1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê việt nam tại thị trường châu âu

84 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên, 2018 Với các khó khăn khách quan lẫn chủ quan như trên, mặt hàng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Châu Âu trong thời gian tới

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ

TRƯỜNG CHÂU ÂU

Giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Thu Phương Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thùy Trang

Hà Nội – Tháng 04, 2020

Trang 2

nhiều sự giúp đỡ và chỉ bảo của các thầy cô trường Đại học Kinh tế, đặc biệt là các thầy

cô khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn và biết ơn sâu sắc nhất tới cô Phạm Thu Phương

- Giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, giáo viên hướng dẫn em thực hiện

đề tài khóa luận lần này Nhờ sự chỉ bảo và hướng dẫn tận tâm của cô cũng như những nguồn tài liệu cô cung cấp, em mới có thể hoàn thành tốt khóa luận này

Tiếp đến, với tất cả lòng chân thành, em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giảng viên trường Đại học Kinh tế, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế đã giúp đỡ và chỉ dạy cho em trong suốt quá trình học tập bốn năm đại học, không chỉ về kiến thức, kỹ năng mà thầy cô luôn là người truyền lửa và nhiệt huyết cho

em trên con đường tìm tòi, học hỏi và nghiên cứu

Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả bạn bè, gia đình đã luôn đồng hành, sát cánh và ủng hộ em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này và trong suốt quãng thời gian học đại học

Mặc dù em đã cố gắng nỗ lực tìm tòi và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận, tuy nhiên, do hạn chế về mặt kiến thức, thời gian thực hiện cũng như nguồn số liệu, thông tin nên khóa luận khó tránh được tồn tại những thiếu sót, vì vậy em mong rằng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô

Hà Nội, tháng 04 năm 2020 Nguyễn Thị Thùy Trang

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH VẼ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Câu hỏi nghiên cứu 2

3 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Khung phân tích 4

7 Bố cục của bài nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÀ PHÊ 6

1.1 Tổng quan tài liệu 6

1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu 8

1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh 8

1.2.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 9

1.2.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu 11

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê theo mô hình kim cương của M.Porter 12

1.3.1 Điều kiện về các yếu tố sản xuất 13

1.3.2 Điều kiện nhu cầu trong và ngoài nước đối với mặt hàng cà phê 14

1.3.3 Các ngành hỗ trợ và có liên quan đến mặt hàng cà phê xuất khẩu 15

1.3.4 Môi trường cạnh tranh và cơ cấu ngành 15

1.3.5 Vai trò của chính phủ 16

1.3.6 Cơ hội 16

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT

HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU 17

2.1 Đặc điểm thị trường Châu Âu 17

2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường Châu Âu 22

2.2.1 Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu 23

2.2.2 Thị trường tiêu thụ 26

2.2.3 Giá sản phẩm 30

2.2.4 Đánh giá và dự báo 32

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam 33

2.3.1 Điều kiện về các yếu tố sản xuất 33

2.3.2 Điều kiện nhu cầu trong và ngoài nước đối với mặt hàng cà phê 35

2.3.3 Các ngành hỗ trợ và có liên quan đến mặt hàng cà phê xuất khẩu 36

2.3.4 Môi trường cạnh tranh và cơ cấu ngành 38

2.3.5 Vai trò của chính phủ 40

2.3.6 Cơ hội 41

2.4 Đánh giá về năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường châu Âu 42

2.4.1 Điểm mạnh 42

2.4.2 Điểm yếu và nguyên nhân 43

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU 48

3.1 Mục tiêu và định hướng 48

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường châu Âu 50

3.2.1 Ổn định diện tích trồng cà phê và duy trì năng lực sản xuất cà phê trong nước 50

3.2.2 Nâng cao chất lượng cà phê trong nước và xuất khẩu 51

3.2.3 Đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu 56

Trang 5

3.2.4 Tổ chức điều phối hoạt động sản xuất và kinh doanh cà phê chặt chẽ, thống

nhất hơn 58

3.2.5 Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm cà phê Việt Nam xuất khẩu sang Châu Âu 59

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 68

Phụ lục 1: Khối lượng cà phê Việt Nam xuất khẩu vào một số quốc gia tại thị trường Châu Âu giai đoạn 2014 – 2018 68

Phụ lục 2: Kim ngạch cà phê Việt Nam xuất khẩu vào một số quốc gia tại thị trường Châu Âu giai đoạn 2014 – 2018 70

Phụ lục 3: Mô hình kim cương của M.Potter và tác động qua lại giữa các yếu tố 72

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

ECF Liên đoàn cà phê Châu Âu (European Coffee Federation) ECR Báo cáo cà phê Châu Âu (European Coffee Report)

EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Châu Âu

ICO Tổ chức Cà phê Quốc tế

ITC Trung tâm Thương mại Quốc tế

NLCT Năng lực cạnh tranh

VICOFA Hiệp hội Cà phê - Ca Cao Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Mức tiêu thụ cà phê bình quân tại Châu Âu, giai đoạn 2014 - 2019 17 Bảng 2.2: Sản lượng cà phê rang sản xuất tại Châu Âu giai đoạn 2014 - 2018 17 Bảng 2.3: Cơ cấu các sản phẩm cà phê nhập khẩu vào thị trường EU28, giai đoạn 2014

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 0.1: Khung phân tích của bài luận văn 4 Hình 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê

theo mô hình kim cương của M.Porter 13

Hình 2.1: Khối lượng nhập khẩu cà phê của EU28 theo chủng loại cà phê 19 Hình 2.2: Khối lượng nhập khẩu cà phê nhân xanh của EU28 theo thị trường xuất khẩu

Trang 9

tế (ICO) vừa công bố cho thấy Việt Nam xếp thứ hai với 31,2 triệu bao, vượt xa các vị trí tiếp theo như Colombia (với hơn 14,1 triệu bao) hay Honduras (với hơn 22 triệu bao) chiếm 14% thị phần thế giới Trong các thị trường xuất khẩu của cà phê thì Châu Âu được thống kê là thị trường tiêu thụ lớn nhất với hơn 725 nghìn tấn cà phê trị giá 1164 triệu USD, chiếm hơn 40% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam Cùng với

sự ký kết của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Châu Âu (EVFTA) trong năm

2019, đây sẽ là thị trường tiềm năng cho ngành xuất khẩu cà phê trong những năm tới Tuy nhiên, dù chiếm thị phần tương đối cao nhưng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang Châu

Âu vẫn chưa được đánh giá cao và giá thành còn thấp, không tạo ra được thương hiệu và đảm bảo chất lượng nên các doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên bị các đối tác nước ngoài ép giá và bị phụ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài Ngoài ra, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT), Việt Nam cũng đang đối mặt với tình trạng khô hạn và tỉ lệ diện tích cà phê già cỗi gia tăng, khô hạn đang tác hại đến khoảng

