Vai trò của xuất khẩu và xuất khẩu cà phê ở Việt Nam 1.Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế xã hội Xuất khẩu hàng hóa là một trong những hoạt động kinh doanh mà phạm vihoạt động của
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VIỆC XUẤT KHẨU CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM 2
I Vai trò của xuất khẩu và xuất khẩu cà phê ở Việt Nam 2
1.Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế xã hội 2
2 Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với Việt Nam 3
II Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam 5
1 Cơ hội đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam 5
1.1 Mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo ra một không gian lớn tăng hiệu quả kinh doanh 5
1.2 Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài 6
1.3 Tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ năng quản lí và kinh doanh ghóp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lí và cán bộ kinh doanh năng động sáng tạo 6
1.4 Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp được nâng cao 7
2 Thách thức đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam 7
III Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam 10
1 Các nhân tố thuộc về nguồn cung cà phê xuất khẩu 10
1.1 Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên 10
1.2 Các yếu tố thuộc về chủ trương chính sách của nhà nước: 10
1.3 Các yếu tố về khoa học công nghệ 12
2 Các nhân tố thuộc về cầu của thị trường cà phê thế giới 12
3 Giá cả cà phê trên thị trường thế giới 15
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM 17
I.Thực trạng sản xuất cà phê của Việt Nam 17
1 Thực trạng phát triển diện tích, năng suất, sản lượng cà phê ở Việt Nam 17
1.1 Về diện tích trồng cà phê 17
1.2 Về năng suất và sản lượng cà phê 18
1.3 Về giống cà phê 19
2 Thực trạng thu mua và chế biến cà phê xuất khẩu của Việt Nam 20
II Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam 21
1 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam 21
2 Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam 24
Trang 23 Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam 27
III Đánh giá thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam 29
1.Những thuận lợi đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam 29
1.1 Thuận lợi về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 29
1.2.Giá thành sản xuất rẻ 30
2 Những hạn chế và nguyên nhân 31
2.1 Tính bền vững của ngành cà phê Việt Nam chưa cao 31
2.2 Chất lượng cà phê chưa cao, chủng loại chưa đa dạng 31
2.3 Thiếu tính đồng bộ giữa các khâu 34
2.4 Thiếu vốn 35
2.5 Thương hiệu cà phê Việt Nam trên trường quốc tế còn chưa mạnh, cơ sở pháp lí chưa rõ ràng 37
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM TỚI 38
I.Phương hướng và mục tiêu 38
II.Giải pháp 39
1 Thực hiện tốt quy hoạch sản xuất phát triển cà phê 39
2 Tập trung nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm chế biến; xây dựng và khẳng định thương hiệu cà phê Việt Nam trên trường Quốc tế 40
3 Giải pháp về thị trường 41
4 Tổ chức sản xuất tập trung chuyên môn hóa 42
5 Cơ chế chính sách của nhà nước 43
6 Xây dựng hệ thống tiêu thụ cà phê hiện đại, thích ứng với quá trình giao dịch mua bán trong nước và quốc tế 44
7 Đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất, tạo liên kết, gắn bó lợi ích giữa người trồng, doanh nghiệp chế biến và các cơ sở dịch vụ 44
KẾT LUẬN 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 3DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1: Một số thị trường nhập khẩu cà phê chính của nước ta từ giai đoạn 06/07
đến 09/10 13
Bảng 2: Thị trường chủ chốt xuất khẩu cà phê thô của Việt Nam, nửa đầu niên vụ 2009/2010 và niên vụ 2010/2011 14
Bảng 3: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2011 18
Bảng 4: Các loại sản phẩm cà phê Việt Nam xuất khẩu, niên vụ 2008/09 – 2010/11 24
Bảng 5: Giá xuất khẩu trung bình của Cà phê thô Việt Nam, Niên vụ 2009/10 -2010/11 27
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Hoa Kỳ 29
Biểu đồ 1: Diện tích, sản lượng cà phê Việt Nam qua thời kỳ 1995-2011 19
Biểu đồ 2: Tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta từ năm 1991 đến năm 2009 22
Biểu đồ 3: Mối quan hệ giữa giá cà phê ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế 25
Biểu đồ 4: Giá xuất khẩu cà phê trung bình của Việt Nam từ mùa vụ 1990/91 đến mùa vụ 2010/11 25
Biểu đồ5: Các nước nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam mùa vụ 2010/11 (đơn vị: tấn) 28
Trang 4Với mong muốn ngành xuất khẩu cà phê thật sự lớn mạnh, em xin đượcnghiên cứu đề tài :
“Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê ở Việt Nam”
Để hoàn thành được đề tài này, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướngdẫn Hoàng Văn Định đã cung cấp phần lớn kiến thức và phương pháp luận cho emngay từ khi lựa chọn đề tài đến khi hoàn thành
Tuy nhiên,với vốn kiến thức còn hạn chế, em không thể tránh được những sai sóttrong đề tài của mình Vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến bổ sung, chỉnhsửa của thầy giáo
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5
CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VIỆC XUẤT KHẨU
CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM
I Vai trò của xuất khẩu và xuất khẩu cà phê ở Việt Nam
1.Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế xã hội
Xuất khẩu hàng hóa là một trong những hoạt động kinh doanh mà phạm vihoạt động của nó vượt qua ngoài biên giới của một quốc gia, là một hoạt độngmang tính quốc tế tức là phải tuân thủ các nguyên tắc, luật pháp, quy định của quốc
tế của những sân chơi chung mà chúng ta tham gia Đây là hình thức kinh doanhquan trọng đóng ghóp phần lớn vào kết quả kinh doanh của hoạt động thương mạiquốc tế
Xuất khẩu hàng hóa có những đặc điểm sau:
- Thị trường rộng lớn, tách biệt, thông qua thông lệ quốc tế và các quy tắcchung của các tổ chức thương mại trên thế giới Vì vậy mà cần phải đầu tư cho côngtác nghiên cứu thị trường, tìm hiểu pháp luật và các điều kiện liên quan tới việc traođổi buôn bán hàng hóa dịch vụ của quốc gia mà chúng ta đã đang và sẽ có quan hệhợp tác, làm ăn
- Khi xuất khẩu hàng hóa phải chú ý đến vấn đề thuộc về phong tục tập quánthói quen, nề nếp sống…của nước nhập khẩu để đảm bảo hang hóa xuất khẩu có thểmang lại lợi nhuận như ta mong muốn Đây là một điều tất yếu quan trọng trongđịnh hướng xuất khẩu được đề ra trong quá trình nghiên cứu thị trường để xác địnhnhu cầu của khách hang tiến tới xác định sản phẩm dịch vụ xuất khẩu
- Xuất khẩu là cơ sở để tăng sản xuất trong nước để không những phục vụnhu cầu trong nước mà còn phục vụ nhu cầu các nước khác, kích thích đầu tư nângcao chất lượng chủng loại sản phẩm cho XH
