1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện văn bàn tỉnh lào cai

80 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, nhất là từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988, kinh tế trang trại đã có bước phát triển khá và từng bước khẳng định là một hình thức tổ chức

Trang 1

TRẦN QUANG PHÚ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở HUYỆN VĂN BÀN

Trang 2

TRẦN QUANG PHÚ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở HUYỆN VĂN BÀN

TỈNH LÀO CAI

Ngành : Phát triển nông thôn

Mã số : 862 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Đinh Ngọc Lan

Thái nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được công bố hoặc sử dụng

Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2019

Tác giả luận văn

Trần Quang Phú

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm - Thái Nguyên, Khoa Kinh tế và PTNT, cảm ơn các thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường Đại học Nông lâm -Thái Nguyên Tôi xin bày tỏ lòng

biết ơn tới cô giáo PGS.TS Đinh Ngọc Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn và

giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan, đơn vị, trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, các hộ gia đình, các khuyến nông viên xã đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, chia sẻ để tôi hoàn thiện luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì những

lý do chủ quan và khách quan cho nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô

và các bạn học viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2019

Tác giả luận văn

Trần Quang Phú

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Cơ sở lý luận về kinh tế trang trại 5

1.1.2 Phân loại trang trại 8

1.1.3 Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại 11

1.1.4 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại 13

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế trang trại 14

1.1.2 Cơ sở thực tiễn về kinh tế trang trại 17

1.1.3 Những bài học rút ra từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn 24

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường 27

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29

2.2 Câu hỏi nghiên cứu 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 38

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 38

Trang 6

2.3.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 39

2.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu, phân tích 40

2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất của trang trại 42

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

3.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại của huyện Văn Bàn 45

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở huyện Văn Bàn 45

3.1.2 Đại bàn phân bố các loại trang trại ở huyện Văn Bàn 47

3.1.3 Đặc điểm tình hình cơ bản về trang trại 48

3.2 Thực trạng sản xuất kinh doanh của trang trại huyện Văn Bàn 53

3.2.1 Thực trạng về phương thức sản xuất của các trang trại huyện Văn Bàn 53

3.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của kinh tế trang trại tại huyện Văn Bàn 55

3.2.3 Những vấn đề rút ra từ nghiên cứu thực trạng hiệu quả kinh tế của các trang trại ở huyện Văn Bàn 58

3.2.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả của các trang trại ở Văn Bàn 60

3.3 Giải pháp phát triển trang trại trên địa bàn huyện Văn Bàn 63

3.3.1 Giải pháp về đất đai 63

3.3.2 Giải pháp về vốn 64

3.3.3 Giải pháp về thị trường 65

3.3.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 65

3.3.5 Các giải pháp khác 65

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

1 Kết luận 67

2 Kiến nghị 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

NLN: Nông lâm nghiệp

VA: Giá trị gia tăng

MI: Thu nhập hỗn hợp

IC: chi phí trung gian

KTCB: Kiến thiết cơ bản

KTTT: Kinh tế trang trại

SXKD: Sản xuất kinh doanh

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất huyện Văn Bàn 28

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Văn Bàn 29

Bảng 2.3: Cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp, lâm nghiệp 30

và thủy sản trên địa bàn huyện Văn Bàn 30

Bảng 2.4: Diện tích các loại cây trồng trên địa bàn huyện Văn Bàn 31

Bảng 2.5: Số lượng gia súc, gia cầm huyện Văn Bàn 31

Bảng 2.6: Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn 33

Bảng 2.7: Kết cấu hạ tầng, dịch vụ của các xã, thị trấn trên địa bàn huyện 34

Bảng 3.1 Số lượng và cơ cấu các loại trang trại của Văn Bàn 46

Bảng 3.2: Số lượng trang trại chia theo đơn vị xã, thị trấn 47

Bảng 3.3 Đặc điểm, tình hình cơ bản về chủ trang trại 49

Bảng 3.4 Cơ cấu trang trại theo quy mô đất đai 51

Bảng 3.5 Cơ cấu về thu nhập trang trại huyện Văn Bàn 54

Bảng 3.6 Chi phí bình quân của một trang trại 55

Bảng 3.7 Thu nhập hỗn hợp bình quân của trang trại 57

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

I Tóm tắt mở đầu

Học viên: Trần Quang Phú

Đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”

Chuyên ngành: Phát triển nông thôn ; Mã số: 8.62.01.16

Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

II Nội dung bản trích yếu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Văn Bàn Phân tích được hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các trang trại tại địa bàn nghiên cứu Để từ đó đề xuất những giải pháp kinh tế chủ yếu thúc đẩy phát triển tốt hơn nữa kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Văn Bàn góp phần tăng thu nhập và tạo việc làm cho người động trên địa bàn huyện

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp thu thập thông tin (cả thông tin sơ cấp

và thứ cấp) Tiến hành điều tra thu thập thông tin ở toàn bộ 24 trang trại trên địa bàn huyện Văn Bàn Ngoài ra, đề tài dùng các phương pháp thu thập và phân tích thông tin như: đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), điều tra phỏng vấn sâu chủ trang trại với bộ câu hỏi chuẩn bị trước Dùng các phương pháp phân tích: thống kê kinh tế, thống kê so sánh, phương pháp chuyên gia

2.3 Kết quả nghiên cứu chính

Kết quả nghiên cứu chính đã chỉ ra rằng:

2.4 Kết luận chủ yếu của đề tài

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế trang trại là bước phát triển cao có tính quy luật của kinh tế nông

hộ, là mô hình sản xuất đã có từ rất lâu, mang tính phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Thực tiễn đã khẳng định khả năng phát triển và hiệu quả nhiều mặt của kinh tế trang trại, nó góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tạo ra khối lượng nông sản hàng hoá ngày càng nhiều; tạo ra khả năng to lớn trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, , trên cơ

sở đó góp phần giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế xã hội và môi trường bền vững

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, nhất là từ sau Nghị quyết 10 của

Bộ Chính trị năm 1988, kinh tế trang trại đã có bước phát triển khá và từng bước khẳng định là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp

có nhiều ưu thế và phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của một nền sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, kinh tế trang trại đã được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII khẳng định và khuyến khích phát triển Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại nhằm thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế trang trại và đề ra các chính sách của Nhà nước cho kinh tế trang trại phát triển

Tuy nhiên, kinh tế trang trại hiện nay chưa phát triển rộng và chưa tương xứng với những tiềm năng, thế mạnh của các vùng, miền trong cả nước; chưa tạo ra bước đột phá trong việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, mặt đất, mặt nước hoang hoá ở các khu vực trung

du, miền núi, ven biển để phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp; chưa đóng

Trang 11

góp thỏa đáng vào việc mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh các mặt hàng nông sản mang tính hàng hoá trong điều kiện thị trường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Kinh tế trang trại vẫn là một loại hình kinh tế còn mới mẻ ở nước ta, vì vậy cần phải đẩy mạnh nghiên cứu cụ thể tiềm năng và lợi thế đối với từng vùng, từng địa phương để có những chính sách khuyến khích phát triển kinh

tế trang trại, đưa ra những giải pháp phù hợp, sát thực tế, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, yếu tố bất lợi có thể xảy ra trong quá trình đầu tư và phát triển