120.000 ha cà phê tính đến năm 2018 và có xu hướng tăng trong các năm tiếp theo (Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên, 2018)

Với các khó khăn khách quan lẫn chủ quan như trên, mặt hàng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Châu Âu trong thời gian tới cần có một chiến lược phát triển bền vững giúp nâng cao năng lực xuất khẩu mặt hàng cà phê tại thị trường Châu Âu qua

đó góp phần mang lại hiệu quả cho những người nông dân đang tham gia sản xuất và các

Trang 10

doanh nghiệp xuất khẩu Bên cạnh đó đề án Phát triển ngành cà phê bền vững đến năm

2020 của Bộ NN&PTNT cần có các chiến lược cụ thể Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài này với mong muốn tìm ra được cách khắc phục và tháo gỡ các nguyên nhân gây khó khăn và đưa ra được các biện pháp, chiến lược nhằm phát triển hiệu quả và bền vững mặt hàng cà phê xuất khẩu Việt Nam

2 Câu hỏi nghiên cứu

 Thực trạng năng lực xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường Châu Âu giai đoạn 2014 - 2019 như thế nào?

 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh (NLCT) của mặt hàng cà phê Việt Nam là gì?

 Giải pháp nâng cao NLCT xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường Châu

Âu giai đoạn 2020 - 2025 là gì?

3 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu

 Mục tiêu chính:

o Phân tích thực trạng NLCT xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường Châu Âu;

o Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam;

o Đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao NLCT xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường Châu Âu;

 Đối tượng nghiên cứu: NCLT xuất khẩu của mặt hàng cà phê

4 Phạm vi nghiên cứu

 Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng NLCT xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường Châu Âu, và các yếu tố ảnh hưởng

 Phạm vi thời gian: Số liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu thuộc giai đoạn 2014 -

2019, định hướng và đưa ta một số giải pháp cho giai đoạn đến năm 2025

 Phạm vi không gian: Xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Châu Âu

Trang 11

5 Phương pháp nghiên cứu

Công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thu thập các

số liệu, thông tin chính xác cụ thể từ các hoạt động xuất khẩu và các dữ liệu về ngành cà phê trong và ngoài nước Nghiên cứu các điểm mạnh và điểm yếu của ngành, từ đó phân tích, xác định các yếu tố cần phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu thị trường và giữ được thế mạnh từ trước Sử dụng biện pháp so sánh để rút ra kết luận chính xác nhất Tổng kết lại thông qua những đánh giá để tìm được mô hình hiệu quả trên thế giới để áp dụng phù hợp với môi trường thương mại ở Việt Nam Tài liệu, dữ liệu trong công trình nghiên cứu được thu thập trong các ấn phẩm trong và ngoài nước, báo cáo của các ban ngành nhà nước về công tác khuyến khích xuất khẩu cà phê

Trang 12

6 Khung phân tích

Hình 0.1 Khung phân tích của bài luận văn

Trang 13

7 Bố cục của bài nghiên cứu

Bố cục bài viết bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt

hàng cà phê

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị

trường Châu Âu

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê

Việt Nam tại thị trường Châu Âu

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CÀ PHÊ

1.1 Tổng quan tài liệu

Hiện nay có rất nhiều bài nghiên cứu, sách báo trong và ngoài nước viết về NLCT xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam với nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên số lượng những bài viết về mặt hàng cà phê, đặc biệt là Năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng này tại thị trường Châu Âu vẫn còn khá hạn chế Cụ thể như sau:

 Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh xuất khẩu

M Potter (1993) đã đưa ra những cơ sở lý luận về cạnh tranh, NLCT của một sản phẩm, của một mặt hàng Tác phẩm đã nêu lên những định nghĩa, khái niệm, các vấn đề liên quan đến NLCT

Marilyn, W K (2009) nghiên cứu về nâng cao NLCT xuất khẩu của nước Cộng hòa Maurice, đưa ra được các yếu tố quan trọng nhằm nâng cao NLCT của một quốc gia, đưa ra các biện pháp nâng cao NLCT xuất khẩu của một quốc gia đối với một mặt hàng

Christian Ketels (2010) nêu ra được các hàm ý chính sách để tăng NLCT nền kinh

tế của một quốc gia, mối quan hệ giữa NLCT, xuất khẩu và tăng trưởng Bài nghiên cứu cũng đưa ra các tác động của các chính sách tới NLCT của một quốc gia

Nghiên cứu của Liên Hợp Quốc (2010) về NLCT xuất khẩu và sự phát triển ở các nước kém phát triển đã chỉ ra các vấn đề trọng điểm về NLCT của các nước, từ đó đề xuất các quy định, chính sách nhằm phát triển đất nước

 Các nghiên cứu về mặt hàng cà phê trong và ngoài nước

Lê Hồng Vân (2015) đã nêu và phân tích các nhân tố tác động đến kim ngạch xuất khẩu cà phê ở việt nam giai đoạn 2003 - 2013, tuy nhiên không nghiên cứu về NLCT

Phạm Thị Hồng Hạnh (2010) phân tích, đánh NLCT mặt hàng cà phê xuất khẩu của Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao NLCT mặt hàng cà phê xuất khẩu

Trang 15

Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của đề tài bao trùm cả thị trường thế giới và số liệu chưa được cập nhật

Hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Mỹ (2012) đã phân tích tình hình xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam sang thị trường Mỹ, rút ra những thuận lợi và khó khăn, thách thức đặt ra xuất khẩu mặt hàng này Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xuất khẩu cà phê sang Mỹ Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào thị trường Mỹ

Trần Thế Tuân (2017) đã tìm hiểu và phân tích NLCT xuất khẩu sản phẩm gỗ tại thị trường Châu Âu giai đoạn 2009 - 2015, từ những phân tích chỉ ra được tồn tại hạn chế và nguyên nhân, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và nâng cao NLCT xuất khẩu gỗ trong giai đoạn sau đó Bài viết đã chỉ ra được một số đặc điểm của thị trường nhập khẩu Châu Âu, tuy nhiên mặt hàng nghiên cứu là gỗ xuất khẩu

Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (2015) nêu ra được tổng quan về năng lực sản xuất cà phê của Việt Nam, phân tích khảo sát NLCT của doanh nghiệp cà phê Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2015 và từ đó phân tích theo điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức ngành cà phê và đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao NLCT ngành cà phê Bài báo cáo khá chi tiết với các số liệu khảo sát và phân tích rõ ràng tuy nhiên chưa phân tích sâu vào thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam, chỉ phân tích số liệu xuất khẩu chung và tập trung vào NLCT của doanh nghiệp chứ không phải mặt hàng Số liệu bài báo cáo cũng chưa được cập nhật

