1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm ở việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

82 220 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 583,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các điều kiện như thế, định hướng và các giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm được Nhà nước quan tâm đặc biệt để nhằm tạo lập một thị trường bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng và phát

Trang 1

PHAN HỒ TRUNG PHONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

MỞ ĐẦU

X W

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Nền kinh tế Việt Nam sau hơn 15 năm đổi mới đã đạt được những kết quả tốt

đẹp, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Riêng trong năm 2002, Việt Nam được Ngân

hàng thế giới xếp là nước có tốc độ tăng trưởng GDP đứng hàng thứ 2 ở châu Á

Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới gia tăng mạnh mẽ trong vài năm gần

đây tác động sâu sắc đến nền kinh tế Việt Nam, đòi hỏi kinh tế Việt Nam phải

chuẩn bị cho việc mở cửa để hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Việt Nam đã gia

nhập vào các tổ chức ASEAN, APEC, AFTA, và đang trong tiến trình hội nhập vào

WTO

Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, ngành bảo hiểm Việt Nam

cũng đã có những bước phát triển vượt bậc Năm 2004 đánh dấu một sự phát triển

sôi động của thị trường bảo hiểm Việt Nam, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã bước

sang một giai đoạn mới, giai đoạn cạnh tranh và phát triển

Trong các điều kiện như thế, định hướng và các giải pháp phát triển dịch vụ bảo

hiểm được Nhà nước quan tâm đặc biệt để nhằm tạo lập một thị trường bảo hiểm

Việt Nam tăng trưởng và phát triển bền vững, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp

bảo hiểm Việt Nam có chỗ đứng vững chắc trong môi trường cạnh tranh khá gay

gắt

Riêng doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, cùng với việc tăng cường tiếp thị,

quảng cáo bán các sản phẩm bảo hiểm còn phải chú trọng đến công tác đào tạo và

Trang 3

phát triển nguồn nhân lực; đổi mới không ngừng để hoàn thiện sản phẩm cũng như

công tác phục vụ khách hàng, công tác quản lý, tạo lập lợi thế cạnh tranh trên thị

trường nhằm phát triển kinh doanh

Đề tài: “Một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối

cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” không nằm ngoài mục tiêu của Chính phủ Việt

Nam trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước

2 Mục đích nghiên cứu đề tài:

Mục đích của đề tài là nhằm vào các vấn đề sau:

- Làm sáng tỏ một số lý luận về bảo hiểm và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến

lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

- Cung cấp một số kinh nghiệm liên quan đến quá trình toàn cầu hóa nền kinh

tế nói chung và lĩnh vực bảo hiểm nói riêng

- Phân tích thực trạng tình hình phát triển dịch vụ bảo hiểm hiểm ở Việt Nam

trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo

hiểm hiểm ở Việt Nam trong thời gian tới

3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu đề tài:

Đề tài nghiên cứu lý luận về bảo hiểm, lý luận về toàn cầu hóa, tác động của

toàn cầu hóa đến lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm và thực trạng thị trường bảo hiểm

Việt Nam giai đoạn 1993 – 2004 Từ đó, đề tài rút ra một số nhận xét về đặc điểm

thị trường bảo hiểm giai đoạn 1993 – 2004, đưa ra một số chỉ tiêu phát triển dịch vụ

bảo hiểm đến năm 2010 cùng với các giải pháp để thực hiện các chỉ tiêu đó trong

thời gian tới

Trang 4

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp

so sánh, phân tích những số liệu thống kê, các báo cáo thường niên của thị trường

bảo hiểm Việt Nam cũng như các văn bản luật có liên quan đến ngành bảo hiểm để

đưa ra những giải pháp có tính thực tiễn

4 Nội dung của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3

chương:

- Chương I: Lý luận chung về bảo hiểm và tác động của toàn cầu hóa đến lĩnh

vực kinh doanh bảo hiểm

- Chương II: Phát triển dịch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

kinh tế quốc tế

- Chương III: Một số giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm ở Việt Nam trong

bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 5

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ TÁC ĐỘNG

CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN LĨNH VỰC KINH DOANH

BẢO HIỂM

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM:

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm:

Từ xa xưa, trong lịch sử nền văn minh nhân loại, con người đã vận dụng đủ mọi

cách để tìm ra những biện pháp phòng tránh tai nạn rủi ro nhằm giữ vững sự ổn

định trong đời sống kinh tế Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu của con

người trở nên đa dạng, phức tạp hơn Theo đó, các hoạt động để đáp ứng nhu cầu

ấy cũng phát triển một cách tương ứng Các hoạt động này dần dần được quy định

lại một cách chính thức, hợp pháp và được gọi chung là Bảo hiểm

Những nghiên cứu về lịch sử phát triển của hoạt động bảo hiểm cho thấy hoạt

động bảo hiểm trong quá trình phát triển đã trải qua ba hình thái: Dự trữ thuần túy,

cho vay nặng lãi và cuối cùng là hình thức thỏa thuận ràng buộc giữa các bên

1.1.1.1 Dự trữ thuần túy:

Khi xã hội loài người hình thành, con người đã ý thức được việc tự bảo vệ để tồn

tại mà vấn đề đầu tiên là dự trữ thức ăn kiếm được hàng ngày phòng khi đói kém

Khi con người nhận thức được những rủi ro từ thiên nhiên và cuộc sống, thì ý thức

Trang 6

dự trữ càng cao, họ nhận ra rằng dự trữ có tổ chức thì sẽ hiệu quả hơn so với dự trữ

cá nhân riêng lẻ

Một ví dụ điển hình cho hình thức sơ khai này của bảo hiểm là tổ chức những

người thợ đá ở Ai Cập vào những năm 2500 TCN Người tham gia vào tổ chức này

phải đóng tiền hội phí để thành lập quỹ tương trợ Quỹ này được dùng để giúp đỡ

nạn nhân của các vụ tai nạn

1.1.1.2 Cho vay nặng lãi:

Dự trữ thuần túy không thể giải quyết đầy đủ nhu cầu của con người khi xã hội

phát triển và hoạt động của con người trở nên đa dạng hơn Thay vì tự tích góp cho

đến khi có đủ tiền chuẩn bị cho một chuyến hàng, nhà buôn có thể vay tiền từ

những người cho vay để khỏi mất thời gian chờ Người cho vay sẽ nhận được một

khoản lãi do người đi vay trả Hệ thống cho vay đặc biệt phát triển cùng với sự mở

rộng thương mại và buôn bán giữa các quốc gia, các vùng

Ở Babylone 1700 năm TCN và Athènes 500 năm TCN đã xuất hiện một hệ

thống cho vay nặng lãi để mua và vận chuyển hàng hóa Trong trường hợp xảy ra

mất mát, hư hại đối với hàng hóa trong quá trình vận chuyển, người đi vay không

phải hoàn trả khoản tiền đã vay Tuy nhiên, lãi suất của hệ thống cho vay này quá

hà khắc, có khi lên đến 400% nên Nhà thờ và các hội tôn giáo đã can thiệp bằng

các sắc lệnh để chấm dứt hoạt động cho vay nặng lãi

1.1.1.3 Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên:

Sau khi hoạt động cho vay nặng lãi chấm dứt hoạt động, nhu cầu cần tiền và

cần sự đảm bảo cho chuyến hàng của các nhà buôn vẫn rất lớn, đặc biệt khi thông

Trang 7

thương mua bán đang phát triển và mang lại lãi suất rất cao, người ta đã tìm ra hai

phương pháp khác để giải quyết nhu cầu vốn và giảm thiệt hại

1.1.1.3.1 Hình thức cổ phần:

Chuyến hàng được tạo lập bằng sự đóng góp của nhiều người Mỗi người đóng

góp một phần nào đó vào chuyến hàng và cùng chịu trách nhiệm theo phần đóng

góp đó Khi chuyến hàng về tới đích, lợi nhuận sẽ được chia cho mọi người theo tỷ

lệ góp vốn của họ Ngược lại, nếu chuyến hàng chẳng may gặp rủi ro thì hậu quả

thiệt hại cũng được chia sẽ cho nhiều người

1.1.1.3.2 Hình thức bảo hiểm:

Những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu,

buôn bán hàng hóa bằng đường biển Theo đó, một bên nhà buôn hay chủ tàu trả

cho một tổ chức một khoản tiền nhất định để khi hàng hóa, tàu thuyền không đến

được nơi giao hàng thì tổ chức này sẽ trả cho họ một khoản tiền nhằm bù đắp những

thiệt hại xảy ra

Như vậy, có thể coi bảo hiểm hàng hải là sự khởi đầu của ngành bảo hiểm Hợp

đồng bảo hiểm cổ nhất còn được lưu giữ đến ngày nay được phát hành ở Italia vào

năm 1347 Năm 1424, hội Bảo hiểm đầu tiên ra đời chuyên về vận tải đường biển

Sau bảo hiểm hàng hải, một số loại bảo hiểm khác cũng lần lượt ra đời:

- Vụ cháy lớn ở London – Anh vào năm 1666 đã thiêu hủy 13.200 tòa nhà, là

thảm họa lớn nhất từ trước cho đến thời điểm đó Nhu cầu về bảo hiểm cho tài sản

trước rủi ro cháy đã dẫn tới sự ra đời của các công ty bảo hiểm trong lĩnh vực hỏa

hoạn Năm 1667, Công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên ra đời ở Anh

Trang 8

- Công ty Bảo hiểm nhân thọ Equitable ra đời ở Anh năm 1762 đánh dấu sự hình

thành của loại hình bảo hiểm nhân thọ

- Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của nền sản xuất

đại công nghiệp cơ khí, hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm đã xuất hiện và phát

triển rất nhanh: Bảo hiểm ô tô, Bảo hiểm máy bay, Bảo hiểm trách nhiệm dân sự,…

Ngày nay Bảo hiểm đã trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng, là động lực

thúc đẩy nền kinh tế – xã hội phát triển

1.1.2 Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm trong đời sống kinh tế – xã hội:

Trong quá trình sản xuất và sinh hoạt, con người luôn phải đối đầu với các rủi

ro bất trắc Tổn thất xảy ra có thể làm thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản

của con người

Tổn thất xảy ra có thể được bù đắp bằng khoản tiền tiết kiệm của chính người

bị tổn thất hay khoản tiền cứu trợ từ các tổ chức xã hội Tuy nhiên, các khoản tiền

này không kịp thời, nhanh chóng và cũng không chắc chắn Nếu tổn thất xảy ra cho

một người trong khi anh ta chưa tích lũy được số tiền đủ để bù đắp tổn thất thì anh

ta vẫn gặp khó khăn và phải phụ thuộc vào cứu trợ Trong khi đó, cứu trợ chỉ là một

cách trợ giúp khắc phục hậu quả xuất phát từ lòng từ thiện, người gánh chịu tổn thất

không chắc chắn được rằng mình sẽ được cứu trợ

So với tiết kiệm và cứu trợ, Bảo hiểm thể hiện rõ tính ưu việt của nó:

- Kỹ thuật bảo hiểm giúp người ta qui tụ được một số đông người Khi có rủi ro

tổn thất xảy ra với một số người, Nhà bảo hiểm sẽ dùng quỹ bảo hiểm do đám đông

đóng góp dưới hình thức Phí bảo hiểm để bồi thường cho họ Bằng cách này, rủi ro

Trang 9

tổn thất được hoán chuyển từng phần nhỏ sang từng người khác và như vậy mỗi

người không bị rủi ro tác động làm ảnh hưởng trầm trọng

- Cũng do tập trung được số đông, kỹ thuật bảo hiểm có thể thống kê tính toán

tương đối chính xác khả năng xảy ra tổn thất trong tương lai Mức độ chính xác

càng cao, mức đôï bất trắc càng giảm làm cho rủi ro cũng được hạ giảm theo

1.1.3 Vai trò, tác dụng của bảo hiểm:

Bảo hiểm là một hoạt động kinh tế quan trọng trên cơ sở xây dựng quỹ bảo

hiểm dưới hình thức nhất định để bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm cho những tổn

thất về tài sản hay con người Hoạt động của bảo hiểm đã và đang thâm nhập vào

tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội

Nhìn chung, vai trò và tác dụng của Bảo hiểm có thể được xét trên hai khía

cạnh:

1.1.3.1 Khía cạnh kinh tế – xã hội:

1.1.3.1.1 Dàn trải tổn thất:

Bảo hiểm có tác dụng dàn trải tổn thất tài chính của một số ít người cho số đông

người Đây là tác dụng hết sức quan trọng của Bảo hiểm Khi số đông tham gia bảo

hiểm, không phải tất cả mọi người tham gia đều phải chịu rủi ro tổn thất mà chỉ một

số ít người trong số đó không may gặp rủi ro Do đó, thông qua việc đóng góp một

khoản tiền nhỏ, Người tham gia bảo hiểm không chỉ được đảm bảo an toàn cho bản

thân mà còn góp phần hỗ trợ cho những cá nhân khác không may gặp rủi ro

1.1.3.1.2 Giảm thiểu tổn thất thiệt hại:

Trang 10

Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm, Công ty bảo hiểm luôn chú ý

đến việc tăng cường các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo

hiểm, góp phần bảo đảm an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người

Chỉ có thông qua Bảo hiểm, hiệu quả của các biện pháp đề phòng, hạn chế

thiệt hại mới đạt được kết quả cao nhất bởi lẽ các Công ty bảo hiểm có khả năng

về tài chính, nhiều kinh nghiệm và chuyên môn nên nắm bắt được nguyên nhân của

thiệt hại

Bên cạnh đó, khi tham gia bảo hiểm, Người được bảo hiểm đã nhận thức được

rủi ro có thể sẽ xảy ra cho mình nên không chỉ một phía Nhà bảo hiểm có nhiệm vụ

đề phòng hạn chế tổn thất mà ngay Người được bảo hiểm cũng phải có trách

nhiệm

1.1.3.1.3 Đảm bảo an tâm về mặt tinh thần:

Khi tham gia bảo hiểm, Người được bảo hiểm đã chuyển phần rủi ro của mình

sang Công ty bảo hiểm Do đó, họ không còn lo lắng về các rủi ro xảy ra đối với họ

nữa

1.1.3.1.4 Kích thích tiết kiệm:

Bảo hiểm ra đời tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư duy

của các cá nhân, hộ gia đình, chủ doanh nghiệp, góp phần hình thành nên một ý

thức, thói quen về việc dành một phần thu nhập để có một tương lai an toàn hơn

1.1.3.1.5 Tạo cơ hội có công ăn việc làm:

Xét trên bình diện vĩ mô, Bảo hiểm góp phần giải quyết công ăn việc làm cho

người lao động Theo kết quả thống kê, ở Pháp, hoạt động bảo hiểm thu hút khoảng

1% lực lượng lao động Ở Việt Nam, tính đến năm 2004, số lao động làm việc trong

Trang 11

các Công ty bảo hiểm đã lên tới 136.900 người Điều đó chứng tỏ hoạt động bảo

hiểm là lĩnh vực thu hút lao động xã hội không nhỏ

Không chỉ có vâïy, thông qua đầu tư dưới nhiều hình thức, Bảo hiểm còn gián

tiếp tạo thêm nhiều việc làm cho các ngành khác của đất nước

1.1.3.2 Khía cạnh tài chính:

1.1.3.2.1 Ổn định chi phí:

Chi phí nhằm đảm bảo an toàn của các cá nhân và doanh nghiệp được xác định

ngay từ đầu năm Nếu không tham gia bảo hiểm, họ sẽ giữ lại được khoản phí bảo

hiểm nhưng khi có thiệt hại xảy ra họ có thể gặp khó khăn nếu tổn thất thiệt hại là

quá lớn

Như vậy, Bảo hiểm giúp các doanh nghiệp bảo toàn được vốn, các cá nhân

khắc phục được những khó khăn về mặt tài chính, không rơi vào tình trạng kiệt quệ

vật chất cũng như tinh thần

1.1.3.2.2 Đầu tư phát triển kinh tế trong nước:

Đặc điểm trong kinh doanh bảo hiểm là phí nộp trước, việc bồi thường, chi trả

tiền bảo hiểm chỉ được thực hiện khi sự kiện qui định trong hợp đồng xảy ra Do

vậy, các Công ty bảo hiểm nắm giữ một quỹ tiền tệ khá lớn Lượng vốn này sẽ

được các Công ty bảo hiểm tính toán đầu tư sao cho có hiệu quả bởi lẽ khả năng

cạnh tranh của mỗi công ty phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của hoạt động đầu tư

Trên cơ sở của kết quả đầu tư, các công ty sẽ có điều kiện giảm phí để từ đó thu hút

khách hàng, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước

Như vậy, không chỉ đóng vai trò của một công cụ an toàn và dự phòng, thúc đẩy

ý thức đề phòng hạn chế tổn thất và ý thức tiết kiệm của người dân, Bảo hiểm còn

Trang 12

đóng vai trò là trung gian tài chính Với các vai trò này, Bảo hiểm ngày càng phát

huy tác dụng của nó đối với nền kinh tế, đó là tập trung, tích tụ vốn, đảm bảo cho

quá trình tái sản xuất diễn ra được thường xuyên và liên tục Tác dụng này càng

quan trọng đối với nước ta hiện nay vì nó có thể, bên cạnh các Ngân hàng thương

mại, góp phần làm tăng số vốn đầu tư từ việc huy động và tận dụng một cách triệt

để các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư

Vì vai trò và tác dụng lớn lao của Bảo hiểm nên các quốc gia trên thế giới, dù

đã phát triển hay chưa phát triển, đều coi trọng hoạt động bảo hiểm và xem hoạt

động bảo hiểm như “Một cỗ máy ổn định xã hội tinh xảo”