Văn Bàn miền núi của tỉnh, cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là Nông, Lâm nghiệp Những năm gần đây, sản xuất nông lâm nghiệp của huyện đã và đang

có bước chuyển dịch tích cực, sản lượng nông sản hàng hoá sản xuất tăng khá qua các năm, trong đó mô hình kinh tế trang trại ở Văn Bàn đang trở thành một hướng đi ưu tiên trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện Vấn đề đặt ra từ thực tiễn của quá trình phát triển kinh tế trang trại ở Văn Bàn đang rất cần được quan tâm nghiên cứu đó là:

- Sự nhận thức về vị trí,vai trò của kinh tế trang trại trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương

- Đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện

- Phân tích các yếu tố tác động đến kinh tế trang trại và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến sự phát triển của kinh tế trang trại

- Đưa ra các định hướng và giải pháp phù hợp để phát triển kinh tế trang trại

Với ý nghĩa đó đề tài: “Thực trạng và những giải pháp phát triển kinh

tế trang trại ở Văn Bàn” là vấn đề đặt ra mang tính cấp thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Văn Bàn Phân tích được hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các trang trại tại địa bàn nghiên cứu Để từ đó đề xuất những giải pháp kinh tế chủ yếu thúc đẩy

Trang 12

phát triển tốt hơn nữa kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Văn Bàn góp phần tăng thu nhập và tạo việc làm cho người động trên địa bàn huyện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề về kinh tế trang trại ở huyện Văn Bàn để làm rõ tính lý luận và thực tiễn cho quá trình hình thành và phát

triển kinh tế trang trại của địa phương

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt không gian: nghiên cứu trên địa bàn huyện Văn Bàn

- Về mặt thời gian: nghiên cứu tư liệu tổng quan được thu thập trên các tài liệu đã công bố từ 2015 đến nay

Số liệu đánh giá thực trạng được thu thập trong khoảng thời gian từ năm

2015 - 2017

3.3 Nội dung nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu về tổ chức, quy mô, cơ cấu, loại hình, kết quả sản xuất kinh doanh hiệu quả kinh tế của các trang trại trên địa bàn huyện Văn Bàn

4 Ý nghĩa của luận văn

4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

Luận văn là nguồn tham khảo cho những người quan tâm đến kinh tế trang trại nói chung đặc biệt là kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Văn Bàn nói riêng Là tài liệu tham khảo và giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Là tài liệu cung cấp thông tin tin cậy về kinh tế trang trại cho các nhà nghiên cứu, các cấp chính quyền, người hoạch định chính sách, nhà sản xuất

và những người quan tâm đến kinh tế trang trại ở Văn Bàn

Trang 13

4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp cho cấp uỷ và chính quyền địa phương có đủ cơ sở khoa học để chỉ đạo phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyện một cách tốt nhất

- Góp phần kiến nghị, đề xuất việc điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế trang trại của Đảng và Nhà nước nói chung

và địa phương tỉnh, huyện nói riêng

- Kết quả nghiên cứu giúp cho các chủ trang trại có những định hướng

và giải pháp đúng đắn nhằm phát triển kinh tế trang trại, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận về kinh tế trang trại

1.1.1.1 Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại

Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến Một số tác giả khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới cho rằng, các trang trại được hình thành từ cơ sở của các hộ tiểu nông sau khi từ bỏ sản xuất tự cung tự cấp khép kín, vươn lên sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh

Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả vốn và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra một hoặc vài loại sản phẩm hàng hoá từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường

Về thực chất "trang trại" và "kinh tế trang trại" là những khái niệm không đồng nhất Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó Các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và phát triển của trang trại có thể tóm lược thành hai nhóm đó là quan hệ giữa trang trại với môi trường bên ngoài và quan hệ giữa trang trại với môi trường bên trong Quan hệ giữa trang trại với môi trường bên ngoài bao gồm hai cấp độ, môi trường vĩ vô (cơ chế, chính sách chung của Nhà nước ) và môi trường vi mô (các đối tác, khách hàng, bạn hàng, đối thủ cạnh tranh ) các quan hệ nội tại bên trong trang trại rất đa dạng và phức tạp như các quan hệ về đầu tư, phân bổ nguồn lực cho các ngành, các bộ phận trong trang trại, các quan hệ lợi ích kinh tế liên quan đến việc phân phối kết quả làm

Trang 15

ra, trong đó lợi ích của chủ trang trại với tư cách là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất và lợi ích của người lao động làm thuê là rất quan trọng Để tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển thì các quan hệ về lợi ích phải được giải quyết một cách thoả đáng Các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tồn tại và phát triển của trang trại được tóm lược ở sơ đồ 1.1

Hình 1.1 Sơ đồ các quan hệ kinh tế trong quá trình hoạt động

sản xuất kinh doanh của trang trại

Ngoài mặt kinh tế, trang trại còn có thể được nhìn nhận từ mặt xã hội và môi trường

Về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó các mối quan hệ xã hội đan xen nhau

Hình 1.2 Chu trình hoạt động của trang trại

Trang 16

Về mặt môi trường, trang trại là một không gian sinh thái, trong đó diễn

ra các quan hệ sinh thái đa dạng Không gian sinh thái trang trại có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại trực tiếp với hệ sinh thái của vùng Ba mặt trên của trang trại có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Sự kết hợp hài hoà ba mặt này sẽ bảo đảm cho kinh tế trang trại phát triển bền vững

và bảo vệ tốt môi trường, sử dụng tối ưu các nguồn lực

Hình 1.3 Sơ đồ mối quan hệ ba mặt cơ bản của trang trại

Trong các mặt kinh tế- xã hội và môi trường của trang trại thì mặt kinh tế

là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại Vì vậy trong nhiều trường hợp khi nói đến kinh tế trang trại, tức là nói tới mặt kinh tế của trang trại, người ta gọi tắt là trang trại

Theo quan điểm hệ thống có thể thấy trang trại như là một tổ chức kinh

tế mang tính hệ thống rõ rệt Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của

Trang 17

trang trại có quan hệ chặt chẽ với môi trường bên ngoài và trải qua ba công đoạn đó là đầu vào (inputs); quá trình (process) và đầu ra (outputs)

Có thể nói rằng trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệu sản xuất cơ bản của hộ gia đình, hoàn toàn tự chủ, sản xuất kinh doanh bình đẳng với các tổ chức kinh tế khác, sản phẩm làm ra chủ yếu là để bán và tạo nguồn thu nhập chính cho gia đình

1.1.2 Phân loại trang trại

Tùy vào điều kiện của từng quốc gia, từng vùng mà trang trại lại có những loại hình khác nhau Việc phân loại trang trại có ý nghĩa quan trọng đối với việc phân tích và từ đó có thể đưa ra những giải pháp phù hợp với từng loại hình trang trại

Dưới đây là một số cách phân loại trang trại phổ biến:

* Phân loại theo cơ cấu sản xuất: Căn cứ vào cơ cấu sản xuất thì các

trang trại được chia làm hai loại sau đây:

- Trang trại tổng hợp: Là loại trang trại kinh doanh nhiều ngành nghề như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, chế biến và dịch vụ… Đây là loại trang trại đang phát triển tương đối mạnh và phổ biến hiện nay trên thế giới

- Trang trại thuần nông hoặc thuần lâm: Là loại trang trại chỉ kinh doanh một lĩnh vực nông nghiệp hoặc lâm nghiệp

* Phân loại theo hình thức tổ chức quản lý: Căn cứ vào hình thức tổ

chức quản lý, có thể chia các trang trại thành các loại sau đây:

- Trang trại gia đình: Đây là loại hình tổ chức kinh doanh phổ biến nhất, tồn tại lâu dài trong nền nông nghiệp hàng hoá nói riêng và trong nền kinh tế thị trường nói chung Đặc trưng của trang trại gia đình là sử dụng chủ yếu sức lao động và tiền vốn của gia đình Liên kết giữa các thành viên trong trang trại không chỉ bằng quan hệ kinh tế mà sâu sắc hơn là quan hệ huyết thống, gia tộc Trang trại gia đình là lực lượng chủ yếu sản xuất nông phẩm hàng hoá cho xã hội và tồn tại lâu dài trong nền kinh tế thị trường mà không bị các

Trang 18

doanh nghiệp lớn thôn tính bởi quá trình cạnh tranh vì trang trại gia đình có

ba lợi thế mà các loại hình doanh nghiệp khác không thể có được, đó là:

Thứ nhất, đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật, muốn đạt năng suất và hiệu quả cao, con người phải chăm sóc cây trồng, vật nuôi tỷ mỷ,

kỹ lưỡng, đúng lúc, đúng cách (đúng kỹ thuật) không kể sớm khuya, trong suốt quá trình tái sản xuất tự nhiên của chúng Muốn vậy, quy mô trang tại không quá lớn để phù hợp với khả năng quản lý và kiểm soát của tất cả mọi thành viên trong trang trại, đồng thời lợi ích của mỗi người sản xuất nông nghiệp phải gắn chặt trực tiếp với kết quả cuối cùng của cây trồng và vật nuôi Chỉ có kinh tế gia đình mới có khả năng và tạo ra cơ chế lợi ích của mỗi chu kỳ tài sản xuất xã hội cũng như tái sản xuất tự nhiên trong nông nghiệp Thứ hai, kinh doanh nói chung và kinh doanh nông nghiệp nói riêng thường gặp rủi ro, khi thị trường và môi trường tự nhiên biến động bất thuận làm chi giá bán bằng giá thành sản xuất nông phẩm, trang trại gia đình vẫn có thu nhập theo cơ chế "lấy công làm lãi" Bởi vì, trang trại gia đình chủ yếu sử dụng sức lao động của mình, còn các loại hình trang trại khác chủ yếu sử dụng sức lao động làm thuê, gặp hoàn cảnh trên sẽ bị phá sản

Thứ ba, nền nông nghiệp hiện đại đòi hỏi sản xuất tập trung chuyên môn hoá trên cơ sở phát triển tổng hợp đa dạng hoá để vừa tận dụng tối đa các yếu

tố sản xuất, vừa bảo vệ môi trường sinh thái Các mô hình sản xuất tổng hợp VAC, VACR,… trên thực tế đã thể hiện rõ hiệu quả KT-XH và sinh thái của

nó cao hơn so với các mô hình sản xuất chuyên môn hoá độc canh, một nền nông nghiệp tổng hợp đa dạng phát triển bền vững chỉ có thể có được khi mọi quá trình sản xuất sinh học đều được kiểm soát chặt chẽ, tỷ mỷ Điều này, chỉ

có thể thực hiện khi quy mô sản xuất trong một đơn vị không quá lớn và nhờ tinh thần trách nhiệm cao của mỗi người lao động tham gia vào quá trình sản xuất sinh học đó Vì thế, chỉ có trang trại gia đình mới có thể đáp ứng được cả hai yêu cầu nói trên

Trang 19

- Trang trại liên doanh bao gồm những trang trại hình thành trên cơ sở liên kết một số gia đình có quan hệ thân thuộc để cùng SXKD nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường và có đủ tiềm lực để trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho SXKD

- Trang trại hợp doanh là một trang trại tư bản được hình thành và tổ chức theo kiểu công ty cổ phần Trang trại này trong quá trình kinh doanh có quyền phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn Loại trang này phổ biến ở Mỹ và Canada

* Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất

- Loại hình mà trong đó chủ trang trại và gia đình ở ngay trong trang trại

và trực tiếp điều hành cũng như trực tiếp sản xuất Đây là loại hình phổ biến nhất ở các nước Châu Á và chủ trang trại hầu hết là nông dân

- Loại hình chủ trang trại và gia đình không ở nông thôn, cũng không ở trang trại mà ở một nơi khác (thị trấn, thành phố) nhưng vẫn trực tiếp điều hành, quản lý trang trại, loại hình này có chiều hướng phát triển ở một số nước công nghiệp phát triển

- Loại hình chủ trang trại sống ở thị trấn, thành phố thuê người khác quản lý trực tiếp quản lý và điều hành trang trại ở nông thôn

- Loại hình chủ trang trại uỷ thác cho chủ khai thác là bà con, bạn bè quản lý từng phần hoặc toàn bộ quá trình SXKD trong khoảng thời gian nhất định khi chủ trang trại đi làm việc khác Ở Đài Loan đến nay có khoảng 75%

số chủ trang trại gia đình đã áp dụng phương thức sản xuất uỷ thác

* Phân loại theo cơ cấu thu nhập

- Loại hình trang trại thuần nông với đặc điểm là có cơ cấu thu nhập dựa hoàn toàn hay phần lớn vào nông nghiệp

- Loại hình trang trại có thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp, loại trang trại này ngày càng tăng và ở một số nước có nhiều hơn loại trang trại thuần nông

Trang 20

* Phân loại trang trại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất

- Loại hình trang trại mà trong đó chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất, đây là loại hình trang trại phổ biến

- Loại hình hình trang trại mà trong đó chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất con lại đi thuê của người khác

- Loại hình trang trại thuê toàn bộ tư liệu sản xuất của chủ trang trại khác

để tự SXKD

1.1.3 Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại

Trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn công tác quản lý trang trại, việc đưa ra những tiêu chí cụ thể để xác định kinh tế trang trại có ý nghĩa rất quan trọng

Thông tư Liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và Tổng cục Thống kê hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại; Thông tư Số 74/2003/TT-BNN, ngày 04 tháng 07 năm 2003 của Bộ NN&PTNT sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư liên tịch 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, xác định: Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí sau:

Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm:

- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên

- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên Quy mô sản xuất của trang trại phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế

* Đối với trang trại trồng trọt

- Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên Trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên

Trang 21

- Trang trại trồng cây lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước

* Đối với trang trại chăn nuôi:

- Chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò,…): Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên

- Chăn nuôi gia súc (lợn, dê, )

+ Gia súc sinh sản: Phải đạt từ 20 con trở lên đối với lợn và từ 100 con trở lên đối với dê, cừu

+ Gia súc lấy thịt: Phải đạt từ 100 con trở lên đối với lợn và từ 200 con trở lên đối với dê, cừu

- Chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng,…): Thường xuyên đạt từ

2000 con trở lên, không tính những con dưới 7 ngày tuổi

* Trang trại nuôi trồng thuỷ sản:

Diện tích mặt nước phải đạt từ 2 ha trở lên, riêng đối với trang trại nuôi tôm kiểu công nghiệp, diện tích mặt nước phải đạt từ 01 ha trở lên

Ngoài ra, còn một số trang trại đặc thù khác (Ví dụ: Trang trại trồng hoa, trồng nấm, nuôi ong, cây cảnh…) chủ yếu phải dựa vào chỉ tiêu giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ

Đối với hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm

Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp

và PTNT quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại thay thế Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 13/6/2000 của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê về hướng dẫn tiêu chí xác định kinh tế trang trại và Thông tư số 74/2003/TT- BNN ngày 4/7/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sửa đổi, bổ sung mục III của Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK

Trang 22

Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:

1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long; - 2,1

ha đối với các tỉnh còn lại

b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;

3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

1.1.4 Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại

Theo Nghị quyết 03/2000/NQ-CP, kinh tế trang trại có các đặc trưng cơ bản sau:

- Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hoá với quy mô lớn theo nhu cầu của thị trường

- Mức độ tập trung và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như đất đai, số đầu con gia súc, lao động, giá trị nông, lâm, thủy sản hàng hoá

- Chủ trang traị có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ

- Cách thức tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại ngày càng mang tính khoa học, chuyên nghiệp

Kinh tế trang trại thực chất là một cấp độ trong quá trình phát triển của sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa Tuy nhiên, giữa hai hình thức kinh tế này có những đặc điểm khác nhau Trong khi ở loại hình kinh tế hộ

Trang 23

gia đình, mục đích sản xuất là tự cung tự cấp, quy mô sản xuất nhỏ, trình độ sản xuất thấp, mức độ quan hệ với thị trường và khả năng tích lũy tái sản xuất thấp, tỷ suất hàng hóa nhỏ thì kinh tế trang trại lại có những đặc trưng trái ngược, cụ thể là: mục đích sản xuất là bán sản phẩm ra thị trường, quy mô sản xuất lớn, trình độ sản xuất cao, mức độ quan hệ với thị trường và khả năng tích lũy tái sản xuất cao, tỷ suất hàng hóa lớn

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế trang trại

1.1.5.1 Những nhân tố bên ngoài

- Các yếu tố tự nhiên (thời tiết, khí hậu, dịch bệnh)

Đây là một yếu tố có sự tác động vô cùng to lớn đến hoạt động của kinh

tế nông nghiệp nói chung cũng như tới kinh tế trang trại nói riêng, vì đối tượng của kinh tế trang trại đều là các sinh vật sống, có thời gian sinh trưởng

và phát triển phụ thuộc rất lớn đối với yếu tố tự nhiên Trong những năm vừa qua, sự biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu cùng với ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân thấp như nạn phá rừng gây nên thảm họa về môi trường như hạn hán, lụt lội sảy ra liên tiếp, môi trường bị tàn phá một cách nghiêm trọng, sự mất cân bằng sinh thái là tất yếu, dẫn đến dịch bệnh, sâu bọ phá hoại mùa màng khủng khiếp, điều này khiến không ít các nhà quản

lý cũng như các chủ trang trại ngần ngại khi đầu tư Cụ thể các loaị dịch bệnh luôn hoành hành, làm cho những nhà chăn nuôi luôn phải đau đầu khi mà hết bệnh lở mồn long móng sảy ra ở gia súc, sau đó lại đến bệnh H5N1 sảy ra ở gia cầm, đến nay lại dịch bệnh lợn tai xanh….Thông qua đây ta thấy rằng đối với dịch bệnh nó là hiểm họa cao nhất đối với người làm nông nghiệp

- Cơ sở hạ tầng: Đây là yếu tố luôn quan trọng cho sản xuất kinh doanh Kinh tế trang trại không phải là một trường hợp ngoại lệ, một cơ sở hạ tầng tốt với sự cung ứng tốt về hạ tầng giao thông, điện lưới, hệ thống cấp thoát nước sẽ là những điều kiện vô cùng tốt cho việc sản xuất kinh doanh cũng như phân phối của các trang trại

Trang 24

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm:

Giống như bất cứ đơn vị sản xuất kinh doanh, các trang trại phải xác định được thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình Cần phải xác định được đối tượng khách hàng là ai? Khách hàng mua nông sản cũng được phân chia theo nhiều nhóm đối tượng khác nhau Ví dụ, những khách hàng là những công dân của những nước có thu nhập cao, thường họ có yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và những tiêu chuẩn vệ sinh, tuy nhiên họ thường sẵn sàng trả giá cao khi mua nông sản Với những nhóm khách hàng có thu nhập thấp, thường thì họ có yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hoá cũng thấp, giá cả cũng khó chấp nhận ở mức cao Ngoài ra, chúng ta cần chú ý đến đặc điểm khách hàng từng khu vực châu lục, cũng có những đặc điểm yêu cầu về sản phẩm có khi cũng khác nhau

Một đặc điểm chú ý nữa với khách hàng là nên quan tâm đến yếu tố văn hoá và đặc điểm tôn giáo mà khách hàng đang tuân thủ Ví dụ, thịt lợn là thứ

mà những người theo đạo Hồi kiêng, cũng như những người theo đạo Hin Đu không dùng thịt bò là thực phẩm trong bữa ăn của mình Tóm lại thị trường tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng, nó là vấn đề sống còn của sự phát triển kinh tế trang trại Đối với hàng hoá, sản phẩm nông nghiệp thì thị trường tiêu thụ sản phẩm là vô cùng lớn Tất cả các thành phần kinh tế đều phải sử dụng sản phẩm của nông nghiệp Mà hiện nay kinh tế trang trại đang là then chốt và chủ đạo trong phát triển nông nghiệp Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp lại luôn phải gắn liền với đất đai, phụ thuộc rất lớn về khí hậu và thời tiết, bệnh dịch Hơn nữa vùng sản xuất lại luôn dàn trải, không tập trung Các hệ thống phân tán rộng khắp trên toàn lãnh thổ Chính điều này cũng khiến gặp không

ít khó khăn trong vấn đề tiêu thụ

- Chính sách về đất đai:

Đất đai là yếu tố quan trọng và không thể thay thế trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp do vậy các chính sách về đất đai là vô cùng cần thiết nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại nói

Trang 25

riêng Như ở Việt Nam, có các chính sách như: giao đất giao rừng cho người dân sử dụng, sản xuất kinh doanh; dồn điền đổi thửa,…

- Các chính sách khác như: Chính sách thuế, chính sách về việc hỗ trợ phụ nữ nông thôn phát triển sản xuất nâng cao chất lượng cuộc sống, chính sách về việc ưu tiên cán bộ làm việc ở vùng sâu, vùng xa,…cũng có những tác động rất lớn tới sự phát triển kinh tế trang trại