Các nghiên cứu nhìn chung đã trình bày được thực trạng chung của xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam, riêng một số bài trình bày được đặc điểm của thị trường nhập khẩu Châu Âu, đưa ra được các kiến nghị, giải pháp thúc đẩy phát triển xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu về nâng cao NLCT cho mặt hàng cà phê tại thị trường Châu Âu Bên cạnh đó, hầu các nghiên cứu còn sử dụng số liệu cũ, chưa cập nhật số liệu mới

Trang 16

Dựa trên các tài liệu tham khảo và tìm hiểu cá nhân, bài khóa luận sẽ phân tích thị trường cà phê Châu Âu và thực trạng xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường Châu Âu, phân tích các khía cạnh NLCT Việt Nam của mặt hàng này, chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân Từ đó, kiến nghị các biện pháp nâng cao NLCT xuất khẩu mặt hàng cà phê tại Châu Âu, dựa trên các nghiên cứu và số liệu mới nhất, tính đến tháng 12 năm 2019

1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu

1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh

Theo cuốn Từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, với nhận thức là hiện tượng xã hội, “cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”

Trong kinh tế chính trị học, theo quan điểm của K.Marx thì “cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi nhuận nhất cho mình”

Nhà kinh tế học M.Porter của Mỹ thì cho rằng cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi

Tổng kết lại, cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm cạnh tranh khách hàng, thông qua đó gia tăng sự tiêu thụ của hàng hóa và đạt được lợi nhuận cao Sự cạnh tranh là điều tất yếu xảy ra để tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế

Trang 17

1.2.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh

“Năng lực cạnh tranh” là thuật ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực nhưng đến nay vẫn chưa được định nghĩa một cách chuẩn tắc

Theo Từ điển Bách khoa Việt nam XB 2003, NLCT là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ Một mặt hàng có NLCT là mặt hàng có thể thu hút được nhiều người mua hơn những hàng hóa cùng loại đang được tiêu thụ trên thị trường NLCT dựa trên nhiều yếu tố: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định di sản xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ Các yếu tố xã hội như giữ chữ tín trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng Ở nhiều nước, các nhà sản xuất còn sử dụng một số hình thức như bán hàng trả góp để kích thích tiêu dùng, trên cơ sở

đó tăng NLCT

Hay ta có thể hiểu: NLCT là năng lực tồn tại trong thị trường thể hiện dưới dạng lợi nhuận, lợi tức, giá thành hoặc chất lượng sản phẩm cũng như khả năng khai thác những cơ hội trong trị thường hiện nay và phát triển cơ hội trong thị trường mới, giành được lợi thế và thu lợi nhuận cao

NLCT được chia thành 4 cấp độ như sau:

NLCT cấp quốc gia

NLCT ở phạm vi quốc gia thường phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng các yếu tố nguồn lực như con người, tài nguyên và vốn của quốc gia đó, nó gắn liền với NLCT của tất cả các chủ thể bên trong nền kinh tế

Ta có thể hiểu NLCT quốc gia là khả năng tận dụng các nguồn lực, khả năng quản lý điều hành của Nhà nước nhằm tạo ra môi trường kinh tế, xã hội và thể chế pháp

lý thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế hoạt động, thu hút đầu tư, đảm bảo ổn định

và bền vững, đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao, nâng cao mức sống của người dân

Trang 18

NLCT cấp ngành

NLCT cấp ngành được xác định bằng khả năng đem lại lợi nhuận của ngành đó trong điều kiện sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Tính hiệu quả được so sánh dựa trên mối tương quan với các ngành khác

Theo như M.Porter, cường độ cạnh tranh trong một ngành bất kì đều chịu tác động bởi sức mạnh nhà cung cấp, nguy cơ thay thế, các rào cản gia nhập ngành, sức mạnh khách hàng và mức độ cạnh tranh ngành Một ngành có thị trường tăng trưởng, khả năng duy trì thị phần và cơ hội thu được lợi nhuận cao sẽ thu hút các hãng mới gia nhập, làm tăng mức độ cạnh tranh trong ngành, kể cả thị trường trong nước lẫn quốc tế Vậy, NLCT cấp ngành là khả năng duy trì hay tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp tham gia vào ngành trên thị trường trong nước và quốc tế

NLCT cấp doanh nghiệp

NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững NLCT của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp tung ra thị trường, với thị phần sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh

NLCT của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như thị trường, thể chế chính sách, kết cấu hạ tầng lẫn các yếu tố nội hàm bên trong bản thân doanh nghiệp như trình độ công nghệ, khả năng tổ chức quản lý, tài chính, nhân lực, uy tín

NLCT cấp sản phẩm

NLCT của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi thế so sánh đối với các sản phẩm cùng loại Lợi thế so sánh của một sản phẩm do các yếu tố bên trong và bên ngoài tạo nên, như năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, dung lượng thị trường của sản phẩm NLCT của sản phẩm có thể được đo bằng thị phần của sản phẩm đó trên thị trường

Trang 19

Một sản phẩm có NLCT cao phải đảm bảo các yếu tố về chất lượng, giá cả, vệ sinh, dịch vụ đi kèm, kiểu dáng mẫu mã, tốc độ phục vụ sản phẩm cần có tính mới lạ nhưng phù hợp với nhu cầu, mang lại giá trị sử dụng cao hơn so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường của đối thủ cạnh tranh

Các cấp độ của NLCT có mối quan hệ phụ thuộc, gắn kết, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển

1.2.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu

Theo Fetscherin và cộng sự (2009), “Năng lực cạnh tranh xuất khẩu của một ngành kinh tế của một quốc gia thể hiện mức độ tham gia của ngành đó vào thị trường quốc tế Năng lực cạnh tranh xuất khẩu được hiểu là khả năng một quốc gia sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên thị trường quốc tế nhằm đảm bảo khả năng tồn tại và phát triển bền vững trong dài hạn”

Marilyn Whan-Kan cho rằng “NLCT xuất khẩu là khả năng của một quốc gia sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ và buôn bán trên thị trường nước ngoài với giá cả và chất lượng đảm bảo được khả năng tồn tại lâu dài, bền vững.”

