Nội dung nghiên cứu - Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình tổng quan của các trang trại trên địa bàn huyện Nho Quan; - Đánh giá thực trạng của các trang trại trên địa bàn huyện Nho Qua
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ MINH
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ MINH
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Người Hướng dẫn khoa học: T.S Dương Hoài An
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Thực trạng và một số giải pháp phát
triển kinh tế trang trại ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình” là công trình
nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong luận văn
có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây
Ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Thị Minh
Trang 4Trong quá trình thực hiện đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp phát triển
kinh tế trang trại ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ
sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, các quý thầy cô giáo của Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
TS Dương Hoài An
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy, cô giáo trong Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn được sự giúp đỡ và cộng tác của các đồng chí tại địa điểm nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Thường vụ Huyện ủy, Lãnh đạo UBND huyện và các phòng, ban, ngành huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện mọi mặt để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã giúp tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Thị Minh
Trang 52 Nội dung nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình tổng quan của các trang trại trên
địa bàn huyện Nho Quan;
- Đánh giá thực trạng của các trang trại trên địa bàn huyện Nho Quan
(loại hình trang trại, quy mô sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và thu nhập);
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong quá trình sản xuất và phát triển kinh tế trang trại (cơ chế chính sách, điều kiện nội tại của các trang trại và các điều kiện khách quan tác động hạn chế tới sự phát triển Những lợi thế chưa được khai thác cần được đưa vào phục vụ cho sự phát triển
của các trang trại ở huyện);
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy và phát triển kinh tế trang trại tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng nhằm thực hiện nghiên cứu, tham khảo
ý kiến của các chuyên gia nông nghiệp, cán bộ Chăn nuôi - Thú y của tỉnh, huyện, xã Tiến hành chuyên khảo kinh nghiệm của các trang trại đạt HQKT cao để đề xuất xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao HQKT của các mô hình kinh tế trang trại ở địa bàn nghiên cứu Mặt khác thực hiện tra cứu các công trình đã công bố, từ đó lựa chọn, kế thừa và vận dụng chọn lọc phù hợp
Trang 6 Phương pháp phân tích thống kê
Sử dụng các chỉ tiêu phân tích trong dãy số biến động theo thời gian như tốc độ tăng trưởng, bình quân, lượng tăng giảm để phân tích đặc điểm của địa bàn nghiên cứu và thực trạng tình hình phát triển mô hình kinh tế trang trại của cả nước và Nho Quan trong thời gian qua
Bằng việc sử dụng các chỉ tiêu thống kê mô tả như số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, chúng tôi xác định các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của các loại hình trang trại; xác định chi phí, kết quả và HQKT CNGT của các loại hình trang trại nghiên cứu
Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí (BCA)
Phương pháp này dùng để tính toán các chỉ tiêu như chi phí trung gian, tổng chi phí, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập hỗn hợp tại các trang trại điều tra Sau đó, hiệu quả vốn, hiệu quả sử dụng lao động và đất đai cho mỗi loại hình trang trại sẽ được tính toán và so sánh
3.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng nhằm thực hiện nghiên cứu, tham khảo
ý kiến của các chủ trang trại, người lao động trong các trang trại, chuyên gia
về trang trại và nông nghiệp, cán bộ Chăn nuôi - Thú y của tỉnh, huyện, xã Mặt khác đề tài thực hiện tra cứu các công trình đã công bố, từ đó lựa chọn,
kế thừa và vận dụng chọn lọc phù hợp để hệ thống hoá cơ sơ khoa học nghiên cứu của đề tài
Phương pháp phân tích SWOT
Những điểm yếu, mạnh, cơ hội và thách thức đối với mô hình kinh tế trang trại sẽ được thu thập từ các bên liên quan Từ đó, các giải pháp nhằm phát triển tốt hơn mô hình kinh tế này trên địa bàn nghiên cứu sẽ được đề xuất
4 Kết quả nghiên cứu
Sản xuất trang trại của huyện Nho Quan phát triển khá mạnh, mặc dù
Trang 7sản xuất hàng hoá ngày càng lớn Các trang trại của Nho Quan đã khai thác hiệu quả, hợp lý tiềm năng đất đai, vốn, lao động của địa phương tạo ra khối lượng nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá lớn phục vụ cho xã hội, phát triển KTTT
đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đưa KHKT mới vào sản xuất Cụ thể, giá trị sản xuất của các trang trại chăn nuôi nhìn chung cao hơn các trang trại khác (giá trị sản xuất của các trang trại chăn nuôi khoảng 1,9 tỷ đồng, còn giá trị sản xuất của các trang trại tổng hợp khoảng 1,1 tỷ đồng) Giá trị gia tăng của 2 loại hình trang trại ở Nho Quan nhìn chung không có sự khác biệt nhau nhiều lắm Nếu tính trung bình giá trị sản xuất 1
ha của các trang trại chăn nuôi là rất cao (khoảng gần 2,2 tỷ đồng/ha); còn đối với các trang trại tổng hợp chỉ đạt khoảng gần 600 triệu đồng/ha Do vậy nên thu nhập hỗn hợp của các trang trại chăn nuôi cũng khá cao (khoảng 402 triệu đồng/ha) cao hơn gấp 2,4 lần thu nhập hỗn hợp của các trang trại tổng hợp (khoảng 165 triệu đồng/ha)
Qua nghiên cứu dễ thấy rằng cả 3 chỉ số GO/IC; VA/IC; MI/IC của các trang trại tổng hợp đều cao hơn các trang trại chăn nuôi, hiệu quả sử dụng vốn của các trang trại tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp (trung bình mỗi một đồng chi phí bỏ ra thì các trang trại tạo ra được 1,142 đồng giá trị sản xuất và cho thu nhập hỗn hợp được khoảng 0,142 đồng) Cụ thể, 100% các chủ trang trại đều đánh giá rằng thị trường nông sản hiện nay biến động rất mạnh, giá cả lên xuống thất thường làm cho các trang trại gặp không ít khó khăn trong quá trình tiêu thụ sản phẩm và ảnh hưởng đến kết quả SXKD của trang trại Thực tế cho thấy các trang trại còn thiếu thông tin về thị trường Bên cạnh đó tình hình dịch bệnh xảy ra liên tục và diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả SXKD của các trang trại Theo kết quả nghiên cứu đại đa số các trang trại chăn nuôi cho rằng diện tích đất hiện có của trang trại
là quá nhỏ, không đủ để tiến hành SXKD với quy mô lớn, đặc biệt là các trang trại chăn nuôi trong khu dân cư Theo đánh giá của các chủ trang trại thì
Trang 8sự phát triển kinh tế của địa phương như: giao thông đi lại một số nơi còn khó khăn, hệ thống thông tin liên lạc đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều bất cập Hầu như các trang trại tổng hợp, các trang trại xây dựng xa khu dân cư đều có giao thông đi lại khó khăn, nằm xa đường ô tô và đường trục chính của huyện, xã Hệ thống đường dẫn ra các trang trại chủ yếu là đường cấp phối, đường đất, đi lại khó khăn đặc biệt là về mùa mưa Ngoài ra, tác động từ thời tiết, khí hậu, bệnh dịch đối với các trang trại điều tra là không nhỏ Các điều kiện bên trong và bên ngoài của các trang trại đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
