản phẩm, từ đó có thể góp phần xây dựng được thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới Tuy nhiên, do luận án tiến sĩ kinh tế này được thực hiện vào năm 2013 nên số liệu vẫn chưa được cập nhật theo xu hướng hiện tại của nền kinh tế Việt Nam nói riêng

và nền kinh tế thế giới nói chung, luận án chưa nghiên cứu về một thị trường xuất khẩu cụ thể

Đề án Nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê đến năm 2015 và định hướng

2020 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đánh giá hiện trạng năng lực

cạnh tranh của mặt hàng cà phê Việt Nam hiện nay để từ đó đưa ra những nội dung nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê và các giải pháp nhằm mục đích nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê Việt Nam trong thời gian tới

Nguyễn Thị Phương Linh, Phân tích sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ngành cà phê Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 7/2017:

Báo cáo này nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết về các khâu hình thành chuỗi giá trị của ngành cà phê cũng như sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành cà phê

Trang 18

Việt Nam qua sự phân tích đặc điểm của từng phân đoạn cụ thể từ sản xuất nguồn nguyên phụ liệu đến khâu phân phối sản phẩm cho người tiêu dùng Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích trong giai đoạn ngắn, từ năm 2013 đến năm

2016, chưa nghiên cứu trường hợp xuất cà phê sang một thị trường cụ thể

Ths Nguyễn Thị Lài và TS Đỗ Thị Mỹ Hiền, Thách thức trong xuất khẩu cà phê tại Việt Nam hiện nay, 2019 đã cho thấy xuất khẩu cà phê trong những năm vừa

qua vẫn được xem là ngành “xương sống”, đóng góp lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam Tuy nhiên, với việc thiếu thương hiệu lớn, thiếu quy trình sản xuất chế biến đạt chuẩn để đáp ứng yêu cầu tại các nước nhập khẩu đang

là những rào cản lớn trong xuất khẩu cà phê của Việt Nam Từ những nghiên cứu ban đầu về tình hình xuất khẩu cà phê trong những năm vừa qua, nhóm tác giả chỉ

ra những khó khăn trong quá trình xuất khẩu cà phê, từ đó gợi ý những chính sách đẩy mạnh phát triển xuất khẩu cà phê trong thời gian tới

Nguyễn Thị Mỹ Hằng – Nguyễn Thị Minh Thúy, Thực trạng và giải pháp phát triển cho ngành cà phê Việt Nam, 2020 đã chỉ ra cà phê là một ngành hàng vô

cùng quan trọng, chiếm 3% GDP của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu nhiều năm đều đạt trên 3 tỷ USD Bài viết phân tích về thực trạng ngành cà phê Việt Nam, dựa trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp đề nâng cao chất lượng cũng như

đa dạng hóa sản phẩm cà phê xuất khẩu, nhằm thúc đẩy các hoạt động xúc tiến để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường

1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu

1.2.1 Bản chất, vai trò của xuất khẩu hàng hóa

1.2.1.1 Khái niệm về xuất khẩu

Xuất khẩu là một hoạt động đã có từ rất lâu và đang ngày càng phát triển, nó là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương Trong những ngày đầu, xuất khẩu chỉ đơn giản là một hình thức trao đổi hàng hóa giữa các nước, cho đến nay xuất khẩu đã rất phát triển và được thể hiện thông qua nhiều hình thức Bởi vậy nên

đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu như sau :

- Theo quan điểm truyền thống thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa cho nước

Trang 19

ngoài Như vậy, theo như quan điểm này thì đối tượng của xuất khẩu là hàng hóa, còn ranh giới xác định ở đây là biên giới lãnh thổ quốc gia

- Theo luật Thương mại Việt Nam 2005, “xuất khẩu là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (Điều

28, mục 1, chương 2 Luật Thương mại Việt Nam 2005)

Tuy nhiên, hiện nay quan điểm về xuất khẩu cũng hiện đại hơn, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bên cạnh đối tượng xuất khẩu là hàng hóa còn có dịch vụ (dịch

vụ khoa học, công nghệ, franchising…) Vì vậy, hiểu theo một nghĩa đầy đủ hơn thì xuất khẩu là việc đưa hàng hóa hoặc dịch vụ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa hàng hóa vào một khu vực đặc biệt trong lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan theo quy định của pháp luật Do đó, ranh giới xác định là biên giới lãnh thổ quốc gia hoặc ranh giới giữa khu vực đặc biệt nằm trong lãnh thổ quốc gia được hưởng quy chế hải quan riêng theo quy định của pháp luật và thị trường nội địa còn đối tượng xuất khẩu là hàng hóa hoặc dịch vụ

1.2.1.2 Vai trò và nhiệm vụ của xuất khẩu

a, Vai trò của xuất khẩu

 Đối với nhà nước :

- Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, xuất khẩu tạo nguồn vốn lớn cho quốc gia để đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và tích lũy phát triển sản xuất

Để có thể tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng, sản xuất phát triển nhằm phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, đóng góp vào quá trình tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia, các doanh nghiệp nước ta phải không ngừng cải tiến đầu tư công nghệ sản xuất bằng cách nhập khẩu các loại máy móc, trang thiết bị hiện đại Và để đạt được điều

đó thì Việt Nam cần một lượng vốn rất lớn để thực hiện

Thông thường, mỗi một nước đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển thì nguồn vốn kinh doanh sẽ chủ yếu dựa vào các nguồn tiền sau: đầu tư nước ngoài, vay nợ viện trợ, du lịch dịch vụ thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động, xuất khẩu hàng

Trang 20

hóa,… nhưng trên thực tế cho chúng ta thấy rằng để thực hiện mục tiêu hiện đại hóa công nghiệp dây chuyền sản xuất thì nguồn thu quan trọng nhất để tạo ra lượng vốn chủ yếu là dựa vào quá trình xuất khẩu hàng hóa Không ai có thể phủ nhận được tầm quan trọng của nguồn vốn nước ngoài nhưng bên cạnh đó thì việc huy động nguồn vốn này không phải là một điều dễ dàng và khi sử dụng nguồn vốn này thì các nước đi vay phải chịu một số thiệt thòi nhất định và bằng nhiều cách khác nhau thì các nguồn thu như đầu tư nước ngoài, vay viện trợ đều phải hoàn trả vốn Mặt khác, lượng ngoại tệ thu được từ hoạt động du lịch dịch vụ hay xuất khẩu lao động thì quá nhỏ không đủ để có thể đáp ứng được nhu cầu về vốn nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến phục vụ cho nhu cầu sản xuất của đất nước Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu là để tăng cường cho quá trình nhập khẩu, tăng cường nhập khẩu để mở rộng và tăng khả năng xuất khẩu của đất nước, hai bên hỗ trợ qua lại với nhau, có mối quan hệ mật thiết với nhau, xuất khẩu và nhập khẩu vừa là kết quả vừa là tiền đề của nhau, do đó mà xuất khẩu tạo ra một nguồn vốn lớn cho quốc gia

để đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu

- Xuất khẩu đã mang lại ảnh hưởng tốt đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia Rất nhiều các yếu tố như tiến bộ khoa học kỹ thuật, tốc độ phát triển kinh tế ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nền kinh tế đã chuyển dịch phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới nhờ có hoạt động xuất khẩu, khu vực và xuất khẩu là các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu của đất nước

+ Mỗi một thị trường hay một quốc gia đều có nhu cầu, sở thích khác nhau và dựa vào nhu cầu của thị trường và thế giới, mỗi quốc gia tổ chức sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà các nước khác cần, điều đó tác động đến việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển

+ Để các ngành có thể phát triển thuận lợi thì xuất khẩu hàng hóa là sự lựa chọn tốt Ví dụ như khi ngành dệt xuất khẩu phát triển thì sẽ tạo cơ hội cho các ngành sản xuất nguyên liệu như bông, thuốc nhuộm… phát triển theo Ngành bao bì phát triển nhờ sự phát triển của ngành chế biến thực phẩm xuất khẩu

Trang 21

+ Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, xuất khẩu là cơ

sở để tạo thêm vốn và kỹ thuật, công nghệ tiên tiến từ bên ngoài vào Việt Nam + Thông qua xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với thị trường thế giới, đây là một cuộc đua về giá cả và chất lượng, đòi hỏi nước ta phải tổ chức lại sản xuất sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường Để có thể xuất khẩu được nhiều hàng hóa, chiếm lĩnh được lòng tin của người tiêu dùng thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoàn thiện và đổi mới công tác quản lý sản xuất kinh doanh của mình, nâng cao chất lượng, hạ giá thành

- Xuất khẩu có tác động tích cực đối với việc thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo nhiều cơ hội việc làm và cải thiện đời sống nhân dân Một quốc gia sản xuất hàng hóa phát triển cần một lượng nhân công rất lớn và quốc gia có hoạt động xuất khẩu hàng hóa mạnh mẽ thì mang lại nhiều cơ hội việc làm cho người dân, góp phần tạo công ăn việc làm ổn định, đảm bảo mức thu nhập cho công nhân Việt Nam cũng rất chú trọng trong việc nâng cao trình độ tay nghề của nhân công, nguồn ngoại tệ thu được nhờ hoạt động xuất khẩu sẽ được dùng để nhập các loại máy móc thiết bị hiện đại trong sản xuất để gia tăng năng suất làm việc

- Qua thực tế ta có thể thấy, không có quốc gia nào có thể tồn tại độc lập, phát triển hiệu quả mà không phát sinh mối quan hệ nào đối với các nước khác trên thế giới, việc xuất khẩu sẽ tăng cường sự hợp tác qua lại giữa các nước với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Thông qua xuất khẩu hàng hóa, quốc gia có thể nâng cao được vị thế của quốc gia mình với thế giới và tạo dựng lên nhiều mối quan hệ hợp tác với nước ngoài

 Đối với doanh nghiệp

- Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ, quy mô kinh doanh của mình, có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và ổn định

- Nhờ có xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ thu được về một lượng ngoại tệ lớn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, đổi mới công nghệ và trang thiết bị từ đó nâng

Trang 22

cao chất lượng sản phẩm phù hợp với bối cảnh thị trường ngày càng gay gắt hiện nay

- Quá trình xuất khẩu thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam có thể tái cấu trúc

mô hình hoạt động của doanh nghiệp mình sao cho phù hợp với bối cảnh kinh doanh, đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị

- Do thị trường thế giới hiện nay cạnh tranh vô cùng khốc liệt bởi vậy muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp phải nâng cao tay nghề và trình độ người lao động của mình

 Đối với người tiêu dùng

Hàng hóa để đáp ứng cho người dân trong nước ngày càng đa dạng do một phần kim ngạch xuất khẩu dùng để nhập khẩu những hàng tiêu dùng thiết yếu với mục đích phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân Mặt khác, người tiêu dùng phải mua sản phẩm với giá cao hơn do khi xuất khẩu các doanh nghiệp thu gom tối đa nguồn nguyên liệu trong nước

Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của việc xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài là

để thu về nguồn ngoại tệ phục vụ cho công tác nhập khẩu Ngoài ra, xuất khẩu còn góp phần gia tăng tích lũy vốn, mở rộng sản xuất thu nhập cho nền kinh tế từ những ngoại tệ thu được Từ đó, đời sống của nhân dân cũng từng bước được cải thiện do

có công ăn việc làm, thu nhập ngày càng được nâng cao

Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp nói riêng và cả nước nói chung sẽ mở rộng được quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, khai thác có hiệu quả lợi thế tuyệt đối và tương đối của đất nước từ đó kích thích nền kinh tế phát triển

1.2.2 Ý nghĩa của xuất khẩu

Bằng cách sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước, xuất khẩu là chìa khóa mở ra các giao dịch quốc tế cho một quốc gia, mang lại nhiều ngoại tệ để hỗ trợ cho quá trình nhập khẩu nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng phong phú của người dân

Thông qua hoạt động xuất khẩu, hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải tham gia vào cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia trên thị trường thế giới về giá

Trang 23

cả, chất lượng, đòi hỏi các doanh nghiệp nước ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trường quốc tế Kết quả là các doanh nghiệp sẽ rút ra những kinh nghiệm cho mình trong việc làm tăng lợi nhuận, nền kinh tế của quốc gia phát triển thì quan hệ đối ngoại cũng được mở rộng

1.3 Cây cà phê ở Việt Nam và vai trò xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế quốc dân

1.3.1 Cây cà phê ở Việt Nam

1.3.1.1 Giới thiệu chung về cây cà phê

Một trong những loại đồ uống phổ biến nhất thế giới hiện nay là cà phê Uống

cà phê không đơn giản chỉ là thưởng thức một loại đồ uống mà thông qua nó chúng

ta có thể biết được văn hóa cà phê, văn hóa uống của một quốc gia nói riêng và của toàn thế giới nói chung

Trước khi cà phê trở thành một loại thức uống được ưa chuộng phổ biến như hiện nay thì cà phê được truyền bá rộng rãi từ Châu Phi đến Ả Rập – đây cũng chính là nơi đầu tiên chế biến và sử dụng cà phê như một loại thuốc, loại thức ăn Người Ả Rập giữ cà phê như một bí quyết trong nhiều năm và sau đó cây cà phê trở nên phổ biến ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Pháp…, mở ra rất nhiều đồn điền cà phê rộng lớn đầu tiên ở miền nam Mỹ và xuất khẩu dần ra toàn thế giới

Cây cà phê là cây công nghiệp lâu năm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân ở các tỉnh thành Tây Nguyên Cây cà phê có 3 loại chính là cà phê chè, cà phê vối và cà phê mít Để có thể sinh trưởng và phát triển tốt nhất thì mỗi loại đều cần có những điều kiện sinh thái khác nhau

- Trong số các loài cây cà phê, cà phê chè là loại cây có giá trị kinh tế nhất, chiếm 61% tổng số sản phẩm cà phê trên toàn thế giới Nếu cà phê arabica đến từ Braxin thì nó còn được gọi là Brazilian Milds, gọi là Colombian Milds nếu đến

từ Colombia hay Other Milds nếu đến từ các nước khác

- Cây quan trọng thứ hai trong các loài cà phê là cà phê vối, có khoảng 39% các sản phẩm cà phê được sản xuất từ loại cà phê này Việt Nam là nước xuất khẩu

cà phê vối lớn nhất thế giới và các nước xuất khẩu quan trọng khác gồm có Braxin,

Trang 24

Indonesia, Ấn Độ, Malaysia, Uganda, Coote d’Ivoire Cà phê vối còn có tên gọi khác ở Braxin là Conilon

- Cà phê mít là cây chịu hạn tốt, sức chống chịu sâu bệnh cao (được ưa chuộng trong việc ghép gốc cho cà phê khác), ít cần nước tưới nên thường trồng quảng canh Tuy nhiên, cà phê mít không được ưa chuộng do năng suất kém, có vị chua Hạt cà phê mít thường được trộn vào với cà phê vối, cà phê chè khi rang xay

để tạo hương vị thơm ngon hơn (cà phê mít thường hợp với gu của người châu Âu)