NLCT quốc gia đề cập đến các yếu tố vĩ mô về nhà nước còn NLCT của quốc gia

về một mặt hàng xuất khẩu lại chủ yếu thuộc phạm trù doanh nghiệp và được giới hạn trong một mặt hàng cụ thể NLCT của quốc gia ở một mặt hàng chịu ảnh hưởng của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh mặt hàng đó Trong khi đó, NLCT của các doanh nghiệp này lại chịu tác động bởi NLCT quốc gia Nếu quốc gia có thể chế tốt, môi trường cạnh tranh minh bạch, bình đẳng thì các doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để phát huy năng lực, tạo ra nhiều giá trị tăng thêm cho sản phẩm của mình, từ đó cạnh tranh với các đối thủ từ những quốc gia khác

Từ các khái niệm về cạnh tranh, NLCT và các cấp độ của NLCT thì ta có thể rút

ra được rằng NLCT xuất khẩu của ngành hàng cà phê là khả năng tồn tại trong kinh doanh, sản xuất ra sản phẩm cà phê và buôn bán trên thị trường nước ngoài, đạt được những kết quả mong muốn biểu hiện qua lợi nhuận, giá cả, tăng trưởng kinh tế, thị

Trang 20

trường, thị phần cũng như khả năng khai thác các cơ hội trong hiện tại và tương lai để giành được lợi thế trên thị trường và thu được lợi nhuận NLCT xuất khẩu của ngành hàng cà phê thuộc phạm vi NLCT cấp ngành, thể hiện khả năng duy trì hay tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp tham gia vào ngành cà phê trên thị trường trong nước và quốc tế

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê theo

mô hình kim cương của M.Porter

Trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”, giáo sư M.Porter đã đưa

ra “mô hình kim cương” để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của các quốc gia, của ngành, doanh nghiệp hay của một sản phẩm cụ thể, bao gồm: điều kiện về các yếu

tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành hỗ trợ và có liên quan và năng lực và cơ cấu ngành Sau này Dunning J đã xây dựng mô hình “kim cương” cải tiến khi sử dụng thêm hai yếu tố là Nhà nước, đầu tư nước ngoài và cơ hội Dựa vào mô hình trên ta có thể đưa

ra các yếu tố chính ảnh hưởng đến NLCT xuất khẩu của mặt hàng cà phê như sau:

Trang 21

Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê

theo mô hình kim cương của M.Porter (nguồn: M.Porter, 1990, The Competitive Advantage Of Nations Harvard Business

Review)

1.3.1 Điều kiện về các yếu tố sản xuất

Yếu tố sản xuất là những yếu tố đầu vào cần thiết để cạnh tranh của bất kỳ mặt hàng nào Một số yếu tổ sản xuất cơ bản ảnh hưởng đến NLCT là nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và trình độ phát triển nguồn nhân lực, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng

 Điều kiện tự nhiên: ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cũng như tạo nên những

đặc trưng, hương vị riêng biệt đối với sản phẩm cà phê được sản xuất tại khu vực địa lý nhất định Diện tích, địa hình, khí hậu và đất đai vùng trồng, địa hình có ảnh hưởng mạnh tới chế độ nhiệt ẩm Những thay đổi về thời tiết (nắng, mưa, nóng, lạnh ) kéo theo thay đổi về tính chất đất đai, làm thay đổi thành phần sạch

Trang 22

và khoáng có trong đất Tại các vùng cao có nhiệt độ thấp và biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn hơn thì nhân cà phê thường rắn chắc hơn; các đặc trưng cảm quan của nước pha thường nổi trội hơn so với ở vùng thấp Điều kiện đất đai nói chung đóng vai trò nhất định trong sinh tổng hợp các chất tạo mùi vị Các loại đất đỏ phát triển trên đá bazan và đất phong hóa từ tro núi lửa rất thích hợp để sản xuất

cà phê chất lượng cao

 Nguồn nhân lực và trình độ phát triển nguồn nhân lực: nguồn nhân lực dồi dào

và đạt trình độ phát triển cao cũng như mức độ đầu tư vào nghiên cứu cho mặt hàng cà phê càng cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao NLCT của mặt hàng này

 Nguồn vốn: thể hiện qua tính đa dạng và thuận tiện của các kênh huy động vốn,

mức độ huy động vốn; quy mô nguồn vốn đầu tư cho sản xuất cà phê xuất khẩu, khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào càng cao sẽ giúp cho ngành

cà phê có cơ hội cải tiến và tiếp cận công nghệ mới, mở rộng quy mô nhờ đó tăng cường sản xuất, gia tăng chế biến các sản phẩm mới đạt chất lượng tốt

 Cơ sở hạ tầng: thể hiện mức độ hoàn thiện của hệ thống tưới tiêu, cơ sở chế biến,

hệ thống đường sá và trình độ phát triển của khoa học công nghệ sản xuất v.v Hiện nay, khoa học và công nghệ liên tục được nhắc đến như là chìa khóa cho sự thành công của mỗi quốc gia

1.3.2 Điều kiện nhu cầu trong và ngoài nước đối với mặt hàng cà phê

Nhu cầu trong và ngoài nước về mặt hàng cà phê sẽ xác định mức độ và tốc độ đổi mới và đầu tư của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất khẩu mặt hàng cà phê Quy mô thị trường lớn sẽ khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, nhà xưởng và nâng cao năng suất để đáp ứng nhu cầu thị trường Thông qua mức độ phức tạp, đòi hỏi đối với mặt hàng cà phê mà nhà sản xuất, kinh doanh sẽ điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của thị trường Việc nảy sinh nhu cầu mới của người mua về mặt hàng cà phê nào đó có thể sẽ dự báo được ở những thị trường

Trang 23

khác để có thể phát triển những sản phẩm mới, do đó giúp đi trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường khu vực hay thế giới nhờ đó tác động đến NLCT xuất khẩu

1.3.3 Các ngành hỗ trợ và có liên quan đến mặt hàng cà phê xuất khẩu

Trình độ phát triển của các ngành hỗ trợ và liên quan có tác động trực tiếp đến việc sản xuất và xuất khẩu mặt hàng cà phê như công nghệ sinh học, công nghệ chế biến, đóng gói, giao thông vận tải, các công ty bảo hiểm, ngân hàng, quỹ tín dụng

Công nghệ sinh học phát triển sẽ tạo lợi thế cho sản xuất cà phê do áp dụng những giống mới, năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh, cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu Công nghệ rang xay chế biến phát triển sẽ góp phần giảm tỷ lệ hao hụt trong chế biến, đảm bảo và nâng cao chất lượng mặt hàng cà phê, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe trong hoạt động xuất khẩu; giao thông vận tải đặc biệt là vận tải tàu biển phát triển sẽ giúp cho quá trình chuyên chở và vận chuyển hàng hóa hiệu quả, tiết giảm chi phí, đảm bảo giao hàng đúng thời gian quy định nhờ đó nâng cao được NLCT xuất khẩu của hàng hóa Muốn đảm bảo NLCT mạnh, đòi hỏi các yếu tố trên phải kết hợp, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau và phát triển tương đối đồng đều

1.3.4 Môi trường cạnh tranh và cơ cấu ngành

Cạnh tranh của một ngành trên thị trường nội địa có ảnh hưởng lớn đến thành công của ngành đó trên thị trường thế giới Cạnh tranh trên thị trường nội địa tạo cho các doanh nghiệp môi trường lành mạnh cần thiết cho các hoạt động đổi mới Các doanh nghiệp trong nước khi không thể mở rộng tại thị trường trong nước để đạt lợi thế theo quy mô sẽ phải cố gắng hướng ra thị trường quốc tế

