Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu sản phẩm chè của tỉnh Phú Thọ.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè có lịch sử phát triển lâu đời trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Nhiềunăm qua, cây chè luôn được xác định là cây kinh tế mũi nhọn đối với cáchuyện trong vùng sản xuất chè nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung Chính vìvậy phát triển cây chè là một trong những chương trình kinh tế trọng điểm củatỉnh Phú Thọ Ngành sản xuất và xuất khẩu chè đang ngày càng đóng vai tròquan trọng và trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, với80% sản lượng chè của tỉnh được dành cho xuất khẩu Lợi nhuận từ xuất khẩuchè đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.Không những thế, xuất khẩu chè và tạo thói quen uống chè cho người nướcngoài là một trong những biện pháp hữu hiệu trong việc xây dựng và quảng
bá hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam nói chung và quê hương Đất
tổ nói riêng
Tuy nhiên một thực tế cho thấy chè xuất khẩu của tỉnh chưa thực sự có
uy tín, chưa có chất lượng cao so với các nước trong khu vực và thế giới,thậm chí ngay cả trong nước Nguyên nhân cơ bản của vấn đề này nằm ngaytrong những khâu đầu của quy trình sản xuất, từ xây dựng vùng nguyên liệu,chọn giống, công nghệ chế biến,… Hầu hết các doanh nghiệp chế biến và xuấtkhẩu chè đều gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu đầu vào, giá cả biến động,sản xuất manh mún, thậm chí phải đối mặt với nguy cơ mất thị trường Mặc
dù phần lớn sản lượng chè của tỉnh sản xuất ra dành cho xuất khẩu song chủyếu dưới dạng nguyên liệu, chưa định vị được thương hiệu, giá thành thấp,dẫn đến thu nhập của người trồng và sản xuất chè còn chưa cao Ngành sảnxuất và xuất khẩu chè chưa phát huy được tiềm năng thế mạnh, khẳng định làngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
Trang 2Trong tiến trình hôi nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay,với tư cách là ngành sản xuất và xuất khẩu mũi nhọn của tỉnh Phú Thọ, ngànhchè cũng không thể đứng ngoài cuộc Tham gia vào thị trường chè thế giớiđòi hỏi chè của tỉnh Phú Thọ phải chủ động tìm biện pháp đẩy mạnh xuấtkhẩu.
Xuất phát từ những lý do trên, việc thực hiện đề tài: “ Một số giải phápđẩy mạnh xuất khẩu chè của tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế” là hết sức cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Đưa ra một số các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu chècủa tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu
Đánh giá thực trạng xuất khẩu chè của tỉnh Phú Thọ hiện nay
Thông qua những nghiên cứu đề ra những giải pháp đẩy mạnh xuất khẩuchè của tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩusản phẩm chè của tỉnh Phú Thọ
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê số liệu, đánh giá thực trạng xuấtkhẩu chè của tỉnh Phú Thọ, kết hợp với biện pháp tổng hợp dữ liệu, phân tíchthị trường và dự báo từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản đẩy mạnh hoạtđộng xuất khẩu chè của tỉnh Phú Thọ
Trang 35 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu
Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn tỉnh PhúThọ và tham khảo một số tỉnh lân cận
Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm
2002 đến nay và đưa ra một số giải pháp cho giai đoạn tới
6 Kết quả dự kiến đạt được
Về mặt lý luận: Đề tài làm rõ các vấn đề về xuất khẩu, hoạt động xuấtkhẩu sản phẩm Phân tích một cách tổng quát tình hình hoạt động sản xuất,chế biến và xuất khẩu chè của Phú Thọ hiện nay và những cam kết và yêu cầucủa các thị trường chính đối với sản phẩm chè trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế hiện nay
Về mặt thực tiễn: Đề tài đi phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu sảnphẩm chè của tỉnh Phú Thọ
Về mặt giải pháp: Từ đó đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩuchè của tỉnh Phú Thọ
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
XUẨT KHẨU HÀNG HOÁ 1.1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.1.1 Khái niệm về xuất khẩu và xuất khẩu hàng hoá
Xuất khẩu được hiểu là hoạt động bán hàng hoá, dịch vụ sản xuất trongnước cho người nước ngoài Nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất, xuất khẩu baogồm việc bán hàng hoá, dịch vụ cho người nước ngoài (một mặt là thươngmại hàng hoá) và xuất khẩu các yếu tố sản xuất
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước ( từnước này sang nước khác) để bán, trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanhtoán ( tiền có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc đối với cả hai quốcgia) hoặc trao đổi láy một hàng hoá khác có giá trị tương đương
