Nhan đề : Một số giải pháp phát triển năng lực cạnh tranh của chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam Tác giả : Hoàng Mạnh Hưng Người hướng dẫn: Nguyễn Danh Nguyên Từ khoá : Viettel Hà Nam; Năng lực cạnh tranh; Hà Nam Năm xuất bản : 2020 Nhà xuất bản : Trường đại học Bách Khoa Hà Nội Tóm tắt : Tổng quan về năng lực cạnh tranh và cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông; thực trạng và một số giải pháp phát triển năng lực cạnh tranh của chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Một số giải pháp phát triển năng lực cạnh tranh của chi nhánh
Kỹ thuật Viettel Hà Nam
HOÀNG MẠNH HƯNG Ngành: Quản lý kinh tế
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Danh Nguyên
HÀ NỘI, 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Một số giải pháp phát triển năng lực cạnh tranh của chi nhánh
Kỹ thuật Viettel Hà Nam
HOÀNG MẠNH HƯNG Ngành: Quản lý kinh tế
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Danh Nguyên
HÀ NỘI, 2020
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên tác giả luận văn: Hoàng Mạnh Hưng
Đề tài luận văn: “Một số giải pháp phát triển năng lực cạnh tranh của
chi nhánh kỹ thuật Viettel Hà Nam”
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số SV:
Tác giả, người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn xác nhận tác giả đã sửa chữa, bổ sung luận văn theo biên bản họp Hội đồng ngày 28/08/2020, với các nội dung sau:
- Viết lại “Phần mở đầu” cho đầy đủ và chuẩn xác
- Cấu trúc lại nội dung tại Mục 1.2 “Lý thuyết về dịch vụ viễn thông và cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông”, Chương 1, trang 27
- Điều chỉnh giai đoạn nghiên cứu của Chương 2 thành “giai đoạn 2017-2019”
- Đưa bảng 2.11 “Bảng điểm đánh giá năng lực cạnh tranh của chi nhánh kỹ thuật Viettel Hà Nam …” lên Mục 2.2, thành Bảng 2.2, Chương 2, trang 38
- Điều chỉnh nội dung Mục 2.4 thành tiểu mục 2.3.4 thuộc Mục 2.3, Chương 2, trang 55
- Chuẩn hóa lại các hạn chế và nguyên nhân tại Mục 2.4.2, Chương 2, trang 71-72
Ngày tháng 09 năm 2020
TS Nguyễn Danh Nguyên Hoàng Mạnh Hưng
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu mặc dù gặp nhiều khó khăn, song tôi
đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, lãnh đạo cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp, các đơn vị, cá nhân liên quan và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo
TS Nguyễn Danh Nguyên – Người đã nhiệt tình hướng dẫn đầy trách nhiệm,
chỉ bảo, tham gia ý kiến quý báu, giúp đỡ, động viên tôi khắc phục, vượt qua khó khăn trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn chỉnh bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội đã cung cấp cho tôi những thông tin, kiến thức, truyền đạt những kinh nghiệm trong quá trình tôi học lớp cao học để tôi ứng dụng vào nội dung của bản luận văn
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên Chi nhánh
Kỹ thuật Viettel Hà Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu; trân trọng cảm ơn tới các cơ quan, đơn vị, cá nhân
đã cộng tác giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, dữ liệu, nghiên cứu luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, cổ vũ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi yên tâm học tập và nghiên cứu./
Hà Nam, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Hoàng Mạnh Hưng
Trang 5i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG 9
1.1 LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 9
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 9
1.1.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh 11
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 14
1.1.4 Một số công cụ sử dụng trong cạnh tranh 16
1.1.5 Các yếu tô ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh 21
1.1.6 Mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 24
1.2 LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG VÀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG 27
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ viễn thông 27
1.2.2 Thị trường viễn thông Việt Nam và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông 31
Kết luận chương 1 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHI NHÁNH KỸ THUẬT VIETTEL HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2017-2019 34
2.1 Giới thiệu tổng quan về hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam 34
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 34
2.1.3 Kết quả hoạt động giai đoạn 2017 – 2019 37
2.2 Khái quát tình hình cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ của Chi nhánh Kỹ Thuật Viettel Hà Nam trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017 – 2019 38
2.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng doanh thu 39
2.2.2 Dịch vụ xây lắp viễn thông, xây dựng dân dụng và công nghiệp: 41
2.2.3 Dịch vụ vận hành khai thác mạng viễn thông: 43
2.2.4 Dịch vụ giải pháp tích hợp: 45
Trang 6ii
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 48
2.3.1 Các nhân tố bên ngoài 48
2.3.2 Các nhân tố bên trong 50
2.3.3 Phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter 52
2.3.4 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ VHKT, Giải pháp tích hợp, Cho thuê hạ tầng và Xây lắp công trình của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam 55
2.4 Đánh giá về năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam giai đoạn 2017 – 2019 70
2.4.1 Những kết quả đạt được 70
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 71
Kết luận chương 2 73
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHI NHÁNH KỸ THUẬT VIETTEL HÀ NAM THỜI GIAN TỚI 74
3.1 Định hướng phát triển của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam 74
3.1.1 Xu hướng phát triển của lĩnh vực viễn thông-công nghệ thông tin tại Việt Nam 74
3.1.2 Định hướng phát triển của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam thời gian tới 76
3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam trong thời gian tới 77
3.2.1 Nâng cao chất lượng các dịch vụ Giải pháp tích hợp và Xây dựng dân dụng 77
3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động marketing 90
3.3 Kiến nghị 92
3.3.1 Đối với Chính quyền tỉnh Hà Nam 92
3.3.2 Đối với Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam 92
Kết luận chương 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 98
Trang 7iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
2 CNKT VT HNM Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam
6 TTKT VT HNM Trung tâm kỹ thuật Viettel Hà Nam