Tính liên kết trong cơ cấu ngành chặt chẽ, mối liên kết giữa thu mua – xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng Nếu doanh nghiệp kết hợp tận dụng sự hỗ trợ từ các cơ quan, hiệp hội cũng như kết nối với người nông dân, sở cung ứng, điều phối hoạt động dọc chuỗi ngành hàng cà phê hiệu quả thì sẽ nâng cao NLCT của ngành cà phê trên thị trường thế giới

Trang 24

1.3.5 Vai trò của chính phủ

Chính phủ có thể tác động tích cực hay tiêu cực đến NLCT xuất khẩu của mặt hàng cà phê thông qua việc tác động đến các yếu tố đầu vào như thông qua trợ cấp, chính sách thị trường vốn, chính sách giáo dục, y tế Bên cạnh đó, chính phủ có thể ban hành hay lập ra các tiêu chuẩn, quy định sản xuất, tiêu chuẩn xuất khẩu phù hợp với thông lệ quốc tế Ngoài ra, chính phủ có thể kiến tạo hệ thống các ngành hỗ trợ và phụ trợ, các chính sách thuế, các chương trình xúc tiến thương mại mang tầm quốc gia nhằm đẩy mạnh và tạo điều kiện cho việc xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài được thuận lợi

1.3.6 Cơ hội

Một yếu tố khác có tác động đến NLCT của mặt hàng xuất khẩu đó là yếu tố cơ hội Cơ hội đóng vai trò quan trọng, chúng có thể dẫn đến những thay đổi lớn trong vị thế cạnh tranh, vô hiệu hóa lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện tại và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thích ứng được với tình hình mới Cơ hội có thể là sự ra đời của một công nghệ chế biến mới, những quyết định về chính trị của chính phủ nước ngoài, thay đổi tỉ giá hối đoái, tài chính, làn sóng nhu cầu Do vậy, các doanh nghiệp cần phải nhanh chóng nắm bắt cơ hội, kịp thời thích nghi với sự thay đổi, nâng cao NLCT

cà phê xuất khẩu ra thị trường thế giới

Trang 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT

HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU

2.1 Đặc điểm thị trường Châu Âu

 Nhu cầu cà phê tại thị trường Châu Âu

Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới Với dân số trên 744 triệu người vào năm cuối năm 2019, mức tiêu thụ trên thị trường Châu Âu chiếm khoảng 32,5% tổng sản lượng tiêu thụ cà phê của thế giới Trung bình mỗi người dân Châu Âu tiêu thụ khoảng 4-5 kg cà phê mỗi năm (năm 2019 là 4,46 kg/người) Trong giai đoạn 2014-2019, mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tại Châu Âu tuy tăng giảm qua các năm nhưng chênh lệch không nhiều và vẫn cao hơn nhiều mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người trên thế giới (1,33 kg/người năm 2019), thuộc mức cao trên thế giới

Bảng 2.1: Mức tiêu thụ cà phê bình quân tại Châu Âu, giai đoạn 2014 - 2019

Đơn vị: kg/người

Mức tiêu

Nguồn: ICO 03/2020, ICO 01/2019

Giai đoạn 2014-2019, sản lượng cà phê sản xuất của Châu Âu giữ mức ổn định trên 1,8 triệu tấn cà phê rang mỗi năm, nguồn nguyên liệu cho cà phê rang xay và hoà tan chủ yếu lấy từ nhập khẩu Cà phê sản xuất ra phục vụ cho cả nhu cầu tiêu thụ trong nước lẫn xuất khẩu, nước có sản lượng sản xuất nhiều nhất là Đức với 550 nghìn tấn cà phê rang năm 2018, chiếm gần 31% sản lượng sản xuất cà phê của Châu Âu

Bảng 2.2: Sản lượng cà phê rang sản xuất tại Châu Âu giai đoạn 2014-2018

Đơn vị: Nghìn tấn

Nguồn: Europa 2020

Trang 26

Để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa, sản xuất và chế biến lớn như vậy, hàng năm thị trường này nhập khẩu một lượng lớn cà phê từ các nước trên thế giới

 Nguồn cung cà phê tại thị trường Châu Âu

Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc trồng cà phê nên sản lượng cà phê nhân rất ít, nguồn cung chủ yếu là từ nhập khẩu

o Cơ cấu chủng loại nhập khẩu

Các mặt hàng cà phê mà Châu Âu nhập khẩu là cà phê nhân, cà phê rang xay và

cà phê hòa tan Cà phê nhân được nhập khẩu với khối lượng nhiều nhất, các doanh nghiệp

có nhu cầu nhập khẩu cà phê này chủ yếu để chế biến và xuất khẩu ra nước ngoài

Bảng 2.3: Cơ cấu các sản phẩm cà phê nhập khẩu vào thị trường EU28, giai đoạn

2014 - 2018

Đơn vị: tấn Loại Cà phê nhân Cà phê rang xay Cà phê hòa tan

Nguồn: European Coffee Report (ECR), 2015 - 2019

Thị trường Châu Âu là một thị trường có sự đòi hỏi cao về chất lượng , ngoài các mặt hàng cà phê truyền thống thì Châu Âu còn có nhu cầu đối với các sản phẩm cà phê đặc biệt như cà phê sạch, cà phê hảo hạng, cà phê đạt chứng nhận và tiêu chuẩn quốc tế Hai loại cà phê được nhập khẩu chính vào Châu Âu bao gồm Arabica và Robusta Theo báo cáo thường niên của Liên đoàn cà phê Châu Âu (ECF), trung bình mỗi năm Châu

Âu nhập khẩu hơn 60% cà phê Arabica trong tổng lượng cà phê nhập khẩu

Trang 27

Hình 2.1 Khối lượng nhập khẩu cà phê của EU28 theo chủng loại cà phê (%)

(nguồn: Eurostat, 2020)

o Sản lượng và kim ngạch nhập khẩu

Bảng 2.4: Khối lượng cà phê nhân xanh nhập khẩu của Châu Âu giai đoạn 2014-2017

Hàng năm, Châu Âu nhập khẩu một lượng lớn cà phê và là thị trường nhập khẩu

cà phê lớn nhất thế giới Tuy nhiên, trong giai đoạn 2014 - 2017, khối lượng cà phê nhập khẩu của Châu Âu tăng giảm thất thường do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu khiến cho

Trang 28

sản lượng cà phê sản xuất mỗi năm không ổn định, cùng với sự khủng hoảng giá cả và

sự suy yếu của nền kinh tế khiến cho mặt hàng cà phê nhập khẩu bị suy giảm

Bảng 2.5: Kim ngạch nhập khẩu cà phê Châu Âu giai đoạn 2014 - 2019

o Cơ cấu thị trường nhập khẩu

Châu Âu nhập khẩu cà phê từ rất nhiều nước trên thế giới Các quốc gia cung ứng

cà phê nhân hàng đầu vào Châu Âu là Brazil, Việt Nam, Ấn Độ, Honduras, Colombia, Peru Trong đó, năm 2018, chỉ riêng 2 quốc gia đứng đầu là Brazil và Việt Nam đã chiếm đến 55,5% trong tổng khối lượng cà phê nhân nhập khẩu của EU28