Theo điều 2, Nghị định số 57/1998 NĐ-CP của Chính phủ nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt độngbán hàng hoá của thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theocác hợp đồng mua bán hàng hoá, bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất vàchuyển khẩu hàng hoá
Theo khoản 1 điều 28 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005: Xuất khẩuhàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưavào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hảiquan riêng theo quy định của pháp luật
Dù hiểu theo nghĩa nào thì hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩuhàng hoá nói riêng đều có những tác động to lớn đối với sự phát triển kinh tế-
xã hội của mỗi quốc gia
Trang 51.1.2 Các hình thức xuất khẩu hàng hoá
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau nhưngnhìn chung có các hình thức chủ yếu sau:
Một là, xuất khẩu trực tiếp, Đây là hoạt động xuất khẩu các hàng hoádịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc đặt mua từ các doanh nghiệpsản xuất trong nước, sau đó xuất khẩu những sản phẩm này sang các quốc giakhác với danh nghĩa là hàng của mình Ưu điểm của hình thức này là giúp cácdoanh nghiệp hay quốc gia khẳng định được uy tín trên thị trường quốc tế bởi
sự gắn kết giữa hàng hoá đó và thương hiệu của doanh nghiệp, quốc gia.Đồng thời thu được lợi nhuận cao, giảm các chi phí trung gian tạo điều kiệnthâm nhập thị trường, chủ động trong sản xuất và xuất khẩu Tuy vậy, hìnhthức này đòi hỏi một lượng vốn khá lớn và tiền ẩn nhiều rủi ro khó có thể báotrước
Hai là, xuất khẩu gia công uỷ thác Đây là hình thức các doanh nghiệpđứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho các doanh nghiệp giacông, sau đó thu hồi thành phẩm để xuất cho bên nước ngoài Doanh nghiệpđóng vai trò trung gian, là cầu nối giữa đơn vị gia công và đơn vị uỷ thác.Kết thúc hợp đồng doanh nghiệp được hưởng tỷ lệ phần trăm nhất định theogiá của lô hàng Hình thức này không đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ vốn đầu
tư nhưng phần trăm thu được không nhiều
Ba là, xuất khẩu uỷ thác Đây là hình thức doanh nghiệp đóng vai tròtrung gian xuất khẩu, làm thay cho các doanh nghiệp có hàng những thủ tụccần thiết để xuất khẩu hàng và hưởng phần trăn theo giá trị hàng xuất khẩu đãđược thoả thuận Hình thức này có ưu điểm là mức độ rủi ro thấp, không cầnvốn mua hàng nhưng lợi nhuận bị phân chia, mất sự liên hệ trực tiếp với thị
Trang 6trường đồng thời đòi hỏi doanh nghiệp phải có cán bộ kinh doanh có kinhnghiệm về nghiệp vụ xuất nhập khẩu.
Bốn là, buôn bán đối lưu Đây là phương thức giao dịch trao đổi hànghoá trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời
là người mua, lượng hàng giao dịch đi có giá trị tương ứng với lượng hàngnhận về Thực chất của hình thức này là sự mở rộng của phương thức giaodịch hàng đổi hàng
Năm là, xuất khẩu theo nghị định thư Hình thức xuất khẩu này nhằmmục đích thực hiện những thoả thuận đã được ký kết giữa chính phủ của cácquốc gia với nhau Hình thức xuất khẩu nầy đảm bảo được khả năng thanhtoán là rất cao nhưng đi kèm với nó là liên quan đến uy tín, lợi ích của quốcgia trên thị trường quốc tế mà không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đápứng được
Sáu là, xuất khẩu tại chỗ Đây là hình thức mà hàng hoá và dịch vụ cóthể chưa vượt ra khỏi biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó cũnggiống như hoạt động xuất khẩu Đó là việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ chocác đoàn ngoại giao, khách du lịch quốc tế,…Hoạt động xuất khẩu này đangđược phổ biến có nhiều ưu điểm như giảm được chi phí vận chuyển, độ rủi rothấp
Bảy là, gia công xuất khẩu Đây là một hình thức kinh doanh theo đómột bên nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm từ bên đặt gia công sau đóchế biến thành thành phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công.Hình thức nàygiúp bên nhận gia công tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhận đượccác thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất tuy nhiên doanh nghiệp
sẽ bị động, chất lượng sản phẩm không đều
Trang 7Tám là, tạm nhập tái xuất Đây là việc xuất khẩu những hàng hoa trướcđây đi nhập khẩu về nhưng vẫn chưa tiến hành các hoạt động chế biến Mụcđích của việc tái xuất khẩu là mua rẻ hàng hoá ở nước này sau đó bán đắt ởnước khác và thu số ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ra Hàng hoá có thể đi từ nướcxuất khẩu đến nước tái xuất rồi sang nước thứ ba hoặc có thế đi thẳng từ nướcxuất khẩu sang nước nhập khẩu.