Những thuận lợi đối với mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn nghiên cứu gồm, chủ trang trại có nhiều kinh nghiệm, KTTT bước đầu có hiệu quả, nguồn lực sản xuất được nâng cao, thị trường đầu vào đa dạng, cơ hội tiếp thu với tiến bộ KHKT mới, nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất, tiềm năng đất đai lớn Những khó khăn gồm, quy mô đất đai hạn chế, thiếu vốn sản xuất, trình độ chuyên môn chủ trang trại yếu, sản phẩm của trang trại chưa đảm bảo
an toàn thực phẩm, chưa có hệ thống xử lý chất thải, giá nguyên vật liệu tăng mạnh, yêu cầu chất lượng sản phẩm cạnh tranh cao, nguy cơ về dịch bệnh,
biến đổi khí hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém
Trang 9MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Phạm vi về không gian 3
4.2 Phạm vi về thời gian 3
4.3 Phạm vi về nội dung 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan lý luận về trang trại và phát triển kinh tế trang trại 5
1.2 Tổng quan thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại của Việt Nam và các nước trên thế giới 23
1.3 Tổng quan các công trình khoa học đã công bố có liên quan 41
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 46
2.2 Phương pháp nghiên cứu 56
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 58
3.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại huyện Nho Quan 58
3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại 70
3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 81
3.5 Đánh giá thực trạng sản xuất trang trại trên địa bàn huyện Nho Quan 89
3.6 Một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại huyện Nho Quan 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
1 Kết luận 106
Trang 102.1 Đối với chính sách nhà nước 107
2.2 Đối với tỉnh Ninh Bình 108
2.3 Đối với huyện Nho Quan 109
2.4 Đối với các chủ trang trại 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 11Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
KTQD Kinh tế quốc doanh
KTTT Kinh tế trang trại
SXKD Sản xuất kinh doanh
SXNN Sản xuất nông nghiệp
TBCN Tư bản chủ nghĩa
TLSX Tư liệu sản xuất
UBND Ủy ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 12Bảng 3.1 Thông tin cơ bản về chủ trang trại huyện Nho Quan 60
Bảng 3.1 Thông tin cơ bản về chủ trang trại huyện Nho Quan 60
Bảng 3.2 Tình hình sử dụng lao động của trang trại 63
Bảng 3.3 Tình hình sử dụng đất của các trang trại 64
Bảng 3.4 Cơ sở vật chất của các trang trại huyện Nho Quan 69
Bảng 3.5 Công tác thú y ở các trang trại 70
Bảng 3.6 Các rủi ro mà trang trại thường gặp 83
Bảng 3.7 Tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm cho khách hàng chính của trang trại 91
Bảng 3.8 Phân tích Ma trận SWOT 94
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Hình 1.2 Trang trại trồng cây ăn quả tại thành phố Tam Điệp 39
Hình 1.3 Trang trại nuôi hươu tại thành phố Tam Điệp 41
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Nho Quan 46
Hình 2.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Nho Quan năm 2018 49
Hình 2.3 Biến động dân số huyện Nho Quan chia theo giới tính 50
Hình 2.4 Biến động dân số huyện Nho Quan chia theo vùng 51
Hình 2.5 Biến động lực lượng lao động huyện Nho Quan 52
Hình 3.1 Biến động số lượng trang trại trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và huyện Nho Quan 58
Hình 3.2 Số lượng trang trại tại Nho Quan chia theo ngành 60
Hình 3.3 Trang trại chăn nuôi gà siêu trứng tại xã Gia Lâm 62
Hình 3.4 Trang trại trồng thanh long ruột đỏ tại xã Phú Long 65
Hình 3.5 Trang trại nuôi hươu tại xã Cúc Phương 65
Hình 3.6 Cơ cấu vốn các trang trại chăn nuôi khảo sát trên địa bàn nghiên cứu 64
Hình 3.7 Cơ cấu vốn các trang trại kinh doanh tổng hợp khảo sát trên địa bàn nghiên cứu 67
Hình 3.8 Chi phí của các trang trại điều tra năm 2018 71
Hình 3.9 Cơ cấu chi phí của các trang trại điều tra năm 2018 72
Hình 3.10 Doanh thu của các trang trại điều tra năm 2018 73
Hình 3.11 Cơ cấu doanh thu của các trang trại điều tra năm 2018 73
Hình 3.12 Tổng thu nhập của các trang trại điều tra năm 20018 74
Hình 3.13 Nguồn thu nhập của các trang trại điều tra năm 20018 75
Hình 3.14 Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại điều tra năm 2018 76
Hình 3.15 Hiệu quản sử dụng vốn tại các trang trại điều tra năm 2018 77
Hình 3.16 Hiệu quả sử dụng đất của các trang trại điều tra năm 2018 78
Hình 3.17 Hiệu quả lao động (Thu nhập hỗn hợp mỗi lao động gia đình tạo ra trong năm) tại các trang trại điều tra năm 2018 79
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế trang trại là bước phát triển cao có tính quy luật của kinh tế nông hộ, đây là mô hình sản xuất có từ rất lâu, mang tính phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, kinh tế trang trại gia đình tiếp tục phát triển từ các nước tư bản công nghiệp đến các nước đang phát triển với cơ cấu và quy mô sản xuất khác nhau Phát triển kinh tế trang trại đã trở thành xu hướng tất yếu trong sản xuất nông nghiệp
Ở nước ta với 3/4 số dân đang sống trong khu vực nông thôn, nền nông nghiệp nước ta trong nhiều năm nữa vẫn có vị trí hết sức trọng yếu trong nền kinh tế quốc dân Đường lối đổi mới của Đảng được thực thi từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước cho tới nay đã đem lại những bước phát triển vượt bậc ở nước ta, mà trước hết, nổi bật nhất vẫn là những thành tựu trong phát triển nông nghiệp Đóng góp to lớn vào thành tích của sản xuất nông nghiệp trong những năm qua trước hết phải nói tới một hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp đó là kinh tế trang trại
Trong điều kiện kinh tế thị trường, kinh tế trang trại thể hiện sự ưu việt hơn hẳn kinh tế hộ nông dân về khai thác tiềm năng đất đai, lao động, huy động nguồn vốn trong dân, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Thu hút một lực lượng lớn lao động dư thừa đáng kể ở nông thôn, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người lao động Thực tế ở Ninh Bình cho thấy mô hình kinh tế trang trại là một kiểu tổ chức sản xuất phù hợp với đặc thù kinh tế nông thôn, là một hướng đi đúng đắn của quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới ở Ninh Bình
Tuy nhiên kinh tế trang trại của Ninh Bình nói chung và huyện Nho Quan nói
Trang 15riêng phát triển chưa đồng đều quy mô còn manh mún, phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng về đất đai, tài nguyên, nguồn lực lao động của huyện vì gặp rất nhiều khó khăn như: Chủ trang trại còn thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, khó khăn về tiêu thụ sản phẩm, thiếu vốn, lao động trang trại chưa qua đào tạo, chưa tạo nhiều việc làm, thu nhập chưa cao, chưa có hệ thống xử lý nước thải đồng bộ, cho nên vấn đề ô nhiễm môi trường cũng đang
là thách thức đặt ra cần giải quyết Thêm vào đó là những rủi ro dễ găp phải trong quá trình sản xuất, tiêu thụ dẫn đến tình trạng không ổn định trong sản xuất nông nghiệp của các trang trại Hơn nữa trang trại là loại hình sản xuất trong nông thôn nhưng việc sản xuất hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn gặp không ít khó khăn, năng lực cạnh tranh của các trang trại trên thị trường còn hạn chế Do vậy chỗ yếu nhất trong việc phát triển kinh tế trang trại là thị trường tiêu thụ sản phẩm, sản phẩm chủ yếu là sản xuất hàng hoá thô, tươi sống, chưa gắn với phát triển ngành nghề và công nghiệp chế biến ở nông thôn, thu nhập kinh tế từ trang trại còn thấp
Nho Quan là huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình có địa hình đa dạng, chia thành 3 vùng: Vùng núi cao, vùng bán sơn địa, vùng chiêm trũng;