Ở nước ta, cùng với việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế thị trường theo

định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động bảo hiểm cần được đẩy mạnh để xây dựng

một quỹ dự trữ bồi thường tổn thất bất ngờ, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện kế

hoạch xây dựng kinh tế nước ta và ổn định đời sống nhân dân

1.1.4 Các nguyên tắc của hoạt động bảo hiểm:

1.1.4.1 Nguyên tắc số đông:

Theo qui luật số đông, nếu thực hiện việc nghiên cứu trên một lượng đủ lớn các

trường hợp, người ta sẽ tính toán được tương đối chính xác khả năng xảy ra trong

thực tế của một biến cố Qua đó, người ta có thể làm chủ được sự ngẫu nhiên trong

việc xảy ra biến cố đó

Qui luật số đông là cơ sở khoa học quan trọng của Bảo hiểm Qui luật này giúp

các nhà bảo hiểm đo lường mức độ rủi ro nhận bảo hiểm, tính phí và quản lý các

quỹ dự phòng chi trả

Trang 13

Người bảo hiểm đảm bảo cho các sự cố ngẫu nhiên Nếu tính riêng từng trường

hợp đơn lẻ có thể giống một trò chơi may rủi Song nếu tính trên tổng thể nhiều rủi

ro đảm nhận, Nhà bảo hiểm có thể dự đoán được về khả năng xảy ra sự cố ở mức

độ chính xác có thể chấp nhận được

* Hệ quả :

1.1.4.1.1 Nguyên tắc dàn trải :

Đám đông dàn trải đảm bảo việc tích tụ rủi ro, tần suất xảy ra rủi ro ổn định để

Bảo hiểm hoạt động được tốt nhất Nguyên tắc dàn trải rủi ro được thể hiện ở việc

dàn trải về không gian, về thời gian và về giá trị

- Dàn trải về không gian: Để thực hiện nguyên tắc “Không để trứng trong cùng

một giỏ”, Người bảo hiểm nên bán Bảo hiểm trên phạm vi rộng chứ không nên hạn

chế trong một vùng hạn hẹp nào đó

- Dàn trải về thời gian: Người bảo hiểm phải tránh ký kết hợp đồng Bảo hiểm

với tất cả Người được bảo hiểm trong cùng một thời điểm Nhờ đó, doanh thu phí

Bảo hiểm và bồi thường tổn thất không gây biến động lớn đến tình hình hoạt động

kinh doanh của Doanh nghiệp bảo hiểm

- Dàn trải về giá trị: Người bảo hiểm không nên ký kết tất cả hợp đồng bảo

hiểm với số tiền bảo hiểm giống nhau, đặc biệt là các hợp đồng có số tiền bảo

hiểm lớn

1.1.4.1.2 Nguyên tắc lựa chọn:

Trong thực tế, các rủi ro do mỗi khách hàng mang đến là không giống nhau Có

những rủi ro tốt và cũng có những rủi ro xấu Nhà bảo hiểm không chấp nhận đảm

bảo cho tất cả các rủi ro đó mà phải lựa chọn Nhà bảo hiểm sẽ từ chối những

Trang 14

trường hợp mà độ trầm trọng của rủi ro quá lớn bởi vì khi xảy ra tổn thất, phí bảo

hiểm thu được không đủ để bù đắp và có thể đe dọa cả cộng đồng bảo hiểm

1.1.4.1.3 Nguyên tắc phân chia rủi ro:

Muốn giảm nhẹ bớt trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cần phải tìm

cách chia sẻ rủi ro mà mình đã nhận cho các Nhà bảo hiểm khác, tránh tập trung rủi

ro quá mức Nếu không, có thể làm cho khả năng đảm nhận của Nhà bảo hiểm bị

vượt quá, dẫn tới tình trạng không thể nào thực hiện được trách nhiệm bồi thường,

gây thiệt hại quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm Trong trường hợp đó, Người

bảo hiểm có thể thực hiện các kỹ thuật phân chia rủi ro: Đồng bảo hiểm và Tái bảo

hiểm

- Đồng bảo hiểm: là sự phân chia theo tỷ lệ cùng một rủi ro giữa những người

bảo hiểm với nhau Mỗi nhà đồng bảo hiểm chấp nhận một phần trăm nào đó của

rủi ro, đổi lại họ chỉ được nhận một tỷ lệ tương ứng về phí bảo hiểm và cũng chỉ

phải chi trả một tỷ lệ bồi thường như thế

- Tái bảo hiểm: Tái bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một công ty Bảo hiểm

(Người nhượng – Công ty Bảo hiểm gốc) chuyển cho một công ty Bảo hiểm khác

(Người nhận tái) một phần rủi ro mà công ty Bảo hiểm gốc đã chấp nhận đảm bảo

1.1.4.2 Nguyên tắc trung thực tối đa:

Trong Bảo hiểm thương mại có sự hoán chuyển rủi ro từ Người được bảo hiểm

sang Người bảo hiểm trên cơ sở một Hợp đồng bảo hiểm Điều này tạo ra rủi ro

mới đe dọa mối quan hệ giữa hai bên trên hợp đồng

Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm: Người được bảo

hiểm phải đóng phí trước cho Nhà bảo hiểm để đổi lấy lời cam kết sẽ được bồi

Trang 15

thường khi có tổn thất xảy ra Mặt khác, Điều khoản bảo hiểm là do Người bảo

hiểm đưa ra, Người được bảo hiểm không am hiểu hết các điều khoản này Do đó,

khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, Người bảo hiểm có thể không thực hiện hoặc thực

hiện không đầy đủ cam kết của mình

Về phía Người được bảo hiểm, họ có thể không trung thực khi kê khai trong

Giấy yêu cầu bảo hiểm Không phải lúc nào Nhà bảo hiểm cũng có thể tiến hành

xác minh lời kê khai của Người được bảo hiểm ngay khi bắt đầu nhận bảo hiểm

Khi tổn thất xảy ra, nếu Nhà bảo hiểm không chứng minh được là Người được bảo

hiểm đã kê khai không trung thực thì họ phải chấp nhận bồi thường

Như vậy, mối quan hệ giữa hai bên hợp đồng bảo hiểm gắn kiền với sự tin

tưởng lẫn nhau Hai bên phải tôn trọng nguyên tắc này, đảm bảo mọi thông tin phải

được cung cấp cho nhau đầy đủ, chính xác và kịp thời

1.1.5 Phân loại bảo hiểm:

Các sản phẩm bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp ra thị trường có

thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy theo mục đích của các nhà lập

pháp và các nhà kinh doanh bảo hiểm Tuy nhiên, theo quy định trong Luật kinh

doanh bảo hiểm Việt Nam và trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thì bảo hiểm

được phân thành hai loại sau:

1.1.5.1 Bảo hiểm nhân thọ:

Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm, qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ

trả một số tiền thỏa thuận khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra liên quan đến sinh mạng

và sức khỏe con người

Trang 16

Bảo hiểm nhân thọ sẽ đáp ứng một số nhu cầu nhất định của khách hàng

Chẳng hạn hợp đồng bảo hiểm hưu trí cung cấp khoản tiền hàng năm cho khách

hàng khi đã về hưu; hoặc là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp vừa mang tính

đảm bảo vừa mang tính tiết kiệm sẽ chi trả một khoản tiền khi hợp đồng bảo hiểm

đáo hạn hoặc khách hàng bị thương tật, chết… theo nội dung cam kết trên hợp đồng

1.1.5.2 Bảo hiểm phi nhân thọ:

Đây là các loại bảo hiểm thương mại khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ,

gồm:

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

- Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển

- Bảo hiểm hàng không…

Đặc điểm cơ bản của bảo hiểm phi nhân thọ là nhằm bồi thường cho những tổn

thất xảy ra trong phạm vi bảo hiểm Khi sự kiện bảo hiểm không xảy ra, doanh

nghiệp bảo hiểm không hoàn phí lại cho bên mua bảo hiểm

1.2 HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ LĨNH VỰC BẢO HIỂM:

1.2.1 Tính tất yếu của quá trình toàn cầu hóa:

Trong lịch sử phát triển của xã hội lồi người, tồn cầu hố nĩi chung bắt nguồn từ

những giao lưu văn hĩa, buơn bán, di dân; từ sự mở rộng các tơn giáo ra ngồi biên

giới các quốc gia, và cho đến nay là sự phát triển của các cơng ty xuyên quốc gia, các

ngân hàng, công ty bảo hiểm, các tổ chức quốc tế, sự trao đổi cơng nghệ, sự phát triển

gắn với hiện đại hố… Tồn cầu hố kinh tế là kết quả của sự quốc tế hố sản xuất cao