- Xuất khẩu cho phép các quốc gia trên thế giới khai thác triệt để lợi thế sosánh của mình
Đối với nước ta, xuất khẩu hàng hóa còn đóng vai trò quan trọng sau :
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, thu hút ngoại tệ phục vụ
Trang 6quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Xuất khẩu đóng ghóp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sảnxuất phát triển
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi.Ví dụ như
sự phát triển của các ngành chế biến lương thực xuất khẩu kéo theo sự phát triểncủa các ngành công nghiệp chế tạo ra thiết bị phục vụ nó, phát triển nông nghiệpcung cấp các nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến đó
+ Xuất khẩu tạo điều kiện tiền đề kinh tế, kỹ thuật cải tạo và nâng cao nănglực sản xuất trong nước
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của chúng ta sẽ tham gia vào cuộc cạnhtranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng Cuộc cạnh tranh này đồi hỏichúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hoàn thiện cơ cấu sản xuất, luôn thích nghi vớimôi trường luôn luôn biến động
+ Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện côngviệc quản trị sản xuất và kinh doanh
- Xuất khẩu tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiệnmọi vấn đề của cuộc sống xã hội, mọi người được ngày càng được thoả mãn nhucầu về vật chất lẫn tinh thần
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại củanước ta trên cơ sở hai bên cùng có lợi
2 Vai trò của xuất khẩu cà phê đối với Việt Nam.
Cây cà phê vốn từ lâu được xem như một loại cây Công nghiệp ngắn ngàyxuất khẩu chủ lực của Việt Nam với giá trị xuất khẩu hàng năm ngày càng cao,đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam ranước ngoài Nó có tác động to lớn đối với hoạt động xuất khẩu nói riêng và đối với
cả nền kinh tế nói chung :
- Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa thì rất cần tớinguồn ngoại tệ mạnh phục vụ cho qua trình này Xuất khẩu cà phê tạo một nguồnthu ngoại tệ khá lớn hàng năm cho nền kinh tế đảm bảo cán cân thanh toán quốc tế,
Trang 7nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến phục vụ cho nền sản xuấtcòn chậm phát triển trong nước.
- Xuất khẩu cà phê đòi hỏi phải đầu tư vào sản xuất theo hướng chuyên mônhóa hình thành những vùng chuyên canh với quy mô lớn với trang bị đồng bộ củakhoa học kĩ thuật, áp dụng cơ khí hóa,hiện đại hóa quá trình sản xuất đến các khâusau thu hoạch, tiêu thụ, thúc đầy các ngành công nghiệp phục vụ như sản xuất máybơm nước tưới, máy chế biến… đẩy nhanh quá trình chuyển đồi nền kinh té từ nôngnghiệp lạc hậu sang nước công nghiệp
- Xuất khẩu không những đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế mà còn giải quyết cácvấn đề xã hội như tạo công ăn việc làm cho người lao động,cải tạo điều kiệnsốngcho người dân ghóp phần xóa đói giảm nghèo, giảm bớt được tệ nạn xã hội
- Xuất khẩu cà phê cho chúng ta khai thác triệt để lợi thế so sánh với nhữngnước khác Đó là lợi thế về tự nhiên, về đất đai, khí hậu, nguồn nước …tận dụngnguồn lao động dồi dào Vị trí địa lí của đất nước thuận lợi cho việc trao đổi buônbán hàng hóa, các cảng biển thuận tiện cho việc lưu thông đườg thủy,thuận tiện choviệc chuyên chở, giao dịch hàng hóa Chính vì vậy mà chúng ta cần có những chínhsách để khai thác triệt để lợi thế này trong cả quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ
cà phê, tạo những điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu cà phê
- Xuất khẩu cà phê còn tạo cơ hội để ta tranh thủ tận dụng cơ hội trên thịtrường thế giới
+ Xuất khẩu cà phê chính là tận dụng cơ hội trên thị trường thế giới theo xuhướng chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội sâu sắc trên thế giới đúngtheo tư tưởng của các học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lợi thế sosánh của David Ricardo là khi tham gia thương mại quốc tế, tất cả các nước đều cólợi khi tận dụng ưu thế về phân công lao động quốc tế
+ Xuất khẩu cà phê để tranh thủ các ưu đãi về thuế quan của các tổ chứcthương mại mà Việt Nam cũng là một thành viên tạo khả năng thu hút được nhiềulợi nhuận hơn cùng những ưu đãi về điền kiện xuât khẩu
Trang 8II Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Một trong những mốc quan trọng đánh dấu tiến trình hội nhập của nền kinh tếnước ta với bạn bè quốc tế là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ
150 của tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO vào văm 2006 Sự kiện này có tácđộng to lớn trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung và cà phê nói riêng.Việcgia nhập WTO bao hàm trong đó cả cơ hội lẫn thách thức đối với xuất khẩu cà phêcủa Việt Nam
1 Cơ hội đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam
1.1 Mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo ra một không gian lớn tăng hiệu quả kinh doanh
Bản chất của việc hình thành các tổ chức khu vực quốc tế và rộng hơn là xuthế khu vực hóa toàn cầu là để giải quyết vấn đề thị trường Do đó thực chất củamột trong những mục tiêu của việc gia nhập WTO giúp cho các doanh nghiệp thamgia xuất khẩu của Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường Đồng thời với việc mởrộng không gian thương mại, thuế nhập khẩu vào các nước thành viên WTO giảmđáng kể giúp doanh nghiệp có cơ hội thúc đẩy sự xâm nhập vào các thị trường mớicho sản phẩm của mình, tăng lượng xuất khẩu vào thị trường này Đối với các sảnphảm sơ chế xuất khẩu sang các nước phát triển sẽ được hưởng thuế thấp hoặc kochịu thuế, chẳng hạn mặt hàng cà phê nhân của Việt Nam, xuất khẩu sang Mĩ thìmức thuế nhập khẩu mặt hàng này là 0% Ngoài ra khi tham gia WTO, Việt Nam sẽđược hưởng lợi do được miễn trừ khỏi quy định cấm trợ cấp xuất khẩu vì là nướcđang phát triển
Đối với mặt hàng cà phê, đây là mặt hàng có lợi thế của Việt Nam Nước ta sẽđược hưởng những thành quả nhờ những đàm phán đa phương tại các diễn đàn củaWTO về nông nghiệp Tuy nhiên do là nước đang phát triển, VN ko phải đưa ra cáccam kết về giảm trợ cấp xuất khẩu (cá nước công nghiệp phát triển phải cắt giảm36% nguồn ngân sách dành cho trợ cấp xuất khẩu nông phẩm trong vòng 6 năm, cácnước đang phát triển nói chung phải cắt giảm 24% trong vòng 10 năm) VN cũngkhông phải cắt giảm hỗ trợ trong nước đối với nông dân (các nước công nghiệp phát
Trang 9triển phải cắt giảm 20% mức hỗ trợ trong nước trong 6 năm, các nước đang pháttriển khác là 13,3% trong 10 năm) Do đó khi VN đã trở thành thành viên chínhthức của WTO thì các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê sẽ có khả năng mở rộng thịtrường không những trong khu vực mà còn cả trên thế giới.