1.3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển cây cà phê ở Việt Nam

Năm 1897 là năm đánh dấu lần đầu tiên cây cà phê được đưa vào Việt Nam và được trồng thử từ năm 1888 Trong thời gian đầu khi cây cà phê mới được đưa vào Việt Nam, cây cà phê chủ yếu được trồng ở Ninh Bình, Quảng Bình… đến đầu thế

kỳ XX mới được trồng ở Nghệ An và một số nơi ở Tây Nguyên Cây cà phê bắt đầu

có diện tích đáng kể, đặc biệt ở Buôn Ma Thuật, Đăk Lăk từ sau năm 1920 Khi mới bắt đầu, quy mô của các đồn điền từ 200-300 ha và năng suất chỉ đạt được từ 400-

600 kg/ha Cho đến nay, diện tích của cà phê trên cả nước vào khoảng 500.000 ha

và có sản lượng lên đến 900.000 tấn Hiện nay, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới (sau Braxin)

Cà phê trồng ở Việt Nam bao gồm cà phê vối (Robusta) chiếm 90% diện tích,

cà phê chè (Arabica) chiếm 10% và cà phê mít (Excelsa) chỉ chiếm 1% Giá cà phê vối chỉ bằng một nửa giá cà phê chè do hàm lượng caffein trong cà phê vối cao (2-4%) nên hương vị không tinh khiết bằng cà phê chè (caffein 1-2%) Cây cà phê chè thường được trồng ở độ cao từ 1000 – 1500m do cà phê chè ưa sống ở vùng núi cao, nhiệt độ thích hợp từ 16-250C, lượng mưa khoảng trên 1000m Bên cạnh đó, cây cà phê vối lại ưa sống ở vùng nhiệt đới, cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với cây cà phê chè, độ cao thích hợp cho cây cà phê vối là dưới 1000m, nhiệt độ khoảng 24-

290C, lượng mưa khoảng trên 1000m

Cà phê vối có sức sinh trưởng tốt và kháng được bệnh, do đó nên diện tích cà phê vối cao hơn rất nhiều so với các loại khác Trái lại, cà phê chè khó trồng hơn cà phê vối do cà phê chè rất dễ nhiễm các loại bệnh như bệnh gỉ sắt (do nấm

Trang 25

Hemileia vastatrix), bệnh khô cành, khô quả (do nấm Colletotrichum coffeanum và vi khuẩn Pseudomonas syringgea, P.garcae), bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor)…

Theo chiến lược của ngành cà phê, nước ta sẽ tiến hành giảm diện tích cà phê vối và tăng diện tích cà phê chè tuy nhiên vấn đề quan trọng nhất là vấn đề về giống Trước đây, giống cà phê chè ở Việt Nam là giống Typica, Bourbon, Caturra Amarello hoặc một số giống được trồng mang tính thí nghiệm như Mundo Novo, Catuai Hiện nay, các vùng mới trồng cà phê chè đều thuộc giống Catimor nhưng giống Catimor có nhược điểm hương vị thiên về cà phê vối nên cần phải nghiên cứu thêm Hiện nay, Việt Nam cần có giống cà phê chè mới có hương vị thơm ngon và kháng được bệnh, đây là một nhu cầu cấp bách của nước ta, điều đó đòi hỏi chúng

ta phải ứng dụng các tiến bộ khoa học trong tuyển chọn và nhân giống cà phê từ các nguồn nhập ngoại và sẵn có ở Việt Nam

1.3.1.3 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật trong sản xuất cà phê tại Việt Nam

a, Nguồn vốn

Sản xuất cà phê ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở các hộ gia đình nhỏ lẻ, vốn đầu tư cho vườn nhà vẫn còn rất hạn chế, đa số người dân phải vay từ các ngân hàng Ngân hàng này tiến hành cả cho vay theo vụ và cho vay trồng mới nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi cà phê Arabica Những người trồng cà phê Robusta vẫn có thể vay vốn từ ngân hàng với những điều kiện cụ thể nhưng nguồn tín dụng cho những người này là rất hạn chế Đối với cà phê, thời gian cho vay không dài, thường là một năm, cho vay làm 3 lần nên nhiều khi người nông dân phải bán cà phê trong giai đoạn giá thấp để trả nợ và để có thể vay cho vụ tiếp theo, làm lợi nhuận thu được ít, thậm chí có thể dẫn đến lỗ vốn Mặt khác, người nông dân không

có vốn phải ứng trước hoặc mua chịu vật tư, phân bón cho các đại lý, đến kì thu hoạch thường phải bán non để có tiền trả nợ nên hiệu quả sản xuất sẽ không cao

Về phía các doanh nghiệp, doanh nghiệp có vốn lớn không nhiều, đặc biệt ít so với các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động cùng lĩnh vực Các doanh nghiệp cần tiền cho việc thu mua, sản xuất, lưu trữ và xuất khẩu Tuy nhiên, do hạn chế về vốn

Trang 26

nên doanh nghiệp chỉ đáp ứng được một phần, còn lại phải huy động vốn vay từ ngân hàng Thế nhưng do lãi suất cao và thời gian vay ngắn nên hoạt động gặp nhiều khó khăn

b, Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng của ngành cà phê nhìn chung vẫn còn kém Ngoài một số các doanh nghiệp có hệ thống trồng trọt, chế biến, hoạt động sân phơi thích hợp thì hầu hết các hộ gia đình đều sử dụng diện tích quanh nhà làm sân phơi, chưa có điều kiện xây sân xi măng nên phải phơi sân đất, không có đủ diện tích nên phơi cà phê với mật độ dày, thiếu nắng sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng cà phê Hệ thống đường

xá, hồ đập thủy lợi, điện nước… chưa phát triển Cảng biển thì tập trung ở những thành phố lớn, xa các vùng nguyên liệu cà phê nên gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu Các nhà máy chế biến chưa thật sự phát triển, trình độ công nghệ khá lạc hậu

c, Công nghệ sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực vật

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, hàng năm tiêu thụ một lượng phân bón không nhỏ nhưng thị trường phân bón Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát triển mạnh, chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu Công nghệ sản xuất phân bón nội địa của Việt Nam mới chỉ đáp ứng được 50-60% nhu cầu về ure còn các loại phân bón như SA, kali phải nhập khẩu 100% Về thuốc bảo vệ thực vật, nguồn cung chính cũng vẫn

là từ nhập khẩu do ngành sản xuất các loại hóa chất tổng hợp dùng cho bảo vệ thực vật trong nước chưa phát triển nên các doanh nghiệp trong ngành sản xuất thuốc bảo

vệ thực vật phải nhập khẩu khá nhiều nguyên liệu khiến cho chi phí gia tăng Không những thế, một vấn nạn hay xảy ra là có không ít nông dân mua phải phân bón, thuốc bảo vệ thực vật rởm, những sản phẩm bất hợp pháp này gây ra tác hại khôn lường đối với hệ sinh vật, phá hủy đất canh tác, làm cho chất lượng cà phê không đảm bảo, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

d, Vận tải chuyên chở

Ở Việt Nam, việc vận tải và chuyên chở từ nơi trồng trọt đến nơi sản xuất, chế biến được thực hiện gần như bằng đường bộ 85% cà phê được trồng ở các hộ

Trang 27

gia đình nhỏ lẻ và các hộ này hầu như đều có những phương tiện chuyên chở thô sơ như xe ba gác, xe máy xới… Các doanh nghiệp thu mua cà phê với số lượng lớn thì

có thể chuyên chở thông qua các công ty vận chuyển còn việc chuyên chở hàng hóa xuất khẩu sang nước ngoài được thực hiện chủ yếu bằng vận tải biển, vận tải đường hàng không Trong khoảng thời gian gần đây, ngạn vận tải biển và kho bãi đã có nhiều bước phát triển mới, đáp ứng được nhu cầu tuy nhiên các cảng biển lớn thường tập trung ở những thành phố như Sài Gòn, Hải Phòng, Quảng Ninh… nên việc chuyên chở từ các vùng nông thôn trồng trọt, sản xuất gặp nhiều khó khăn, tốn chi phí Bên cạnh đó, việc giá xăng dầu tăng cao làm giá cước vận tải biển tăng 15- 20% trong năm 2010 cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất khẩu cà phê của Việt Nam