độ và phân cơng quốc tế, nĩ xuất hiện và phát triển cùng với thị trường thế giới

Trang 17

Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất phát triển thấp, giao thơng kém phát

triển, quy mơ sản xuất và trao đổi nhỏ bé, thị trường khép kín, khơng cĩ thị trường

mang ý nghĩa hiện đại Khi nền sản xuất tư bản phát triển, thị trường thế giới mở rộng,

C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Thay cho những nhu cầu cũ được thoả mãn bằng

những sản phẩm trong nước, thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, địi hỏi được thoả mãn

bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xơi nhất về Thay cho tình trạng cơ

lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển

những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc”

Lịch sử của quá trình quốc tế hố, tồn cầu hố kinh tế rất lâu dài, và phải thấy

rằng, cơ cấu của tồn cầu hố bắt đầu từ sự hình thành nhà nước, quốc gia dân tộc và tư

nhân hố - những cỗ xe đi đến hiện đại Kết quả tất yếu là sự mở rộng thị trường thế

giới Cho đến nay, tồn cầu hố lại là một trong những điều kiện để hiện đại hố thế

giới, bất chấp ý muốn của ai

1.2.2 Tác động của toàn cầu hóa đến nền kinh tế:

1.2.2.1 Đặc điểm của nền kinh tế toàn cầu hóa:

1.2.2.1.1 Tính thẩm thấu lẫn nhau của các nền kinh tế gia tăng:

Các nền kinh tế của các quốc gia gắn bĩ và tuỳ thuộc vào nhau, dần dần hình thành

một thể thống nhất, xố dần đi những ngăn trở và khoảng cách về nhiều phương diện

Nền sản xuất thế giới mang tính tồn cầu Phân cơng lao động quốc tế đã đạt tới trình

độ rất cao, khơng chỉ giới hạn ở chuyên mơn hố sản phẩm mà đã là chuyên mơn hĩa

các chi tiết sản phẩm Với phương châm kinh doanh lấy thế giới làm nhà máy của

mình, lấy các nước làm phân xưởng của mình, các nước cĩ thể lợi dụng ưu thế kỹ

thuật, tiền vốn, sức lao động và thị trường của nước khác, từ đĩ thúc đẩy quốc tế hố

sản xuất phát triển nhanh chĩng Thí dụ, một loại xe của hãng Toyota sản xuất tại Mỹ

cĩ 25% linh kiện được sản xuất ở ngồi nước Mỹ Một loại xe ơ tơ của cơng ty Ford cĩ

27% linh kiện do nước khác sản xuất

Trang 18

Các công ty xuyên quốc gia phát triển chưa từng có trong lịch sử và đóng vai trò

hết sức quan trọng, nó thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá và khu vực hóa Theo thống kê của

Liên hợp quốc, năm 1996, thế giới có 44.000 công ty xuyên quốc gia, trong đó 28.000

công ty con có tổng giá trị sản xuất chiếm 40% GDP thế giới, chiếm 50% giá trị

thương mại của thế giới Tổng kim ngạch tài sản năm 1996 của các công ty xuyên quốc

gia này lên tới 3.200 tỷ USD Hàng năm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của chúng

chiếm 90% đầu tư trực tiếp của thế giới

Trong quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, nổi lên xu hướng liên kết kinh tế, dẫn

đến sự ra đời các tổ chức kinh tế và thương mại, tài chính quốc tế và khu vực Đó là Tổ

chức Thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới

(WB), Liên minh Châu Âu (EU), Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Liên

minh các nước Đông Nam á (ASEAN), Thị trường tự do Nam Mỹ Mercosur, Khối

cộng đồng kinh tế Tây Phi, và hàng chục tổ chức kinh tế khác ở khắp các châu lục

Thông qua các tổ chức kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế này, quy mô lưu

thông vốn quốc tế lớn chưa từng thấy, tốc độ tăng trưởng mậu dịch thế giới vượt xa tốc

độ tăng trưởng kinh tế; các lĩnh vực hợp tác trong toàn cầu hoá kinh tế không ngừng

phát triển

1.2.2.1.2 Nền kinh tế mới trong toàn cầu hoá là nền kinh tế công nghệ cao – nền kinh

tế tri thức:

Cuối thế kỷ XIX, đã có nhiều phát minh khoa học, một cuộc cách mạng thực sự đã

diễn ra trong vật lý học: phát hiện ra tia Rơn-ghen (1895), hiện tượng phóng xạ (1896),

điện tử (1897), radium (1898) , rồi đến những phát minh mới trong thế giới vi mô

(nguyên tử) và vĩ mô (vũ trụ) Khoa học đã thu thập được một khối lượng khổng lồ

những tri thức về thế giới tự nhiên, tổng hợp lại ở các thuyết cơ bản như thuyết Lượng

tử và thuyết Tương đối…, tạo nền móng cho khoa học hiện nay Theo tính toán của

nhiều nhà khoa học, toàn bộ lượng thông tin, tri thức trong thế kỷ XX tăng gấp 1.000

Trang 19

lần so với hồi đầu thế kỷ, và vượt trội so với tổng tri thức mà lồi người tích luỹ được

trong suốt 19 thế kỷ đã qua

Khoa học hiện đại ngày càng phát triển, tiến vào lĩnh vực vi mơ và vĩ mơ, địi hỏi

sự phát triển trí tuệ ngày càng cao Bên cạnh những ngành kinh tế gắn với nền đại cơng

nghiệp, như các ngành luyện kim, điện lực, sản xuất ơ tơ, xi măng, sắt thép… cịn cĩ

các ngành kinh tế mới phát triển cực nhanh (điện tử – bán dẫn, máy tính, viễn

thơng…), trong đĩ các dịch vụ liên quan đến thơng tin (ngân hàng, tư vấn, thiết kế, bảo

hiểm…) phát triển mạnh, thậm chí ở một số nước, lĩnh vực này chiếm tới trên 70% thu

nhập của nền kinh tế quốc dân Các ngành cơng nghệ cao được hình thành và trở thành

những mũi nhọn kinh tế của các quốc gia

1.2.2.2 Một số thuận lợi của quá trình toàn cầu hóa:

- Tồn cầu hố thúc đẩy sự phát triển và xã hội hố các lực lượng sản xuất, đem lại

sự tăng trưởng kinh tế cao: Tồn cầu hố làm tăng nhanh tổng sản phẩm của thế giới,

với giá trị hiện nay ước tính khoảng 30.000 tỷ USD, gấp 23 lần giá trị tổng sản phẩm

thế giới vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX (1.300 tỷ USD)

- Tồn cầu hố thúc đẩy quá trình tự do hố thương mại: Tồn cầu hố thúc đẩy

quá trình tự do hố thương mại sẽ làm giảm hoặc huỷ bỏ các hàng rào ngăn cách, làm

cho hàng hố của mỗi nước cĩ thị trường tiêu thụ rộng hơn, do đĩ kích thích sản xuất

phát triển Nhờ đĩ sẽ thúc đẩy phân cơng lao động quốc tế theo hướng chuyên mơn

hố, làm cho các nguồn lực ở mỗi nước được sử dụng hợp lý và cĩ hiệu quả hơn Tự do

hố thương mại đặt ra cho các doanh nghiệp phải tiến hành những cải cách sâu rộng để

nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế, phát huy lợi thế của mình và hạn chế

những rủi ro, thách thức trong cuộc cạnh tranh quốc tế khốc liệt

- Tồn cầu hố làm gia tăng các luồng chuyển giao vốn và cơng nghệ: Tồn cầu

hố làm gia tăng các hoạt động đầu tư quốc tế, chủ yếu là FDI, với những đặc điểm

chính là nguồn vốn đầu tư ngày càng tăng; chủ thể đầu tư và chủ thể thu hút đầu tư

Trang 20

ngày càng đa dạng; lượng lưu động vốn cho vay tăng rất nhanh; tự do hố đầu tư trở

thành mục tiêu, chính sách đầu tư quốc tế của tất cả các nước Tồn cầu hố thực hiện

chuyển giao trên quy mơ ngày càng lớn những thành tựu của khoa học cơng nghệ, tổ

chức, quản lý, kinh nghiệm kinh doanh, sản xuất cho các nước được đầu tư phát triển

- Tồn cầu hố củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, thúc đẩy sự xích lại gần

nhau giữa các dân tộc: Cùng với sự phát triển của quá trình tồn cầu hố, các thể chế

quốc tế ngày càng được tăng cường để đảm bảo điều tiết và quản lý các quan hệ quốc

tế Tính đến nay, đã cĩ khoảng 120 thể chế khu vực và tồn cầu Hàng trăm tổ chức

quốc tế các loại, bao gồm các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ… đang hoạt động

trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đĩ là những sản phẩm của tồn cầu hố, đồng

thời chúng cĩ tác động làm cho quá trình tồn cầu hố được tăng cường Chính nhờ

tồn cầu hố liên kết các nước lại với nhau, làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các

nước về nhiều mặt, nên lợi ích của mỗi quốc gia gắn với lợi ích của nhiều quốc gia