1.2 Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài
Đến nay ngành nông nghiệp nói chung và ngành cà phê nói riêng đã thu hút đượcnhiều dự án đầu tư nước ngoài, các dự án này đã ghóp phần không nhỏ trong sựphát triển của ngành Các dự án khi đầu tư vào trong nước thì sẽ mang theo nhữngcông nghệ tiên tiến sẽ làm tăng cao năng suất cũng như chất lượng của của các sảnphẩm từ cà phê Đồng thời giúp nâng cao năng lực cho ngành cà phê cả về vốn đầu
tư, thiết bị công nghệ, thị trường tiêu thụ và cơ sở hạ tầng… Các dự án nâng caochất lượng cà phê thông qua ngăn ngừa sự hình thành nấm mốc được thực hiệncũng có một vị trí quan trọng trong việc cải tiến chất lượng cà phê Việt Nam
Việt Nam tiếp tục tranh thủ được nguồn tài chính tín dụng từ cộng đồng cácnhà tài trợ quốc tế, các định chế tài chính tín dụng quốc tế, các tổ chức và các chínhphủ nước ngoài kể cả nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA và các nguồnvay khác
1.3 Tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ năng quản lí và kinh doanh ghóp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lí và cán bộ kinh doanh năng động sáng tạo.
Khi mở cửa nền kinh tế các luồng vốn đầu tư KHCN, nguồn nhân lực trongnước có cơ hội giao lưu, tham gia vào sự phân công lao động toàn cầu Hầu hết cáccông ty, dự án nước ngoài đầu tư vào Việt Nam hầu như đều có các kỹ năng quản lý
tổ chức nhân sự, kinh doanh rất chuyên nghiệp và khoa học, các khâu trong quátrình tổ chức sản xuất thực hiện một các chính xác và nghiêm túc điều này làm chonăng suất lao động tăng lên dẫn đến một tất yếu là lợi nhuận sẽ tăng Các doanhnghiệp, tập đoàn ở Việt Nam chỉ tiếp thu khoa học công nghệ từ nước ngoài thôi thìchưa đủ chúng ta cần phải đầu tư hơn nữa về công tác đào tạo về các kỹ năng quản
lý cũng như kinh doanh thì mới có thể nghĩ đến chuyện cạnh tranh song phẳng vớicác sản phẩm từ các nước châu Âu cũng như các nước trên thế giới Ví dụ trong lĩnh
Trang 10vực Nông Nghiệp, thông qua các dự án với người nước ngoài hoặc do người nướcngoài đầu tư, các đối tác VN không chỉ tiếp nhận KHKT sản xuất mà còn tiếp nhậnnhững kinh nghiệm quản lí tiên tiến, hiện đại Đội ngũ quản lí, đội ngũ công nhân
kỹ thuật được rèn luyện nâng cao năng suất, chất lượng nông sản hàng hóa và khảnăng cạnh tranh của nông sản Việt Nam
1.4 Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp được nâng cao
Gia nhập WTO, Việt Nam phải áp dụng chính sách mở cửa thị trường chocác mặt hàng nông sản nhiều hơn, chính sách minh bạch và bình đẳng hơn, cácchính sách trợ cấp hoặc hỗ trợ cho nông nghiệp không phù hợp với WTO cũng dần
bị loại bỏ Dẫn đến một quy luật tất yếu các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là cácdoanh nghiệp nhà nước không thể ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước nữa Các doanhnghiệp muốn tồn tại và phát triển phải chấp nhận cạnh tranh Áp lực này buộc cácdoanh nghiệp VN phải tự vươn lên nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm vàcủa doanh nghiệp Các doanh nghiệp phải chú ý nhiều hơn đến mẫu mã , nhãn hiệu,đồng thời phải nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nếu không muốn bị các sảnphẩm từ nước ngoài chiếm lĩnh thị phần
2 Thách thức đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Hầu hết các tổ chức kinh tế khu vực, các liên kết khu vực đều hoạt động trên
nền tảng các nguyên tắc của WTO, tuân thủ các nguyên tắc của WTO Do đó có thểnói rằng thách thức đặt ra cho cá doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản làrất lớn, nhất là xuất phát điểm khi gia nhập WTO của Việt Nam nói chung và NôngNghiệp Việt Nam nói riêng rất thấp lại thêm những quy định của WTO ngày càngkhắt khe hơn
Theo các cam kết đã kí Trong hiệp định thương mại Việt – Mỹ đối với mặthàng cà phê thì Việt Nam phải loại bỏ việc hạn chế nhập khẩu chất chiết suất, tinhchất cà phê tan và phải cho phép thành lập các công ty 100% vốn của Mĩ để kinhdoanh nhập khẩu trực tiếp và phân phối tại Việt Nam chất chiết suất và tinh chất càphê tan…Trên thị trường Mĩ, thuế nhập khẩu cà phê nhân khi có hiệp định thươngmại Việt Mỹ là 0% nên tác động của hiệp định đến việc tăng trưởng xuất khẩu cà
Trang 11phê sang thị trường này là rất ít Hơn nữa, do nhu cầu về loại cà phê Robusta của thịtrường Mĩ là có giới hạn nên tăng trưởng xuất khẩu cà phê VN sang Mỹ có khókhăn Trên thị trường Việt Nam, theo như cam kết, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường
cà phê Việt Nam cho các thương gia Mỹ, trước hết là chất chiết suất, tinh chất càphê…Sau đó là cà phê nhân Đến thời điểm đó các công ty Việt Nam sẽ gặp không
ít khó khăn do phải chịu sức ép cạnh tranh lớn với các công ty của Mỹ
Khi gia nhập WTO, chúng ta phải cam kết cắt giảm các loại thuế, mở cửa thịtrường và xóa bỏ hỗ trợ cho xuất khẩu theo các hiệp định củ WTO, thông qua việclàm tăng mức độ cạnh tranh và mở cửa thị trường sẽ làm thay đổi điều kiện kinhdoanh ở tất cả các nước thành viên
Hiện nay, ngành cà phê Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường Giá
cà phê xuất khẩu của Việt Nam thấp là do năng suất lao động cao, do đất đai màu