1.3.2 Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế quốc dân

Sau những năm xuất khẩu cà phê, ta có thể thấy rằng xuất khẩu đóng vai trò

vô cùng quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế cho Đăk Lăk, Tây Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung Qua các năm xuất khẩu cà phê đã đóng góp rất nhiều trong việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ngày một rõ rệt

Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam và nhờ việc xuất khẩu cà phê mà Việt Nam đã được cả thế giới biết đến là cường quốc xuất khẩu cà phê và thương hiệu cà phê Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí của mình trên thị trường quốc tế Ta có thể liệt kê một số vai trò cơ bản của xuất khẩu cà phê đối với nền kinh tế quốc dân :

- Hoạt động xuất khẩu cà phê ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp của mỗi quốc gia Khối lượng cà phê được sản xuất và cung cấp ra thị trường ngày càng lớn khi xuất khẩu cà phê tăng, điều đó sẽ tạo điều kiện cho việc

mở rộng quy mô sản xuất cà phê của Việt Nam Mặt khác, khi người sản xuất gia tăng nguồn thu có được từ các hoạt động xuất khẩu cà phê thì các doanh nghiệp Việt Nam có thể tăng vốn để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm và nâng cao giá trị của hàng xuất khẩu Ngoài ra, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu nhằm mục đích phục vụ quá trình công

Trang 28

nghiệp hóa của đất nước Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ muốn phát triển, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước, nâng cao năng suất và hiệu quả lao động để có thể rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nước giàu thì đòi hỏi đất nước phải có một nguồn vốn để nhập khẩu một lượng ngày càng nhiều máy móc thiết bị và nguyên liệu công nghiệp…

- Thông qua xuất khẩu nước ta có thể giải quyết tốt vấn đề về công ăn, việc làm, cải thiện đời sống của người dân Do tốc độ tăng lực lượng lao động nhanh ở các vùng như Tây Nguyên, Đăk Lăk … cũng như cả nước nên vấn đề việc làm luôn

là một vấn đề nóng và cần quan tâm của nền kinh tế Để có thể giải quyết vấn đề việc làm phải tăng cầu lao động và xuất khẩu tăng cũng là một trong những biện pháp tuyệt vời để có thể mở rộng quy mô ngành sản xuất cà phê, từ đó tạo thêm việc làm cho người lao động Các ngành như công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ nông nghiệp cũng phát triển theo nhờ sự gia tăng của hoạt động xuất khẩu

cà phê từ đó dẫn đến nhu cầu lao động bổ sung tăng lên Khi người lao động có việc làm, thu nhập ổn định thì người lao động sẽ yên tâm phấn khởi làm việc tại quê hương của mình từ đó giảm được tình trạng di cư của người lao động ra các khu công nghiệp, thành thị để kiếm việc làm Ngoài ra, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn

để có thể nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu cho người dân như dược phẩm,

mỹ phẩm… phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú của nhân dân

- Xuất khẩu cà phê đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp như đất đai, cơ sở hạ tầng, người lao động, kinh nghiệm sản xuất…

- Xuất khẩu cà phê góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giúp nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của cà phê trên thị trường Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, xuất khẩu cà phê không những tạo điều kiện giải quyết tốt các vấn đề đầu ra cho mặt hàng cà phê mà còn thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa quy

mô lớn

Trang 29

- Xuất khẩu tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy

sự phát triển của sản xuất Xuất khẩu ngành này phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của ngành khác có mối quan hệ mật thiết với nhau Chẳng hạn như khi đất nước ta xuất khẩu gạo tăng thì sẽ tạo điều kiện cho các ngành như cơ khí – chế tạo máy, các dịch vụ xay xát lúa gạo, sửa chữa máy móc… phát triển theo Có thể nói là khi nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại hóa thì sẽ kéo theo các ngành công nghiệp và thương mại – dịch vụ phát triển theo

- Do thói quen tiêu dùng, nhu cầu của người Châu Á nói chung hay Việt Nam nói riêng đều thích trà hơn cà phê nên nhu cầu sản phẩm cà phê của người dân trong nước không cao nên việc xuất khẩu cà phê sẽ giúp tìm được đầu ra cho sản phẩm của người nông dân trồng cà phê, giúp người dân tiêu thụ được sản phẩm của mình

và có thêm thu nhập Cà phê là một loại cây trồng rất phù hợp với điều kiện thời tiết

và đất đai ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ và là một loại cây có giá trị kinh tế cao nên việc xuất khẩu cà phê sẽ giúp người dân nước

ta làm giàu trên chính mảnh đất của mình

- Không chỉ là một loại cây có giá trị kinh tế cao, việc trồng cà phê còn giúp cho quá trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái nước ta

do cây cà phê phù hợp với những vùng đất đồi, đặc biệt là cây cà phê Robusta

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê

1.4.1 Cầu và thị trường nhập khẩu

Cũng như các mặt hàng khác, nếu nhu cầu của nước nhập khẩu cao thì xuất khẩu cà phê của Việt Nam sẽ tăng trưởng tốt và nếu nhu cầu về cà phê của nước nhập khẩu thấp thì nó sẽ làm giảm số lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu cà phê,

do đó nên cầu của nước nhập khẩu ảnh hưởng rất nhiều với việc xuất khẩu cà phê Mặt khác, nhu cầu của nước nhập khẩu về loại sản phẩm cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động xuất khẩu cà phê của nước ta Nếu nước nhập khẩu có nhu cầu về mặt hàng cà phê cao nhưng loại cà phê mà họ thích là cà phê chè (Arabica) trong khi chúng ta chủ yếu xuất khẩu là cà phê vối (Robusta) thì cũng làm cho xuất khẩu

cà phê của chúng ta giảm và ngược lại nếu nước nhập khẩu có nhu cầu về cà phê

Trang 30

vối thì xuất khẩu cà phê của chúng ta sẽ tăng lên nên chúng ta phải nắm bắt được nhu cầu của từng thị trường mà chúng ta định hướng sẽ xuất khẩu đến thị trường đó Bên cạnh nhu cầu của nước nhập khẩu thì thị trường của nước nhập khẩu cũng ảnh hưởng rất nhiều tới hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam Nếu dung lượng thị trường của nước nhập khẩu nhỏ mà nước nhập khẩu có nhu cầu thì cũng không làm tăng được lượng cà phê xuất khẩu hoặc cách thức cạnh tranh và yêu cầu quy định trên thị trường nước nhập khẩu cũng tác động đến hoạt động xuất khẩu cà phê của nước ta

Một trong những vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam là môi trường cũng như chính sách của nước nhập khẩu đối với cà phê Chúng ta sẽ khó có thể thúc đẩy xuất khẩu vào thị trường nếu chính sách của chính phủ nước đó bảo hộ thị trường trong nước khiến dựng lên các rào cản gây cản trở cho hoạt động xuất nhập khẩu kể cả khi người tiêu dùng của nước đó có nhu cầu với mặt hàng cà phê của Việt Nam Ví dụ khi một nước muốn nhập khẩu nông sản vào thị trường Mỹ thì sẽ phải vượt qua các rào cản về kỹ thuật như đạo luật chống khủng bố sinh học, thủ tục hải quan… cũng gây nên nhiều khó khăn cho nước đó