1.1.5.2 Những nhân tố bên trong

- Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của chủ trang trại

Việc điều hành một trang trại trên thực tế cũng gần như điều hành một doanh nghiệp tư nhân, chủ trang trại cũng có thể coi như một giám đốc, một chủ doanh nghiệp chính vì vậy nên năng lực điều hành, lãnh đạo cũng như trình độ của người chủ trang trại là hết sức cần thiết và quan trọng đối với sự sống còn của trang trại Người chủ trang trại phải là người có khả năng tổ chức và quản lý sản xuất: quy hoạch, bố trí đất đai, sắp xếp và sử dụng các nguồn lực Người chủ trang trại phải là người có ý trí vươn lên, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm, gian khổ và có ham muốn làm giàu Bên cạnh trình độ chuyên môn thì chủ trang trại cũng cần phải có kinh nghiệm thực tế, điều này

là hết sức cần thiết vì có nhiều trang trại, chủ trang trại mặc dù không được học hành, đào tạo bài bản, chính quy nhưng với kinh nghiệm "thất bại là mẹ thành công" mà vẫn có thể vươn lên trở thành những ông chủ, những trang trại lớn Có thể nói, chủ trang trại như là "hạt nhân" của trang trại, nếu "hạt nhân" mà tích cực thì trang trại sẽ ngày càng phát huy

Trang 26

- Quy mô diện tích của trang trại

Một trong những đặc trưng cơ bản của trang trại là có quy mô sản xuất lớn Đây là một ưu thế của kinh tế trang trại bời nếu có quy mô diện tích lớn thì rất thuận lợi cho canh tác trồng trọt, chăn nuôi hoặc xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh Đất đai là sản phẩm tự nhiên và có trước lao động, trong quá trình lao động con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm Đất đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là tài nguyên quý giá của quốc gia, là

tư liệu sản xuất đặc biệt Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội và trong nông nghiệp thì đất đai chiếm một vị trí đặc biệt vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu sản xuất Không giống như những tài sản khác, đất đai là một tư liệu hết sức đặc biệt, nếu được đầu tư và sử dụng một cách hợp lý thì không những không bị hao mòn mà càng ngày càng tăng giá trị, tăng độ phì nhiêu

- Lao động của trang trại:

Lao động là yếu tố sản xuất đặc biệt, đóng góp vai trò to lớn đối với việc sản xuất kinh doanh, do vậy đối với kinh tế trang trại, việc quan tâm tới lực lượng lao động là cần thiết Để có được sự tác động hiệu quả từ nguồn lực này, cần thiết phải quan tâm tới chất lượng lao động, cần phải có sự đào tạo chuyên môn, có như vậy kinh tế trang trại mới có thể có hiệu quả kinh tế cao

- Vốn của trang trại

Để bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh, các trang trại luôn cần phải có vốn - toàn bộ những giá trị ứng ban đầu của trang trại để có các quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo Vốn của trang trại có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: vốn tự có, vốn vay ngân hàng, vốn vay của người thân …

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

Kinh tế trang trại đã hình thành và phát triển cách đây hơn hai thế kỷ, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của các quốc gia Tuy nhiên ở mỗi

Trang 27

quốc gia, với sự khác nhau về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội mà

sự phát triển kinh tế trang trại cũng khác nhau Dưới đây là một số thống kê, phân tích cho thấy sự phát triển của kinh tế trang trại tại một số quốc gia trên thế giới:

Tình hình phát triển kinh tế trang tại ở Mỹ

Trang trại gia đình ở Mỹ chiếm 87% (năm 2000) trong tổng số trang trại, 65% diện tích đất đai và 70% giá trị nông sản sản xuất ra, với khoảng 2,2 triệu trang trại đã sảnxuất ra khoảng 50% sản lượng ngô, đậu tương… Diện tích đất đai bình quân ở Mỹ hiện nay là 180ha/trang trại Lao động làm thuê trong các trang trại ở Mỹ rất ít Các trang trại gia đình ở Mỹ nhờ áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất nên sản lượng nông sản làm ra của một lao động nông nghiệp năm 1990 đủ nuôi được 80 người

Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Pháp

Số lượng trang trại ở Pháp khoảng 980.000 trang trại, chủ yếu là trang trại gia đình, lực lượng này sản xuất một lượng nông sản gấp 2,2 lần tổng nhu cầu trong nước Tỷ suất hàng hoá về hạt ngũ cố là 95%, thịt sữa 70 - 80% Ở thời điểm 1989 quy mô đất canh tác một nông trại vào khoảng 29 ha và khoảng 2,07 người, trong đó có một lao động chính, 0,9 là lao động gia đình

và 0,17 là lao động làm thuê, có 29% trang trại có hoạt động phi nông nghiệp

và khoảng 75% số trang trại có thu nhập ngoài nông nghiệp, chiếm 42% trong tổng thu nhập của trang trại

Tình hình phát triển trang trại ở Hà Lan

Hà Lan có 128.000 trang trại trong đó có 1.500 trang trại chuyên trồng hoa với sản lượng sản xuất hàng năm khoảng 7 tỷ bông hoa và 600 triệu chậu hoa, trong đó tỷ lệ xuất khẩu đạt 70%, bình quân một lao động nông nghiệp của trang trại là ra đủ số lượng nông sản để nuôi 60 người, do mức độ cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp đạt mức độ cao nên số lượng và tỷ lệ lao động làm việc ở các trang trại Hà Lan giảm nhiều và chỉ còn 4,7% so với tổng xã hội

Trang 28

[7] Năm 1987, bình quân mỗi trang trại ở Hà Lan có quy mô khoảng 15,7 ha với 2,2 lao động Nguồn thu nhập phi nông nghiệp chiếm khoảng 17% tổng thu nhập của trang trại

Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước khu vực Châu á

Các nước Châu Á có diện tích canh tác trên đầu người thuộc vào loại thấp (0,15 ha), đặc biệt là các nước Đông Á có chỉ tiêu này thấp nhất thế giới như: Đài Loan 0,0047 ha, Hàn Quốc 0,053 ha; Nhật Bản 0,035 ha, đặc điểm này cũng có ảnh hưởng đến quy mô trang trại của các nước trong khu vực Trong giai đoạn 1961-1965 loại trang trại có quy mô từ 3 - 4 ha chiếm 12,9% tổng số lượng và 18,4% tổng số diện tích đất đai và quy mô 10 ha chiếm 3,8%

số lượng và 29,5% đất đai

- Ở Nhật Bản: Có khoảng trên 4 triệu lao động ở trang trại đã bảo đảm lương thực và thực phẩm cho khoảng 125 triệu người, trong đó gạo 70%, thịt 80%, sữa 89%, rau quả 76 - 95% và đường 84%, bình quân một trang trại có khoảng 3 lao động, trong đó chỉ có 1,3 lao động làm nông nghiệp Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp chiếm khoảng 65% tổng thu nhập của trang trại

- Hàn Quốc: Việc phát triển kinh tế trang trại đã được Chính phủ quan tâm nên Hàn Quốc đã tự túc được vấn đề lương thực, từ năm 1975 các trang trại tại Hàn Quốc bắt đầu chuyển hướng đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, tăng cường các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao mang lại nhiều lợi nhuận Sản lượng rau, quả, sản phẩm chăn nuôi tăng bình quân hàng năm từ 8-10% Bình quân một trang trại ở Hàn Quốc (1985) có khoảng 3,3 lao động trong đó có khoảng 1,3 người làm việc đều đặn 03 tháng/năm Thu nhập từ nguồn phi nông nghiệp chiếm khoảng 35% tổng thu nhập từ các trang trại