Contruction Company)
Trang 8iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của Chi nhánh Kỹ Thuật Viettel Hà Nam giai đoạn 2017– 2019 37Bảng 2.2 Bảng điểm đánh giá năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel
Hà Nam so với một số đối thủ cạnh tranh qua kết quả hàng năm so với quy định của Bộ TTTT 38Bảng 2.3 Cơ cấu doanh thu của Chi nhánh Kỹ Thuật Viettel Hà Nam giai đoạn
2017 – 2019 39Bảng 2.4 Doanh thu Xây lắp của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam và giai đoạn
2017 – 2019 41Bảng 2.5 Thị phần tính theo số công trình xây lắp mới, sửa chữa di dời của các đơn vị cung cấp dịch vụ trên địa bàn Hà Nam giai đoạn 2017 – 2019 42Bảng 2.6 Doanh thu dịch vụ Vận hành khai thác của Chi nhánh Kỹ Thuật Viettel
Hà Nam và một số đối thủ cạnh tranh giai đoạn 2017 – 2019 43Bảng 2.7 Thị phần tính theo số trạm BTS của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam
so với một số đối thủ cạnh tranh giai đoạn 2017 – 2019 45Bảng 2.8 Doanh thu dịch vụ giải pháp tích hợp của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam và một số đối thủ cạnh tranh giai đoạn 2017–2019 45Bảng 2.9 Thị phần tính theo thuê bao của dịch vụ giải pháp tích hợp các đơn vị cung cấp dịch vụ trên địa bàn Hà Nam giai đoạn 2017 – 2019 47Bảng 2.10 Bảng trình độ nhân lực tại Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam năm
2019 50Bảng 2.11 Kết quả sản xuất kinh doanh qua các năm 2017-2019 51Bảng 2.12 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về chất lượng dịch vụ di vụ Vận hành khai thác 56Bảng 2.13 Số lượng và vị trí trạm phát sóng 2G và 3G của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam và các đối thủ cạnh tranh 57Bảng 2.14 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về đơn giá dịch vụ vận hành khai thác 57Bảng 2.15 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về đơn giá vận hành khai thác 58Bảng 2.16 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về hệ thống phân phối dịch vụ 58Bảng 2.17 Bảng phân bố các kênh phân phối trên địa bàn tỉnh Hà Nam tính đến năm 2019 59Bảng 2.18 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về các hoạt động xúc tiến yểm trợ 61
Trang 9v
Bảng 2.19 Bảng tổng hợp các hoạt động quảng cáo của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel
Hà Nam và các đối thủ cạnh tranh đã thực hiện năm 2017 đến năm 2019 61Bảng 2.20 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về thương hiệu và uy tín 63Bảng 2.21 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về chất lượng dịch vụ xây lắp 64Bảng 2.22 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về giá cước dịch vụ xây lắp 65Bảng 2.23 Đơn giá dịch vụ xây lắp của Viettel và Thành Đạt 66Bảng 2.24 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về chất lượng dịch vụ giải pháp tích hợp 67Bảng 2.25 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về giá cước dịch vụ giải pháp tích hợp 67Bảng 2.26 Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về chất lượng dịch vụ hạ tầng cho thuê 68Bảng 2 27.Bảng câu hỏi khảo sát khách hàng về giá cước dịch vụ cho thuê hạ tầng 69Bảng 2.28 Đơn giá dịch vụ cho thuê hạ tầng của Viettel và Thành Đạt 69Bảng 3.1 Mục tiêu phát triển của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam trong năm 2020-2021 77Bảng 3.2 Chỉ số ICT Index 2019 - ứng dụng công nghệ thông tin của Hà Nam so với một số địa phương lân cận 78Bảng 3.3 Mục tiêu nâng cao các chỉ số đo lường chất lượng dịch vụ giải pháp tích hợp của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam năm 2019 79Bảng 3.4 Bảng phân công trách nhiệm thực hiện giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ 85Bảng 3.5 Bảng dự trù kinh phí thực hiện giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ 87Bảng 3.6 Mục tiêu mở rộng các điểm bán hàng, đại lý trên địa bàn tỉnh Hà Nam 88Bảng 3.7 Bảng phân công trách nhiệm thực hiện giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng hệ thống phân phối 89Bảng 3.8 Bảng dự trù kinh phí thực hiện giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng
hệ thống phân phối 90Bảng 3.9 Bảng phân công trách nhiệm thực hiện giải pháp đẩy mạnh hoạt động marketing 92Bảng 3.10 Bảng dự trù kinh phí thực hiện giải pháp đẩy mạnh hoạt động marketing 92
Trang 10số đối thủ cạnh tranh giai đoạn 2017 – 2019 44Hình 2.4 Số lượng khách hàng giải pháp tích hợp của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel
Hà Nam so với một số đối thủ cạnh tranh giai đoạn 2017 – 2019 46Hình 2.5 Tình hình biến động số lượng nhân sự Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam giai đoạn 2017 - 2019 50Hình 2.6 Doanh thu dịch vụ vận hành khai thác trung bình trên 1 trạm BTS tại Hà Nam giai đoạn 2017 – 2019 54
Trang 111
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thị trường Nó được coi là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung Cạnh tranh là một tất yếu khách quan là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh Cạnh tranh không chỉ là cạnh tranh giữa những người sản xuất với nhau mà còn là
sự cạnh tranh giữa người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, giữa khách hàng với người bán hay giữa chính các khách hàng với nhau
Trên thị trường có rất nhiều công ty sản xuất và kinh doanh, cung ứng những sản phẩm, dịch vụ có cùng tính năng, công dụng, kiểu dáng giống nhau Nghĩa là trên thị trường có rất nhiều sản phẩm thay thế để khách hàng lựa chọn Vấn đề đặt
ra là làm thế nào để khách hàng lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp mình cung ứng, chứ không phải của đối thủ cạnh tranh? Đó là câu hỏi lớn đối với bất cứ ban lãnh đạo một công ty lớn nào Muốn khách hàng lựa chọn sản phẩm mà doanh nghiệp mình cung cấp thì doanh nghiệp phải không ngừng áp dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình sản xuất kinh doanh, cải tiến công nghệ, nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên… tất cả nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ,
đa dạng hóa mẫu mã và giảm giá thành sản phẩm, giữ chữ tín Có như vậy doanh nghiệp mới chủ động hơn trong quá trình sản xuất kinh doanh và thu hút được khách hàng đồng thời chiến thắng được đối thủ cạnh tranh trên thị trường Kết quả của quá trình cạnh tranh sẽ quyết định doanh nghiệp nào tiếp tục tồn tại và phát triển còn doanh nghiệp nào sẽ bị phá sản và giải thể Do đó, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã trở thành một vấn đề quan trọng hàng đầu mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm
Thị trường thông tin di động Việt Nam đã phát triển khá năng động trong thời gian qua với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Nhiều doanh nghiệp viễn thông mới đã tham gia đầy đủ và đang nhanh chóng khẳng định chỗ đứng trên thị trường Tốc độ tăng trưởng cao được duy trì liên tục qua nhiều năm Mạng lưới được mở rộng nhanh chóng và mức độ hiện đại hoá theo kịp trình độ thế giới Các doanh nghiệp cũng đã bắt đầu làm quen được với văn hoá cạnh tranh và chú trọng đổi mới tổ chức sản xuất, kinh doanh để nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ Thực tế giá cước dịch vụ liên tục giảm, các loại hình dịch vụ ngày càng đa dạng
Trang 122
Trước tình hình đặt ra mặc dù không phải là doanh nghiệp đầu tiên kinh doanh loại hình dịch vụ viễn thông nhưng Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (VIETTEL) đã sớm khẳng định được vị thế của mình, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường Hiện nay, Viettel đã và đang đầu tư vào công nghệ, nguồn lực để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh các nhóm ngành nghề truyền thống mà các công ty cổ phần đang thực hiện, để nâng cao thị phần và thương hiệu và đa dạng hóa nguồn doanh thu Đặc biệt là hoàn thiện chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh, chiến lược này được Tập đoàn triển khai xuống từng Tổng Công ty, chi nhánh và các đơn vị trực thuộc, bước đầu thu được những thành công đáng ghi nhận
Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam – là đơn vị đi đầu trong việc triển khai chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Cổ phần Công trình Viettel Tuy nhiên, trước viễn cảnh thị trường viễn thông đang trở nên bão hòa, cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các đối thủ Như vậy, để đảm bảo duy trì được doanh thu, lợi nhuận và thu nhập cho người lao động, tạo dựng thương hiệu và đứng vững trên thị trường buộc đơn vị phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Qua việc tìm hiểu hoạt động kinh doanh, cũng như môi trường hoạt động của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam trong những năm gần đây, cùng với mong muốn được đóng góp một phần giải quyết những khó khăn tác giả đã chọn đề tài:
“Một số giải pháp phát triển năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel
Hà Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam trên địa bàn tỉnh, qua đó đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: tại Chi nhánh Kỹ Thuật Viettel Hà Nam
+ Thời gian: giai đoạn 2017 – 2019
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, mô hình hóa các số liệu điều tra thực tế, thống kê, phân tích so sánh, tiếp cận hệ thống, lựa chọn tối ưu
Đầu tiên tác giả tiến hành nghiên cứu lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, kết hợp với việc phân tích các số liệu thống kê để tính các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Hà Nam Sau đó cộng với kết quả từ việc điều tra khảo sát, thăm dò ý kiến khách hàng, tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Tổng công ty, để từ đó làm căn cứ đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
- Về việc thu thập dữ liệu
Nghiên cứu lý thuyết về
năng lực cạnh tranh
Phân tích số liệu thống kê
Tính các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh
Đề xuất các giải pháp nâng cao nâng lực cạnh
tranh
Điều tra khảo sát
Hình 1.1: Sơ đồ nghiên cứu của luận văn
Trang 14- Xác định số mẫu điều tra:
Phiếu điều tra được tiến hành phát tại thành phố Phủ Lý, Thị xã Duy Tiên, 4 huyện còn lại trong tỉnh Số phiếu phát ra là 60 phiếu và mỗi nơi trung bình sẽ tiến hành điều tra 10 phiếu Số phiếu thu về là 55 phiếu Số phiếu hợp lệ là 50 phiếu
- Chọn đơn vị để điều tra
Đối tượng điều tra đang sử dụng dịch vụ viễn thông, điện dân dụng, điện nhẹ, xây dựng dân dụng, đầu tư hạ tầng viễn thông cho thuê của các nhà cung cấp dịch
- Xây dựng phiếu điều tra
Phiếu điều tra như phụ lục 1
Vũ Trọng Lâm (2006), “Nâng cao sức cạnh tranh của công ty trong tiến trình hội nhập quốc tế” Ở công trình này, tác giả đã hệ thống hóa một số quan niệm về
sức cạnh tranh của công ty; phân tích kinh nghiệm trong nước và quốc tế về nâng cao sức cạnh tranh của công ty; phân tích thực trạng cạnh tranh và môi trường pháp
lý của cạnh tranh ở Việt Nam Trọng tâm của cuốn sách là nêu về đánh giá thực trạng sức cạnh tranh của công ty Hà Nội Cuối cùng tác giả đưa ra những giải pháp
Trang 155
chủ yếu nâng cao sức cạnh tranh của công ty Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tác giả chưa đưa ra được mô hình cụ thể, đối tượng nghiên cứu là năng lực canh tranh của các công ty trên địa bàn Hà Nội, nên tính khái quát chưa cao
Nguyễn Hữu Thắng (2008) “Năng lực cạnh tranh của công ty Việt Nam trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” Tác giả đã phân tích năng lực canh tranh
của công ty Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thách thức của việc hội nhập, và đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty Việt Nam trước những thách thức đó Trong đề tài này, tác giả cũng chưa đưa ra được mô hình nghiên cứu cụ thể, tác giả phân tích năng lực cạnh tranh của các công ty khi Việt Nam mới ra nhập WTO Nghiên cứu này phần nào có ý nghĩa trong những giai đoạn đầu khi Việt Nam gia nhập WTO, nhưng trong bổi cảnh kinh tế hiện nay Việt Nam đã hội nhập sâu hơn, với bối cảnh kinh tế thế giới
đã thay đổi nhiều, thì tình hình cạnh tranh cũng thay đổi nhiều
Nghiên cứu của Zhan và công sự (2009) sử dụng lý thuyết nguồn lực để nghiên cứu việc hình thành nên lợi thế canh tranh của các doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam Nghiên cứu này cho thấy đặc điểm của nền kinh tế chuyển đổi đã tạo
ra rào cản cho quá trình biến các nguồn lực dự trên sở hữu tài sản thành lợi thế cạnh tranh bền vững Ngoài ra, ảnh hưởng thuận chiều của các nguồn lực của các nguồn lực dựa trên tri thức đối với lợi thế cạnh tranh ngày càng lớn khi tỷ lệ sở hữu trong liên doanh của đối tác nước ngoài tăng lên Cuối cùng, lợi thế cạnh tranh của liên doanh sẽ được cải tiến khi việc chuyển đổi các nguồn lực dựa vào sở hữu tài sản, vào việc liên doanh được hỗ trỡ bởi các nguồn lực dựa trên tri thức gắn liền với các tài sản đó và việc chuyển đổi các nguồn lực mang tính nội bộ riêng có của các liên doanh được hỗ trợ bởi các nguồn lực từ bên ngoài, dự trên thị trường Các nguồn lực này có phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước hay không, chưa được nghiên cứu này trả lời