1.4.2 Giá cả và chất lượng

Đối với bất kì hàng hóa nào, để hàng hóa xuất khẩu ra thị trường khác có sức cạnh tranh cao và được sự đón nhận của người tiêu dùng thì hàng hóa phải có chất lượng tốt Với cà phê cũng vậy, muốn có sức cạnh tranh cao thì chất lượng cà phê phải tốt, chất lượng cà phê tốt không những xuất khẩu được nhiều mà giá cả còn cao nên giá trị xuất khẩu sẽ lớn, ngược lại, nếu chất lượng cà phê không tốt thì nếu có thể xuất khẩu ra thị trường nước ngoài cũng bị ép giá thấp nên giá trị xuất khẩu không cao và khả năng tiêu thụ cà phê kém

Một yếu tố nữa tác động tới quan hệ cung cầu của hàng hóa là giá cả Khi nước ta bán với giá thấp thì khối lượng hàng hóa xuất khẩu sẽ tăng nhưng giá trị lại không tăng đáng kể thậm chí là giảm Ngược lại, khi nước ta bán cà phê với giá cao thì khối lượng xuất khẩu có thể không tăng nhưng giá trị xuất khẩu lại có thể tăng mạnh

Trang 31

1.4.3 Kênh và dịch vụ phân phối

Để quá trình xuất khẩu cà phê nước ta được diễn ra nhanh chóng dễ dàng và nắm bắt tốt thông tin phản hồi từ thị trường nước nhập khẩu cũng như của người cung ứng đồng thời giúp làm giảm chi phí trong quá trình hoạt động nâng cao sức cạnh tranh của cà phê xuất khẩu thì nước ta cần có một kênh phân phối hợp lý Khách hàng sẽ hài lòng hơn nếu nước ta có dịch vụ phân phối tốt khi mua cà phê Việt Nam Đây là một vũ khí cạnh tranh hữu hiệu của các nhà sản xuất trong việc tăng sức cạnh tranh và xuất khẩu của mặt hàng cà phê Cho dù giá cà phê của nước ta có rẻ hơn so với các nước khác nhưng nếu không có dịch vụ phân phối tốt hơn của đối thủ cạnh tranh thì khách hàng sẽ mua hàng của đối thủ cạnh tranh Vì vậy, đối với hoạt động xuất khẩu cà phê thì dịch vụ phân phối giữ vai trò rất quan trọng

1.4.4 Môi trường cạnh tranh

Một yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của một nước đó là môi trường cạnh tranh (thể chế, quy định, các rào cản đối với kinh doanh cà phê của nước nhập khẩu cà phê, số lượng các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước nhập khẩu cà phê) Khả năng xuất khẩu cà phê của chúng ta sẽ giảm nếu môi trường cạnh tranh gay gắt nhất là khi cà phê của chúng ta là cà phê Robusta có giá trị thấp hơn cà phê Arabica Ngoài ra, xuất khẩu cà phê của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi chất lượng cà phê của nước ta lại thấp hơn chất lượng cà phê của nước khác như Braxin Ngược lại, xuất khẩu cà phê của Việt Nam gặp nhiều thuận lợi khi thị trường cà phê thế giới có sự cạnh tranh không cao

1.4.5 Yếu tố về sản xuất chế biến

Để có thể nâng cao được năng suất chất lượng của cà phê và tạo điều kiện thuận lợi cho việc chế biến, sản xuất cà phê thì chúng ta phải xác định được lợi thế của từng vùng và quy hoạch được vùng trồng cà phê hợp lý Công nghiệp chế biến cũng tác động tới quá trình xuất khẩu cà phê của Việt Nam Nếu nước ta có được công nghệ chế biến cà phê hiện đại với công suất lớn thì chúng ra sẽ nâng cao được

Trang 32

giá trị của cà phê xuất khẩu, giúp tạo ra sức cạnh tranh mạnh cho cà phê xuất khẩu của chúng ta so với các nước xuất khẩu cà phê khác

Nhà nước cũng rất chú ý trong việc phân bố các nhà máy chế biến, các cơ sở kinh doanh cà phê cũng như các vùng sản xuất cà phê hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vận chuyển chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê Việc phân bố nhà máy chế biến, cơ sở kinh doanh cà phê cũng như các vùng sản xuất cà phê hợp

lý sẽ giúp giảm được chi phí trong hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh của cà phê xuất khẩu trên thị trường cà phê thế giới Ngoài ra, một nước có yếu tố cơ sở hạ tầng tốt sẽ giúp việc xuất khẩu cà phê diễn ra dễ dàng hơn do vận chuyển cà phê từ nơi sản xuất đến nơi chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê thuận lợi hơn, việc chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê suôn sẻ hơn đồng thời góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của cà phê xuất khẩu, hiệu quả của xuất khẩu cà phê

1.4.6 Các nhân tố thuộc về quản lý

Có thể nói con người giữ một vị trí vô cùng quan trọng, quyết định mọi vấn đề trong kinh doanh bất cứ một mặt hàng nào Và đối với kinh doanh xuất khẩu cà phê cũng vậy, cho dù một quốc gia có đầy đủ các nhân tố thuận lợi khác nhưng nếu quốc gia đó không có những công nhân lành nghề, giàu kinh nghiệm, có khả năng vận dụng khoa học kỹ thuật cũng như khả năng sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại trong sản xuất chế biến cà phê thì điều đó cũng dẫn đến việc năng suất bị ảnh hưởng, hoạt động kinh doanh và xuất khẩu cà phê kém hiệu quả, trì trệ

Để hoạt động xuất khẩu cà phê có kết quả tốt thì không những mặt hàng cà phê của chúng ta chất lượng và có sức cạnh tranh cao mà cần phải có những con người am hiểu về kinh doanh xuất nhập khẩu để có thể tham gia quản lý điều hành việc kinh doanh Bên cạnh đó, những người làm công tác quản lý vĩ mô, hoạch định cũng giữ một vai trò to lớn trong việc cố vấn cho Chính phủ điều tiết và quản lý hoạt động xuất khẩu cà phê, giúp xây dựng lên các chiến lược cho sự phát triển của ngành cà phê trong nước

Trang 33

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

2.1 Thực trạng về sản xuất, xuất khẩu cà phê của Việt Nam

2.1.1 Quy mô và xu hướng xuất khẩu cà phê

Trong ba thập kỷ qua (tính từ công cuộc cải cách năm 1986), cà phê là ngành nông sản mũi nhọn của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong doanh thu của ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng và cho toàn bộ GDP quốc gia nói chung Thông qua các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết, cà phê rang xay và hòa tan xuất khẩu đã chiếm 9,1% thị phần tạo nhiều cơ hội và triển vọng cho ngành cà phê Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường quốc tế Trong những năm gần đây, giá trị xuất khẩu của mặt hàng cà phê thường chiếm khoảng 15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản và tỷ trọng cà phê luôn vượt trên 10% GDP nông nghiệp Hiện nay, Việt Nam có khoảng 665 nghìn ha diện tích trồng cà phê, trong

đó có tới 516 nghìn ha diện tích cho sản phẩm cà phê Việt Nam có vị trí địa lý nằm trong vành đai nhiệt đới, hàng năm khí hậu nắng nóng mưa nhiều và có lượng mưa phân bố đều giữa các tháng trong năm nhất là những tháng cà phê sinh trưởng Khí hậu Việt Nam được chia thành hai miền rõ rệt bởi vậy hiện nay Việt Nam trồng hai loại cà phê chính là Arabica và Robusta phù hợp với từng miền khí hậu Ở phía Bắc

có mùa đông lạnh và có mưa phùn thích hợp với cà phê Arabica Miền khí hậu phía Nam thuộc khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cà phê Robusta Robusta là loại cà phê được trồng phổ biến ở Việt Nam, chiếm tới 96% sản lượng sản xuất của cả nước Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, từ năm 2010 đến năm 2018, mỗi năm trung bình Việt Nam sẽ xuất khẩu khoảng hơn 1.500 nghìn tấn cà phê xuất khẩu với giá trị trung bình xuất khẩu rơi vào khoảng trên 3 tỷ USD Tuy nhiên, trị giá sản lượng xuất khẩu cà phê ở Việt Nam tăng giảm không đồng đều, điển hình là từ năm