mỡ và điều kiện khí hậu thuận lợi Giá cà phê của Việt Nam bị ảnh hưởng bởinhững biến động tại Sở giao dịch hàng hóa ở London (UFFE) Mức chênh lệch giữagiá cà phê Việt Nam và giá UFFE khoảng từ 150 USD đến 200USD chủ yếu do dưthừa tạm thời nguồn cung cà phê ở Việt Nam và do chênh lệch giữa giá FOB ViệtNam và giá CIF London Hơn 90% sản lượng cà phê được xuất khẩu chủ yếu làdưới dạng cà phê nhân, cà phê rang và cà phê rang xay chủ yếu tiêu thụ trong nước.Theo biểu cam kết thuế suất hàng nông sản cà phê thì :
+ Cà phê nhân, thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập là 20% và thuế suấtcam kết cắt giảm xuống còn 15%, thời hạn thực hiện là đến năm 2010 Như vậy đốivới mặt hàng cà phê nhân thì thực sự ko hề có biến động lớn vì nước ta là nước xuấtkhẩu chủ lực mặt hàng này Việc gia tăng nhập khẩu cà phê các loại cào Việt Nam
là rất ít, trừ một số loại cà phê có chất lượng cao, phục vụ cho khách sạn nhà hàng.+ Cà phê thành phẩm bao gồm: cà phê rang chưa xay, cà phê rang đã xay chưakhử và đã khử chất cafein Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập là 40% và thuếsuất cắt giảm xuống còn 30% thời hạn thực hiện năm 2011 Như vậy đối với mặthàng cà phê đã qua chế biến thì việc cạnh tranh trên thị trường là hết sức gay gắt.Hiện nay, các doanh nghiệp cà phê trong nước cũng đã và đang phải cạnh tranh với
Trang 12nhiều doanh nghiệp từ các quốc gia khác nhau trong lĩnh vực chế biến và kinhdoanh xuất khâu cà phê Ước tính sơ bộ có khoảng gần 100 doanh nghiệp tham giaxuất khẩu cà phê thuộc mọi thành phần kinh tế Hầu hết các tập đoàn công ty kinhdoanh cà phê lớn trên thế giới đều đã có mặt tại Việt Nam và thực hiện kinh doanhqua văn phòng đại diện hoặc công ty con với 100% vốn nước ngoài Các doanhnghiệp nước ngoài với ưu thế lớn về vốn và công nghệ nên đầu tư xây dựng nhữngkhi chế biến cà phê nhân xuất khẩu chất lượng cao hoàn chỉnh và đồng bộ Chính vìvậy, các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài đang tăng tỉ trọng trongtổng số xuất khẩu và phê của Việt Nam, ước tính hiện nay vào khoảng 15-20% phầnlớn là cà phê nhân chất lượng cao có giá trị gia tăng lớn Trong thời gian tới, tỉ trọngnày sẽ tăng lên nhanh do họ có ưu thế vượt trội về vốn trình đọ năng lực quản lí,kinh nghiệm, thị trường và mạng lưới khách hàng lớn Lúc đó các doanh nghiệp làm
ăn ko hiệu quả, không cạnh tranh được sẽ bị giải thể, phá sản hay trở thành đại lí thumua cho các doanh nghiệp nước ngoài
Hiện nay, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh cà phê trongnước còn yếu, nhất là trong lĩnh vực chế biến và kinh doanh xuất khẩu cà phê Đa
số các nhà máy chế biến có quy mô nhỏ, công nghệ, thiết bị lạc hậu hơn nhiều sovới trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và thế giới Phần lớn các doanhnghiệp thương mại có quy mô nhỏ, gần 70% doanh nghiệp thuộc bộ NN và PTNT
có vốn dưới 10 tỉ đồng Khả năng nắm bắt và mở rộng thị trường còn yếu Mở cửathị trường sẽ là thách thức to lớn đối với các doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh mặt hàng cà phê chế biến của Việt Nam còn thấp do năngsuất, chất lượng thấp, thiết bị cà công nghệ chế biến lạc hậu nên giá thành sản phẩmcao… Khi giảm thuế nhập khẩu và bỏ các rào cản phi thuế quan sẽ phải cạnh tranhvới các sản phẩm nhập khẩu Chắc chắn sẽ có những doanh nghiệp bị thu hẹp quy
mô thậm chí không còn tồn tại nếu như ngay bây giờ không nâng cao năng lực cạnhtranh của mình Điều này sẽ làm giảm việc làm và thu nhập của một bộ phận laođộng trong các doanh nghiệp
Mở cửa thị trường đồng nghĩa với việc nhiều công ty nước ngoài có ưu thế lớn
Trang 13về vốn và công nghệ nên họ đầu tư xây dựng những khu chế biến cà phê nhân xuấtkhẩu chất lượng cao hoàn chỉnh và đồng bộ như Nestle, Kraft Food , P&G,Tehibo… Hơn nữa họ có ưu thế vượt trội về vốn, trình độ năng lực quản lí, kinhdoanh rất tốt, kinh nghiệm thương trường với mạng lưới phân phối rộng khắp Lúc
đó các doanh nghiệp làm ăn ko hiệu quả, không cạnh tranh được sẽ bị phá sản, giảithể hay trở thành đại lí thu mua cho các doanh nghiệp nước ngoài
III Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
1 Các nhân tố thuộc về nguồn cung cà phê xuất khẩu
1.1 Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Xuất khẩu nông sản Việt Nam nói chung và xuất khẩu cà phê nói riêng chịunhiều tác động từ điều kiện tự nhiên Với đặc tính của sản xuất nông nghiệp chịunhiều tác động từ điều kiện tự nhiên thời tiết đất đai, dịch bệnh, hạn hán…thì cây càphê không nằm ngoài tác động trên Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nêncác loại sâu bệnh phát triển rất nhanh đặc biệt là vào mùa mưa, đặc biệt lượng càphê của nước ta chủ yếu sản xuất ở Tây Nguyên – lượng mưa hàng năm là rất lớn.Bên cạnh đó hạn hán cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng cà phê từng năm Sựtác động này ảnh hưởng tới sản lượng và chất lượng cà phê xuất khẩu của nước tangay từ khâu sản xuất đến khâu thu gom chế biến, thực hiện quá trình xuất khẩu.Một ví dụ điển hình là mùa khô năm 2006, hàng ngàn ha cà phê trồng ở vùng Tâynguyên đã bị thiếu nước tưới, thậm chí còn bị cháy cho nhiệt độ quá cao và thời tiếthanh khô