Trang 29

Bảng 2.6: Khối lượng cà phê 6 quốc gia hàng đầu xuất khẩu cà phê nhân xanh vào thị

trường EU28 giai đoạn 2014-2018

Đơn vị: nghìn tấn/%

Brazil 917 (31%) 943 (34%) 914 (31%) 839 (29,5%) 900 (30,1%) Việt Nam 702 (24%) 630 (22%) 728 (25%) 660 (23,3%) 758 (25,4) India 133 (4%) - 140 (5%) 140 (5,2%) 157 (5,3%) Honduras 165 (5%) 174 (6%) 191 (6%) 210 (7,4%) 228 (7,6%)

cà phê này có thể thu hoạch lại Các vị trí còn lại cũng thay đổi qua từng năm, chỉ có Brazil và Việt Nam là duy trì ổn định ở 2 vị trí đầu, Brazil là nước có sản lượng xuất khẩu cà phê nhân lớn nhất vào Châu Âu

Bên cạnh cà phê nhân thì mặt hàng cà phê rang xay và hòa tan cũng được xuất khẩu vào thị trường Châu Âu từ các nước như Thuỵ Sĩ, Brazil, Ecuador, Colombia Năm 2018, 3 quốc gia xuất khẩu đứng đầu là Thuỵ Sĩ, Ecuador, Brazil đã chiếm trên ¾ tổng lượng cà phê rang xay và hoà tan nhập khẩu của Châu Âu, trong đó có Thuỵ Sĩ thuộc hàng các nước phát triển với nhiều kỹ thuật và công nghệ chế biến tiên tiến đã chiếm đến gần 50% tổng lượng nhập khẩu

Trang 30

Hình 2.2 Khối lượng nhập khẩu cà phê nhân xanh của EU28 theo thị trường xuất khẩu

năm 2018 (tấn) (nguồn: Eurostat, 2018)

Tóm lại, Châu Âu là thị trường hấp dẫn mà các nước xuất khẩu cà phê hướng đến

Vì vậy, Việt Nam cần nâng cao NLCT hơn nữa để nắm được vị thế dẫn đầu và vững chắc so với các đối thủ cạnh tranh khác như Brazil, Ấn Độ, Colombia

2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường Châu Âu

Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới sau Brazil Theo số liệu thống kê của Trademap, trong giai đoạn 2014 - 2019, thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam dao động quanh mức kim ngạch bình quân 2,9 tỷ USD/năm

Brazil 30%

Việt Nam 25%

Colombia 6%

Brazil Việt Nam Colombia Honduras Peru India Khác

Trang 31

Hình 2.3 Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng cà phê theo châu lục giai

đoạn 2014 - 2019 (nghìn USD) (nguồn: Trademap, 2020)

Theo thống kê kim ngạch xuất khẩu theo châu lục, thị trường tiêu thụ cà phê chủ yếu là các nước Châu Âu, chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với tổng kim ngạch lên tới hơn 1,2 tỷ USD trong năm 2019 Đây là thị trường tiềm năng cho mặt hàng cà phê Việt Nam với cơ hội về thị trường trong những năm gần đây

2.2.1 Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu

Theo số liệu thống kê của Trademap, cà phê Việt Nam xuất khẩu sang Châu Âu trong giai đoạn 2014 - 2019 không ổn định và tăng giảm thất thường Tổng lượng cà phê xuất khẩu sang Châu Âu tính đến cuối năm 2019 đạt 725 nghìn tấn tương đương 1164 triệu USD, giảm 14,6% về lượng và giảm 21,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018 Điều này cho thấy sự rớt giá thảm hại của mặt hàng cà phê trên thị trường quốc tế khiến cho tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta bị ảnh hưởng Thực tế, giá cà phê Việt Nam đang giảm theo xu hướng chung Giá cà phê thế giới tiếp tục suy giảm trong những tháng

Trang 32

đầu năm 2019 và giảm xuống mức thấp nhất trong 13 năm trở lại đây do áp lực dư cung của thị trường cà phê toàn cầu

Hình 2.4 Khối lượng và kim ngạch cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường châu Âu

giai đoạn 2014 – 2019 (Nguồn: Trademap, 2020 )

Qua bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy, trong giai đoạn 2014 – 2019, khối lượng

và kim ngạch xuất khẩu cà phê trong 2 năm đầu có sự cân bằng tuy nhiên trong 3 năm sau đó, kim ngạch xuất khẩu không biến động nhiều nhưng khối lượng lại tăng giảm thất thường và đến năm 2019, cả khối lượng lẫn kim ngạch xuất khẩu đều giảm mạnh

Cụ thể, trong năm 2015, cả khối lượng lẫn kim ngạch xuất khẩu cà phê đều giảm đột ngột so với năm 2014 Nguyên nhân là do vào cuối năm 2014, mặt hàng cà phê trên thị trường quốc tế bị trượt giá, điều này tạo ra tâm lý lo ngại cho người nông dân khiến Trước tín hiệu rớt giá, nông dân Việt Nam đã quyết định giữ lại cà phê để chờ giá lên Tuy nhiên trong suốt cả năm, giá không tăng trở lại và nông dân trồng cà phê phải chịu thiệt hại kép cả về giá lẫn lượng Hầu hết kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường trên thế giới đều giảm so với cùng kỳ năm 2014, trong đó bao gồm cả thị trường châu Âu

0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 1800

0 100 200 300 400 500 600 700 800 900

Trang 33

Sang đến năm 2016, đến cuối năm, tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê sang thị trường châu Âu lên tới 1501 triệu USD, tăng hơn 20% so với năm 2015 với khối lượng xuất khẩu tăng gần 31% Đây là tín hiệu đáng mừng cho người nông dân Việt Nam khi mặt hàng cà phê xuất khẩu lại một lần nữa lấy lại phong độ trên thị trường quốc tế

Tuy nhiên vào cuối năm 2017, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu mặt hàng cà phê sang châu Âu đều giảm so với năm 2016 và tăng trở lại vào năm 2018 Cụ thể, đến hết năm 2018 xuất khẩu cà phê ở nước ta đạt 849 nghìn tấn với giá trị kim ngạch lên đến

1481 triệu USD Tuy nhiên, mặc dù khối lượng xuất khẩu tăng 24% so với năm trước đó nhưng lượng kim ngạch xuất khẩu lại chỉ tăng 2,1% Một trong những nguyên nhân chính của việc ngày là do cuộc khủng hoảng giá cả trong năm 2018 và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây làm giảm chất lượng cà phê, hạ giá thành xuất khẩu