Hơn nữa, các thể chế quốc tế cũng ràng buộc lợi ích và nghĩa vụ của các quốc gia Tất

cả những điều nĩi trên giúp hạn chế những hành vi dễ gây xung đột giữa các nước, gĩp

phần duy trì hồ bình và an ninh quốc tế

1.2.2.3 Một số bất lợi của quá trình toàn cầu hóa:

- Tồn cầu hố mở rộng thêm khoảng cách giàu – nghèo trong từng nước và giữa

các nước: Các mối lợi từ tồn cầu hố kinh tế được phân phối khơng đồng đều và

khơng cơng bằng Các quốc gia phát triển thường thu lợi nhiều hơn trong kinh tế,

thương mại…

- Tồn cầu hố tạo nên sự thách thức mới đối với nền độc lập, chủ quyền quốc gia,

làm xĩi mịn quyền lực của nhà nước dân tộc

- Tồn cầu hố làm cho nhiều mặt hoạt động và đời sống của con người trở nên

kém an tồn, từ an tồn kinh tế, tài chính đến an tồn văn hĩa, xã hội, mơi trường:

Trang 21

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Đơng á (1997 – 1998) đã ảnh hưởng nghiêm trọng, kéo

dài và tồn diện đến các nước này Tính khơng an tồn trong đời sống kinh tế gia tăng

Quá trình tồn cầu hố, phát triển sự hợp tác đa phương và song phương với các

nước tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam mở rộng thị trường sang các nước, xây

dựng nền kinh tế mới phù hợp với sự phát triển chung và thực tiễn nền kinh tế Việt

Nam

1.2.3 Tác động của quá trình toàn cầu hóa đến lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm:

1.2.3.1 Sự cần thiết phải toàn cầu hóa ngành bảo hiểm:

Hiện nay quá trình hội nhập hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng, từ đó

các công ty đa quốc gia cần có sự hỗ trợ của các công ty bảo hiểm trên khắp thế

giới Ngoài ra, còn có lý do đáng được quan tâm là lợi ích của việc mở của thị

trường trong nước thông qua việc hội nhập:

- Một là, khó có thể đảm bảo cho một biến cố lớn tầm quốc gia do một số ít nhà

bảo hiểm trong nước

- Hai là, các nhà bảo hiểm nước ngoài cung cấp vốn và khuyến khích tính hiệu

quả của thị trường thông qua việc cung cấp các dịch vụ khách hàng cao cấp, giới

thiệu sản phẩm mới và chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý Các công ty nước

ngoài đóng góp vào việc tạo lập những chuẩn mực trong quản lý, định phí, quản trị

vốn mà các nhà bảo hiểm trong nước có thể mô phỏng Ngoài ra, các tổ chức bảo

hiểm nước ngoài còn giúp các cơ quan Nhà nước giám sát hoạt động kinh doanh

bảo hiểm hiệu quả hơn

- Ba là, dưới quan điểm kinh tế học vĩ mô, mở cửa thị trường bảo hiểm có thể

khuyến khích tăng các khoản tiết kiệm trong nước và thu hẹp khoảng cách đầu tư

của các nước đang phát triển, tăng uy tín của ngành bảo hiểm nói chung Thêm vào

Trang 22

đó với tiềm lực tài chính lớn mạnh và khả năng phân tán rủi ro tốt , các công ty bảo

hiểm nước ngoài đề ra những phương hướng phát triển mới dựa trên kinh nghiệm

quốc tế và thực tiễn trong hoạt động

1.2.3.2 Tác động của quá trình toàn cầu hóa đến lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm:

1.2.3.2.1 Toàn cầu hóa góp phần xóa bỏ các rào cản, tăng cường khả năng cạnh

tranh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm:

Có ba thuật ngữ tiếng Anh mà các nhà phân tích kinh tế hay dùng khi đề cập

đến quá trình xóa bỏ các rào cản từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ phạm vi hẹp

đến phạm vi rộng, đó là:

- Thứ nhất, “De-regulation”: Phi thể chế hóa, thuật ngữ này muốn đề cập đến

việc dỡ bỏ dần các quy định liên quan đến lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,

có thể là trong phạm vi một quốc gia, cũng có thể suy rộng ra trong phạm vi một

khu vực…

- Thứ hai, “Liberalization”: Tự do hóa, thuật ngữ này đề cập đến mức độ dỡ bỏ

các hạn chế ở mức cao hơn “De-regulation” đó là việc dỡ bỏ không chỉ đối với lĩnh

vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm mà đối với toàn bộ các ngành, các lĩnh vực

trong phạm vi một quốc gia hoặc suy rộng ra Điều đó có nghĩa Nhà nước muốn tạo

động lực thúc đẩy cạnh tranh giữa các ngành, các lĩnh vực với nhau

- Thứ ba, “Globalization”: Toàn cầu hóa, thuật ngữ này đề cập đến mức độ dỡ

bỏ các hạn chế ở mức cao hơn, rộng hơn, bao trùm hơn so với hai mức độ trên, đó

chính là việc dỡ bỏ các rào cản giữa các quốc gia với nhau hay còn gọi là việc tạo

ra động lực thúc đẩy cạnh tranh quốc tế Thuật ngữ này hiện thân thông qua các

hiệp định thương mại song phương như Ví dụ như: Hiệp định thương mại Việt Nam

Trang 23

– Hoa kỳ ký kết giữa Việt Nam và Hoa Kỳ; hoặc đa phương như: Hiệp định về

chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) cho khu vực mậu dịch tự

do ASEAN (AFTA); hay ở phạm vi toàn cầu đó là việc các quốc gia xin gia nhập và

trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) nơi mọi giới hạn

thương mại hầu như được xóa bỏ

Nếu xét các quá trình tháo gỡ các rào cản từ thấp đến cao, cho thấy trước năm

1990, giữa các lĩnh vực khác nhau như ngân hàng, bảo hiểm, thuê mua, chứng

khoán… đều có các rào cản vô hình, tức là khả năng xâm nhập và thôn tính giữa lĩnh

vực này đối với lĩnh vực khác là rất thấp Điều đó có nghĩa là đối với lĩnh vực ngân

hàng thì các ngân hàng cạnh tranh với nhau mà không xâm nhập vào các lĩnh vực

khác, do các hạn chế về ngân hàng chưa được dỡ bỏ Còn đối với lĩnh vực bảo hiểm

thì các công ty bảo hiểm cạnh tranh với nhau mà không xâm nhập vào các lĩnh vực

khác, lĩnh vực thuê mua thì các công ty thuê mua cạnh tranh với nhau, lĩnh vực

chứng khoán thì các công ty chứng khoán cạnh tranh với nhau do các hạn chế về tự

do hóa chưa được tháo gỡ… Nhưng sau năm 1990, khi nền kinh tế thế giới bước vào

giai đoạn toàn cầu hóa… tức là các ngân hàng, công ty bảo hiểm có thể xâm nhập

vào các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế để thực hiện việc mở rộng các hoạt

động kinh doanh của mình (một mặt vừa đa dạng hóa sản phẩm nhằm nâng cao thu

nhập từ nhiều phía, mặt khác tránh bỏ trứng vào cùng một rổ để hạn chế rủi ro… )

như tiến hành liên doanh hay thành lập công ty chứng khoán để kinh doanh chứng

khoán… Nếu nói rộng hơn, các nhà bảo hiểm muốn hình thành cho mình một tập

đoàn tài chính đa năng

Trang 24

Toàn cầu hoá góp phần xóa bỏ các rào cản trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

làm cho mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn giữa các ngành, các lĩnh vực

trên cơ sở thôn tính lẫn nhau, từ phạm vi một quốc gia, đến phạm vi khu vực và

toàn cầu Do đó, nếu các công ty bảo hiểm không tiến hành “đa dạng hóa các sản

phẩm” tức là không tiến hành cải tổ toàn diện các mặt hoạt động của mình từ mô

hình tổ chức đến quản trị điều hành, đến mở rộng phạm vi điều lệ, hiện đại hóa

công nghệ, đặt văn phòng đại diện hoặc mở chi nhánh ở nước ngoài… thì khả năng

cạnh tranh chắc chắn sẽ bị thu hẹp vì mức độ lấn át trong nội bộ ngành và ngoài

ngành ngày một rộng ra Ngược lại, nếu nhận thấy đây là một vấn đề sống còn thì

khả năng cạnh tranh sẽ được mở rộng

1.2.3.2.2 Toàn cầu hóa thúc đẩy các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước xây dựng

thương hiệu mạnh:

Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập thì thương hiệu thực

sự quan trọng Cụ thể: Thương hiệu nước giải khát coca-cola (Mỹ) được định giá là

69,39 tỷ USD đứng đầu danh sách 10 thương hiệu giá trị nhất thế giới, tiếp đến là

thương hiệu của hãng sản xuất phần mềm Microsoft (Mỹ) là 61,37 tỷ USD, thương

hiệu IBM (Mỹ) là 53,79 tỷ USD, thương hiệu GM là 44,11 tỷ USD, thương hiệu

Intel là 33,50 tỷ USD,thương hiệu Disney là 27,11 tỷ USD, thương hiệu McDonald’s

là 25 tỷ USD, thương hiệu của tập đoàn sản xuất điện thoại di động Nokia (Phần

Lan) là 24,04 tỷ USD, thương hiệu của hãng sản xuất ôtô Toyota (Nhật Bản) là

33,67 tỷ USD, thương hiệu ngân hàng HSCB là 8,7 tỷ USD Bên cạnh phát triển các

sản phẩm có chất lượng cao, việc xây dựng thương hiệu cũng là một trong những

nội dung cần phải hết sức quan tâm trong quá trình hội nhập Bảo hiểm là một sản

Trang 25

phẩm vô hình nên uy tín và thương hiệu doanh nghiệp bảo hiểm càng trở nên quan

trọng hơn

1.3 MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM

TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ:

1.3.1 Một số vấn đề cần quan tâm khi mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam:

Trong thời gian gần đây, thị trường bảo hiểm có sự thay đổi dần về nguyên tắc

và thị trường được tự do hóa hơn Những thương lượng liên quan quá trình tự do hóa

nền kinh tế một quốc gia diễn ra dưới sự chỉ đạo của tổ chức thương mại thế giới

WTO

Thảo luận về việc mở của thị trường trong lĩnh vực bảo hiểm cho các nhà bảo

hiểm nước ngoài đã cho thấy những mối quan tâm của Nhà nước và các doanh

nghiệp bảo hiểm trong nước, đặc biệt là từ những nước đang hội nhập Những mối

quan tâm thường thấy liên quan đến việc tự do hóa thị trường bảo hiểm gồm:

- Một là, lý lẽ ngành bảo hiểm còn non trẻ nhằm kêu gọi sự bảo hộ ngành bảo

hiểm để nó có cơ hội phát triển một cách khỏe mạnh Tuy nhiên, WTO không yêu

cầu việc tự do hóa ngành bảo hiểm tức thời và hoàn thiện Thời kỳ chuyển đổi được

kết hợp dần dần, các vòng đàm phán được tiến hành theo lịch trình để cho các nhà

bảo hiểm trong nước có thời gian thích nghi với tình huống mới

- Hai là, một mối quan tâm khác là khi tự do hóa, các công ty bảo hiểm nước

ngoài có thể chiếm những loại hình bảo hiểm đem lại nhiều lợi nhuận, để lại cho

công ty trong nước những loại hình kém hấp dẫn hơn và thông thường, khi đã tự do

hóa rồi thì chính sách bảo hộ không còn nữa Lúc này sản phẩm của các công ty

Trang 26

trong nước sẽ có giá cao hơn và khách hàng sẽ tìm đến sản phẩm có giá rẻ hơn và

khách hàng luôn là người có lợi trong môi trường cạnh tranh

- Ba là, một quan tâm khác thường được biết đến là việc cho các công ty bảo

hiểm nước ngoài tham gia sẽ làm cho thị trường dễ bị khủng hoảng vốn bởi vì các

công ty bảo hiểm nước ngoài tham gia thị trường, đầu tư dưới dạng FDI nhưng cuối

cùng là chi trả cho khách hàng trong nước, khi có khủng hoảng thì họ dễ rút vốn ra

- Bốn là, Chính Phủ luôn quan tân đến hiệu quả của việc giám sát cho nên đây

cũng là mối quan tâm lớn trong việc mở thị trường cho các công ty bảo hiểm nước

ngoài kinh doanh bởi vì các nhà quản lý trong nước chưa đủ khả năng thích ứng với

những thay đổi mới WTO có quy định: Các nước đã phát triển hỗ trợ cho các nước

đang phát triển trong việc xây dựng năng lực cần thiết cho việc vận hành hoàn

chỉnh tự do hóa

1.3.2 Một số kinh nghiệm khi mở cửa thị trường bảo hiểm:

Bảo hiểm đóng vai trò quan trong trong quá trình phát triển của nền kinh tế

bằng cách đem lại lợi ích trong mọi lĩnh vực, trong đó bao gồm lĩnh vực tài chính

Để đạt được ảnh hưởng có lợi từ việc toàn cầu hóa, cần có sự mở cửa cho các nhà

bảo hiểm nước ngoài Trong những năm gần đây, đã có nhiều quốc gia thay đổi và

tự do hóa thị trường bảo hiểm của mình, điển hình là Trung Quốc WTO khuyến

khích việc tự do hóa bằng cách đưa ra những chuẩn mực, cần thời gian để thực hiện

dần dần nhằm xóa bỏ những rào cản vẫn còn tồn tại, trong đó có ngành bảo hiểm

Trong suốt 2 thập kỷ qua, cơ chế thị trường bảo hiểm đóng kín của Trung Quốc

đã được thay đổi dần từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường

với đặc thù Trung Quốc Khi tham gia thị trường bảo hiểm Trung Quốc, các nhà bảo

Trang 27

hiểm nước ngoài phải đương đầu với những hạn chế về địa bàn và hoạt động Vì

vậy mà đến năm 2000, thị phần của các công ty bảo hiểm nước ngoài chỉ có 1%

Để gia nhập WTO, Trung Quốc đã chấp nhận một số điều kiện liên quan đến

bảo hiểm trong thỏa thuận song phương giữa Trung Quốc và WTO như sau:

- Cho phép các công ty phi nhân thọ nước ngoài thành lập công ty 100% vốn

nước ngoài trong vòng 2 năm sau khi gia nhập, giới hạn công ty bảo hiểm nhân thọ

nước ngoài sở hữu tối đa 50% trong liên doanh

- Cho phép các nhà môi giới bảo hiểm nước ngoài thành lập liên doanh với 50%

vốn khi gia nhập, 51% trong vòng 3 năm và 100% trong vòng 5 năm

- Cho phép các công ty nhân thọ nước ngoài bảo hiểm tất cả các rủi ro gồm: Bảo

hiểm nhóm, sức khoẻ và hưu trí trong vòng 3 năm sau khi gia nhập

- Cho phép các công ty phi nhân thọ nước ngoài bảo hiểm tất cả các rủi ro,

ngoại trừ những quy định của luật bảo hiểm trong vòng 2 năm sau khi gia nhập

- Cho phép các nhà môi giới bảo hiểm nước ngoài nắm giữ nhiều rủi ro thương

mại và tái bảo hiểm

- Cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài gia nhập ở những thành phố quan

trọng và mở rộng sau 2 năm gia nhập, xóa bỏ toàn bộ giới hạn về địa bàn trong

vòng 3 năm sau khi gia nhập

- Cuối cùng, Nhà nước không giới hạn số lượng giấy phép được cấp

Như vậy, kinh nghiệm mở cửa thị trường Trung Quốc là mở của thị trường bảo

hiểm từng bước và có giới hạn Ngoài ra, các quốc gia còn có thể chọn một trong

hai phương án: Đóng cửa hoặc mở cửa hoàn toàn Tuy nhiên, phương án mở cửa thị

Trang 28

trường bảo hiểm kiểu Trung Quốc được nhiều quốc gia áp dụng nhất vì đây là

phương án tối ưu nhất cho Chính Phủ và các công ty bảo hiểm trong nước

1.3.3 Một số khuynh hướng thay đổi khi mở cửa thị trường bảo hiểm:

Người tiêu dùng ngày càng mua nhiều hàng hơn và chuyển từ những hàng thiết

yếu sang những nhu cầu cấp cao hơn, chẳng hạn như chăm sóc sức khoẻ, giải trí,

giáo dục và du lịch Điều đó đem lại rất nhiều cơ hội cho các nhà bảo hiểm Kết

quả nghiên cứu cho thấy rằng người ta chi khoảng 12% thu nhập cho việc chăm sóc

sức khỏe nên thị trường bảo hiểm sức khỏe là một cơ hội cực lớn cho các nhà kinh

doanh bảo hiểm:

1.3.3.1 Nhiều cơ hội kinh doanh cho các nhà bảo hiểm:

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trình độ hiểu biết của nhân dân về bảo hiểm

ngày càng được nâng cao, người tiêu dùng đánh giá ngày càng đúng tầm quan trọng

của các kế hoạch bảo vệ cá nhân Việc xây dựng chiến lược kinh doanh của các

công ty bảo hiểm trở nên vô cùng quan trọng

1.3 3.2 Sự bùng nổ về các lực lượng trung gian:

Sản phẩm bảo hiểm thường được xem là sản phẩm cần bán hơn cần mua

Khách hàng thường băn khoăn rằng nhà bảo hiểm đưa ra cho họ một sản phẩm

không rõ ràng, vô thưởng vô phạt nên để giới thiệu cho khách hàng một danh mục

có thể lựa chọn thì vai trò của các trung gian bảo hiểm trở nên cực kỳ quan trọng

như: Ngân hàng, môi giới, các tổ chức đại lý, đại lý cá nhân chuyên nghiệp…

1.3.3.3 Khuynh hướng đổi mới sản phẩm:

Trang 29

Với sự hỗ trợ của lực lượng trung gian đông đảo, khách hàng cần có nhiều sản

phẩm với đặc tính linh hoạt và phù hợp với nhu cầu, với những đặc điểm và giá cả

khác nhau để lựa chọn Thấy rõ mảng trống trên sơ đồ nhu cầu khách hàng, các nhà

bảo hiểm cần phải tăng kinh phí, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, công tác

nghiên cứu và phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu Những xu hướng mới

xuất hiện trong quá trình phát triển sản phẩm:

- Từ sản phẩm bảo hiểm một rủi ro riêng lẻ sang bảo hiểm nhiều rủi ro

- Từ sản phẩm bảo hiểm một vài rủi ro riêng lẻ sang bảo hiểm trọn gói

- Từ sản phẩm bảo hiểm chỉ một số rủi ro cụ thể sang bảo hiểm mọi rủi ro

- Từ các đơn bảo hiểm chuẩn sang các đơn bảo hiểm thiết kế theo yêu cầu

- Từ sản phẩm bảo hiểm một mức giá sang nhiều mức giá

- Từ các đơn bảo hiểm chuẩn cho mọi khách hàng sang các đơn bảo hiểm định

hướng cho mọi khách hàng

1.3.3.4 Làm thay đổi một số tập quán bảo hiểm:

Bảo hiểm phải được nhìn nhận như một sản phẩm khuyến khích kinh doanh,

làm thay đổi quan niệm về sản phẩm bảo hiểm từ chỗ là sản phẩm khó hiểu, khó

tiếp cận trở thành một sản phẩm đáp ứng được nhiều nhu cầu rủi ro của khách

hàng Để đạt được mục tiêu đó phải có cái nhìn thay đổi về thị trường, các phương

pháp bán hàng và cách thức phục vụ truyền thống Các mô hình kinh doanh cần

phải được phát triển cho mảng khách hàng nông thôn, 70% khách hàng là ở các

vùng nông thôn, bảo hiểm cũng cần thiết như đối với thành phố Vì vậy, sản phẩm

phù hợp với nông thôn cần được nghiên cứu phát triển và đưa vào thị trường Chiến

lược xâm nhập vào thị trường này có thể bao gồm hình thức bảo hiểm tập thể, bán

Trang 30

bảo hiểm kết hợp thông qua các kênh ngân hàng, phát triển hình thức bảo hiểm thu

phí nhiều kỳ

1.3.3.5 Cải tiến khả năng phục vụ:

Bảo hiểm sẽ không phát triển được trừ khi liên tục có khách hàng, và tinh thần

phục vụ tốt sẽ đảm bảo gí trị lâu dài khách hàng dành cho công ty Phục vụ tốt là sự

kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và hành động Dịch vụ không dùng tiền mặt, trung

tâm tiếp nhận điện thoại và dịch vụ hỗ trợ, phục vụ mọi nơi, lồng ghép dịch vụ bảo

hiểm với sản phẩm của các nhà sản xuất và các nhà cung cấp dịch vụ khác là một

trong số định hướng góp phần phát triển thị trường bảo hiểm

1.3.3.6 Chuyển bảo hiểm từ thủ công sang điện tử:

Cũng giống như nhiều ngành dịch vụ khác trong nền kinh tế, bảo hiểm cần

chuyển sang giao dịch và quan hệ bằng điện tử để giảm chi phí Các phương pháp

tiếp cận bằng điện tử có thể làm thay đổi nhận thức của khách hàng về rủi ro và

quản lý rủi ro, có thể gợi mở việc phân tích nhu cầu, cung cấp thông tin về sản

phẩm và các phương án giá cả, làm rõ các vấn đề về phạm vi bảo hiểm, giúp khách

hàng so sánh khi mua hàng và giới thiệu nhiều loại dịch vụ chăm sóc khách hàng

Giao dịch điện tử không chỉ được xem là phương tiện thông tin và bán hàng mà còn

được xem là sự mở đầu cho một mô hình kinh doanh mới, hứa hẹn làm giảm chi phí

giao dịch và cung cấp dịch vụ kịp thời

Kết luận chương 1:

Phần cơ sở lý luận của đề tài được trình bày trên cơ sở tham khảo các tài liệu

về bảo hiểm và toàn cầu hóa, từ đó phân tích một cách có hệ thống các nội dung:

Trang 31

- Một là, bảo hiểm xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, hoạt động bảo hiểm tồn tại

trong nền kinh tế – xã hội như một yếu tố khách quan

- Hai là, bảo hiểm được xem là một trong những phương thức hữu hiệu nhất góp

phần xử lý các rủi ro tồn tại trong cuộc sống con người

- Ba là, bảo hiểm với vai trò của một công cụ an toàn và là một trung gian tài

chính, trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống tài chính nói riêng và của

toàn bộ nền kinh tế nói chung

- Bốn là, xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế là tất yếu, phân tích một số mặt tích

cực và tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa mang lại

- Năm là, ảnh hưởng của toàn cầu hóa kinh tế thế giới đến lĩnh vực kinh doanh

bảo hiểm

- Sáu là, một số kinh nghiệm phát triển thị trường bảo hiểm trong bối cảnh hội

nhập kinh tế quốc tế

Việc nắm vững lý luận chung có tác dụng quan trọng đối với việc nghiên cứu,

phân tích, đánh giá… thị trường bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế

quốc tế ở nội dung chương 2, từ đó làm cơ sở đề ra các giải pháp phát triển thị

trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới ở nội dung chương 3

Trang 32

CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH QUỐC TẾ

2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT

NAM:

Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt

Nam có thể chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn trước năm 1975; giai đoạn từ năm

1975 đến năm 1993 và giai đoạn từ năm 1993 đến nay

2.1.1 Giai đoạn trước năm 1975:

Ở khu vực Miền Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm phát triển khá mạnh với

số lượng công ty bảo hiểm trong và ngoài nước lên đến trên 50 công ty, cơ sở vật

chất kỹ thuật tiên tiến, có cả mạng lưới trung gian bảo hiểm cũng như sự kiểm tra

của Nhà Nước với hệ thống pháp luật hoàn chỉnh (Luật bảo hiểm ban hành năm

1965)

Trong thời gian đó, ở Miền Bắc theo quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ

ngày 17/12/1964, ngày 15/01/1965 Công ty bảo hiểm Việt Nam chính thức đi vào

hoạt động và do trong điều kiện chiến tranh nên hoạt động kinh doanh của Công ty

chỉ gói gọn với nghiệp vụ vận chuyển hành hóa, cơ sở vật chất hạ tầng cũng như hệ

thống văn bản pháp lý còn thấp kém và chưa hoàn chỉnh để phục vụ tốt cho hoạt

động của ngành

Trang 33

2.1.2 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1993:

Từ sau ngày giải phóng Miền Nam, quá trình quốc hữu hoá các công ty bảo

hiểm tại Miền Nam đã dẫn đến việc hình thành Công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm

Việt Nam (gọi tắt BAVINA) BAVINA vẫn tiếp tục thực hiện trách nhiệm của các

công ty cũ với những người được bảo biểm muốn tiếp tục duy trì hợp đồng bảo

hiểm Năm 1976, BAVINA được chuyển thành chi nhánh Công ty bảo hiểm Việt

Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh với tên gọi là Bảo Việt Thành Phố Hồ Chí Minh

Trong thời gian này Công ty Bảo Việt đã nghiên cứu và triển khai nhiều loại hình

nghiệp vụ bảo hiểm mới, cũng như tự đổi mới để hoàn thiện cơ cấu tổ chức, tiến tới

tự cân đối thu chi ngoại tệ và được nâng cấp lên thành Tổng công ty có các chi

nhánh tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước theo Nghị định 115/HĐBH ngày