1.2 Các yếu tố thuộc về chủ trương chính sách của nhà nước:
Các chính sách của nhà nước có tác động lớn tới hoạt động sản xuất cũng nhưtrong quá trình xuất khẩu cà phê
Trước khi gia nhập WTO, trong giai đoạn 1999-2001, VN trợ cấp dưới hìnhthức thưởng xuất khẩu đối với 7 mặt hàng nông sản trong đó có cà phê Hỗ trợ lãisuất mua tạm trữ xuất khẩu đối với cà phê.Nhưng đến giai đoạn 2003-2005, những
hỗ trợ đó đã bị loại bỏ dần Ngoài ra qua khảo sát của dự án hỗ trợ kĩ thuật nâng caonăng lực thể chế giúp Việt Nam gia nhập WTO cho thấy, giá trị trợ cấp cao nhất
Trang 14dành cho hai nhóm hàng là cà phê và gạo Tuy nhiên, có thể thấy trợ cấp của nhànước còn ít và còn có khả năng để điều chỉnh một cách hợp lí có lợi cho sản xuất.Sau khi gia nhập WTO, tổ chức này yêu cầu việc trợ cấp phải có chương trình
cụ thể, tiêu chí rõ ràng.WTO cũng quy định hỗ trợ trực tiếp cho nông dân nhưngnhà nước thương hỗ trợ thông qua doanh nghiệp nên nông dân chỉ là người đượchưởng lợi gián tiếp Vì vậy, nhà nước chuyển số tiền trợ cấp xuát khẩu và trợ cấpnội địa hóa trước đây sang phát triển thủy lợi, kiện toàn giao thông, nâng cao chấtlượng giống cây trồng, phát triển công nghệ sau thu hoạch, xây dựng các kho đệm
để dự trữ cà phê cho bà con nông dân, tránh để họ phải bán ồ ạt khi vào vụ…
Ngoài ra nhà nước còn áp dụng chính sách hỗ trợ tín dụng (mà ưu điểm của
nó là lãi suất thấp) đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó có hình thứccho vay ngắn hạn và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu Chính sách tín dụngnày là sự ưu đãi của nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế vàcác nhân phát triển sản xuất khinh doanh hàng xuất khẩu theo chính sách xuấtkhẩu của nhà nước
Bên cạnh đó nhà nước còn có các chính sách hỗ trợ về thuế, ưu đãi về thuếxuất khẩu GTGT, có các chính sách để bình ổn giá mua nguyên liệu phục vụ chosản xuất, bình ổn giá thu mua cà phê cho nông dân, tạm trữ, đầu tư phát triển hệthống tiêu thụ trên toàn quốc, phát triển trao đổi buôn bán thông suốt trên thịtrường trong nước tạo điều kiện mở rộng thị trường thế giới
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, nước ta cũng từng bước tiến vàosân chơi chung của cả thế giới Năm 2006 VN trở thành thành viên chính thức của
tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra những cơ hội mới cho cả nền kinh tế nước
ta khi bước vào luồng quay của nền kinh tế toàn cầu Các mối quan hệ song phương
đa phương được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi nhất định cho xuất khẩu cà phê nóiriêng và quan hệ thương mại quốc tế nói chung Có được bước tiến quan trọng nhưvậy là do những chủ trương định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong quátrình xây dựng nền kinh tế định hướng XHCN
Trang 151.3 Các yếu tố về khoa học công nghệ.
Đối với bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh ở lĩnh vực Công Nghiệp hayNông Nghiệp hay Dịch Vụ thì khoa học công nghệ đóng có tác đông rất lớn đến lợinhuận của của doanh nghiệp, nó tham gia vào hầu hết các công đoạn trong quá trìnhsản xuất
Để tăng năng suất cà phê thì 1 yếu tố cực kì quan trọng là khoa học công nghệ.Khoa học công nghệ thúc đẩy tăng sản xuất cả về quy mô và chất lượng Khoa họccông nghệ tạo ra những cây giống cà phê tốt nhất có khả năng chống chịu sâu bệnhđiều này cũng có tầm quan trọng rất lớn đối với ngành sản xuất cà phê nước taCông nghệ tạo khả năng tiết kiệm thời gian, tăng năng suất lao động, giảm giáthành sản xuất, cơ khí hóa các quá trình tưới tiêu, thu hoạch, chế biến đảm bảo mộtcách tốt nhất chất lượng cà phê xuất khẩu tránh thất thoát không đang có trong quatrình chế biến đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về mặt chất lượng của các thịtrường khó tính trên thế giới góp phần làm tăng giá trị của việc xuất khẩu cà phê
2 Các nhân tố thuộc về cầu của thị trường cà phê thế giới
Trước năm 1986, nước ta thực hiện chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung,quan hệ ngoại giao và thương mại chủ yếu với các nước XHCN nên thị trường xuấtkhẩu bị hạn chế Sau khi chuyển sang thời kì đổi mới, xây dựng nền kinh tế nhiềuthành phần, mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở hai bêncùng có lợi thì thị trường nhập khẩu của VN ngày càng tăng Năm 1995, nước ta làthành viên chính thức của ASEAN; năm 1998, tham gia APEC; năm 2001, đạt đượchiệp định thương mại song phương với Hoa Kì và đặc biệt năm 2006, VN trở thànhthành viên chính thức thứ 150 của WTO, chính sự hợp tác song phương đa phươngtốt đẹp đó đã mở rộng thị trường xuất khẩu cho VN
Thị trường nhập khẩu cà phê của nước ta đã mở rộng ngoài những thị trườngchủ yếu như EU trong đó đặc biệt là Anh, Đức, Pháp…thị trường Hoa Kì…sang thịtrường đầy tiềm năng là Maroc Ngày nay ngay cả những nước xuất khẩu cà phê lớntrên Thế Giới cũng đã xem xét đén việc nhập khẩu cà phê của Việt Nam như Braxinhay Comlombia…(do giá thành cà phê của VN rẻ hơn nhiều so với các nước xuát
Trang 16khẩu cà phê khác) Tuy nhiên các nước này cũng là những đối thủ cạnh tranh lớn củaxuất khẩu cà phê VN, và VN vẫn phải chia sẻ thị trường cà phê với các đối thủ đó.