Tác giả Bùi Xuân Phong (2006) cho rằng xây dựng văn hóa doanh nghiệp, một nguồn lực vô hình của doanh nghiệp, là giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngành viễn thông Tuy nhiên, tác giả lại không cụ thể hóa các lợi thế của doanh nghiệp viễn thông là gì Hơn nữa, công trình này mới chỉ dừng lại ở lý luận, chưa được kiểm định qua các nghiên cứu thực nghiệm Ngoài ra, nghiên cứu này chưa chỉ ra cách thức xây dựng văn hóa doanh nghiệp như thế nào trong điều kiện hội nhập
Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (2013),"Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam", Luận án TS - Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng
nguồn lực có ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: vốn
Trang 166
và tiềm lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực và trình độ công nghệ, thương hiệu và hoạt động marketing Có thể thấy rằng ngoại trừ thương hiệu, các nhân tố được tác giả đề cập là các nguồn lực hữu hình của doanh nghiệp Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập đến lý luận năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cũng chưa đề cập đến các lợi thế cụ thể của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình cạnh tranh
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kế Tuấn (2011) đã chỉ ra năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp may mặc Việt Nam có những điểm mạnh: sản phẩm đa dạng, có nguồn lao động rẻ, tận dụng được ưu đãi của chính phủ trong ưu đãi % thuế xuất nhập khẩu của chính phủ, khả năng linh hoạt trong việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, thương hiệu và uy tín đã đạt được thành tựu nhất định Tuy nhiên, nghiên cứu này không đề cập đến vai trò của các nguồn lực thuộc doanh nghiệp trong việc hình thành nên lợi thế cạnh tranh lợi thế canh tranh của doanh nghiệp may Việt Nam như thế nào
Nguyễn Duy Vĩnh (2009) "Giải pháp tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty giấy Việt Nam"; Phạm Văn Công (2009) " Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam"; Đinh Thị Nga (2010) "Hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập" ; Hà Thanh Hải (2012) " Nâng cao năng lực cạnh tranh của các khách sạn Việt Nam" Kết quả nghiên cứu của các đề tài trên
đã tập trung vào việc tổng kết một số lý thuyết về cạnh tranh, đánh giá thực trạng,
đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của một ngành, một lĩnh vực của một quốc gia và cụ thể là Việt Nam
Bên cạnh những nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong một lĩnh vực, một ngành, cũng có những nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như là: Trần Anh Thư (2012) " Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ chức
thương mại thế giới" Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009), Nghiên
cứu năng lực canh tranh động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Trường đại học Kinh tế TPHCM Nguyễn Trần Sỹ (2013), Năng lực động – hướng tiếp cận mới để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Số 12 (22) – Tháng 09-10/2013 Trong lĩnh vực dịch vụ bưu chính trong nước cũng đã có một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bưu chính được công bố Cụ thể
như luận án “ Chiến lược và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ EMS của Tổng công ty Bưu chính Viễn Thông Việt Nam” của Bùi Minh Hải, Đại học Kinh tế Quốc
Trang 17ra thị trường Bên cạnh đó, các phân tích đánh giá tình hình cạnh tranh dịch vụ bưu chính được đặt trong mô hình chung của toàn bộ Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước về cạnh tranh của doanh nghiệp và cạnh tranh của doanh nghiệp bưu chính cho thấy các nghiên cứu này đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực canh trạnh của doanh nghiệp nói chung theo các khía cạnh khác nhau Nhưng những nhân tố nào ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bưu chính, các tiêu chí phản và mức độ ảnh hưởng của từng tiêu chí tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bưu chính Việt Nam hiện nay thì chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến
Khoảng trống nghiên cứu
Nền kinh tế hội nhập và mở cửa của nước ta đã tạo ra cơ hội cho doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng, hiện tại trên thị trường trong nước đã có trên 8 doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin được cấp phép và đi vào hoạt động Thị trường viễn thông, công nghệ thông tin Việt Nam
đã thực sự cạnh tranh
Sự phát triển của khoa học công nghệ đã tạo ra nhiều dịch vụ mới có hàm lượng công nghệ cao thay thế dịch vụ viễn thông, CNTT truyền thống Hiện nay, với Internet of think, Bigdata, công nghệ thuật số, trí tuệ nhân tạo đã làm thay đổi các phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp, cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của thương mại điện tử đã tạo cơ hội và thách thức to lớn để các doanh nghiệp bưu chính phát triển Cũng từ sự phát triển của khoa học công nghệ, mạng xã hội, điện thoại thông minh đã làm cho cách thức thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng thay đổi Muốn phát triển bền vững, các doanh nghiệp viễn thông, CNTT cần phải có các giải pháp cạnh tranh phù hợp dựa trên các lợi thế cạnh tranh của mình Chi nhánh Kỹ thuật Viettel Nam muốn tăng trưởng và phát triển bền vững trên thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, thì nhất định phải có các giải pháp cạnh tranh phù hợp với thị trường Để có các giải pháp cạnh tranh
Trang 188
phù hợp với thị trường, CNKT Viettel Hà Nam cần xác định được, điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với mình trên thị trường, đồng thời phải xác định được các lợi thế cạnh tranh để từ đó CNKTVT Hà Nam tập trung phát triển, duy trì nhằm bảo đảm để cạnh tranh bền vững Sau khi chia tách giữa lĩnh vực Dịch vụ viễn thông và dịch vụ vận hành khai thác mạng viễn thông, CNKT VT HNM được thành lập năm 2017, hoạt động độc lập trực thuộc TCT CP Công trình Viettel-Tập đoàn CNVT Quân đội, thì chưa có một nghiên cứu nào mang tính tổng thể về cạnh
tranh và năng lực cạnh tranh cho CNKT VT HNM Học viên chọn đề tài “Một số giải pháp phát triển năng lực cạnh tranh của CNKT VT Hà Nam” làm đề tài luận
văn Đề tài luận văn nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển năng lực cạnh tranh của CNKT VT HNM trong điều kiện hiện nay Để giải quyết khoảng trống nghiên cứu của đề tài là:
(1) Khoảng trống lý thuyết: Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin; Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin, mức độ ảnh hưởng của từng tiêu chí tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin trên thị trường