1.1.3 Nội dung của hoạt động xuất khẩu:
a Quy mô xuất khẩu
Xác định quy mô xuất khẩu một mặt hàng bao gồm việc xác định sảnlượng cũng như doanh thu của mặt hàng đó Về mặt logic, sản phẩm có sứccạnh tranh cao, dễ bán trên thị trường thì sẽ có doanh thu cao Ngược lại, sứccạnh tranh của sản phẩm thấp thì doanh thu thu được từ hoạt động thương mạicũng nhỏ hơn Việc xác định quy mô, tốc độ xuất khẩu nói chung phụ thuộcvào quy mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự biến động trên thị trường quốc
tế Khi nhu cầu thị trường tăng lên, doanh thu xuất khẩu cao và tốc độ xuấtkhẩu cũng tăng trưởng đều đặn với cùng xu hướng phản ánh khả năng thỏamãn nhu cầu và thị hiếu thị trường cũng như sức cạnh tranh của hàng hóa sovới các đối thủ khác
b Chi phí sản xuất và giá sản phẩm xuất khẩu
Chi phí để tạo ra một hàng hóa là chi phí tính trên một đơn vị sản phẩm
có xem xét tương quan với chất lượng sản phẩm đó Chi phí sản xuất hànghóa, đặc biệt là nông sản dựa trên lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, khu vực.Các nước có lợi thế so sánh trong hoạt động sản xuất nông sản, nhờ tích lũykinh nghiệm qua nhiều thế hệ, cũng như điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cácgiống cây phát triển Tuy nhiên, hiện nay cạnh tranh nhằm giảm chi phí sảnxuất nông sản xuất khẩu không chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên thuận lợi và
Trang 8kinh nghiệm trong sản xuất, mà phải dựa trên hiệu quả của tất cả các khâu:sản xuất, thu mua, vận chuyển, chế biến, kho bãi, cầu cảng… Bên cạnh đó,chi phí sản xuất chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để nâng cao sức cạnh tranhcho hàng hóa xuất khẩu, vì nông sản xuất khẩu muốn cạnh tranh với các đốithủ khác còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chiến lược kinh doanh,marketing, quản trị xuất khẩu, khả năng dự báo và đối phó với những thay đổibất thường của thị trường quốc tế…
Giá cả của bất kỳ loại hàng hóa xuất khẩu nào cũng phục thuộc vào cácyếu tố như: chi phí, nhu cầu, mức độ cạnh tranh, các quy định về luật và thuếxuất – nhập khẩu, khả năng thống trị thị trường của mặt hàng… Thôngthường, cùng một mặt hàng với cùng chất lượng, kiểu dáng bao bì… ngườitiêu dùng sẽ chọn lựa dựa trên tiêu chuẩn về giá Giá hàng hóa của hãng càng
rẻ càng có lượng tiêu thụ lớn Tuy nhiên, giá cao cũng có tác dụng kích thíchngười mua, vì nó hàm ý giá trị của hàng hóa cao hơn Giá cả của nông sản đặcbiệt phụ thuộc vào công đoạn chế biến Càng gia tăng công đoạn chế biến với
kỹ thuật hiện đại, giá trị nông sản càng cao dẫn đến giá bán cũng sẽ gia tăng
c Cơ cấu và chất lượng hàng xuất khẩu
Chủng loại nông sản trên thế giới rất đa dạng, với nhiều kiểu, tên gọi vàchất lượng khác nhau Hơn thế, nông sản mà mỗi vùng miền với đặc điểm khíhậu, đất đai, nguồn nước, chế độ canh tác và giống lâu đời đã tạo nên rấtnhiều loại đặc sản của từng địa phương
Việc xác định loại nông sản xuất khẩu chính phải dựa trên lợi thế so sánhcủa mỗi quốc gia (lợi thế về điều kiện tự nhiên, nguồn lực, về kinh nghiệm…)cũng như yêu cầu của các thị trường tiềm năng
Trang 9d Thị trường và thương hiệu nông sản xuất khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Việc xác định chỉ tiêu cho từng thị trường xuất khẩu nằm trong địnhhướng xuất khẩu của các quốc gia dưới áp lực cạnh tranh toàn cầu Địnhhướng thị trường xuất khẩu không những giúp các quốc gia xác định lợi thế
so sánh và yêu cầu từ thị trường từ đó tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa
mà còn hỗ trợ các nhà quản lý xác định và dự báo được quy mô và chủng loạinông sản xuất khẩu làm cơ sở để đề xuất kế hoạch sản xuất cho kỳ tiếp theo
Do đó, định hướng thị trường xuất khẩu có tính quyết định tính khả thi củachiến lược
Xác định chỉ tiêu thị trường xuất khẩu bao gồm: dự báo nhu cầu gạo trênthị trường quốc tế (các thị trường truyền thống và các thị trường tiềm năng),xác định các yêu cầu về đảm bảo an toàn vệ sinh, các quy định kiểm tra, cácyêu cầu về thời gian số lượng
1.1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu
a Quan hệ chính trị ngoại giao
Một quốc gia muốn phát triển thị trường hàng hoá xuất khẩu phải cóđường lối chính trị mở cửa hội nhập với thế giới một cách nhất quán và ổnđịnh lâu dài, có quan hệ ngoại giao cởi mở được thể hiện cụ thể cụ thể bằngcác hiệp định được ký kết và triển khai cụ thể cho từng thời kỳ Việc thiết lậpquan hệ ngoại giao giữa các nước là điều kiện tiên quyết thúc đẩy hoạt độngxuất khẩu và tìm thị trường đối tác
b Chính sách thương mại của Nhà nước
Chính sách mậu dịch tự do: một nước theo đuổi chính sách mậu dịch tự
do thì ở đó Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp và quá trình điều tiết ngoạithương, Nhà nước sẽ mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa để cho hàng hoá và
Trang 10vốn đầu tư tự do lưu thông và tạo điều kiện cho hoạt động thương mại quốc tế
tự do phát triển
Chính sách bảo hộ mậu dịch: khi sử dụng chính sách này Nhà nướcthường áp dụng các công cụ, biện pháp thuế quan và phi thuế quan để tránhcho hàng hoá và doanh nghiệp trong nước khỏi cạnh tranh trực tiếp với hànghoá và doanh nghiệp nước ngoài
d Hạn ngạch xuất khẩu
Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng và giá trị của một loạihàng hoá hoặc một nhóm hàng hoá được phép xuất khẩu Đây là công cụ quantrọng thứ hai sau thuế tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu hàng hoá.Trên thực tế thì để khuyến khích xuất khẩu, cách tốt nhất là Nhà nước khôngnên áp dụng hạn ngạch xuất khẩu trừ những trường hợp các mặt hàng có liênquan đến an ninh quốc gia như lúa gạo hoặc các hàng hoá xuất khẩu sangnhững thị trường mà tại đó có quy định hạn ngạch nhập khẩu
e Tỷ giá hối đoái
Trang 11Tỷ giá hối đoái là một công cụ tác động tới hoạt động xuất nhập khẩumột cách gián tiếp, Các nước theo đuổi chính sách hướng về xuất khẩuthường sử dụng chính sách hạ giá đồng nội tệ, Khi ấy hàng hoá xuất khẩu sẽ
rẻ hơn tương đói so với hàng hoá của các quốc gia khác Điều này khuyếnkhích các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá nhiều hơn, làm tăng thêm GDPcho nền kinh tế
f Quy định hải quan
Hàng hoá xuất khẩu phải được thông qua nhanh chóng Nếu hoạt độnghải quan phức tạp gây nhiều phiền hà cho người xuất khẩu thì sẽ làm mất cơhội kinh doanh cho các doanh nghiệp Do đó cần phải hoàn thiện quy trìnhnghiệp vụ hải quan, áp dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại phân loại hànghoá theo mức độ quan trọng để từ đó thông quan nhanh chóng cho nhữnghàng hoá thông thường
g Hỗ trợ xúc tiến thương mại
Nhà nước đầu tư tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật trang thiết bị choviệc thu thập thông tin thị trường thế giới hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu,giúp các doanh nghiệp giao lưu với các đối tác nước ngoài để tìm kiếm thịtrường và cơ hội kinh doanh, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá nhưtham gia hội chợ quốc tế, gặp gỡ trao đổi thông tin thương mại với các doanhnghiệp nước ngoài
h Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Đây là hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan theo đó quốc gianhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng hàng xuất khẩusang nước mình một cách tự nguyện nếu không nước nhập khẩu sẽ áp dụngcác biện pháp kiên quyết
Trang 121.1.4 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế
xã hội
a Đối với quốc gia xuất khẩu
• Xuất khẩu tạo điều kiện cho quốc gia tận dụng lợi thế so sánh của mình, thúc đẩy phân công lao động xã hội
Chỉ có những hàng hoá có sức cạnh tranh cao thì mới có thể đứng vữngtrên thị trường thế giới Do đó xuất khẩu giúp cho quốc gia có thể nhận biếtthế mạnh của mình Từ đó quốc gia tập trung nguồn lực để sản xuất và cungứng những sản phẩm thuộc thế mạnh của mình, phân công lao động quốc tếđược hình thành Nguồn lực sẽ được phân bổ hiệu quả hơn trên cơ sở cácquốc gia đều nhận thấy được lợi thế so sánh của mình
Xuất khẩu tạo ra cơ hội cho tất cả các quốc gia nhất là các quốc gia đangphát triển có thể tận dụng được thời cơ, đẩy mạnh công nghiệp hoá trên cơ sởứng dụng thành quả cách mạng khoa học công nghệ vào sản xuất
và những nguyên vật liệu cần thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Xuất khẩu là động lực kích thích các ngành sản xuất phát triển, tăng thunhập cho nền kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân
Mặc dù không phải là nguồn thu ngoại tệ duy nhất nhưng có thể khẳngđịnh rằng đây là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu nhất và bền vững nhất Nguồnthu quan trọng nhất để nhập khẩu máy móc, công nghệ để phục vụ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là từ xuất khẩu Xuất khẩu vừa là tiền đề, làđộng lực của nhập khẩu Thúc đẩy xuất khẩu để tăng khả năng nhập khẩu mởrộng sản xuất và tăng trưởng kinh tế Đây chính là sự kết hợp giữa nội lực và
Trang 13ngoại lực trong tăng trưởng kinh tế Ngoại tệ thu được từ xuất khẩu còn lànguồn tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia để ổn định và điều tiết nền kinh tế.
• Xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất sản phẩm
Xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra khả năng mở rộngthị trường tiêu thụ nhờ vậy mà sản xuất có thể phát triển và ổn định
Sự phát triển của hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu tạo điều kiện chocác ngành sản xuất phụ trợ phát triển theo Nếu quốc gia phát huy được thếmạnh nhờ hàng xuất khẩu sẽ là động lực để chuyển dịch cơ cấu sản xuất
Do phải cạnh tranh với hàng hoá của các quốc gia khác nhau trên thịtrường thế giới nên nhà sản xuất hàng xuất khẩu sẽ phải chú ý nhiều hơn đếnchất lượng, mẫu mã sản phẩm xuất khẩu cho phù hợp với nhu cầu thị trường
Sự cạnh tranh này đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất, hoàn thiệncông việc quản trị sản xuất và kinh doanh, hình thành cơ cấu sản xuất luônthích ứng được với những thay đổi của thị trường Do đó xuất khẩu tạo tiền đềkinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất
• Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
Sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc
và tăng thu nhập cho người lao động không chỉ ở những doanh nghiệp, nhữngđịa phương sản xuất hàng xuất khẩu mà cả ở những địa phương khác do sự dichuyển của mọt bộ phận lao động vào sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tạo cơ hộicho những người khác có khả năng kiếm được việc làm Nhờ vậy mà đời sốngcủa người dân được nâng cao, thất nghiệp giảm và tệ nạn xã hội cũng có xuhướng giảm theo