Bảng 1: Một số thị trường nhập khẩu cà phê chính của nước ta từ giai đoạn
Khối lượng (nghì
n tấn)
Giá trị (nghin USD)
Khối lượng (nghìntấn )
Giá trị (nghin USD)
Khối lượng (nghì
n tấn)
Giá trị (nghin USD)
Khối lượng (nghì n tấn)
Giá trị (nghin USD)
116.008
116.455
3 Tây BanNha 100 159.715 100 221.092 88 154.426 34 46.077
Nguồn: Global Trade Atlas; Vicofa và Tổng cục Thống kê Việt Nam
Trang 17Bảng 2: Thị trường chủ chốt xuất khẩu cà phê thô của Việt Nam, nửa đầu niên
vụ 2009/2010 và niên vụ 2010/2011
STT Thị trường
XK
Niên vụ 2009/2010 (T10/2009–
T3/2010)
Niên vụ 2010/2011 (T10/2010–
T3/2011)
% thay đổi của niên vụ 2010/11
so với niên vụ 2009/10
Khối lượng (nghìn tấn)
Giá trị (nghìn USD)
Khối lượng (nghìn tấn)
Giá trị (nghìn USD)
Khối lượng Giá trị
Nguồn: Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam, Tổng cục Hải quan Việt Nam
3 Giá cả cà phê trên thị trường thế giới
Tình hình kinh tế thế giới, những biến động về giá cả thị trường có ảnh
hưởng lớn tới giá cả cà phê trên thị trường thế giới Nền kinh tế thế giới sẽ có tácđộng làm tăng giá cả cà phê, làm tăng giá trị cũng như khả năng thanh toán.Tỉ giáhối đoái cũng là một rào cản, hay cơ hội, thách thức của xuất khẩu cà phê Nếu tỉ
Trang 18giá hối đoái tăng thì với mức giá cũ ta sẽ thu được nhiều tiền VND, thúc đẩy xuấtkhẩu Ngược lại, nếu tỷ giá giảm sẽ gây giảm lượng xuất khẩu, các doanh nghiệpxuất khẩu làm ăn ít có lãi, thậm chí ko có lãi.
Đức, Hoa Kỳ, Nga, Hàn Quốc, Italia … là những thị trường chính xuất khẩu
cà phê của Việt Nam
Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường chính xuất khẩu cà phê của Việt Nam với kimngạch trong tháng là 27,8 triệu USD, với 11,3 nghìn tấn, tăng 294,62% về lượng vàtăng 156,94% về trị giá so với tháng liền kề trước đó Tính chung 11 tháng năm
2011 Việt Nam đã xuất khẩu 115,4 nghìn tấn, trị giá 284,8 triệu USD
Đứng thứ hai là thị trường Đức, chiếm 10% lượng xuất cà phê của cả nước,tương đương với 111 nghìn tấn, trị giá 244,7 triệu USD Tính riêng tháng 11 đã xuấtkhẩu 11,7 nghìn tấn cà phê sang Đức, trị giá 23,7 triệu USD, tăng 579,16% vềlượng và tăng 584,94% về trị giá so với tháng 10 Chủng loại cà phê xuất khẩu sangĐức trong tháng 11 là cà phê Arabica, Robusta… với phương thức thanh toán theogiá FOB
Trong năm 2011, giá cà phê trên thị trường thế giới biến động tăng liên tụctrong giai đoạn 4 tháng đầu năm và đạt đỉnh ở mức 247,63 US cents/lb vào ngày3/5, tăng 25,1% so với mức giá đạt được hồi đầu năm
Tuy nhiên, kể từ sau mức đỉnh cao này, giá cà phê thế giới đã liên tục điềuchỉnh giảm do tác động của các thông tin tích cực về sản lượng của các quốc gia sảnxuất cà phê lớn nhất thế giới là Braxin, Việt Nam…
Bên cạnh đó, những lo ngại về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thếgiới vẫn còn tiếp diễn và việc đồng USD tăng giá so với đồng Euro làm cho giá càphê tính theo đồng USD trở nên đắt đỏ hơn
Chỉ số giá cà phê tổng hợp theo ngày của ICO xuống mức thấp nhất là 183,28
US cents/lb trong ngày 16/12, giảm tới 26% so với mức giá cao nhất mà thị trường
đã đạt được trong ngày 3/5 Ngày 22/12, chỉ số giá tổng hợp của ICO đang đứng ởmức 185,55 US cents/lb, giảm 6,3% so với mức giá đạt được hồi đầu năm 2011
Trang 19Về sản xuất, theo dự báo của Tổ chức Cà phê quốc tế ICO, sản lượng cà phêViệt Nam trong niên vụ 2011/12 sẽ chỉ đạt 18,5 triệu bao (tương đương 1,11 triệutấn), giảm 5% so với sản lượng của niên vụ trước.