(2) Khoảng trống về thực tiễn : Hiện trạng năng lực cạnh tranh của CNKT
Viettel Hà Nam so với các đối thủ cạnh tranh chính trên địa bàn tỉnh Hà Nam; Đâu
là những lợi thế cạnh tranh của CNKT Viettel Hà Nam trên địa bàn tỉnh Hà Nam hiện nay
Việc lựa chọn đề tài” Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Kỹ Thuật Viettel Hà Nam” vừa bảo đảm nghiên cứu lý thuyết và thực
tiễn về vấn đề năng lực cạnh tranh doanh nghiệp viễn thông, xây dựng nói chung
và của CNKT Viettel Hà Nam nói riêng và không trùng lặp với bất kỳ luận văn nào trước đó
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh và cạnh tranh trong viễn thông
- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Chi nhánh Kỹ Thuật Viettel
Hà Nam giai đoạn 2017-2019
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Chi nhánh
Kỹ Thuật Viettel Hà Nam thời gian tới
Trang 199
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ
CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG
1.1 LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
* Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một thuật ngữ đã được sử dụng từ khá lâu song trong những năm gần đây được nhắc đến nhiều hơn, nhất là ở Việt Nam Bởi trong nền kinh tế
mở hiện nay, khi xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng phổ biến thì cạnh tranh
là phương thức để đứng vững và phát triển của doanh nghiệp Nhưng “cạnh tranh
là gì” thì vẫn đang là một khái niệm chưa thống nhất, các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm cạnh tranh dưới nhiều góc độ khác nhau
Theo diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD: “Cạnh tranh là khả năng các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” Khái niệm trên đã cố gắng kết hợp cả hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và quốc gia
Ủy ban Cạnh tranh Công nghiệp của Tổng thống Mỹ đưa ra khái niệm cạnh tranh đối với một quốc gia như sau: “Cạnh tranh đối với một quốc gia thể hiện trình độ sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó trong những điều kiện thị trường tự do và công bằng xã hội” (Chu Văn Cấp, 2003) Trong khái niệm này người ta đề cao vai trò của các điều kiện cạnh tranh là “tự do và
công bằng xã hội”
Như vậy, xét trên góc độ vĩ mô các khái niệm về cạnh tranh đều cho thấy mục tiêu chung của hoạt động cạnh tranh là thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, tạo việc làm và thu nhập cao cho nền kinh tế
Các nhà kinh tế của trường phái tư sản cổ điển quan niệm: “Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình” Theo quan niệm này cạnh tranh chủ yếu là cạnh tranh về giá, vì thế lý thuyết giá cả gắn chặt với lý thuyết cạnh tranh Khi nghiên cứu về cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác cũng đã đưa ra khái niệm về cạnh tranh: “Cạnh tranh tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu
Trang 2010
thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch” (C Mac, 2004) Như vậy cạnh tranh
là hoạt động của các doanh nghiệp trong nền sản xuất hàng hóa với mục đích ganh đua, giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận cao
Kế thừa những tính hợp lý và khoa học của các quan niệm về cạnh tranh trước đây, luận văn cho rằng để đưa ra một khái niệm đầy đủ cần chỉ ra được chủ thể cạnh tranh, tính chất, phương thức và mục đích của quá trình cạnh tranh Theo đó chúng ta có thể quan niệm “ cạnh tranh là một quá trình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế (quốc gia, ngành hay doanh nghiệp) ganh đua với nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cùng các điều kiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
có lợi nhất nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận”
Như vậy về bản chất, cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người trong việc giải quyết lợi ích kinh tế Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và chi phối thị trường Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu nhiều chi phối của quan hệ sản xuất giữ vị trí thống trị trong xã hội, nó có quan hệ hữu cơ với các quy luật kinh tế khác như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền
tệ, quy luật cung cầu, đây là một đặc trưng gắn với bản chất của cạnh tranh Quy luật cạnh tranh chỉ ra cách thức làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó nó làm giảm giá cả thị trường, nó tạo ra sức ép làm gia tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất, nó chỉ ra ai là người sản xuất kinh doanh thành công nhất
* Khái niệm năng lực cạnh tranh
Hiện nay, các thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh” được sử dụng nhiều ở Việt Nam, trong khi thông dụng trong tiếng Anh đều được sử dụng là “competitiveness”, cho nên chúng cùng chung một nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau Một khái niệm chính xác và thống nhất cho vấn đề này đến nay vẫn còn gây nhiều tranh luận Theo M Porter, hiện chưa có một khái niệm nào về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến Dưới đây là một số khái niệm về năng lực cạnh tranh:
Trong Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế” (Dictionary of Trade Policy, 1997) Ðối với các lãnh đạo doanh nghiệp, “năng lực cạnh tranh có nghĩa là sức cạnh
Trang 21Từ những nội dung trên, chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm
bảo sự phát triển kinh tế bền vững (Nguyễn Minh Tuấn, 2010)
1.1.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường kinh tế chung, đảm bảo phân bố hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững Môi trường cạnh tranh kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá trình tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh và các doanh nghiệp theo các tín hiệu thị trường được thông tin đầy đủ Ngược lại, sự dịch chuyển cơ cấu ngành theo hướng ngày càng có hiệu quả hơn, tốc độ tăng trưởng, sự phồn thịnh kinh tế lại phụ thuộc vào sự phát triển năng động của doanh nghiệp Ngoài những yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 1999, khuôn khổ nội dung xác định năng lực cạnh tranh tổng thể cấp quốc gia bao gồm 8 nhóm nhân tố chủ yếu: độ mở cửa kinh tế; Chính phủ - vai trò của Nhà nước và tác động của chính sách tài khoá; tài chính tiền tệ; công nghệ; cơ sở hạ tầng; quản lý (chất lượng quản lý nói chung); lao động; thể chế (hiệu lực của pháp luật và thể chế của xã hội) Các yếu tố về năng lực cạnh tranh quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đến thu hút đầu tư nước ngoài dưới điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt hơn Việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và duy trì khả năng đó là một yêu cầu