So sánh ngay với năm 2014 ta cũng có thể thấy sự suy giảm giá trị trong hoạt động xuất khẩu cà phê khi khối lượng trong năm 2018 tăng gần 6,5% mà kim ngạch xuất khẩu lại giảm tới 7,7%

Song, đến năm 2019, thị trường cà phê sụt giảm nặng nề cả về khối lượng lẫn kim ngạch Trước đó, ICO dự báo giá cà phê thế giới trong năm 2019 sẽ tiếp tục giảm do sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế toàn cầu và còn nhiều rủi ro tiềm ẩn tác động đến nhu cầu tiêu thụ cà phê khi cà phê toàn cầu được mùa và gây áp lực dư cung trong năm vừa qua Ngoài ra, hoạt động xuất khẩu cà phê Việt nam được Bộ Công thương dự báo

là sẽ tiếp tục gặp khó khăn do giá cà phê thế giới vẫn đang ở mức thấp; Đây là một tín hiệu xấu cho mặt hàng cà phê xuất khẩu Việt Nam

Điều này cho thấy sự không ổn định của thị trường xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam sang thị trường châu Âu Dù vậy, theo số liệu thống kê của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), trong giai đoạn 2014 - 2019, Việt Nam vẫn giữ vững phong độ xuất khẩu cà phê trên thị trường châu Âu khi tổng giá trị cà phê nhập khẩu từ Việt Nam giữ ở mức ổn định chiếm trung bình khoảng 9% tổng giá trị cà phê nhập khẩu của thị trường Châu Âu

Trang 34

Hình 2.5 Kim ngạch cà phê nhập khẩu từ Việt Nam và thế giới của châu Âu

(nguồn: Trademap - ITC, 2020)

Đây có thể coi là một dấu hiệu tốt cho ngành xuất khẩu cà phê Việt Nam khi có một thị trường lớn là “khách hàng thân thiết”

Trang 35

Hình 2.6 Khối lượng tiêu thụ cà phê theo thị trường nhập khẩu giai đoạn 2014 -

2019 (nguồn: ICO, 2020)

Xét thị trường tiêu thụ các nước tại thị trường châu Âu, Đức là thị trường tiêu thụ

cà phê lớn nhất, và cũng là đối tác nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam

Trang 36

Hình 2.7 Top 6 thị trường tiêu thụ cà phê Việt Nam lớn nhất tại thị trường Châu

Âu (nghìn USD) (nguồn: Trademap, 2020)

Năm 2019, mặt hàng cà phê Việt Nam nhập khẩu của Đức đạt 234 nghìn tấn, trị giá 366 triệu USD, chiếm 31,4% tổng kim ngạch nhập khẩu cà phê trực tiếp của châu

Âu Trung bình giai đoạn năm 2014 – 2019, nhập khẩu cà phê của Đức giảm 5,6% về lượng nhập khẩu và giá trị nhập khẩu giảm 27%, chủ yếu do giá cà phê giảm

Đức cũng là thị trường tiêu dùng cà phê lớn nhất tại châu Âu về lượng Năm 2018, thị trường Đức chiếm 26% tổng tiêu dùng cà phê của châu Âu, lên tới 367.000 tấn cà phê xanh và hòa tan Tiêu dùng cà phê trên đầu người của Đức không nằm trong top cao nhất châu Âu nhưng cũng đạt trung bình 5,5 kg/người/năm, vẫn cao hơn so với mức tiêu thụ

cà phê trung bình trên đầu người tại châu Âu là 5,1 kg/người/năm

Xếp sau là thị trường Ý, xếp thứ 2 khối châu Âu và xếp thứ 3 tại châu Âu, chiếm 11% tổng tiêu dùng cà phê châu Âu với mức 151.000 tấn cà phê nhân xanh và cà phê hòa tan vào năm 2018 Cà phê là một phần không thể thiếu trong văn hóa Ý, nơi tiêu dùng cà phê trên đầu người đạt 5,9 kg/người/năm

Trang 37

Ý là nước nhập khẩu cà phê Việt Nam lớn thứ 2 tại châu Âu, chỉ đứng sau Đức Năm 2019, nhập khẩu cà phê tại Ý đạt lượng 140 nghìn tấn, trị giá 224 triệu USD, với tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức 3,7%/năm về lượng và -1%/năm về giá trị trong giai đoạn 2014 – 2019 Ý nhập khẩu một tỷ trọng tương đối lớn cà phê Robusta, thường được dùng làm nền trong các công ty phối trộn pha espresso Cà phê nhân xanh chủ yếu nhập khẩu vào Ý qua cảng Trieste và Genoa

Bỉ là nước nhập khẩu cà phê trực tiếp từ Việt Nam lớn thứ 3 tại châu Âu, chiếm thị phần 8,8% Tổng khối lượng cà phê nhập khẩu từ Việt Nam của Bỉ đạt 73 nghìn tấn, trị giá 115 triệu USD Tuy nhiên, xét trong giai đoạn 2014 - 2019 thì tốc độ tăng trưởng nhập khẩu mặt hàng cà phê từ Việt Nam của Bỉ là -7,6/năm về lượng và giá trị nhập khẩu thì giảm -9,8%/năm trong cùng kỳ Đây là một tín hiệu tiêu cực cho thực trạng xuất khẩu mặt hàng cà phê của Việt Nam vào thị trường này

Tiếp theo đó, Pháp, Tây Ban Nha và Anh là các thị trường thú vị khác cho các nhà xuất khẩu cà phê Việt Nam Các thị trường này đều có cơ sở khách hàng lớn, tỷ trọng nhập khẩu trực tiếp cà phê ở mức cao: Pháp là 8,2%, Tây Ban Nha là 6% và Anh 5,4% Trong số các nước này, Tây Ban Nha chiếm 18,3% tổng lượng nhập khẩu cà phê châu

Âu, theo sau là Anh (6,7%) và Pháp (4,6%)

Ngoài ra, các nước Đông Âu cũng đang là các thị trường cà phê rất tiềm năng cho các nhà xuất khẩu Tiêu dùng cà phê tại Đông Âu vẫn thấp hơn nhiều so với Tây Âu nhưng các chuyển dịch trong tiêu dùng cà phê tại khu vực này rất đáng chú ý Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp của Ba Lan – nơi các quán cà phê đặc sản đang tăng nhanh Cà phê đặc sản cũng thu hút sự chú ý tại các thị trường khác trong khu vực này, như tại Romania và Bulgaria, cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn của người tiêu dùng

cà phê Đông Âu tới chất lượng và các loại cà phê

Khu vực này chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong cơ cấu nhập khẩu cà phê của thị trường châu Âu nhưng lượng nhập khẩu cà phê tại phần lớn các nước Đông Âu khá ổn định trong giai đoạn 2014 – 2019 Nước nhập khẩu cà phê lớn nhất khu vực là Ba Lan,