có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa Do vậy phát triển mô hình kinh tế trang trại là hướng đi đúng đắn cần được quan tâm giúp đỡ bằng những chính sách hợp lý Để xây dựng các
mô hình trang trại ở huyện Nho Quan phát triển rộng khắp và đúng hướng có hiệu quả thì việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn về trang trại và phát triển kinh tế trang trại ở huyện Nho Quan, từ đó tìm ra những hạn chế và nguyên nhân, đề ra giải pháp chủ yếu để phát triển mô hình kinh tế nông thôn của các trang trại trong nền kinh tế thị trường, nhằm phát triển nhiều các loại hình trang trại phù hợp với tiềm năng, lợi thế của huyện Nho Quan có ý nghĩa
rất quan trọng Vì vậy tác giả lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và
một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Nho Quan, tỉnh
Trang 16Ninh Bình” làm Luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng và hiệu quả của các trang trại trên địa bàn huyện Nho Quan;
- Xác định những thuận lợi, khó khăn trong việc phát triển trang trại trên địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình trang trại trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề kinh tế trong quá trình hoạt động của các trang trại, các yếu tố đầu vào, đầu ra, hiệu quả kinh tế của trang trại trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
- Đối tượng điều tra bao gồm các chủ trang trại, lao động làm việc tại các trang trại, các nhân tố trong chuỗi giá trị của các trang trại, các cán bộ địa phương, các chuyên gia về trang trại
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Phạm vi về không gian
- Đề tài này được triển khai nghiên cứu trên phạm vi huyện Nho Quan
- Một số nội dung chuyên sâu của đề tài phát triển kinh tế trang trại được triển khai nghiên cứu ở một số đơn vị điển hình (hộ nông dân, trang trại, doanh nghiệp chế biến) ở các xã có số trang trại nhiều nhất
4.2 Phạm vi về thời gian
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình được sử dụng số liệu từ năm 2016 đến 2018
- Các thông tin phục vụ cho nghiên cứu định tính được tiến hành ở năm 2019
- Các giải pháp, đề xuất nhằm phát triển kinh tế trang trại trong thời gian tới
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu trong
khoảng thời gian từ tháng 4/2018 đến tháng 12/2018
Trang 174.3 Phạm vi về nội dung
- Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình tổng quan của các trang trại trên địa
bàn huyện Nho Quan;
- Đánh giá thực trạng của các trang trại trên địa bàn huyện Nho Quan (loại
hình trang trại, quy mô sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và thu nhập);
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong quá trình sản xuất và phát triển kinh tế trang trại (cơ chế chính sách, điều kiện nội tại của các trang trại và các điều kiện khách quan tác động hạn chế tới sự phát triển Những lợi thế chưa được khai thác cần được đưa vào phục vụ cho sự phát triển của các trang trại ở huyện);
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy và phát triển kinh tế trang trại tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa và bổ sung lý luận về kinh tế trang trại nhằm xây dựng cơ sở khoa học trong việc nhân rộng các mô hình kinh tế trang trại có hiệu quả, đồng thời kiến nghị một số giải pháp có hệ thống để phát triển kinh tế trang trại cấp huyện một cách có hiệu quả, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho huyện Nho Quan nói riêng và các địa phương miền núi nói chung trong lĩnh vực phát triển kinh tế trang trại một cách có hiệu quả
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan lý luận về trang trại và phát triển kinh tế trang trại
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về trang trại và kinh tế trang trại
1.1.1.1 Khái niệm về trang trại
Trên thế giới người ta thường dùng các thuật ngữ để biểu đạt loại hình kinh tế này như: Ferme (tiếng Pháp), Farm (tiếng Anh),… khi chuyển sang tiếng Việt được dịch là trang trại hay nông trại Trong từ điển Tiếng Việt, trang trại được hiểu một cách khái quát là: “Trại lớn sản xuất nông nghiệp”
Ở Việt Nam, trang trại được hiểu là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến Trang trại được hình thành từ cơ sở của các hộ tiểu nông sau khi từ bỏ sản xuất tự cung tự cấp khép kín, vươn lên sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh
Ngoài ra, qua thực tiễn cho thấy lĩnh vực hoạt động của trang trại không chỉ bó hẹp trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, mà còn mở rộng thêm một
số hoạt động kinh doanh dịch vụ hỗ trợ các yếu tố đầu vào, đầu ra và các hoạt động chế biến nhằm tăng thu nhập
Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học trang trại được nhìn nhận với nhiều quan điểm khác nhau, nhưng chúng đều có những điểm chung như sau:
Trong cuốn giáo trình Kinh tế nông nghiệp do Vũ Đình Thắng chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân đã đưa ra khái niệm về trang trại “là một hình thức tổ chức sản xuất tập trung trong nông, lâm, thủy sản với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, có quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất
đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý hiện đại” [18]
Trang 19Theo tác giả Đinh Phi Hổ “Trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm nghiệp và thủy sản phổ biến được hình thành trên cơ sở phát triển kinh tế hộ, nhưng ở vào giai đoạn có trình độ tổ chức quản lý cao hơn, mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt Khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh
tế ở địa phương như đất đai, nguồn vốn, lao động Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường” [11]
Theo tác giả Trần Hai "Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhập chính và đáp ứng nhu cầu cho xã hội" [8]
Tóm lại qua những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên có thể hiểu: Trang trại là cơ sở sản xuất trong nông, lâm nghiệp và thủy sản gắn với hộ gia đình nông dân, là hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập Sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất, các yếu
tố sản xuất tương đối lớn, với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường
1.1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại (KTTT):
KTTT là một khái niệm không còn mới với các nước kinh tế phát triển
và đang phát triển Song đối với nước ta đang còn là một vấn đề mới, do nước
ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên việc nhận thức chưa đầy đủ về KTTT là điều không thể tránh khỏi
Thời gian qua các lý luận về KTTT đã được các nhà khoa học trao đổi trên các diễn đàn và các phương tiện thông tin đại chúng Song cho tới nay ở mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau các nhà khoa học lại đưa ra các khái niệm khác nhau về KTTT
Thực tế hiện nay hai khái niệm “trang trại” và “kinh tế trang trại” nhiều
Trang 20trường hợp được sử dụng như những khái niệm đồng nhất, nhưng thực chất không phải vậy KTTT là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó [10]
Theo Lê Trọng: "KTTT là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, bao gồm một số người lao động nhất định, được chủ trang trại tổ chức trang bị những tư liệu sản xuất nhất định để tiến hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và được Nhà nước bảo hộ" [19]
Theo GS.TS Nguyễn Đình Hương, "KTTT là một hình thức tổ chức cơ
sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [0]
Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP, ngày 02/02/2000 của Chính phủ ban hành đã nêu rõ: “KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”[5]