đề ra đối với nền kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, hiện nay WEF đánh giá năng lực cạnh tranh của các quốc gia trong “Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2010 - 2011 của WEF” dựa trên 3 hạng mục cho điểm chính, bao gồm 12 trụ cột khác nhau: hạng mục thứ nhất (các yêu cầu cơ bản) gồm 4 trụ cột là thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vi mô, giáo dục cơ bản và chăm sóc
y tế; hạng mục thứ hai (các nhân tố cải thiện hiệu quả) gồm 6 trụ cột là giáo dục bậc
Trang 2212
cao và đào tạo, tính hiệu quả của thị trường hàng hóa, tính hiệu quả của thị trường lao động, mức độ phát triển của thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trường; hạng mục thứ ba (các nhân tố về sáng tạo và phát triển) gồm 2 trụ cột là trình độ phát triển của doanh nghiệp và năng lực sáng tạo
Trong mỗi trụ cột này lại bao gồm nhiều yếu tố khác nhau để xếp hạng Chẳng hạn, trụ cột thể chế bao gồm 21 yếu tố, từ quyền sở hữu trí tuệ tới mức độ bảo vệ nhà đầu tư
1.1.2.2 Năng lực cạnh tranh ngành
Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hóa thành giá trị sản xuất Năng lực cạnh tranh của ngành phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố:
+ Nhóm yếu tố do ngành tự quyết định bao gồm chiến lược phát triển ngành, sản phẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ, đầu tư nghiên cứu công nghệ
và phát triển sản phẩm, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng
+ Nhóm các yếu tố do Chính phủ quyết định, tạo ra môi trường kinh doanh bao gồm: thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chi ngân sách cho hoạt động R&D, hệ thống luật pháp điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia thị trường
+ Nhóm các yếu tố mà Chính phủ và ngành chỉ quyết định được một phần như: nguyên liệu đầu vào sản xuất, nhu cầu của người tiêu dùng, môi trường thương mại quốc tế
+ Nhóm các yếu tố hoàn toàn không thể quyết định được như: môi trường tự nhiên, quy luật kinh tế
1.1.2.3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc và thị trường ngày càng được
mở rộng thì cần có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường Ðó chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Do vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của chủ thể trong sản xuất kinh doanh hàng hoá, là trình độ sản xuất ra sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là năng lực tồn tại và phát triển mà không cần sự hỗ trợ của Nhà nước Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực cung cấp sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị truờng khác nhau với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị truờng, thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ trong việc sản xuất và cung ứng, vừa tối đa hoá lợi ích của mình vừa thoả mãn tốt nhất nhu cầu của
Trang 2313
khách hàng cho thấy năng lực cạnh tranh được nâng cao
Do vậy, nói một cách cụ thể hơn thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là
“khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất
và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững” (Ðặng Ðình Ðào, 2003)
Ðể đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, người ta dựa vào nhiều tiêu chí: thị phần, doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, thu nhập bình quân, phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín của doanh nghiệp đối với xã hội, tài sản của doanh nghiệp nhất là tài sản vô hình, tỷ lệ công nhân lành nghề, tỷ lệ đội ngũ quản lý giỏi Từ đó tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho doanh nghiệp có khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn các đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị cho khách hàng dựa trên sự khác biệt hoá trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp, hoặc cả hai
1.1.2.4 Năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ
Khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không thể không bàn tới năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất cung cấp Vì doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì một trong những yếu tố quan trọng là các hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp phải có năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ thể hiện năng lực của sản phẩm, dịch vụ đó thay thế một sản phẩm, dịch vụ khác đồng nhất hoặc khác biệt, có thể do đặc tính, chất lượng hoặc giá cả sản phẩm, dịch vụ Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là một trong những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Như vậy, người ta thường phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Nhưng nếu trên cùng một thị truờng, có thể nói, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai khái niệm rất gần với nhau
Theo GS.TS Bùi Xuân Phong - Giảng viên khoa QTKD – Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông: “Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là khả năng sản phẩm, dịch đó được sử dụng được nhiều và nhanh chóng khi trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp loại sản phẩm, dịch vụ đó”
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm, dịch vụ do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem
ra để tiêu thụ so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản phẩm,
Trang 2414
dịch vụ cùng loại trên thị trường về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm, dịch vụ tham gia cạnh tranh đều đáp ứng được các yêu cầu của người tiêu dùng, mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vị giá cả làm cho sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao hơn
Khi đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chính như: sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, thị phần Các chỉ tiêu này
là biểu hiện bên ngoài của năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ cho thấy kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của sản phẩm, dịch vụ Khi đem so sánh với đối thủ, chúng thể hiện một cách trực giác sức mạnh tổng thể và vị thế hiện tại của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Có rất nhiều chỉ tiêu dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Tuy nhiên, khi xem xét, nghiên cứu và phân tích cụ thể tình hình thực tế mỗi lĩnh vực hoạt động sẽ còn có thể sử dụng các tiêu chí khác mà phạm vi nghiên cứu chưa thể bao quát đầy đủ Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu thường được xem xét khi đánh giá về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