- Thái Lan: Hiện nay có khoảng 4,5 triệu trang trại với quy mô bình quân

là 5,6 ha, đối với loại hình trang trại có quy mô dưới 2,5 ha thì chiếm 58%, loại trang trại trên 10 ha chiếm 28%, loại trang trại trên 10 ha chiếm 14%, Vì vậy, Thái Lan hiện nay đang là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu sản phẩm dứa hộp (chiếm 1/3 sản lượng thế giới)

Trang 29

* Một số bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

Qua quá trình nghiên cứu và phân tích sự phát triển kinh tế trang trại trên thế giới, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

- Ở hầu hết các nước có phát triển kinh tế trang trại thì quy luật phát triển trang trại là:

+ Ở thời kỳ đất nước bắt đầu tiến ngành công nghiệp hóa thì các trang trại có đặc trưng là số lượng lớn, quy mô nhỏ Tuy nhiên, khi công công nghiệp hóa phát triển đạt trình độ cao thì số lượng trang trại giảm, quy mô trang trại tăng

+ Gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, kinh tế trang trại cũng phát triển, ngày một đa dạng hơn ở hầu hết các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và ở tất cả các vùng khác nhau như đồi núi, đồng bằng, ven biển…

- Mặc dù kinh tế trang trại có thể phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, như: Tư bản tư nhân, cổ phần, liên doanh, uỷ thác… tuy nhiên, trang trại gia đình vẫn là loại hình thích hợp, phổ biến nhất (Trang trại gia đình chiếm tới 80-90% tổng số trang trại trên thế giới)

- Hầu hết các trang trại đều sử dụng lao động gia đình là chủ yếu, ngoài ra còn có thể thuê mướn thêm lao động bên ngoài theo yêu cầu SXKD Việc thuê mướn và trả công lao động được thực hiện theo sự thoả thuận giữa chủ trang trại và người lao động, do áp dụng cơ giới hoá đạt đến trình độ cao nên ở hầu hết các nước số lượng lao động trực tiếp trong trang trại rất thấp (bình quân 2-

3 người/ trang trại)

- Hiệu quả SXKD của các trang trại không hoàn toàn phụ thuộc vào quy

mô đất đai, lao động vì năng suất, chất lượng sản phẩm mà nó còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ việc áp dụng KHKT, công nghệ mới cũng như trình độ năng lực tổ chức quản lý của chủ trang trại Trong giai đoạn đầu của CNH, KTTT phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp, sau đó từng bước đi vào sản xuất tập trung chuyên canh lớn, bên cạnh kinh doanh nông nghiệp, các trang trại còn có những hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp khác

Trang 30

- Vốn kinh doanh trong trại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Bên cạnh nguồn vốn tự có, chủ trang trại còn có thể huy động thêm từ nhiều nguồn khác như vay tín dụng ngân hàng, vay tư nhân, liên doanh, liên kết…

- Trong nền kinh tế thị trường, các trang trại còn có thể hợp tác, liên kết với nhau để thực hiện các khâu công việc trong quá trình sản xuất, mua bán vật tư, nguyên liệu hoặc tiêu thụ sản phẩm

- Chính phủ có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của các trang trại thông qua các chính sách vĩ mô như chính sách giá cả, thị trường, chính sách thuế…

1.2.2 Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về KTTT đều khẳng định trang trại ở nước ta đã xuất hiện nhiều thế kỷ Trải qua trong thời kỳ lịch sử của đất nước, quá trình hình thành và phát triển của trang trại cũng có sự khác nhau

Lê Trọng (2000) cho rằng: Nhìn lại lịch sử cho thấy trang trại ở nước ta đã

hình thành từ thời nhà Trần, lúc bấy giờ được gọi là điền trang Nhưng theo từ điển tiếng việt thì điền trang là trang trại của quý tộc, thời phong kiến

Đến đời nhà Hậu Lê, Nhà nước chủ trương mở rộng khẩn hoang lập đồn điền Đồn điền cũng đồng nghĩa với trang trại Người nước ngoài gọi là Farm

và cũng được dịch là trang trại, là đồn điền Lực lượng lao động khai hoang lập đồn điền chủ yếu là phạm nhân, tù binh và một số binh lính đóng đồn ở các địa phương Đến đời nhà Nguyễn: Từ năm 1802 - 1855 triều đình đã ban hành 25 quyết định về khẩn hoang với hình thức chủ yếu chiêu mộ dân phiêu tán để khẩn hoang lập ấp trại hoặc xã Đồng thời, Nhà nước dùng binh lính và

tù nhân bị lưu đầy để khẩn hoang; hoặc giao cho tư nhân chiêu mộ dân khai

phá đất hoang để lập đồn điền - trang trại - phát canh thu tô Năm 1888 Toàn

quyền Đông Dương ra nghị định cho bọn địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền (trang trại)

Trang 31

- Về số lượng: Theo số liệu của Ban kinh tế Trung ương, hiện có 31 tỉnh thành trong cả nước có mô hình KTTT Tính đến nay, cả nước có khoảng 33.488 trang trại, tăng 13.460 trang trại (67,2%) so với năm 2011 Số liệu điều tra do Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2016 công bố kết quả sơ bộ cho thấy, từ năm 2011-2016, bình quân mỗi năm số trang trại của cả nước tăng trên 13% Trong đó, vùng đồng bằng sông Hồng trang trại phát triển mạnh nhất (tăng 6.435 trang trại), chiếm gần một nửa số trang trại tăng thêm trong vòng 5 năm qua của cả nước

Số trang trại của cả nước tăng tập trung chủ yếu ở loại hình trang trại chăn nuôi, tăng 14.521 trang trại (gấp 3,3 lần) so với năm 2011 Trong vòng 5 năm vừa qua, bình quân mỗi năm số trang trại chăn nuôi phát triển tăng trên 45% Trong khi đó, số lượng trang trại thủy sản lại giảm mạnh, giảm 2.172 trang trại (48%) so với năm 2011, trung bình giảm gần 10% mỗi năm

Trong tổng số trang trại trên cả nước, hiện có khoảng 9.216 trang trại trồng trọt (chiếm 27,5%), 20.869 trang trại chăn nuôi (chiếm 62,4%), 112 trang trại lâm nghiệp (chiếm 0,3%), 2.350 trang trại nuôi trồng thủy sản (chiếm 7%), 941 trang trại tổng hợp (chiếm 2,8%)

Các trang trại đã sử dụng tổng cộng 187.000ha đất sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 35.900ha so với năm 2011 Trong đó, có 60.000ha đất trồng cây hàng năm; 79.500ha đất trồng cây lâu năm; 17.600ha đất lâm nghiệp và 29.800ha đất nuôi trồng thủy sản Mức bình quân đất đai sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của 1 trang trại trên cả nước sử dụng là 5,6 ha/trang trại