2010 đến năm 2012, giá trị xuất khẩu cà phê ở Việt Nam tăng liên tục từ 1,76 tỷ USD năm 2010 lên tới 3,68 tỷ USD vào năm 2012 Theo VICOFA, trong thời điểm

từ năm 2010 đến năm 2012, diện tích và sản lượng cà phê không có biến động

Trang 34

mạnh, toàn quốc có trên 140 doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó có khoảng 20 doanh nghiệp nước ngoài có máy móc hoặc cơ quan đại diện ở Việt Nam và có khoảng 20 doanh nghiệp nước ngoài có máy móc hoặc cơ quan đại diện ở Việt Nam và khoảng

4 doanh nghiệp hàng đầu cà phê ở Việt Nam là TCT Cà phê Việt Nam, Cà phê 2/9, XNK Intimex và Tập đoàn Thái Hòa Đây là thời điểm mà ngành cà phê Việt Nam khuyến khích các nhà đầu tư vào lĩnh vực cà phê rang xay và chế biến hòa tan như Nestle, Vinacafe Biên Hòa và Cà phê Trung Nguyên

Ngành cà phê bị tác động bởi biến đổi khí hậu khiến năng suất và chất lượng

cà phê giảm vào năm 2015 Do thời tiết thay đổi, hạn hán nghiêm trọng trong thời

kỳ cà phê phát triển, mưa đến sớm khi thu hoạch, cà phê ra hoa không tập trung khiến cho niên vụ 2014-2015 sản lượng cà phê giảm khoảng 26% so với niên vụ trước Nhằm cải tạo diện tích cây cà phê già cỗi và vườn cà phê có năng suất thấp 1,5 tấn/ha, diện tích tái canh cây cà phê của 5 tỉnh Tây Nguyên là 120 nghìn ha, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đề ra Đề án Tái canh từ năm 2014 đến năm

2020 Tuy nhiên, cho đến hiện tại, công tác tái canh tại các địa phương trên vẫn chưa đáp ứng được kế hoạch đề ra tại Đề án do công tác tái canh diễn ra còn chậm diễn ra còn chậm Xuất khẩu cà phê đến năm 2017 đạt 1,44 triệu tấn với kim ngạch 3,244 tỷ USD, giảm 19% về lượng và 2,7% về kim ngạch xuất khẩu so với năm

2016 Giá cà phê thế giới cũng như giá cà phê tại thị trường Việt Nam biến động đảo chiều liên tục với biên độ hẹp nhưng nhìn chung vẫn giữ xu hướng tăng, giá cà phê xuất khẩu bình quân của năm 2017 đạt 2.250 USD/tấn so với năm 2016 thì giá

cà phê xuất khẩu bình quân tăng mạnh 20,1% Theo số liệu của Bộ Công Thương cho thấy năm 2018 xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 1,882 triệu tấn trị giá 3,544

tỷ USD tăng 20,1% về lượng và tăng 1,2% về trị giá so với năm 2017, sản lượng cà phê Việt Nam niên vụ 2018/19 giảm khoảng 20% so với dự kiến trước đó do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu năm 2018 và diện tích trồng cà phê giảm khoảng 6% trong năm 2017 và năm 2018 do chuyển đổi cây trồng (Bộ Công Thương, 2018)

Trang 35

Biểu đồ 2.1 Số lượng và giá trị xuất khẩu cà phê Việt Nam trong giai đoạn

2010-2018

Nguồn: Bộ Công Thương, 2018

Mặc dù xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2018 tăng so với năm 2017 nhưng nhìn chung mặt hàng cà phê của nước ta vẫn gặp nhiều vấn đề trở ngại như ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh, chi phí vận chuyển có nhiều biến động, xuất khẩu

cà phê dạng thô ở Việt Nam chiếm tới 90% trong khi tỷ lệ cà phê chế biến sâu, giá trị gia tăng cao chỉ mới chiếm 10% trong tổng sản lượng cà phê nhân, chưa tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho sản phẩm, chưa tạo ra chuỗi sản xuất sâu Theo ý kiến từ các chuyên gia cho biết, nếu tính theo giá xuất khẩu tại cảng Việt Nam thì cà phê chỉ có giá trên dưới 40 triệu đồng/tấn, trong khi nếu chế biến sâu sẽ có giá trị gia tăng cao nhất từ 70-100 triệu đồng/tấn Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự quan tâm đến các quy trình bảo quản, chế biến, thị trường tiêu thụ, bao bì, sản phẩm và cả thương hiệu dẫn đến rất nhiều thiệt thòi khi xuất khẩu cà phê vào các thị trường tiêu thụ lớn trên thế giới

Cuối năm 2018, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chạm 3,54 tỷ USD và những dự án đầu tư chiều sâu, nâng cấp công nghệ đang được triển khai, ngành cà phê Việt Nam đặt đích ngắm xuất khẩu 6 tỷ USD vào năm 2030 Năm 2018, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 1,882 triệu tấn trị giá 3,544 tỷ USD tăng 20,1% về lượng và tăng 1,2% về trị giá so với năm 2017 Theo Bộ Công Thương đánh giá,

Trang 36

trong những năm qua, dù kinh tế thế giới có nhiều thời điểm gặp khó khăn dẫn đến tình trạng sức mua sụt giảm, xuất khẩu cà phê của nước ta vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng rất đáng khích lệ, đạt 8,2%/ năm với kim ngạch bình quân 3,13 tỷ USD/năm giai đoạn 2011-2018, chiếm 15% tổng xuất khẩu nông sản của cả nước Các sản phẩm cà phê của Việt Nam đã xuất khẩu đến hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 14,2% thị phần xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu (đứng thứ hai, chỉ sau Braxin) Đặc biệt, cà phê rang xay và hòa tan xuất khẩu của Việt Nam chiếm 9,1% thị phần (đứng thứ 5, sau Braxin, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ), tạo ra nhiều cơ hội cũng như triển vọng cho ngành cà phê khi Việt Nam đang dần thâm nhập sâu hơn vào thị trường quốc tế thông qua các Hiệp định thương mại tự do đã ký kết Các nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới như Braxin, Indonesia, Colombia… đều chủ yếu xuất khẩu cà phê dưới dạng hạt (green bean), tức là cà phê chỉ dừng ở hoạt động sơ chế sau thu hoạch Một số nước có hoạt động rang và xay nhưng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng xuất khẩu cà phê Đối với Việt Nam, kể

từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước, hoạt động sơ chế sau thu hoạch đã được hết sức quan tâm Nhờ sự quan tâm đó, từ chỗ có giá bán tại cảng Việt Nam thấp hơn tới 400 - 500 USD so với giá tham chiếu tại Sở Giao dịch Hàng hóa Luân Đôn, Việt Nam đã dần thu hẹp được khoảng cách này và cho tới nay, giá bán cà phê Robusta của Việt Nam đã phù hợp với giá thị trường thế giới Giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam năm 2018 đạt mức 1.883 USD/tấn

Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương nhận định, trong thời gian qua, nhờ có