Trong khi đó, Bộ Nông nghiệp Mỹ đưa ra dự báo lạc quan hơn về mức sảnlượng cà phê của nước ta trong niên vụ 2011/12 với mức 20,6 triệu bao (tươngđương 1,24 triệu tấn)
Việc giảm sản lượng cà phê cũng được dự báo cho thị trường toàn cầu trongnăm nay ICO cho rằng, sản lượng cà phê phân theo hai chủng loại Arabica vàRobusta trong niên vụ 2011/12 sẽ đạt lần lượt 79,6 và 48,9 triệu bao, giảm tươngứng 4,3% và 2,1% so với niên vụ trước
Tuy nhiên, Morgan Stanley có dự báo tích cực hơn cho xu hướng giá cà phênăm nay Theo tổ chức này, giá cà phê trên thị trường thế giới có thể tăng trong năm
2012 do nguồn cung tại Braxin, Việt Nam và Colombia sụt giảm, trong khi nhu cầutiếp tục gia tăng
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM
I.Thực trạng sản xuất cà phê của Việt Nam
1 Thực trạng phát triển diện tích, năng suất, sản lượng cà phê ở Việt Nam
Trang 201.1 Về diện tích trồng cà phê
Trong thời kì những năm 1960-1970, cây cà phê được phát triển ở một sốnông trường quốc doanh của các tỉnh miền Bắc, khi cao nhất (1964-1966) đã đạt tới13.000 ha song không bền vững do sâu bệnh ở cà phê Arabica và do các yếu tố tựnhiên không phù hợp với cà phê Robusta nên một số lớn diện tích cà phê đã phảithanh lí
Cho đến năm 1975, đất nước thống nhất, diện tích cà phê của cả nước cókhoảng trên 13.000 ha, cho sản lượng 6.000 tấn
Sau năm 1975, cà phê ở Việt Nam được phát triển mạnh tại các tỉnh TâyNguyên nhờ có vốn từ các hiệp định hợp tác liên chính phủ với các nước Liên Xô
cũ, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Ba Lan.Đến năm 1990 đã có 119.300 ha Trên cơ sởnày, từ năm 1986 phong trào trồng cà phê phát triển mạnh trong nhân dân Đếnnăm, sau gần 20 năm đổi mới, cả nước đã có khoảng 390.000 ha
Tính đến thời điểm năm 2007 thì diện tích trồng cà phê đã lên đến 506.000 ha,tăng 10.000 ha so với năm 2006 Trong đó các tỉnh Tây nguyên chiếm đến 90%diện tích đất trồng với khoảng 450.000 ha
Dự thảo "Quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến năm 2020, tầmnhìn 2030” đang được hoàn thiện, trong đó có các mục tiêu giữ ổn định diện tíchtrồng 500.000 héc ta như hiện nay nhưng nâng dần kim ngạch xuất khẩu lên 2,4 tỉ
đô la Mỹ hàng năm
Hiện nay, do giá cà phê, hồ tiêu tăng cao nên nhiều hộ dân ở các tỉnh TâyNguyên đã ồ ạt mở rộng diện tích trồng cà phê, hồ tiêu không theo quy hoạch, kếhoạch Chỉ riêng mùa mưa năm 2011, người dân ở các tỉnh Tây Nguyên đã trồngmới thêm hàng chục ngàn hécta cà phê, đưa tổng diện tích cà phê toàn vùng tăng lêntrên 498.365ha, tăng trên 16.000ha; và diện tích tiêu tăng lên gần 20.000ha, tăng4.000ha so với năm 2010 Các tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng tăng nhanh diện tích cà phênhất Trong khi đó, theo quy hoạch của ngành cà phê Việt Nam, để phát triển cà phêbền vững, đến năm 2015, các tỉnh Tây Nguyên, diện tích cà phê giảm xuống còn470.000ha và đến năm 2020 tiếp tục giảm chỉ còn 459.500ha
1.2 Về năng suất và sản lượng cà phê
Cách đây 25 năm, một phần tư thế kỉ, vấn đề phát triển cây cà phê được đặt ra
Trang 21với những bước khởi đầu rầm rộ, chủ yếu là tại địa bàn hai tỉnh Đăklăk và Gia laiKontum ở Tây Nguyên Vào thời gian này cả nước mới có không đầy 20 ngàn haphát triển kém, năng suất thấp, với sản lượng chỉ khoảng 4.000-5.000 tấn Đến naynăm 2000 cả nước đã có 500.000ha cà phê hầu hết sinh trưởng khỏe, năng suất cao,tổng sản lượng đạt 80 vạn tấn.
Ta có thể thấy sự phát triển rất nhanh của cà phê Việt Nam trong các niên vụgần đây qua diễn biến
Bảng 3: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2011
(ha)
Năng suất (tạ/ ha)
Tổng sản lượng (tấn)
Nguồn tổng cục thống kê Việt Nam
Biểu đồ sau cho thấy sự biến dộng về diện tích và sản lượng cà phê của Việt
Nam qua các thời kì từ năm 1995 cho đến năm 2011: ( đơn vị nghìn tấn)
Trang 22Biểu đồ 1: Diện tích, sản lượng cà phê Việt Nam qua thời kỳ 1995-2011 Nguồn: Báo cáo tình hình ngành hàng cà phê Việt Nam của USDA
1.3 Về giống cà phê
Đối với cà phê, điều kiện tự nhiên, địa lí khí hậu của nước ta cho phép trồngđược hai loại cà phê là cà phê chè(Arabica) và cà phê vối (Robusta) trên các vùngriêng biệt Việc thực hiện cung cấp những giống cây cà phê có chất lượng tốt nhấtđược giao cho các viện nghiên cứu,trong đó nổi bật là viện Khoa học Kỹ thuật NôngLâm nghiệp Tây Nguyên
Viện là nơi thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và ứng dụng thựcnghiệm, chọn lọc những giống cà phê có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnhtốt phục vụ cho phát triển sản xuất bền vững Từ công tác nghiên cứu và thựcnghiệm, một số giống cà phê có những đặc điểm ưu tú đã được trồng, các giốngkém hiệu quả đang được loại bỏ và cải tạo bằng dòng vô tính, nâng cao hiệu quảkinh tế Nhờ vậy, trong những năm gần đây, sản lượng cà phê của Việt Nam đã tăngnhanh, chất lượng được nâng cao và tăng sức cạnh tranh trên trường quốc tế Trongchương trình thu thập loại cây theo hướng cải thiện kích cỡ hạt cà phê thươngphẩm, nâng cao chất lượng, Viện đã khảo sát các tập đoàn giống, thí nghiệm sosánh dòng vô tính, thí nghiệm khu vực hoá để đánh giá tính thích ứng Đến nay,Viện đã chọn được 5 dòng vô tính thích ứng đáp ứng về yêu cầu chất lượng sản