Từ những khái niệm trên có thể hiểu như sau: KTTT là loại hình kinh tế sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, phát triển chủ yếu trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về vốn và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sản phẩm hàng hóa từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường
1.1.1.3 Khái niệm về phát triển kinh tế trang trại
Trang 21Phát triển KTTT là việc gia tăng mức độ đóng góp về giá trị sản lượng
và sản lượng hàng hoá nông sản của các trang trại cho nền kinh tế, đồng thời phát huy vai trò tiên phong của nó trong việc thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết việc làm ở khu vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện ñại gắn với yêu cầu bền vững
1.1.2 Vai trò và xu hướng phát triển của kinh tế trang trại
1.1.2.1 Vai trò của kinh tế trang trại
Trải qua hàng mấy thập kỷ, đến nay KTTT gia đình tiếp tục phát triển ở những nước tư bản công nghiệp lâu đời cũng như các nước đang phát triển, các nước công nghiệp mới và đi vào các nước XHCN với cơ cấu và quy mô sản xuất khác nhau
Sự quan tâm nghiên cứu về trang trại ngày được chuyên sâu và có bài bản hơn, mặc dù vẫn còn có những khác biệt, nếu nghiên cứu trang trại ở các nước phát triển thì vấn đề quan tâm nhiều nhất đó là tác động cảnh quan môi trường của trang trại, còn các công trình nghiên cứu về chính sách, kinh tế kỹ thuật của trang trại hầu như không đề cập, nếu đề cập thì chỉ ở mức phác thảo, chủ yếu nghiên cứu lĩnh vực phát triển hỗ trợ các hệ thống trang trại mang tính bền vững, đánh giá các luật về trang trại nông nghiệp tư nhân, tác động của các chính sách nhà nước đến phát triển KTTT Những nghiên cứu về tác động môi trường của trang trại tập trung vào các vấn đề như: Tác động của khí hậu đến giá trị tổng hợp của trang trại, tác động của các biện pháp quản lý môi trường trong SXNN đối với thu nhập của các trang trại, phát triển hệ thống các trang trại sinh thái và trồng trọt tổng hợp, bảo tồn thiên nhiên và sự phát triển cảnh quan ở các trang trại, trang trại trồng trọt sinh thái, vv
Ngược lại, nghiên cứu trang trại ở các nước đang phát triển thời gian gần đây thì hướng nghiên cứu quan tâm nhiều đến vấn đề kinh tế kỹ thuật của sản xuất loại hình trang trại, sự quan tâm nghiên cứu cũng được thể hiện ở các vấn đề chính sách và tác động xã hội của sự phát triển trang trại Những
Trang 22nghiên cứu về kỹ thuật có những đặc trưng về: Sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng và lao động, nghiên cứu chi phí và lợi nhuận của trang trại từ các dự án phát triển nông lâm nghiệp, vấn đề CNH trong cơ giới trang trại, thông tin tiếp thị cho các trang trại,
Sở dĩ có sự khác nhau giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển là do: Trang trại ở các nước phát triển đã hình thành và phát triển từ lâu,
đã sản xuất ổn định và là bộ phận cấu thành của nền kinh tế đã được CNH trong thời gian dài, cái mà các nước này cần quan tâm là môi trường sinh thái dưới tác động của sản xuất công nghiệp ở mức độ cao Còn các nước đang phát triển, sản xuất trang trại mới được hình thành đang có những bước đi cho phù hợp với tiến trình phát triển của thời kỳ mới CNH đất nước
Sự quan tâm của các nước này là yếu tố kinh tế kỹ thuật, chính sách phát triển và tác động xã hội của sự phát triển nông nghiệp loại hình trang trại Những mối quan tâm này cũng là những vấn đề đã và đang đặt ra về phát triển trang trại của Việt Nam hiện nay KTTT từ loại hình cơ sở SXNN của hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất này thay thế phương thức sản xuất phong kiến Trang trại được hình thành từ cơ sở của hộ tiểu nông Sau khi phá bỏ cái
vỏ bọc sản xuất tự cấp, tự túc khép kín vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hóa tiếp cận với thị trường, từng bước thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh, lúc này KTTT càng khẳng định được vai trò quan trọng trên thế giới
Minh họa ở một số nước như: Ở Mỹ trang trại sử dụng trên 65% quỹ đất nông nghiệp, tạo ra khoảng 70% giá trị nông sản của cả nước Ở Tây Âu, hầu hết các trang trại là trang trại gia đình; Nước Pháp với 98.000 trang trại, sản xuất ra một lượng nông sản nhiều gấp 2,2 lần so với nhu cầu trong nước với
tỷ suất hàng hóa về hạt ngũ cốc là 95%, thịt sữa 70-80%, rau quả trên 70%;
Hà Lan hiện nay có trên 128.000 trang trại, trong đó riêng trang trại trồng hoa
có 1.500 trang trại, hàng năm sản xuất ra 7 tỷ bông hoa các loại và 600 triệu
Trang 23chậu hoa với 70% sản phẩm dành cho thị trường xuất khẩu
Các nước Châu Á: Nhật Bản trang trại sử dụng tới 4 triệu lao động, chiếm 3,7% dân số cả nước, đảm bảo lương thực và thực phẩm cho 125 triệu người; Malaixia điểm mạnh của trang trại nước này là loại hình trang trại trồng cây công nghiệp, hàng năm tạo ra trên 4 triệu tấn dầu cọ (chiếm 75% sản lượng của thế giới), 1,6 đến 1,8 triệu tấn mủ cao su, 274.000 tấn ca cao, 72.000 tấn dứa quả và 23.000 tấn hồ tiêu
Ở nước ta, những năm gần đây KTTT không ngừng được phát triển về
số lượng mà còn phát triển mạnh về quy mô và chất lượng các trang trại, KTTT đã có đóng góp to lớn cho nền SXNN nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung, đóng góp này có ý nghĩa tích cực cả ở ba mặt: kinh tế, xã hội, môi trường, cụ thể ở từng mặt như sau:
Về mặt kinh tế: Trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún tạo nên những vùng chuyên canh, tập trung hàng hóa và thâm canh cao Mặt khác sự chuyển dịch cơ cấu KTTT góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ phát triển ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triển KTTT ở những nơi có điều kiện thuận lợi bao giờ cũng đi liền với việc khai thác, sử dụng một cách đầy
đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế hộ
Do vậy, việc phát triển KTTT góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Về mặt xã hội: KTTT góp phần huy động, khai thác các nguồn lực trong dân, giải quyết việc làm cho lao động xã hội, làm giàu cho nông dân, làm giàu cho đất nước Để mở rộng và phát triển sản xuất, các trang trại đang nỗ lực tìm mọi biện pháp để phát huy tiềm năng đất đai, huy động và khai thác được nguồn lực về vốn, lao động, kinh nghiệm và kĩ thuật trong dân một cách đầy
đủ, hợp lý và có hiệu quả Vì vậy, ngoài việc góp phần làm giàu cho đất nước,
Trang 24KTTT đã mở ra khả năng làm giàu cho các hộ gia đình nông dân, góp phần xây dựng và phát triển bền vững ở nông thôn
Về mặt môi trường: KTTT càng phát triển thì những diện tích đất trống, đồi núi trọc, diện tích đất hoang hóa ngày càng co hẹp và được đưa vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Điều đó có nghĩa là việc trồng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất luôn tăng lên cùng với sự phát triển của KTTT Như vậy, phát triển KTTT góp phần tích cực vào việc cải tạo, BVMT sinh thái của trái đất
1.1.2.2 Xu hướng phát triển của kinh tế trang trại
Cùng với sự vận động và phát triển chung của thế giới, các trang trại đã hình thành và sẽ phát triển theo một xu hướng chủ yếu sau đây:
- Tích tụ và tập trung sản xuất: Sau khi hình thành, nhìn chung các trang trại vẫn diễn ra quá trình tích tụ và tập trung sản xuất Tuy nhiên, tính chất và mức độ tích tụ và tập trung lúc này hoàn toàn không giống như tích tụ và tập trung các yếu tố sản xuất của nông hộ để hình thành trang trại Tích tụ và tập trung sản xuất của trang trại lúc này nhằm mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả SXKD để đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường
Tích tụ và tập trung trong các trang trại chủ yếu là tích tụ vốn và ở những nơi có điều kiện thì bao gồm cả việc tập trung ruộng đất Tích tụ vốn ở đây thực chất là tích lũy vốn, làm tăng vốn tự có của trang trại để đầu tư mở rộng sản xuất, chủ yếu là đầu tư theo chiều sâu tức là thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Ở những nơi như Trung du miền núi, đầm phá ven biển, trang trại vẫn có xu hướng mở rộng quy mô diện tích bằng việc khai phá đất hoang, nhận đấu thầu sử dụng đất, nhận chuyển nhượng, thuê đất để sản xuất Đây là xu hướng phát triển của trang trại, tùy theo điều kiện cụ thể từng nơi mà có chính sách và biện pháp tác động, điều tiết phù hợp nhằm thúc đẩy KTTT phát triển
- Chuyên môn hóa sản xuất: Trong nền sản xuất hàng hóa, chuyên môn
Trang 25hóa sản xuất là xu hướng phát triển tất yếu Nhưng do đặc điểm của sản xuất trang trại gặp sự rủi ro cao về khí hậu thời tiết, giá cả, thị trường không ổn định, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, do đó chuyên môn hóa trong các trang trại phải kết hợp với sản xuất đa dạng một cách hợp lý mới có thể khai thác hiệu quả các nguồn lực: Đất đai, khí hậu, cơ
sở vật chất kỹ thuật, sức lao động, đồng thời hạn chế được các rủi ro về thiên tai và các biến động của thị trường
Xu hướng sản xuất chuyên môn hóa của các trang trại có các đặc điểm sau:
(1) Trên cơ sở phân vùng quy hoạch của cả nước, của từng vùng và địa phương, các trang trại bố trí sản xuất một số sản phẩm hàng hóa chính có giá trị cao phù hợp với nhu cầu của thị trường và điều kiện sản xuất của từng vùng (2) Dựa vào sản phẩm hàng hóa chính, kết hợp sản xuất một số sản phẩm
bổ sung để hỗ trợ cho sản phẩm chính, đồng thời sử dụng hiệu quả các nguồn lực sản xuất như đất đai, lao động, vốn, tư liệu sản xuất của trang trại Kết quả của sự phát triển theo xu hướng trên là sự ra đời nhiều trang trại chuyên môn hóa sản xuất có hiệu quả cao như: Các trang trại chuyên môn hóa cà phê, cao
su, cây ăn quả, rau hoa cao cấp, thủy sản, chăn nuôi bò sữa, gia cầm,
Nâng cao trình độ kỹ thuật, thâm canh hóa sản xuất: Quá trình tích tụ, tập trung và mở rộng quy mô sản xuất đòi hỏi các trang trại phải nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất, xu hướng nâng cao trình độ kỹ thuật
và thâm canh sản xuất là xu hướng tất yếu gắn liền với việc nâng cao năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi Trang trại không thể mở rộng quy mô diện tích tới hàng chục ha, hoặc phát triển đàn gia súc trâu, lợn lên tới hàng trăm, hàng nghìn con bằng lao động thủ công và trang thiết bị vật chất
kỹ thuật thấp kém
Để nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hóa sản xuất, các trang trại phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất, tăng
Trang 26cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ sinh học Mặt khác, phải kết hợp xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trên địa bàn của vùng chẳng hạn việc xây dựng kênh mương, đường giao thông, đường điện, không thể khép kín trong trang trại mà phải gắn với cả vùng theo quy hoạch thống nhất, điều quan trọng là không được phá vỡ quy hoạch tổng thể của vùng đó
Hợp tác cạnh trạnh: Các trang trại trong sản xuất hàng hóa phải hợp tác
và liên kết với nhau, bên cạnh đó cần quan tâm tìm kiếm hợp tác với những đơn vị tổ chức kinh tế khác Để làm được điều này, trước hết bản thân các trang trại phải hợp tác với nhau, cùng nhau giải quyết tốt hơn những vấn đề nội tại của trang trại như SXKD, tổ chức quản lý, chất lượng và thị trường sản phẩm, phối hợp với các đơn vị kinh tế khác như khối DNNN, khối DN dân doanh, các hộ kinh doanh cá thể ngay cả các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các tổ chức thương mại, các hiệp hội, vv để đầu tư nguồn lực đầu vào như vật tư, thuốc BVTV, cây, con giống, dịch vụ thủy nông (tưới tiêu nước), vấn đề quảng bá sản phẩm, đăng ký tiêu chuẩn chất lượng, bao tiêu, tiêu thụ sản phẩm
Mặt khác, bản thân các trang trại phải cùng nhau giải quyết những vấn
đề khó khăn mà hầu hết các trang trại gặp phải đó là vốn, trang thiết bị sản xuất, KHKT, hiểu biết thị trường, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế còn hết sức mới mẻ, đòi hỏi các trang trại phải tự lực đi lên, tìm hướng đi thích hợp cho mình như, mở rộng SXKD, đa dạng hóa sản phẩm, tìm kiếm bạn hàng, liên kết với các tổ chức, hệ thống các trang trại để cùng nhau xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển giao KHKT, nhân rộng những điển hình, tháo gỡ khó khăn trong việc huy động nguồn vốn đầu tư, tăng chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường
Đi đôi với hợp tác, cạnh tranh giữa các trang trại, giữa các trang trại với các đơn vị thành phần kinh tế khác diễn ra rất quyết liệt để tiêu thụ được sản phẩm nhằm mục đích tích lũy và tái sản xuất mở rộng là mục đích của trang
Trang 27trại Muốn vậy, các trang trại phải nâng cao khả năng canh tranh trên thị trường bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, sử dụng hợp lý các nguồn lực sản xuất, không ngừng nắm bắt thông tin thị trường và các cơ hội của hội nhập quốc tế, điều quan trong là phải minh bạch hóa, đúng luật, cạnh tranh lành mạnh, các bên đều có lợi
1.1.3 Phân loại trang trại
- Phân loại theo lĩnh vực sản xuất:
Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ NN&PTNT thì trang trại được phân loại theo lĩnh vực sản xuất như sau: [3] Trang trại trồng trọt; trang trại chăn nuôi; trang trại lâm nghiệp; trang trại nuôi trồng thuỷ sản; trang trại tổng hợp
Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngành chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm Trường hợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì được gọi là trang trại tổng hợp
- Phân loại theo hình thức quản lý gồm có:
+ Trang trại gia đình: Là loại trang trại độc lập tự sản xuất kinh doanh Mỗi gia đình có tư cách pháp nhân do một người trong gia đình làm chủ điều hành + Trang trại liên doanh: Do vài trang trại hợp nhất để tăng nguồn lực tạo sức cạnh tranh và sự ưu đãi của nhà nước
+ Trang trại hợp doanh kiểu cổ phần: Trang trại loại này được tổ chức theo nguyên tắc công ty cổ phần
+ Trang trại ủy thác: Trang trại mà người chủ ủy quyền cho người nhà hoặc bạn bè quản lý điều hành sản xuất
- Phân loại theo nguồn thu nhập của các trang trại gồm có:
+ Trang trại thuần nông: Nguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, xu thế loại trang trại này đang giảm dần
Trang 28+ Trang trại không thuần nông: Trang trại có thu nhập thêm từ bên ngoài trang trại, loại này thường kinh doanh tổng hợp và có xu thế ngày càng tăng
- Phân loại theo quy mô hoạt động trang trại được chia thành 3 loại: Trang trại có quy mô nhỏ, trang trại có quy mô vừa và trang trại có quy mô lớn
- Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất bao gồm:
+ Trường hợp phổ biến là người chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất từ đất đai, công cụ máy móc đến chuồng trại kho bãi
+ Hình thức thứ 2 chủ trang trại chỉ sở hữu một phần tư liệu sản xuất còn một phần phải đi thuê của người khác
+ Hình thức thứ 3 chủ trang trại hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà phải đi thuê
1.1.4 Đặc trưng của kinh tế trang trại
Theo các khái niệm trên thì KTTT có những đặc trưng sau: (4 đặc trưng) (1) Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn
(2) Mức độ tập trung và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như đất đai, số đầu gia súc, lao động, giá trị nông thuỷ sản hàng hoá
(3) Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng các tiến bộ KHKT, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất; sử dụng lao động gia đình và lao động làm thuê bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ
(4) Quy mô sản xuất hàng hoá được thể hiện qua tỷ suất hàng hoá là đặc trưng cơ bản nhất của KTTT
Đây là chuẩn mực hàng đầu và quan trọng nhất để phân biệt một hộ nông dân sản xuất theo hình thức tiểu nông với hộ sản xuất theo hình thức trang trại KTTT thực hiện sản xuất với quy mô lớn nhờ sự tập trung cao hơn với mức BQ chung của kinh tế hộ ở từng vùng về các nguồn lực và điều kiện
Trang 29sản xuất nên quy mô của KTTT lớn hơn nhiều so với mức BQ chung của kinh
tế hộ không chỉ thể hiện bằng quy mô của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn…) mà cả về quy mô thu nhập Vì mục đích của trang trại là sản xuất hàng hoá với quy mô lớn nên thường phát triển theo hướng chuyên môn hoá hoặc chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp nhằm tận dụng tối
đa ưu thế của vùng và tránh rủi ro Nhu cầu và khả năng áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất của trang trại lớn hơn nông hộ tiểu nông nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và hiệu quả thu được ngày càng cao
1.1.5 Tiêu chí nhận dạng trang trại
Theo Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ NN&PTNT thì tiêu chí định lượng để xác định KTTT là: [3]
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn KTTT phải thỏa mãn điều kiện sau:
1 Đối với cơ sở trồng trọt, NTTS, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
+ 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; + 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại
b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm
2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên
3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên
1.1.6 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển của kinh tế trang trại
1.1.6.1 Giá trị sản lượng hàng hóa nông sản: là một yếu tố để đánh giá mức
độ phát triển, quy mô hoạt động của trang trại
Trang 301.1.6.2 Tỷ lệ đóng góp của kinh tế trang trại: Chỉ tiêu này thể hiện mối quan
hệ giữa giá trị sản lượng hàng hoá nông sản do các trang trại sản xuất ra so với giá trị hàng hoá nông sản của toàn ngành trong một năm
Công thức tính: g = tt
nn
G G
G : Tổng giá trị sản lượng hàng hoá nông sản của toàn ngành
1.1.6.3 Chỉ tiêu đánh giá quy mô sử dụng các nguồn lực sản xuất: Chỉ tiêu này cho thấy bình quân mỗi trang trại sử dụng bao nhiêu đất đai, lao động, tiền vốn vào sản xuất, kinh doanh
Công thức tính: n j = N j
N Trong đó:
j
n : Mức độ sử dụng nguồn lực (j) trong trang trại
j
N : T ổng nguồn lực (j) sử dụng của các trang trại
N: Tổng số trang trại trong kỳ
1.1.6.4 Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu: Cơ cấu trang trại thể hiện mối quan hệ giữa số lượng trang trại của từng loại hình so với tổng thể
Công thức tính: t j= L j 100%
x
Trong đó:
Trang 31t : Tỷ lệ trang trại loại (j) trong tổng số trang trại
j
L : Số trang trại loại (j)
TT: Tổng số trang trại trong kỳ
1.1.7 Ý nghĩa của việc phát triển kinh tế trang trại
KTTT phát triển không chỉ ngày càng mang lại cuộc sống ấm no, đầy đủ
về mặt vật chất và tinh thần cho từng gia đình mà có ý nghĩa lớn lao đối với
sự phát triển nông nghiệp, nông thôn, thể hiện ở các mặt sau:
- Ý nghĩa về mặt kinh tế: KTTT đã tạo bước chuyển biến cơ bản về giá trị sản phẩm hàng hoá, thu nhập của trang trại vượt trội hơn hẳn so với kinh tế
hộ, hình thành nên những vùng sản xuất hàng hoá lớn tập trung, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chuyển đổi các loại giống cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao Khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên canh trong sản xuất và tiêu thụ mặt hàng nông sản, tiến tới xây dựng nên những vùng, miền nông thôn mới văn minh, hiện đại
Mặt khác phát triển KTTT đã góp phần phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mà đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất nông nghiệp ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triển KTTT bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả hơn so với kinh tế hộ về các nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn
- Ý nghĩa về mặt xã hội: Thu hút được một lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn tham gia vào sản xuất, chăn nuôi, góp phần quan trọng làm tăng số
hộ giàu ở nông thôn, giải quyết việc làm tăng thu nhập, giảm sức ép di cư tự
do từ nông thôn ra thành thị Ngày nay, trong xu hướng chung của cả nước,
cơ cấu của nền kinh tế nước ta chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đã tác động lớn đến khoảng cách chênh lệch thu nhập của đại bộ phận dân cư, thu nhập của người dân đô thị cao hơn so với khu vực nông thôn Do vậy, một bộ phận lao động thất nghiệp ở nông dân đã đi đến
Trang 32các khu đô thị để tìm việc làm, sự hình thành và phát triển KTTT có ý nghĩa rất quan trọng trong giải quyết việc làm ở nông thôn, người lao động gắn bó với công việc ở nông thôn, hạn chế sự di cư đến đô thị
- Ý nghĩa về môi trường: Phát triển KTTT có ý nghĩa rất lớn trong vấn
đề bảo vệ môi trường sinh thái KTTT với quy mô lớn về vốn, diện tích, trình
độ của chủ trang trại, vì vậy có lợi thế trong việc ứng dụng nhanh các công nghệ sinh học mới, thâm dụng vốn nên vừa nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi ngay trên một đơn vị diện tích (không cần mở rộng diện tích từ việc phá rừng) vừa gắn với sử dụng hợp lý các loại hóa chất (phân hóa học, thuốc trừ sâu dịch bệnh) không ảnh hưởng đến suy thoái tài nguyên đất và môi trường nước ở vùng nông thôn Sự áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong các trang trại giúp cho việc bảo vệ đất đai khỏi bị ô nhiễm, thoái hóa, tiết kiệm nước và hạn chế ô nhiễm nguồn nước
1.1.8 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại
1.1.8.1 Nhân tố bên ngoài
a) Chủ trương, chính sách
Nhà nước đã có những chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Trong nông nghiệp, công nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn, thừa nhận địa vị pháp lý bình đẳng của họ trước pháp luật, Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ nông dân, tạo điều kiện để trang trại gia đình phát triển
Các chính sách về tín dụng, trợ giá đầu vào, đầu ra hoặc tạm trữ nông sản hàng hoá, miễn giảm thuế nông nghiệp đối với các trang trại đã tạo ra những thuận lợi thúc đẩy sự phát triển kinh tế hộ nông thôn, phát triển KTTT Mặt khác, Nhà nước còn quản lý, điều tiết nền kinh tế phát triển đúng hướng, khắc phục những biến động bất ổn của nền kinh tế thị trường gây thiệt hại cho người sản xuất nông nghiệp trong những bước thăng trầm của nền kinh tế thị
Trang 33trường, bảo vệ lợi ích của người nông dân
b) Sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự phát triển của KTTT Trong những năm qua nhiều thành tựu KHKT đã được áp dụng mạnh
mẽ và nhanh chóng vào trong nông nghiệp Nhờ sự phát triển của KHKT đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá như là yếu tố đầu vào cho sản xuất của các trang trại đó là các loại vật tư, phân bón, giống cây con các loại, máy móc thiết bị, Chính những yếu tố đầu vào có chất lượng tốt đã góp phần tăng năng suất, sản lượng và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp
Số lượng trang trại ngày càng tăng lên, trong đó có nhiều trang trại đã mạnh dạn ứng dụng KHKT vào SXKD những loại cây trồng vật nuôi, những loại sản phẩm mới có năng suất và chất lượng cao hơn, do đó làm tăng hiệu quả SXKD của các trang trại một cách rõ rệt
c) Công nghiệp chế biến sản phẩm
Đây là một vấn đề rất lớn có tác động đến phát triển KTTT, điều mà Đảng và Nhà nước luôn cần quan tâm nhưng không phải là không vướng mắc Sản phẩm sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, thu hoạch ồ ạt trong thời gian ngắn nên số lượng rất lớn, dẫn đến việc đầu tư vào công nghệ chế biến rất tốn kém và hiệu quả lại không cao, vì đặc thù công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp mang tính đơn nhất lớn, tức là một dây chuyền thì chỉ chế biến một vài loại sản phẩm của nông nghiệp Chính điều này gây không ít khó khăn cho nhà đầu tư, vì với một lượng vốn đầu tư rất lớn, nhưng chỉ sản xuất được trong một thời gian rất ngắn trong năm Chính vì vậy các nhà đầu
tư cần chú ý tới các sản phẩm phụ khi chế biến sản phẩm của nông nghiệp, để tránh sự đơn điệu trong chế biến, sản xuất kinh doanh, cũng như giảm chi phí, tăng thêm nguồn thu nhập, khai thác hết tiềm năng sẵn có của lĩnh vực mà nhà đầu tư quan tâm Ngoài ra sản phẩm nông nghiệp phân bố rất rộng, hơn nữa nước ta lại có địa hình phức tạp, giao thông và các cơ sở hạ tầng nông
Trang 34thôn còn kém, các vùng nguyên liệu xa nhau và không lớn nên việc thu gom sản phẩm phức tạp, việc bảo quản và vận chuyển vô cùng khó khăn dẫn đến giá thành cao gây ảnh hưởng lớn về cạnh tranh giá trên thị trường Bởi vậy khi lập dự án cho dây chuyền chế biến sản phẩm nông nghiệp, thì các nhà đầu
tư cần chú ý đến việc nghiên cứu kỹ vùng nguyên liệu có đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất của nhà máy hay không? Tránh các trường hợp như các nhà máy đường của nước ta trong những năm gần đây
d) Sự phát triển của cơ sở hạ tầng
Kết cấu hạ tầng của SXNN bao gồm: đường giao thông, thủy lợi, điện,…
là những điều kiện vật chất kỹ thuật rất cần thiết đối với hoạt động SXNN Nó góp phần quan trọng để người sản xuất khắc phục những tác động tiêu cực của tự nhiên, đáp ứng yêu cầu sinh học của SXNN và yêu cầu của sản xuất hàng hóa, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường
e) Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường có vai trò quan trọng đối với sản xuất hàng hóa, kinh doanh
và quản lý kinh tế, là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hóa Tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất Nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của quá trình sản xuất, nó là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa Các đơn vị SXKD thực hiện chức năng cơ bản này phải đảm bảo sản xuất cung cấp một khối lượng sản phẩm hàng hóa nhất định với những yêu cầu về chất lượng, chủng loại cho nhu cầu tiêu dùng của
xã hội và chức năng này chỉ được biểu hiện qua quá trình tiêu thụ hàng hóa Đối với các trang trại, thị trường tiêu thụ là khâu hết sức quan trọng Đây
là quá trình tách sản phẩm ra khỏi quá trình sản xuất bước vào lưu thông đến tay người tiêu dùng cuối cùng Tiêu thụ sản phẩm nhanh hay chậm trực tiếp tác động đến SXKD cuối cùng và khẳng định sản phẩm có được chấp nhận hay không được chấp nhận của người tiêu dùng Đặc biệt trong điều kiện kinh
tế hiện nay, để nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập các trang trại không
Trang 35chỉ nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi mà phải hướng sản xuất tới tiêu dùng Lấy đó để làm mục tiêu SXKD và thông qua tiêu thụ phải nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng về số lượng, chất lượng và chủng loại Cho nên thị trường tiêu thụ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập cho toàn xã hội
f) Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh của trang trại vì các hoạt động của trang trại phần lớn phụ thuộc vào những điều kiện này Ngược lại sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại
1.1.8.2 Nhân tố bên trong
a) Các đặc điểm cá nhân và trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của chủ trang trại
Việc quản lý SXKD của KTTT trên thực tế là quản lý một doanh nghiệp
Vì vậy, chủ trang trại phải có trình độ quản lý, điều hành SXKD để đảm bảo cho trang trại hoạt động có hiệu quả Trong nền kinh tế tiểu nông, chỉ cần có những người nông dân, chủ hộ cần cù lao động, còn trong kinh tế thị trường lại cần có những chủ trang trại đồng thời là chủ DN năng động, đủ năng lực điều hành quản lý trang trại đạt hiệu quả cao
b) Sự tích tụ đất đai, vốn, lực lượng lao động:
Đây là ba yếu tố cơ bản quan trọng trong nông nghiệp, thiếu một trong
ba yếu tố trên thì không thể tiến hành sản xuất được Đối với trang trại, việc tập trung ruộng đất là rất cần thiết, song lại phụ thuộc vào quỹ đất tự nhiên và tập quán của người dân Việc chuyển nhượng, tập trung cần phải có thời gian, dẫn đến việc hình thành và phát triển các trang trại không đều về thời gian và quy mô Nhận thấy điều này, nước ta đã có nhiều chính sách thích hợp tạo điều kiện để các trang trại có đủ đất để tiến hành SXKD Bên cạnh đó, các trang trại phải có lượng vốn nhất định để đầu tư ban đầu cho quá trình sản
Trang 36xuất: mua công cụ, máy móc,…
Tóm lại, hai nhóm điều kiện trên thực chất là những điều kiện khách quan và chủ quan cần thiết cho sự hình thành và phát triển của KTTT Mỗi điều kiện có tầm quan trọng và ý nghĩa nhất định Tuy nhiên, cũng không thể chờ có đủ những điều kiện trên thì mới tiến hành xây dựng trang trại mà người chủ trang trại phải biết sáng tạo, tận dụng những điều kiện có sẵn và thực hiện những biện pháp để tìm ra những điều kiện cần thiết khác Trong quá trình phát triển vừa xây dựng vừa bổ sung, củng cố để các trang trại ngày càng hội tụ đủ những điều kiện đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả cao của loại hình kinh tế mang tính ưu việt này
1.2 Tổng quan thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại của Việt Nam và các nước trên thế giới
1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại của một số nước trên thế giới
KTTT trên thế giới có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, hình thành từ cuối thế kỷ XVII KTTT đóng vai trò quan trọng trong SXNN nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung
Các nhà nghiên cứu cho rằng, trang trại gia đình được hình thành và phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị trường “từ khi phương thức sản xuất
tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở một số nước châu Âu ” Ở Châu Âu đã xuất hiện hình thức tổ chức trang trại trong nông nghiệp sản xuất nông sản hàng hoá thay thế cho hình thức sản xuất tiểu nông của những người nông dân tự canh
và hình thức điền trang của các thế lực phong kiến quý tộc Mặc dù phải chịu sức ép của các thế lực cạnh tranh trên thị trường nhưng các trang trại gia đình
ở hầu khắp các nước và khu vực trên thế giới đều tồn tại và mở rộng SXKD Thực tế chứng minh quan niệm sai lầm cho rằng, trong nền nông nghiệp hàng hóa, nông nghiệp cũng phải được xây dựng các xí nghiệp tập trung quy mô lớn như các xí nghiệp công nghiệp nhằm làm phá sản các trang trại gia đình
Trang 37phân tán hy vọng sẽ tạo ra nhiều nông sản hàng hoá với giá rẻ hơn sản xuất gia đình
Ở nước Anh từ thế kỷ XVI, sự tập trung ruộng đất đã hình thành nên những
xí nghiệp nông nghiệp tư bản tập trung trên quy mô rộng lớn cùng với việc sử dụng lao động làm thuê Mọi hoạt động kinh doanh SXNN ở đây giống như mô hình hoạt động của các công xưởng công nghiệp Thực tế cho thấy, SXNN tập trung, quy mô lớn và sử dụng nhiều lao động làm thuê đã không dễ dàng đem lại hiệu quả mong muốn