15/10/1988

2.1.3 Giai đoạn sau năm 1993:

Thực hiện chủ trương của Nhà nước trong việc xóa bỏ sự độc quyền và mở rộng

nhiều loại hình kinh doanh bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm thuộc các thành

phần kinh tế khác nhau tham gia, ngành bảo hiểm Việt Nam đã chính thức mở cửa

vào năm 1994 nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường, trước xu

thế hội nhập nền kinh tế đất nước vào kinh tế thế giới

Ngày 18-12-1993 việc ban hành Nghị định 100/CP về hoạt động kinh doanh bảo

hiểm của Chính Phủ đã đánh dấu một bước ngoặc trong quá trình phát triển bảo

hiểm thương mại ở nước ta Độc quyền nhà nước của Bảo Việt đã được phá vỡ với

sự ra đời của một loạt các doanh nghiệp bảo hiểm, đó là: Vinare, Bảo Minh, Bảo

Long, PJICO, PVIC, Inchibrock, VIA, PTI, UIC, Chinfon – Manulife , Prudential,

Trang 34

AIA … Trong thời gian này, nhiều tổ chức bảo hiểm nước ngoài đã thành lập văn

phòng đại diện tại Việt Nam; mạng lưới đại lý, môi giới, cộng tác viên đã hình

thành rộng khắp Nhiều nghiệp vụ mới được triển khai: Bảo hiểm tín dụng, bảo

hiểm nhân thọ, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm Sự phát triển của bảo hiểm

thương mại ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, nhất là trong điều kiện kinh tế thị

trường đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Sự

phong phú về các nguồn hàng hóa, dịch vụ; tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; mức thu

nhập không ngừng tăng của nhiều tầng lớp dân cư; tính phức tạp và đa dạng của các

loại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc hình thành và tăng

nhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội Thị trường bảo hiểm tất yếu chịu sự

chi phối của các quy luật kinh tế trên thị trường Môi trường cạnh tranh đã tạo nên

một thị trường linh hoạt có khả năng đáp ứng được sự đa dạng của nhu cầu bảo

hiểm, thúc đẩy sự tăng nhanh khối lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm bảo

hiểm Người tiêu dùng đã có thể lựa chọn cho mình một nhà cung cấp dịch vụ tốt

nhất về chất lượng và đảm bảo về hiệu quả đầu tư Năm 2004, người tiêu dùng ở

Việt Nam đã có thể nhận được sự phục vụ của 26 doanh nghiệp bảo hiểm và đến

nay con số đó đã là 30 doanh nghiệp (xem phụ lục 1)

2.2 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT

NAM – TẠO TIỀN ĐỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ LĨNH VỰC KINH

DOANH BẢO HIỂM:

2.2.1 Thực trạng thị trường bảo hiểm Việt Nam từ sau Nghị định 100/CP đến

nay:

Trang 35

Kinh tế Việt Nam tăng trường với tốc độ cao, năm 2004 Việt Nam tiếp tục là

quốc gia có môi trường ổn định về kinh tế, an sinh xã hội tốt, hấp dẫn đối với người

đầu tư nước ngoài và du lịch Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế xã hội mà Quốc hội đề ra

năm 2004 đều đạt và vượt, tăng trưởng GDP 7,7%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng

16%, nông nghiệp tăng 5,4% Xuất khẩu đạt 26 tỷ USD, tăng 28,4% là mức tăng

cao nhất từ trước tới nay Nhập khẩu đạt 31,5 tỷ USD tăng 25% trong đó chủ yếu là

khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 258.000 tỷ đồng

bằng 36,3% GDP, tăng 19% Thu nhập bình quân đầu người tăng, đạt trên 400 USD,

tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo, có 1,5 triệu người được tuyển dụng vào làm

việc trong năm 2004, là môi trường thuận lợi tạo điều kiện cho bảo hiểm tiếp tục

tăng trưởng và phát triển

2.2.1.1 Toàn cảnh thị trường:

Hơn 10 năm qua đánh dấu sự phát triển vượt bậc của thị trường bảo hiểm Việt

Nam, trong đó có tham gia của các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài với

tiềm lực tài chính mạnh, trình độ kỷ thuật, chuyên môn và quản lý cao Quy mô

hoạt động của các công ty này đã gia tăng một cách nhanh chóng Đến nay thị

trường đã có 30 doanh nghiệp bảo hiểm thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt

động kinh doanh bảo hiểm, bao gồm: 05 doanh nghiệp nhà nước, 08 công ty cổ

phần, 06 doanh nghiệp liên doanh và 11 doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Ngoài

ra, sự có mặt của gần 30 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài

tại Việt Nam cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tăng lòng tin của các

nhà đầu tư nước ngoài khi đến làm ăn tại Việt Nam

Trang 36

Nghiên cứu thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn này, chúng ta thấy có một

số đặc điểm sau:

- Thị trường bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng GDP,

tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm bình quân giai đoạn 1993 – 2004 là hơn 29%/năm

- Mặc dù vậy, tổng doanh thu phí bảo hiểm/GDP vẫn còn rất thấp (bảng 1)

- Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm và sản phẩm bảo hiểm vẫn còn hạn chế

- Năng lực đảm bảo của các công ty bảo hiểm còn thấp, tỷ lệ tái bảo hiểm ra

nước ngoài còn cao

- Môi trường pháp lý vẫn còn nhiều điểm chưa hoàn thiện

- Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước vẫn chưa xây dựng được chiến

lược kinh doanh trong dài hạn…

Đến năm 2004, tổng doanh thu bảo hiểm đạt 14.232 tỷ đồng Trong đó doanh

thu phí bảo hiểm gốc đạt 12.400 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2% GDP Doanh thu hoạt

động đầu tư đạt 1.832 tỷ đồng

Trang 37

BẢNG 1: DOANH THU PHÍ BẢO HIỂM GIAI ĐOẠN 1993 – 2004

Đơn vị: Tỷ đồng

1.2641.2630,95

2.0911.606 485

6.9922.6244.368

10.390 3.890 6.500

12.400 4.764 7.636

Nguồn: Bộ Tài Chính

2.2.1.2 Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam:

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam có tốc độ tăng trưởng bình quân

hơn 25%/năm, cao so với các nước trong khu vực vì thị trường bảo hiểm phi nhân

thọ Việt Nam là thị trường mới, nhu cầu bảo hiểm còn nhiều Tính đến cuối năm

2004 đã có 15 công ty đang hoạt động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau (Bảo

Trang 38

Việt, Bảo Minh, Bảo Long, Pjico, PTI, PVIC, UIC, VIA, Allianz Việt Nam, BIDV –

QBE, Groupama, Samsung Vina, Viễn Đông, AAA)

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ có thời gian chuẩn bị tương đối dài và có thời

gian để từng bước thích nghi với quá trình hội nhập nên các doanh nghiệp bảo hiểm

phi nhân thọ Việt Nam đã có một bước tiến trong phát triển thị trường nhằm giữ

vững thị phần

Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam vẫn còn mang một số

đặc điểm hạn chế:

- Thông tin thị trường ít, khách hàng gặp khó khăn trong việc lựa chọn doanh

nghiệp, sản phẩm, dịch vụ

- Hệ thống trung gian bảo hiểm vẫn chưa thực sự phát triển

- Một số sản phẩm phi nhân thọ đã tỏ ra lạc hậu so với xu thế phát triển chung

- Việc áp dụng khoa học công nghệ trong quản lý còn chậm và thiếu tính đồng

bộ

Dưới đây là số liệu hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm phi nhân

thọ tại Việt Nam giai đoạn năm 1993 – 2004

Trang 39

BẢNG 2: DOANH THU PHÍ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ

trưởng 24,85% so với năm 2003 Các doanh nghiệp trong nước chiếm đến 93% thị

phần, trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 7% Thị phần

doanh thu phí bảo hiểm tập trung vào các doanh nghiệp trong nước có thâm niên

hoạt động trên thị trường như: Bảo Việt, Bảo Minh PVI, PJICO… Dẫn đầu thị

trường và nắm vững khoảng 83% thị phần vẫn là các doanh nghiệp bảo hiểm nhà

nước trong đó chủ yếu là Bảo Việt, Bảo Minh và PVI Tỷ trọng thị phần còn lại do

các doanh nghiệp cổ phần và các công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài nắm

giữ và có xu hướng tăng trong các năm tiếp theo

Trang 40

BẢNG 3: DOANH THU PHÍ BẢO HIỂM CÁC CÔNG TY BẢO HIỂM PHI

NHÂN THỌ NĂM 2004 Công ty

(*)

Doanh thu ( tỷ đồng )

Thị phần ( % )

4022131221,32,14,31,60,50,200,30,7

Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam

(*) Tên đầy đủ của các công ty: tại Phụ lục 1

Trong cơ cấu phí bảo hiểm theo nghiệp vụ năm 2004, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ

giới chiếm tỉ trọng lớn nhất, tiếp đó là bảo hiểm tài sản và thiệt hại, bảo hiểm sức

Ngày đăng: 09/01/2018, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w