Trang 38

với tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cà phê hàng năm về lượng là 5%/năm trong cùng giai đoạn

Về khía cạnh tiêu dùng trên đầu người, Phần Lan, Iceland và Đan Mạch cũng là các thị trường tiềm năng bởi có mức tiêu dùng cà phê trên đầu người cao nhất châu Âu

Về chất lượng, các thị trường Bắc Âu có tỷ lệ sử dụng cà phê chất lượng cao cao hơn so với Đông và Nam Âu – nơi có lượng cà phê tiêu thụ cao hơn nhưng chất lượng cà phê thường thấp hơn 2

2.2.3 Giá sản phẩm

Giai đoạn 2014 – 2019 giá xuất khẩu cà phê có sự bất ổn rõ rệt khi giá cà phê xuất khẩu tăng trưởng không ổn định Đặc biệt trong những năm gần đây, giá cà phê có xu hướng giảm do cuộc khủng hoảng giá toàn cầu và chất lượng cà phê cũng giảm sút do tác động của biến đổi khí hậu

Hình 2.8 Giá mặt hàng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Châu Âu giai đoạn 2014 - 2019 (USD/tấn) (nguồn: Trademap, ICO, Theo tính toán của tác giả,

Trang 39

Dù là nước xuất khẩu cà phê thứ hai thế giới nhưng cà phê Việt Nam bị phụ thuộc rất nhiều vào thị trường thế giới và gần như không nắm trong tay quyền tự quyết Theo biểu đồ ta có thể thấy giá cà phê xuất khẩu Việt Nam hiện nay còn thấp hơn rất nhiều so với giá cà phê thế giới Điều này là một bất lợi lớn cho mặt hàng cà phê xuất khẩu nước

ta Trong khi khối lượng xuất khẩu hàng năm tương đối lớn nhưng do giá thành không cao nên kim ngạch xuất khẩu thu về cũng không cao

Theo Cục Xuất nhập khẩu, trong năm 2018 giá cà phê trong nước giảm do chịu ảnh hưởng bởi đà lao dốc giá cà phê thế giới, do nguồn cung vượt quá nhu cầu trên thế giới Theo ông Phan Xuân Thắng, Phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca Cao Việt Nam (VICOFA), ngành cà phê trong năm 2018 thiệt hại khoảng 2.500 - 3.000 tỷ đồng do bị ảnh hưởng bởi đợt khủng hoảng giá trong năm vừa qua Người dân bị lỗ vì có những thời điểm giá cà phê trong nước giảm xuống còn 32.000 đồng/kg trong khi đó chi phí sản xuất cho một kg cà phê là 35.000 đồng

Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác khiến giá xuất khẩu của Việt Nam thấp so với thị trường đó là vấn đề về chất lượng Đơn cử ta có thể so sánh giữa Việt Nam và Indonesia, đều nằm ở khu vực châu Á, Indonesia cũng có cơ cấu mặt hàng khá tương đồng với Việt nam, xuất khẩu chủ yếu chủng loại Robusta, nhưng giá cà phê nhân của Indonesia vẫn cao hơn Việt Nam, đó là do chất lượng cà phê của Việt Nam còn thấp Ngoài ra một điều ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến giá cà phê là đồng tiền của các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới mất giá Trong năm 2018, đồng Real của Brazil

đã mất giá tới 20% so với đồng USD Điều này tác động tiêu cực đến giá của mặt hàng

cà phê trên thị trường quốc tế dẫn tới khi giá cà phê giảm, những nước này càng bán thì đồng nội tệ của họ giảm và làm cho thị trường giảm theo Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến giá cà phê đi xuống, đặc biệt là Arabica

Giá cà phê trong năm 2019 cũng không khá khẩm hơn do ảnh hưởng từ dư cung của năm 2018 Thêm vào đó cùng là do ảnh hưởng lớn của các yếu tố sản xuất khiến cho giá cà phê ngày càng trượt giá Tại thị trường cà phê trong nước, so với tháng 5/2019,

Trang 40

giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên trong tháng 6 giảm 700 - 1.200 đồng/kg Giá

cà phê xuất khẩu bình quân nửa đầu năm nay đã giảm 11,5% so với cùng kỳ năm 2018

Một vấn đề đáng quan ngại là, không chỉ giảm theo xu hướng chung của thị trường

cà phê toàn cầu, mà giá cà phê xuất khẩu và tại thị trường nội địa nước ta có xu hướng giảm nhanh hơn tốc độ giảm trên thế giới Một số bản báo cáo phân tích cho hay, giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam hiện ở mức thấp nhất so với giá bán của các nước xuất khẩu

cà phê khác trên thế giới

Nhìn chung giá cà phê Việt Nam xuất khẩu vẫn ở mức thấp và chưa có sự chuyển biến tích cực trong giai đoạn 2014 - 2019 Và như đã đề cập ở trên, với mặt hàng mà giá

cả thể hiện chất lượng như cà phê thì điều này đồng nghĩa chất lượng cà phê Việt Nam hiện thấp hơn nhiều so với đối thủ cạnh tranh, sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến NLCT xuất khẩu mặt hàng cà phê Việt Nam tại thị trường Châu Âu

2.2.4 Đánh giá và dự báo

Tính đến hết năm 2019, theo các báo cáo thì mặt hàng cà phê Việt Nam xuất khẩu sang Châu Âu vẫn còn nhiều khó khăn và bất cập Vào cuối năm 2018, ICO đã điều chỉnh giảm dự báo dư thừa cà phê toàn cầu năm 2018 xuống còn 1,59 triệu bao và tin rằng tình trạng dư thừa cà phê chỉ trong ngắn hạn vì nhu cầu tiêu thụ cà phê hàng năm vẫn tăng trưởng ở mức ổn định Tuy nhiên, giá cà phê thế giới vẫn giảm mạnh trong năm 2019 và dự kiến vẫn tiếp tục giảm trong thời gian tới do ảnh hưởng từ sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế toàn cầu Đặc biệt trong thời gian gần đây, những tháng đầu năm 2020, toàn bộ nền kinh tế thế giới đang trở nên hỗn loạn do sự bùng phát của dịch Covid-19 Điều này khiến cho giá cà phê đã thấp lại càng thấp hơn Do sự hoành hành của dịch Covid-19 tại Châu Âu nên các thị trường lớn như Ý, Tây Ban Nha, Pháp, Anh hầu hết phải buộc đóng cửa các nhà hàng, khách sạn, tiệm ăn Đây đều là những khu vực xuất khẩu trọng điểm của mặt hàng cà phê Việt Nam Giá cà phê liên tục sụt giảm

và đến thời điểm này đã ở mức thấp trong vòng 15 năm trở lại đây khiến nông dân có xu

Ngày đăng: 03/07/2021, 08:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w