1.1.3.1 Sản lượng, doanh thu của sản phẩm, dịch vụ
Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ, trong đó sản lượng và doanh thu là một trong các chỉ tiêu quan trọng hàng đầu Khi sản lượng tiêu thụ của một sản phẩm dịch vụ hàng năm tăng cao, tức sản phẩm dịch vụ đó duy trì và phát triển thị phần Cũng tương tự như vậy, doanh thu hàng năm cao
và có tốc độ tăng trưởng hợp lý chứng tỏ giá cả sản phẩm được duy trì ổn định, sản phẩm đó được thị trường chấp nhận và có khả năng cạnh tranh cao Còn nếu như khối lượng tiêu thụ lớn nhưng doanh thu không cao, điều đó chứng tỏ rằng giá cả sản phẩm dịch vụ có sự giảm sút và năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ đó phần nào bị giảm đi
1.1.3.2 Thị phần của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp là phần thị trường doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được Thực chất nó là phần phân chia thị trường của doanh nghiệp đối với các đối thủ cạnh tranh trong ngành Thị phần của doanh nghiệp so với các đối thủ khác nói lên sức mạnh mà doanh nghiệp có thể giành được trong cạnh tranh Ðể so sánh về mặt qui mô kinh doanh và vị thế trên thị trường, thì việc so sánh thị phần các sản phẩm dịch vụ chính của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng mà doanh nghiệp cần phải so sánh, phân tích, đánh giá Thị phần của doanh nghiệp thường được xác định
về mặt hiện vật (khối lượng sản phẩm) và về mặt giá trị (doanh thu)
Trang 2515
- Công thức xác định thị phần của doanh nghiệp về mặt hiện vật:
Thị phần của doanh nghiệp = Qhv
Q
Trong đó
+ Qhv: là khối lượng hàng hóa bằng hiện vật doanh nghiệp tiêu thụ được + Q: Tổng khối lượng sản phẩm cùng loại tiêu thụ trên thị trường
- Công thức xác định thị phần của doanh nghiệp về mặt giá trị
Thị phần của doanh nghiệp = TRdn
TR
Trong đó:
+ TRdn : là doanh thu của doanh nghiệp thực hiện được
+ TR: Doanh thu toàn ngành hiện có trên thị trường
1.1.3.3 Thị phần so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Bên cạnh chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp nói chung thì thị phần của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất cũng là tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Thị phần so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất được tính theo công thức
Thị phần của doanh nghiệp = DTdn
DT
Trong đó:
+ DTdn : là doanh thu của doanh nghiệp thực hiện được
+ DT: Doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Khi sử dụng phương pháp này có thể lựa chọn từ 3 đến 5 đối thủ mạnh nhất Tùy theo lĩnh vực cạnh tranh khác nhau mà có những lựa chọn khác nhau
Chỉ tiêu này đơn giản và dễ tính toán hơn nhiều so với chỉ tiêu thị phần, do doanh nghiệp thường có nhiều thông tin hơn về đối thủ cạnh tranh và thị phần mà các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất nắm giữ thường là khu vực thị trường có lợi nhuận cao hơn và rất có thể doanh nghiệp cần phải chiếm lĩnh thị trường này
Trang 2616
vụ của công ty, người tiêu dùng sẽ còn phải băn khoăn nhiều cũng như mất nhiều thời gian để tìm hiểu về sản phẩm mình định mua Như vậy, nhãn hiệu thương mại có thể coi là một tài sản vô hình mà công ty đã tạo dựng được trong một thời gian nhất định
Thương hiệu thể hiện uy tín của doanh nghiệp, nó cũng thể hiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, đặc trưng sản phẩm của doanh nghiệp, biểu tượng hay hình ảnh của doanh nghiệp Khi thương hiệu sản phẩm, dịch vụ đã xâm nhập được vào thị trường nó sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nhà sản xuất sản phẩm đó, thể hiện là:
+ Khách hàng sẽ tin tưởng vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ
+ Khi tin tưởng vào sản phẩm, khách hàng sẽ rất yên tâm khi tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ đó
+ Có nhãn hiệu trên thị trường sẽ dễ thu hút khách hàng mới và doanh nghiệp có thể mở rộng thêm thị trường của mình
+ Doanh nghiệp sẽ đạt được lợi nhuận hơn khi mở rộng thị trường mới vì được đông đảo khách hàng biết đến
+ Với một nhãn hiệu có uy tín trên thị trường, doanh nghiệp sẽ tạo ra sự tự hào cho khách hàng sử dụng sản phẩm đó
+ Tạo ra được uy tín với khách hàng thì doanh nghiệp sẽ có thể thu hút được nguồn nhân tài quý hiếm và vốn đầu tư từ bên ngoài vào doanh nghiệp dễ dàng hơn Như vậy, uy tín của sản phẩm thông qua nhãn hiệu sản phẩm, dịch vụ trên thị trường giúp khách hàng tin tưởng vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ, yên tâm sử dụng và như vậy sẽ phân phối tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đó dễ dàng hơn, giá bán sản phẩm, dịch vụ có thể cao hơn Qua đó doanh nghiệp sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ của mình trên thị trường
1.1.4 Một số công cụ sử dụng trong cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ chịu tác động của nhiều yếu tố Nó bao gồm các yếu tố mang tính vĩ mô, các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài, các yếu tố bên trong doanh nghiệp và các yếu tố thuộc bản thân sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp Phạm vi đề tài này chỉ đi sâu phân tích các yếu tố bên trong doanh nghiệp
và thuộc bản thân sản phẩm dịch vụ
1.1.4.1 Sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ
Hầu hết các doanh nghiệp cho rằng sản phẩm là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bởi nó tác động trực tiếp đến người
Trang 2717
tiêu dùng Yếu tố này thường thể hiện chủ yếu qua những mặt sau:
Về trình độ của sản phẩm: chất lượng sản phẩm, tính hữu dụng của sản
phẩm, bao bì Tuỳ theo những sản phẩm khác nhau để chúng ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết định trình độ của sản phẩm Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếu như lựa chọn trình độ sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường Hay nói cách khác khi trình độ của hàng hoá, dịch
vụ càng phù hợp với nhu cầu thị trường thì có năng lực cạnh tranh càng cao
Chất lượng của sản phẩm dịch vụ: Chất lượng sản phẩm là tập hợp các
thuộc tính của sản phẩm, đáp ứng vai trò và phù hợp với tên gọi sản phẩm Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặt khác nhau như: tính chất cơ lý hoá, hình sáng, màu sắc, bao bì Các chỉ tiêu này có những đặc trưng riêng đối với từng loại sản phẩm Muốn bán được sản phẩm, các doanh nghiệp phải luôn giữ vững và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình Nói một cách khác, nâng cao chất lượng sản phẩm là một quy luật bắt buộc trong nền kinh tế thị trường,