Trang 23phẩm phục vụ xuất khẩu
Ngoài việc chọn giống cà phê vối, trong thời gian qua, Viện đã lai tạo, chọnlọc giống cà phê chè Catymor Trong đó có việc lai tạo giữa giống cà phê Catymorvới các loại cà phê chè có nguồn gốc hoang dại từ Êtyôpia (Bắc Phi) với mục đíchkết hợp được các đặc điểm thấp cây, tán nhỏ, cho năng suất cao, khả năng thích ứngtốt, kháng được bệnh rỉ sắt, cho hạt to và phẩm chất cao hơn hẳn giống Catymor.Các loại cây giống lai đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho khuvực hoá từ năm 2000
2 Thực trạng thu mua và chế biến cà phê xuất khẩu của Việt Nam
Cả nước hiện có các đơn vị trực tiếp xuất khẩu cà phê bao gồm các đơn vịthành viên của các Tổng công ty có thu gom xuất khẩu, trong đó nhóm 10 doanhnghiệp xuất khẩu hàng đầu như : Vinacafe, 2/9Đaklăk, Intymex, Atlantyc, Xínghiệp tổng hợp Hà Nội tại thành phố HCM, Thái Hòa, Tín Nghĩa Đồng Nai…Mặc dù cà phê Việt Nam có khối lượg xuất khẩu lớn, trong đó chủ yếu là càphê Robusta nhưng chất lượng cà phê xuất khẩu còn chưa đồng đều, đặc biệt là sốlượng cà phê xuất khẩu bị thải loại còn chiếm tỉ lện cao (80%) trong tổng số cà phêxuất khẩu bị thải loại của thế giới Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đếnchất lượng cà phê nhân xuất khẩu như kĩ thuật trồng trọt và thu hái chưa tốt, tìnhtrạng thu hái đồng loạt quả xanh, quả non còn khá phổ biến, cơ sở vật chất phục vụ
sơ chế bảo quản cà phê còn thiếu thốn, cơ chế giá thu mua cà phê tươi chưa khuyếnkhích người sản xuất quan tâm đến chất lượng, nhất là khâu thu hoạch, phơi sấy,phân loại Cụ thể, theo thống kê qua sàn giao dịch LIFFE ở London của Anh thìtrong niên vụ 2006-2007, trong tổng số 708.300 bao cà phê (mỗi bao nặng 60kg) bịloại ra thì Việt Nam chiếm tới 88%, tức tương đương hơn 37.000 tấn, tăng 19% sovới lượng cà phê Việt Nam bị loại ra trong niên vụ trước
Hiện nay, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 1000.000-1100.000 tấn cà phê nhân,với 1% tạp chất, lượng cà phê bị thải ra vào khoảng 10.000-11.000 tấn Phần lớn
Trang 24các tạp chất trong cà phê là bụi bám, vỏ cà phê, cùi cà phê do chưa được sang quạtsạch ở nhà máy chế biến.
Tuy nhiên, trong niên vụ 2010 - 2011, nhiều nhà máy không hoạt động dothiếu nguyên liệu, lãi suất cao, lợi nhuận thấp Riêng càphê arabica, những nămtrước hầu hết được chế biến ướt thì 2 niên vụ gần đây có đến 40% chế biến khô, làmgiảm chất lượng sản phẩm Tại Lâm Đồng - “thủ phủ” càphê arabica, các nhà máychế biến ướt chủ lực như Công Chính, Dalatcafe đã ngừng hoạt động do thua lỗ,trong khi Hồ Phượng, Thùy Dung, Mercon thì quy mô nhỏ lẻ Không chỉ thừacông suất, thiếu nguyên liệu, Vicofa tiếp tục cảnh báo tình trạng thu hái xanh cónguy cơ không kiểm soát được.
Mặt khác, hầu hết cà phê của Việt Nam hiện nay dựa trên thỏa thuận giữa bênmua và bên bán, việc phân loại chất lượng theo tỉ lệ hạt đen, hạt vỡ là các phân loạiđơn giản và lạc hậu mà hầu hết các nước xuất khẩu đánh tụt cấp chất lượng của các
lô hàng và làm giảm uy tín chất lượng chung của cà phê Việt Nam
Cục trồng trọt Bộ NN&PTNT cho biết,một trong những giải pháp chính đểnâng cao chất lượng cà phê Việt Nam là áp dụng tiêu chuẩn TCVN 4193:2005 đểtạo điều kiện cải thiện chất lượng,nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của cà phê ViệtNam trên thị trường thế giới
II Thực trạng xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
1 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Theo số liệu TCHQ, 11 tháng năm 2011, cả nước đã xuất khẩu 1,1 triệu tấn càphê, thu về 2,4 tỷ USD, tăng 4,4% về lượng và tăng 55,6% về trị giá so với cùng kỳnăm trước, đạt 91,7% kế hoạch năm Tính riêng tháng 11, Việt Nam đã xuất khẩu71,5 nghìn tấn, trị giá 152,5 triệu USD, tăng 123,06% về lượng và tăng 110,47% vềtrị giá so với tháng trước đó
Trang 25Biểu đồ 2: Tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta từ năm 1991 đến năm 2009
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Mặc dù hàng năm kim ngạch xuất khẩu cà phê chiếm không lớn trong tổngkim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (năm 2001 là 2,6%, năm 2002 là 2,0%, năm
2003 là 2,54%, năm 2007 là 10%), nhưng việc xuất khẩu cà phê vẫn có vai trò rấtquan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, nó vừa cho phép tận dụng lợi thế của nềnkinh tế vừa tạo ra lực lượng ngoại tệ phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá hiệnđại hoá ở Việt Nam Tỷ lệ cà phê xuất khẩu chiếm 90% sản lượng cà phê gieo trồngcủa cả nước Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu còn chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn trongtổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (hàng năm chỉ chiếm dưới 10%) Mặtkhác, cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là cà phê Rubusta (cà phê vối), sảnlượng xuất khẩu tăng với tốc độ cao So với lượng cà phê vối trên thị trường thếgiới, Việt Nam chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, trở thành nước đứng đầu về sản xuất
và xuất khẩu loại cà phê này Nếu như trước năm 2005 cà phê là mặt hàng có kimngạch xuất khẩu lớn thứ 9, chiếm 2,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước vàlớn thứ 3 thế giới với thị phần trên 4% sau Braxin