Sang đầu thế kỷ XX, lao động nông nghiệp bắt đầu giảm, nhiều nông trại cũng giảm lao động làm thuê Khi ấy, từ 75÷80% nông trại gia đình không thuê lao động Đây là thời kỳ thịnh vượng của nông trại gia đình Vì khi lao động nông nghiệp giảm thì sự phát triển của nông nghiệp và dịch vụ đủ sức thu hút lao động nhanh hơn tốc độ tăng lao động nông nghiệp Tiếp nối nước Anh, ở các nước Pháp, Ý, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển Sự hiện diện và phát triển KTTT gia đình ngày càng tạo ra nhiều nông sản hàng hoá đáp ứng nhu cầu CNH
Ở châu Á, chế độ phong kiến kéo dài nên KTTT theo hướng sản xuất hàng hoá ra đời chậm hơn Tuy vậy, vào nửa cuối thế kỷ XX, số lượng trang trại phát triển tăng 2,5% mỗi năm, trong khi ở các nước công nghiệp phát triển ở châu Âu giảm 2÷3,5% năm Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nhiều nước châu Á tiến hành cải cách ruộng đất với nội dung, mức độ khác nhau nhằm chuyển giao ruộng đất cho những người nông dân trực tiếp SXNN Nhìn chung, việc tiến hành cải cách ruộng đất đã tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển của trang trại gia đình theo hướng SXNN hàng hoá Trên thế giới có hai loại hình trang trại là trang trại gia đình và trang trại TBCN Trang trại gia đình là loại hình sản xuất phổ biến nhất Trang trại TBCN chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ về đất đai cũng như sản lượng nông sản
* Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Mỹ
Trang 38Hiện nay ở Mỹ có khoảng 2,2 triệu trang trại, trong đó có 1,54 triệu trang trại gia đình chiếm 87% Lực lượng này đã sản xuất hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của thế giới, xuất khẩu 40÷50 triệu tấn lúa mỳ, 50 triệu tấn ngô, đậu tương,
Diện tích đất đai BQ ở Mỹ hiện nay là 10ha/trang trại Lao động làm thuê trong các trang trại ở Mỹ rất ít Loại trang trại nhỏ thu nhập dưới 100.000 USD/năm không thuê lao động Các trang trại có thu nhập từ 100.000÷500.000 USD/năm cũng chỉ thuê 1÷2,5 lao động Các trang trại gia đình ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất nên sản lượng nông sản làm ra của một lao động nông nghiệp năm 1990 đủ nuôi 80 người
* Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Pháp
Khối lượng nông sản hàng năm gấp 2,2 lần nhu cầu nội địa đã được cung cấp bởi 980.000 trang trại ở Pháp hiện nay Tỷ suất hàng hoá và hạt ngũ cốc
là 95%, thịt sữa 70 - 80% Quy mô diện tích BQ của trang trại ở Pháp là 29,2
ha, 42% thu nhập của trang trại là từ ngoài nông nghiệp
* Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Hà Lan
Hà Lan có 128.000 trang trại trong đó có 1.500 trang trại chuyên trồng hoa với sản lượng sản xuất hàng năm khoảng 7 tỷ bông hoa và 600 triệu chậu hoa trong đó 70% dành cho xuất khẩu BQ 1 lao động nông nghiệp của trang trại làm ra đủ số lượng nông sản nuôi 60 người Do mức độ cơ giới hoá SXNN đạt mức độ cao nên số lượng và tỷ lệ lao động làm việc trong các trang trại ở nước này giảm nhiều và chỉ còn 4,7% so với tổng xã hội Tính BQ 1 trang trại ở Hà Lan năm 1987 có quy mô khoảng 15,7 ha với 2,2 lao động Năm 1987, số trang trại có quy dưới 5 ha chiếm 31,5%, từ 5÷20 ha chiếm 39,6% và trên 20 ha chiếm 28%
* Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước khu vực châu Á Châu Á có diện tích trên đầu người thuộc vào loại thấp (0,15ha) Đặc biệt là các nước Đông Á, chỉ tiêu này thấp nhất thế giới (Đài Loan: 0,0047 ha,
Trang 39Hàn Quốc: 0,053 ha Đặc điểm này cũng có ảnh hưởng đến quy mô trang trại của các nước trong khu vực Loại trang trại nhỏ nhất ở Châu Á là 0,5 ha, lớn nhất chỉ gần 20 ha (các nước Âu, Mỹ có trang trại lên tới hàng nghìn ha) Quy
mô BQ của một trang trại châu Á là 1÷3 ha trong khi đó ở Tây Âu là 25÷30
ha, đặc biệt ở Mỹ 180 ha, Trong giai đoạn 1960÷1965 loại trang trại có quy
mô từ 3÷5 ha chiếm 12,9% tổng số lượng và 18,4% tổng diện tích đất đai và quy mô 10 ha chiếm 3,8% số lượng 29,5% đất đai
Nhật Bản: Năm 1945 có 5,7 triệu trang trại, đến năm 1950 tăng lên 6,173 triệu cơ sở và từ đó đến nay số lượng trang trại có xu hướng giảm mạnh Hiện nay, số lượng chỉ còn 4,52 triệu trang trại Quy mô ruộng đất BQ của một trang trại ở Nhật Bản năm 1990 là 1,2 ha Số lượng chuyên nông nghiệp trong giai đoạn 1960÷1988 giảm trên 3 lần từ 2 triệu xuống còn 620.000 trang trại Thu nhập BQ của một trang trại từ 207.000 Yên năm 1950 lên 6 triệu giai đoạn 1960÷1988 giảm trên 3 lần từ 2 triệu xuống còn 620.000 trang trại Thu nhập BQ của một trang trại tăng từ 207.000 Yên năm 1950 lên 6 triệu Yên năm 1982 Đến nay, 99,2% số gia đình ở Nhật Bản tham gia hoạt động của trên 4.000 HTX nông nghiệp là HTX dịch vụ kỹ thuật
Đài Loan: Năm 1952 có 679.000 trang trại, đến năm 1988 có khoảng 739.000 trang trại Quy mô BQ trang trại chỉ dưới 1 ha Phần lớn các trang trại ở Đài Loan là kiêm ngành nghề (chiếm 90%), số trang trại thuần nông chỉ chiếm 10% Vì vậy thu nhập chủ yếu từ hoạt động phi nông nghiệp chiếm 62% Điều này phù hợp với đặc điểm dân số và diện tích đất đai ở Đài Loan Thái Lan: Hiện nay có 4,5 triệu trang trại với quy mô BQ là 5,6 ha Trang trại có quy mô dưới 2,5 ha chiếm 58%, loại trang trại trên 10 ha chiếm 14% Hàng năm các trang trại ở Thái Lan đã sản xuất ra 20 triệu tấn thóc gạo,
5 triệu tấn ngô, 25 triệu tấn mía đường Giá trị nông sản xuất khẩu của các trang trại ở Thái Lan năm 1998: gạo 22,2 tỷ Bạt, sắn 20 tỷ Bạt, gà đông lạnh 4,5 tỷ Bạt Hiện nay, Thái Lan đang là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu
Trang 40dứa hộp (chiếm 1/3 sản lượng dứa của thế giới)
* Nhận xét chung về phát triển KTTT trên thế giới:
- Thời kỳ bắt đầu CNH số lượng trang trại nhiều, quy mô nhỏ Khi công nghiệp phát triển đạt trình độ cao thì số lượng trang trại lại giảm, quy mô trang trại tăng
- Ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức tổ chức sản xuất giữ vị trí xung kích trong quá trình CNH nông nghiệp, nông thôn và trở thành lực lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao
- Trong giai đoạn đầu của CNH, KTTT phát triển theo hướng KDTH, sau đó từng bước đi vào sản xuất tập trung chuyên canh lớn
- KTTT ở các nước có thể phát triển với nhiều hình thái đa dạng khác nhau (như tư bản tư nhân, cổ phần, liên doanh, uỷ thác ) nhưng trang trại gia đình là loại hình thích hợp và phổ biến nhất
- Hầu hết các trang trại đều sử dụng lao động gia đình là chủ yếu, ngoài
ra còn có thể thuê thêm lao động bên ngoài theo yêu cầu SXKD Do áp dụng
cơ giới hóa đạt đến trình độ cao nên hầu hết các nước số lượng lao động trực tiếp trong trang trại rất thấp (BQ 2÷3 người/ trang trại)
- Hiệu quả SXKD của trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô đất đai, lao động Ở nhiều nước và lãnh thổ châu Á, quy mô trung bình của trang trại rất nhỏ như ở Nhật Bản: 1,38 ha; Đài Loan: 1,21 ha; Hàn Quốc: 1,2 ha; Indonesia: 0,95 ha nhưng hiệu quả SXKD của trang trại rất cao
- Bồi dưỡng, đào tạo chủ trang trại là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với sự thành công của KTTT ở các nước trên thế giới
- Gắn trang trại với công nghiệp chế biến và dịch vụ ngay tại nông thôn cũng như phát triển thị trường nông thôn Đây là những yếu tố cực kỳ quan trọng để thúc đẩy trang trại phát triển có hiệu quả
- Phát triển các hình thức HTX trang trại là yếu tố tất yếu để hỗ trợ, thúc đẩy KTTT Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng quyết định sự hình thành