ưu đãi về thuế quan đối với cà phê chế biến từ các Hiệp định Thương mại tự do mà nước ta đã ký kết nên ngày càng có nhiều doanh nghiệp bắt đầu quan tâm, chú trọng đầu tư vào các hoạt động chế biến sâu nhằm góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nói riêng và kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành nói chung Do đó, mục tiêu xuất khẩu 6 tỷ USD vào năm 2030 là trong tầm tay của ngành cà phê Việt Nam Cho đến nay, Việt Nam có 97 cơ sở chế biến cà phê nhân, 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay, 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan và 11 cơ sở chế biến cà phê phối trộn

Trang 37

Cụ thể, 97 cơ sở chế biến cà phê nhân của Việt Nam, tổng công suất thiết kế 1.503 triệu tấn, tổng công suất thực tế đạt 83,6%, 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay, tổng công suất thiết kế 51,7 nghìn tấn sản phẩm/năm, 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan, tổng công suất thiết kế 36,5 nghìn tấn sản phẩm/ năm, tổng công suất thực

tế đạt 97,9%, 11 cơ sở chế biến cà phê phối trộn, tổng công suất thiết kế 139,9 nghìn tấn sản phẩm/năm, tổng công suất thực tế đạt 81,5% Cà phê bột của Trung Nguyên, cà phê hòa tan của Vinacafe, Trung Nguyên không những chiếm lĩnh được thị trường trong nước mà còn được hoan nghênh ở rất nhiều thị trường trong khu vực, đồng thời đã bước đầu xây dựng được thương hiệu cà phê Việt Tuy nhiên, mặc dù ngành hàng cà phê Việt Nam có bước phát triển nhanh trong một số năm gần đây về cả diện tích và sản lượng nhưng phần lớn lợi thế trên thị trường thế giới vẫn thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài có thương hiệu và tiềm lực tài chính mạnh

Tháng 3/2019, Tập đoàn Tata, Ấn Độ đã khánh thành Nhà máy sản xuất cà phê sấy lạnh, có công suất 5000 tấn/năm, được xây dựng tại Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore II-A với diện tích 80.000m2 với tổng vốn đầu tư hơn 65 triệu USD cung ứng các sản phẩm cà phê hòa tan cho thị trường toàn cầu Vào cuối năm

2018, Công ty cổ phần Phúc Sinh đã khánh thành nhà máy Phúc Sinh Sơn La (huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La), quy mô 45 hecta sau 8 tháng xây dựng với phân xưởng chế biến quả cà phê được đầu tư các loại máy móc, đăng ký bản quyền sáng chế tại Mỹ của tập đoàn Penagos – Columbia, Tập đoàn số 1 thế giới về máy chế biến cà phê cho phép sản xuất khép kín từ quả cà phê tươi theo phương pháp ướt với công suất 20.000 tấn quả tươi/năm Cuối năm 2018, Nhà máy sản xuất cà phê hòa tan Tín Nghĩa tại Khu Công nghiệp Nhơn Trạch 3 (Đồng Nai) cũng được đưa vào hoạt động Nhà máy sản xuất cà phê hòa tan Tín Nghĩa là nhà máy chế biến sâu

về cà phê có quy mô lớn nhất tại Việt Nam hiện nay với công suất 10.000 tấn/năm Giai đoạn 1 của Nhà máy sản xuất cà phê hòa tan Tín Nghĩa có vốn đầu tư 30 triệu USD, công suất 3.200 tấn Đến năm 2019, công suất nâng lên 5000 tấn và năm 2020 nhà máy sẽ đạt công suất 10.000 tấn cà phê hòa tan và cà phê rang xay với tổng vốn

Trang 38

đầu tư khoảng 100 triệu USD Nhà máy sản xuất được đầu tư dây chuyền sản xuất, chế biến cà phê hiện đại, khép kín theo tiêu chuẩn hệ thống an toàn thực phẩm FSSC 22000 Sản phẩm chủ lực là cà phê rang xay và cà phê hòa tan tổng hợp Trong thời gian gần đây, với các dự án mới được đưa vào hoạt động, Hiệp hội Cà phê, Cacao Việt Nam dự tính, đến năm 2020, tỷ lệ sản xuất cà phê hòa tan, cà phê rang xay của Việt Nam sẽ đạt 25% sản lượng xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt từ 3,9-4,2 tỷ USD

2.1.2 Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam

Cà phê là một mặt hàng thương mại vô cùng quan trọng trên thị trường quốc

tế Khi nhắc đến cà phê thì phải kể đến Robusta và Arabica – đây là hai loại cà phê chính được thị trường cà phê thế giới biết đến giao dịch trên các sàn giao dịch hàng hóa lớn trên thế giới (LIFFE, NYBOT, SICOM ) trong đó cà phê Arabica được ưa chuộng hơn và luôn có giá cao hơn Robusta Do cà phê đang ngày càng được người tiêu dùng đón nhận và trở thành một thức uống phổ biến ở khắp các thị trường nên nhu cầu cà phê trên thị trường thế giới đang ngày càng tăng Hiện nay, những nước tiêu thụ cà phê lớn nhất là Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nhật Bản và Ý Ngành công nghiệp

cà phê Việt Nam có sản lượng đứng thứ hai thế giới (sau Braxin), các sản phẩm cà phê của nước ta đã xuất khẩu đến hơn 80 quốc gia và các vùng lãnh thổ, chiếm 14,2% thị phần xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu và đứng đầu về xuất khẩu cà phê vối Ngành công nghiệp cà phê đã tạo ra hơn nửa triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp, đồng thời đây là nguồn sinh kế chính của hàng ngàn hộ gia đình Việt Nam trong các khu vực sản xuất nông nghiệp Trong tổng sản lượng cà phê xuất khẩu của toàn thế giới thì sản lượng cà phê của 10 nước đứng đầu (Braxin, Việt Nam, Colombia, Indonesia, Mexico, Ấn Độ, Guatemala, Ethiopia, Uganda, Costa Rica, Peru) chiếm tới 88% Trong đó, riêng sản lượng Braxin đã chiếm tới hơn 30% thị phần xuất khẩu của cả thế giới, còn Việt Nam chiếm 15% thị phần của cả thế giới Xét đến sản lượng cà phê Robusta, hai nước Việt Nam và Indonesia chiếm tới 60% sản lượng cà phê Robusta của thế giới, trong đó Việt Nam là nước đứng đầu thế giới

về xuất khẩu cà phê Robusta và Indonesia là nước xuất khẩu cà phê Robusta đứng

Trang 39

thứ hai trên thế giới Tổng sản lượng của bốn quốc gia đứng đầu trong việc xuất khẩu cà phê là Braxin, Việt Nam, Indonesia và Colombia nhiều hơn tất cả các nước khác cộng lại Cà phê Việt Nam được xuất khẩu rộng rãi đi khoảng hơn 90 nước trên thế giới Các thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam là các nước EU (Đức, Thụy Sỹ, Anh…), Mỹ và Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia…), chiếm lần lượt 59%, 18% và 12% tổng lượng xuất khẩu Các nước trong khu vực như Trung Quốc cũng là một trong những khách hàng tiêu thụ lớn lượng cà phê Việt Nam Mặc dù là hai nước sản xuất lượng cà phê lớn ở Châu Á nhưng hàng năm Ấn Độ và Indonesia vẫn nhập khẩu cà phê Việt Nam Thị trường Nga là thị trường mà Việt Nam có quan hệ hợp tác lâu dài và được đánh giá là có triển vọng tiêu thụ mạnh nhưng lượng cà phê xuất khẩu Việt Nam sang thị trường này chưa đáng kể