Đồng thời, giải quyết việc làm thường xuyên cho 134.700 lao động, tăng 40.000 lao động (42,4%) so với năm 2011 Trong đó, lao động của hộ chủ trang trại là 75.800 người, chiếm 56,3% tổng số lao động, còn lại là lao động

do chủ trang trại thuê mướn thường xuyên Bình quân 1 trang trại sử dụng khoảng 4 lao động thường xuyên Số lượng lao động bình quân của 1 trang

Trang 32

trại sử dụng vào thời điểm năm 2016 giảm so với năm 2011 (năm 2011 là 4,7 lao động) do các trang trại đã áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa máy móc thiết

bị kỹ thuật vào phục vụ các khâu trong sản xuất Bên cạnh đó, do các trang trại phát triển có sự chuyển đổi loại hình khá rõ nét gia tăng trang trại chăn nuôi, một loại hình sử dụng ít lao động hơn các loại hình trang trại khác như trồng trọt, nuôi trồng thủy sản… nên mức bình quân sử dụng lao động của một trang trại giảm

Loại hình kinh tế trang trại phát triển nhanh đã góp phần tạo ra nhiều giá trị sản phẩm hàng hóa nông, lâm nghiệp và thủy sản Tổng cục Thống kê cho biết, tổng thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của các trang trại trong năm

2016 ước đạt 93.098 tỷ đồng, tăng 54.007 tỷ đồng (138,2%) so với giá trị đạt được cách đây 5 năm (2011) Tính bình quân 1 trang trại có thu nhập đạt 2.780 triệu đồng, tăng 828 triệu đồng (tăng 42,4%) so với cách đây 5 năm

Vùng Tây nguyên từ 2-5 ha còn trên 30 ha chiếm tỷ lệ 12%

Miền Đông Nam bộ phần lớn từ 5-10 ha, còn trên 30 ha chiếm 10% Vùng Đồng Bằng Nam bộ 15-18 ha và trên 30 ha chiếm tỷ lệ lớn 18% Tuy nhiên, ở mỗi vùng vẫn có những trang trại cá biệt có quy mô lớn hàng trăm ha như một số trang trại ở vùng Tây Nguyên, Hoà Bình, Bình Phước, miền Đông Nam bộ

- Vốn đầu tư: Bình quân vốn đầu tư cho trồng trọt từ 15-50 triệu đồng cho 1 trang trại, nuôi trồng thuỷ sản thì cần từ 50-150 triệu đồng, ở khu vực nam Bộ vốn đầu tư thường lớn hơn từ 300 triệu - 1 tỷ đồng

- Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các trang trại:

Trang 33

KTTT ở nước ta mới phát triển, việc thu thập các số liệu và đánh giá về nó còn nhiều hạn chế cho nên chưa thể đánh giá hết tác dụng của nó đối với sự phát triển KT - XH của đất nước Tuy nhiên, chúng ta đều nhận thấy rằng ở những nơi KTTT phát triển thì ở đó bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi theo chiều hướng tốt, đời sống vật chất, tinh thần của nông dân được nâng cao

Từ thực tế trên có thể rút ra một số kết luận:

- Lịch sử tạo lập trang trại ở nước ta đã có rải rác từ lâu ở nhiều nơi,

nhưng mới chỉ được phát triển "tự phát" từ khi có chủ trương đổi mới về

chức và quản lý nền kinh tế theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1986) và được phát triển nhanh, mạnh từ 1993 đến nay

- Tốc độ và quy mô phát triển của trang trại theo hướng "tự phát" của cơ

chế thị trường nhưng không đồng đều giữa các vùng, miền trên phạm vi cả nước

- Quy mô về đất đai: tuỳ điều kiện từng vùng, tuỳ vào hướng kinh doanh

mà các trang trại có quy mô diện tích đất đai khác nhau, có thể trên dưới 2 ha, phổ biến từ 5-10 ha, hoặc có những trang trại hàng trăm, nghìn ha

- Trong quá trình phát triển, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại trong lĩnh vực nhận thức lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, rút ra những bài học cần thiết để có giải pháp phát triển và quản lý tốt hơn

1.3 Bài học kinh nghiệm cho huyện Văn Bàn

Kinh tế trang trại đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ những năm 1990 đến nay, từ khi Đảng và Nhà nước có những chủ trương, biện pháp nhất quán theo hướng tạo điều kiện cho KTTT phát triển Việc thừa nhận chính sách kinh tế nhiều thành phần khẳng định chính sách khuyến khích sản xuất tiểu thủ công

và kinh tế tư bản tư nhân Bằng các chủ trương biện pháp thích hợp Đảng ta

đã khuyến khích kinh tế trang trại phát triển như trước hết là thay đổi các mối quan hệ kinh tế liên quan đến quyền sử dụng đất đại vì đất đai là yếu tố đầu vào quan trọng nhất cho sản xuất nông nghiệp Giao quyền sử dụng đất cho người dân là bước đầu thúc đẩy kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển

Trang 34

Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành trung ương Đảng khóa VI tháng 3/1989 đã thừa nhận hộ gia đình là kinh

tế tự chủ ở nông thôn đồng thời khuyến khích kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân trong nông ngư nghiệp Từ khi bất đầu công nghiệp hóa kinh

tế trang trại ở phía Bắc đã hình thành và phát triển, đến khi trình độ công nghiệp hóa đã ở mức cao KTTT và giữ được vai trò trong lực lượng sản xuất hàng hóa nông sản, KTTT là loại hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa

Để KTTT tiếp tục phát triển và thực sự vững mạnh cần có một số giải pháp trước mắt như: quy hoạch xác định một số khu vực phát triển kinh tế trang trại tập trung nhằm hình thành vùng sản xuất tập trung, đáp ứng nhu cầu thị trường Định hướng phát triển cây trông vật nuôi cho phù hợp vùng quy hoạch Phát huy thế mạnh từng vùng, đầu tư vốn, khoa học kỹ thuật phù hợp với từng huyện Giải quyết vấn đề chuyển dịch đất đại, tạo điều kiện cho các gia đình có quy mô đất đai lớn để tập trung sản xuất phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương tạo mối liên doanh, liên kết với kinh

tế hợp tác xã và kinh tế nhà nước

Văn Bàn là một huyện miền núi nằm ở phía tây nam tỉnh Lào Cai có nhiều lợi thế để phát triển KTTT, đặc biệt là các trang trại nông lâm nghiệp Cũng như nhiều nơi khác trên cả nước, sau hơn hai mươi năm đổi mới, KTTT

ở huyện Văn Bàn đã phát triển mạnh cả vế số lượng và chất lượng KTTT ở địa phương được hình thành từ chủ trương chính sách đổi mới kinh tế của Đảng, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế đồi rừng, chính sách giao đất giao rừng cùng với những chính sách đầu tư, hỗ trợ vốn của Nhà nước Trên thực tế những năm qua ở địa phương đã có một số đề tài nghiên cứu về KT - XH hàng năm một số cơ quan, ban ngành địa phương như Sở NN&PTNT, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê của huyện Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc thống kê khảo sát số lượng, diện tích,