Trong 9 tháng năm 2010, Đức và Hoa Kỳ là hai quốc gia tiêu thụ chính cà phê của Việt Nam và Đức là thị trường đứng đầu về tiêu thụ cà phê, Hoa Kỳ là nước có mức tiêu thụ cà phê đứng thứ hai về giới Đến tháng 9/2010, cà phê xuất khẩu sang Đức chỉ đứng thứ hai, giảm 30,80% về trị giá so với tháng 8/2010 và Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ hàng đầu cà phê Việt Nam Một số thị trường tiêu thụ cà phê của Việt Nam có mức tăng trưởng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2009 như: Nga (tăng 105,37% về lượng; 90,97% về giá); Mê Hi Cô tăng (135,26% về lượng,151,83% về giá); Indonesia tăng (277,45% về lượng, 252,70% về giá); Thái Lan tăng (340,10% về lượng, 345,01% về giá) Ngược lại cũng có 9 thị trường có mức tăng trưởng âm cả về lượng và trị giá như Bỉ giảm (69,48% về lượng, 69,94%

về giá); Hà Lan giảm (50,90% về lượng, 49,53% về giá)

Sang năm 2011, trong số các nước Việt Nam xuất khẩu sang thì Đức, Hoa Kỳ, Nga, Hàn Quốc, Italia… là những thị trường chính xuất khẩu cà phê của Việt Nam Trong đó, Hoa Kỳ là điểm đến mà lượng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang nhiều nhất với kim ngạch trong tháng là 27,8 triệu USD, với 11,3 nghìn tấn, tăng 294,62%

về lượng và tăng 156,94% về trị giá so với tháng liền kề trước đó Theo Tổng cục Thống kê cho biết xuất khẩu cà phê quý I /2011 của Việt Nam đạt 509.000 tấn, thu về 1,047 tỷ USD So với cùng kì năm 2010, lượng cà phê xuất khẩu của nước ta tăng 47%, trong khi giá trị tăng trên 115%

Trang 40

Bảng 2.1: Tỷ lệ xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang các thị trường

năm 2011 Thị trường xuất khẩu Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 03/07/2021, 08:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Đức Tuân (2012), Chuyên đề lồng ghép mới tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện thực thi các cam kết WTO: trường hợp ngành nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề lồng ghép mới tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện thực thi các cam kết WTO: trường hợp ngành nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bùi Đức Tuân
Năm: 2012
2. Cần làm gì để nâng cao giá trị xuất khẩu cho cà phê (2019), doanhnghiepvn.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần làm gì để nâng cao giá trị xuất khẩu cho cà phê
Tác giả: Cần làm gì để nâng cao giá trị xuất khẩu cho cà phê
Năm: 2019
3. Cục Xuất nhập khẩu (2019), Nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển thương hiệu: Chìa khóa cho tăng trưởng xuất khẩu cà phê trong bối cảnh hội nhập, Bộ Công thương Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển thương hiệu: Chìa khóa cho tăng trưởng xuất khẩu cà phê trong bối cảnh hội nhập
Tác giả: Cục Xuất nhập khẩu
Năm: 2019
4. Dự án xúc tiến thương mại công bằng ở Việt Nam (2015), Báo cáo đánh giá tiềm năng phát triển thương mại công bằng trong các ngành chè, cà phê, cacao, gia vị và thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án xúc tiến thương mại công bằng ở Việt Nam (2015)
Tác giả: Dự án xúc tiến thương mại công bằng ở Việt Nam
Năm: 2015
5. Giải pháp nâng giá trị cà phê Việt Nam xuất khẩu (2018), vietnamcoffee.vn 6. H. Anh (2018), Xuất khẩu cà phê thô là thiệt thòi lớn với người Việt?, Vietnambiz.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng giá trị cà phê Việt Nam xuất khẩu "(2018), vietnamcoffee.vn 6. H. Anh (2018), "Xuất khẩu cà phê thô là thiệt thòi lớn với người Việt
Tác giả: Giải pháp nâng giá trị cà phê Việt Nam xuất khẩu (2018), vietnamcoffee.vn 6. H. Anh
Năm: 2018
7. Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng cà phê của một số quốc gia xuất khẩu vào thị trường EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Dankinhte.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng cà phê của một số quốc gia xuất khẩu vào thị trường EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
8. Lê Huy Khôi (2013), Giải pháp nâng cao giá trị gia tăng cho mặt hàng cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, Luận án Tiến sĩ, Viện nghiên cứu thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao giá trị gia tăng cho mặt hàng cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu
Tác giả: Lê Huy Khôi
Năm: 2013
9. Mai Nguyễn Huyền Trang (2016), Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Đức, Thực hành nghề nghiệp, Trường Đại học Tài chính – Marketing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Đức
Tác giả: Mai Nguyễn Huyền Trang
Năm: 2016
10. Nguyễn Thị Mỹ Hằng và Nguyễn Thị Minh Thúy (2020), Thực trạng và giải pháp phát triển cho ngành cà phê Việt Nam, Tạp chí Công thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển cho ngành cà phê Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Hằng và Nguyễn Thị Minh Thúy
Năm: 2020
11. Nguyễn Thị Phương Linh, Phân tích sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành cà phê Việt Nam, Trang Ngoại giao kinh tế trực tuyến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Phương Linh," Phân tích sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành cà phê Việt Nam
12. Nguyễn Thị Phương Linh, Phân tích sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ngành cà phê Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông, số 7/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ngành cà phê Việt Nam
13. Nguyễn Việt Khôi (2013), Chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia: Những tiếp cận thực tiễn từ Trung Quốc, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia: Những tiếp cận thực tiễn từ Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Việt Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
14. Nguyễn Việt Khôi và Tô Linh Hương, Chuỗi giá trị toàn cầu ngành chè: Kinh nghiệm thế giới và hàm ý cho Việt Nam, Tạp chí những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới, số 1 (237), tháng 1/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị toàn cầu ngành chè: "Kinh nghiệm thế giới và hàm ý cho Việt Nam
15. PGS.TS. Lê Quang Hưng (2011), Giải pháp nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu Việt Nam công nghệ sơ chế, bảo quản cà phê hạt, Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu Việt Nam công nghệ sơ chế, bảo quản cà phê hạt
Tác giả: PGS.TS. Lê Quang Hưng
Năm: 2011
16. T. Nga (2016), Thị trường xuất khẩu cà phê năm 2015, nhanhieuviet.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường xuất khẩu cà phê năm 2015
Tác giả: T. Nga
Năm: 2016
17. Tái canh cây cà phê: Thực trạng và giải pháp (2015), Tạp chí tài chính – Cơ quan thông tin của Bộ Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái canh cây cà phê: Thực trạng và giải pháp (2015)
Tác giả: Tái canh cây cà phê: Thực trạng và giải pháp
Năm: 2015
18. Tâm An (2019), Thế mạnh top 2 thế giới, Việt Nam vẫn ôm nỗi buồn đội sổ, Vietnamnet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế mạnh top 2 thế giới, Việt Nam vẫn ôm nỗi buồn đội sổ
Tác giả: Tâm An
Năm: 2019
19. Thế Hải (2019), Xuất khẩu cà phê nhắm mốc 6 tỷ USD vào năm 2030, Báo đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu cà phê nhắm mốc 6 tỷ USD vào năm 2030
Tác giả: Thế Hải
Năm: 2019
20. Ths. Hoàng Thị Vân Anh (2009), Chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê và khả năng tham gia của Việt Nam, Bộ Công thương Viện nghiên cứu Thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê và khả năng tham gia của Việt Nam
Tác giả: Ths. Hoàng Thị Vân Anh
Năm: 2009
21. Ths. Nguyễn Thị Lài và TS. Đỗ Thị Mỹ Hiền (2019), Thách thức trong xuất khẩu cà phê tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Công thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức trong xuất khẩu cà phê tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ths. Nguyễn Thị Lài và TS. Đỗ Thị Mỹ Hiền
Năm: 2019

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w