Trang 35

vốn của trang trại với mục đích tổng kết, báo cáo tình hình Trên cơ sở kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu đã được công bố, để góp phần đánh giá đúng vai trò và tác động của KTTT đối với việc phát triển nông nghiệp và nông thôn, chúng tôi tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trang trại ở huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai làm cơ sở đề xuất một số giải pháp

cơ bản phát triển KTTT của huyện Văn Bàn giai đoạn 2020 - 2025

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường

2.1.1.1 Vị trí địa lí

Văn Bàn là huyện miền núi của tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai 75

km về phía Tây Nam

Toạ độ địa lý: Huyện Văn Bàn nằm từ 21o57'- 22o17' vĩ độ Bắc, Từ

103o57'- 104o30' kinh độ Đông Phía Đông giáp huyện Bảo Yên, phía Tây giáp huyện Than Yên tỉnh Lai Châu, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Lào Cai, phía Bắc giáp huyện Bảo Thắng và huyện Sa Pa Địa hình của huyện Văn Bàn thuộc khối nâng kiến tạo mạnh và phức tạp, phần lớn địa hình là đồi núi cao xen lẫn các thung lũng, độ cao trung bình của huyện từ 500 - 1.500 m

2.1.1.2 Khí hậu, thời tiết, thuỷ văn

Khí hậu huyện Văn Bàn có 2 mùa rõ dệt: mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 Nhiệt độ trung bình 23,50

C trong năm, nhiệt độ trung bình nước 170C, lượng mưa trung bình 670 mml, độ ẩm trung bình 87% Nhìn chung điều kiện khí hậu,thời tiết của Văn Bàn tương đối thuận lợi cho phát triển Nông lâm nghiệp đa dạng theo hướng sản xuất hàng hoá đối với nhiều loại cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên từ tháng

4 đến tháng 6 có năm thường xuất hiện gió Lào (gió nóng) ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi; mùa mưa thường xảy ra lũ lụt, sạt lở đất cục bộ ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của người dân

2.1.1.3 Đặc điểm địa hình

Địa hình của huyện Văn Bàn khá phức tạp, phân làm hai vùng: phía Tây thuộc vùng núi cao, các dãy núi chạy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có độ dốc khá lớn, trong đó có dãy núi đá vôi có độ cao từ 200 đến 400m so với mặt nước biển, ruộng đất ít; phía Nam là vùng núi thấp, có độ cao từ 50 đến

Trang 37

200m, độ dốc nhỏ hơn, nhiều rừng già và những cánh đồng rộng, đất đai phì nhiêu Vùng núi cao gồm các xã: Dương Quỳ, Dần Thàng, Nậm Chày, Thẩm Dương, Minh Lương, Nậm Xây, Nậm Xé Vùng núi thấp gồm các xã: Hòa Mạc, Làng Giàng, Thị trấn Khánh Yên, Khánh Yên Thượng, Khánh Yên Trung, Khánh Yên Hạ, Liêm Phú, Chiềng Ken, Nậm Tha, Sơn Thủy, Tân An, Tân Thượng, Võ Lao, Văn Sơn, Nậm Dạng, Nậm Mả Sông, suối ở huyện Văn Bàn có nhiều nhưng nhỏ, không có giá trị giao thông đường thuỷ, song được phân bổ đều nên đã đóng vai trò quan trọng trong việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp

Trang 38

Từ số liệu của bảng 2.1, nhận xét chung thì diện tích các loại đất của huyện Văn Bàn qua các năm từ 2015 đến 2017 có sự thay đổi khá Tổng diên tích đất tự nhiên vẫn không thay đổi là 142.345,45 ha; trong đó đất nông nghiệp tăng từ 105.368,57 ha (2015) lên 105.616,33 ha (2017) Có được điều này, huyện đã tích cực khai thác sử dụng thêm nguồn đất chưa sử dụng Đây

là một trong những giải pháp thúc đẩy giảm nghèo và hướng đến đạt được các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Điều kiện kinh tế

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Văn Bàn

ĐVT: %

1 Ngành nông, lâm, thủy sản 34,9 33,5 31,27

2 Ngành công nghiệp - xây dựng 39,1 38,3 42,58

(Nguồn: UBND huyện Văn Bàn)

Qua bảng số liệu cho thấy cơ cấu kinh tế huyện Văn Bàn có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ

Trong cơ cấu các ngành kinh tế của huyện thì ngành nông nghiệp có xu hướng giảm: Tỷ trọng giá trị trong GDP của ngành năm 2017 là 31,27% giảm 3,63% so với năm 2015 Trong khi đó tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng năm 2017 là 42,58% tăng 3,48% so với năm 2015 Tỷ trọng ngành dịch vụ hầu như không tăng từ năm 2015 đến 2017 Điều này cho thấy kinh tế huyện Văn Bàn có sự chuyển biến chậm khi so với kỳ vọng trong 3 năm trở lại đây

Trang 39

Bảng 2.3: Cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp, lâm nghiệp

và thủy sản trên địa bàn huyện Văn Bàn

(Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Văn Bàn)

Trong cơ cấu nông lâm thủy sản của huyện Văn Bàn đã có sự chuyển dịch khá rõ ràng, tuy nhiên tốc độ chuyển cơ cấu còn chậm Huyện luôn tích cực chỉ đạo công tác chuyển dịch cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ, đưa các giống lúa lai, lúa thuần chất lượng cao, ngô lai vào sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất như gieo xạ bằng công cụ cải tiến, quản lý dịch hại trên cây lúa được triển khai ứng dụng trong sản xuất, chủ động xây dựng và thực hiện kịp thời, hiệu quả phương pháp phòng trừ các đối tượng dịch hại lúa, ngô

Một số cơ chế chính sách hỗ trợ trong sản xuất lương thực được triển khai như: Hỗ trợ gieo cấy lúa lai, lúa thuần chất lượng cao, ngô lai, chỉ đạo thâm canh cao, hỗ trợ kinh phí để triển khai các mô hình, tập huấn chuyển giao ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, hỗ trợ mua sắm thiết bị sản xuất Ngoài ra, đối với những xã có thể phát triển nuôi thủy sản, huyện cũng quan tâm tích cực đầu tư, hỗ trợ để bà con nông dân có điều kiện nâng cao thu nhập

Trang 40

Bảng 2.4: Diện tích các loại cây trồng trên địa bàn huyện Văn Bàn

lương thực có hạt

Cây công nghiệp hàng năm

Cây công nghiệp lâu năm

Cây

ăn quả

(Nguồn: Phòng NN&PTNT huyện Văn Bàn)

Qua bảng số liệu trên thể hiện, huyện Văn Bàn đã có chuyển dịch cơ cấu cây trồng rất cụ thể: tập trung phát triển cây ăn quả, cây lương thực có hạt Theo nhận định của tác giả, chủ trương của huyện là vừa phát triển lâu dài, vừa ổn định lương thực cho bà con nông dân trước mắt Huyện tăng diện tích cây ăn quả

là đúng định hưởng của tỉnh, tuy nhiên cây ăn quả thường cần có thời gian kiến thiết cơ bản Lúc này, trước hết pahir giải quyết tốt lương thực cho người dân Ngoài ra, khi sản lượng lương thực tăng lên vừa đảm bảo an ninh lương thực vừa cung cấp thức ăn phát triển ngành chăn nuôi tại địa phương

Ngày đăng: 12/06/2021, 10:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w