là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất và là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng, tác động trực tiếp đến người tiêu dùng nên nó quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nó đảm bảo cho doanh nghiệp mở rộng được thị phần, tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn, đảm bảo thu hồi vốn nhanh để sản xuất Ngày nay, tư tưởng lấy giá thành hoặc giá bán là vũ khí cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp đã dần được thay đổi và dần chuyển sang các nhân tố khác, đặc biệt là chất lượng, tạo ra tính khác biệt của sản phẩm, dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh Hai doanh nghiệp có giá thành giống nhau nhưng vì có kỹ thuật sản xuất khác nhau nên tạo ra sản phẩm có chất lượng khác nhau, do đó tạo ra năng lực cạnh tranh khác nhau Trên thương trường nếu nhiều hàng hoá có công dụng như nhau, giá cả bằng nhau thì người tiêu dùng sẵn sàng mua hàng hoá nào có chất lượng cao hơn Do đó, đây
là công cụ đầu tiên và quan trọng mà doanh nghiệp sử dụng để thắng các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, quá trình tập trung vào việc giảm giá thành có thể sẽ hướng doanh nghiệp một cách vô ý thức đến chính sách phòng ngự, không dám mạnh dạn đầu tư để mang lại sự đổi mới
Kiểu cách mẫu mã sản phẩm: Việc nghiên cứu kiểu cách, mẫu mã của hàng
hoá để phù hợp với tâm lý, sở thích của khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Kiểu cách mẫu
mã của sản phẩm phải phù hợp với từng thị trường, tức là phù hợp với tâm lý tập quán tiêu dùng của từng khu vực, mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi dân tộc và
Trang 2818
các bộ phận khách hàng khác nhau Ngoài ra kiểu cách, mẫu mã sản phẩm phải phù hợp với sở thích của mỗi lứa tuổi khác nhau của khách hàng, đồng thời không được làm phương hại đến tập quán, truyền thống văn hoá của dân tộc nước nhập khẩu
Với mỗi kiểu cách mẫu mã sản phẩm đẹp sẽ tạo điều kiện cho sản phẩm đó nhanh chóng xâm nhập vào các thị trường khó tính nhất, là yếu tố quan trọng để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
1.1.4.2 Giá bán sản phẩm dịch vụ
Giá cả với tư cách là công cụ cạnh tranh của các nhà sản xuất được hiểu là số tiền mà người bán dự kiến nhận được của người mua thông qua trao đổi hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Giá cả được hình thành là do chi phí, nhu cầu của thị trường
và do chính sách của các Công ty quyết định Giá cả có vai trò rất quan trọng, là khâu cuối cùng thể hiện kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Giá cả quyết định việc mua hàng hoá hay không của người tiêu dùng, mặt khác nó còn quyết định tình hình biến động của thị trường Thông qua giá cả, các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự tồn tại, sức chịu đựng cũng như khả năng cạnh tranh của mình trên thương trường
Do vậy, chiến lược đầu tư của doanh nghiệp là hạ giá thành để cho phép các doanh nghiệp vượt qua đối thủ bằng cách sản xuất sản phẩm với giá thấp hơn Với chiến lược này, doanh nghiệp sẽ có hai lợi thế: Một là, vì hạ được giá thành thấp hơn, doanh nghiệp có quyền quyết định giá bán sản phẩm rẻ hơn các đối thủ cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận ngang bằng họ; hai là, khi cạnh tranh giá cả xảy
ra, thì doanh nghiệp dẫn đầu trong hạ giá thành vẫn có được lợi thế cầm cự tốt hơn các đối thủ khác vì có chi phí thấp hơn
Trong thực tế mỗi doanh nghiệp đều có chính sách định giá hợp lý trên từng thị trường, từng đoạn thị trường, với từng đối tượng khách hàng khác nhau ở từng thời điểm khác nhau để làm sao đẩy nhanh được tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tối đa hoá lợi nhuận Việc định giá bán của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường không chỉ thuần tuý dựa vào phần giá trị hao phí cho sản phẩm và cộng thêm một
tỉ lệ thích hợp mà vẫn phải tính thêm ảnh hưởng của một số yếu tố thời vụ và yếu
tố thời gian Do đó việc xây dựng chính sách giá “động” là một yêu cầu tất yếu khách quan đối với mỗi sản phẩm của doanh nghiệp Tuỳ theo điều kiện thực tế, sản phẩm có thể áp dụng các chính sách giá khác nhau như sau:
Chính sách một giá: Thực chất của chính sách này là đưa ra cùng một kiểu giá đối với tất cả khách hàng với cùng điều kiện cơ bản, cùng khối lượng Chính sách này có thể xác định giá cả dễ hơn nhưng nếu không cẩn thận dễ rơi vào tình
Trang 2919
trạng cứng nhắc, làm yếu khả năng cạnh tranh
Chính sách bán với mức giá thấp: Chính sách này thường được áp dụng khi sản phẩm của doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường, vì thế chưa tạo được sự thân quen, uy tín với khách hàng Bán với giá thấp hơn so với thị trường, hy vọng
sẽ thu hút được sự chú ý của khách hàng đối với sản phẩm và tạo điều kiện thâm nhập vào thị trường tốt hơn
Chính sách bán với mức giá cao: Chính sách này sẽ thu hút một bộ phận quan trọng khách hàng cao cấp, có thu nhập cao, sở thích tức thời nhưng với điều kiện chất lượng và hình thức của sản phẩm phải cao hơn hẳn sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh
Chính sách giá linh hoạt: Thực chất của chính sách này là đưa ra các giá khác nhau với từng loại khách hàng với cùng một loại sản phẩm và với cùng một khối lượng
Chính sách giá phân biệt: Tiến hành bán cùng một loại sản phẩm nhưng theo những mức giá khác nhau Mục đích của chính sách này là nhằm khai thác triệt để
độ đàn hồi của những nhu cầu khác nhau, trên cơ sở đó doanh nghiệp hy vọng tăng được khối lượng hàng bán, mở rộng được thị trường, tăng lợi nhuận
Chính sách giá theo chu kỳ sống của sản phẩm: có 3 hình thức:
+ Giá hớt váng: doanh nghiệp sẽ cố gắng bán sản phẩm với mức giá cao nhất thị trường trước khi nhằm vào nhóm khách hàng nhạy cảm giá
Giá thâm nhập: chính sách này đòi hỏi bán ở mọi thị trường ở mức giá thấp Chính sách này thực hiện ở nơi không có thị trường lý tưởng, nơi mà toàn bộ đường cung - cầu có giãn nhịp nhàng
Giá giới thiệu: đây là việc giảm giá nhằm gây chú ý cho khách hàng để tăng sản phẩm mới thâm nhập vào thị trường
Chính sách bán phá giá: Doanh nghiệp bán sản phẩm của mình với mức giá thấp hẳn so với giá thị trường, thậm chí là thấp hơn giá thành Chính sách bán phá giá là vũ khí cạnh tranh để đánh bại đối thủ, loại họ khỏi thị trường, khi áp dụng chính sách phá giá, doanh nghiệp phải có thế mạnh về tài chính, có tiềm lực về khoa học công nghệ, có uy tín lớn trên thị trường hoặc khi doanh nghiệp bị tồn đọng sản phẩm quá nhiều và quá lâu chỉ trên cơ sở này doanh nghiệp mới thu hồi được vốn và gạt bớt các đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên chỉ nên áp dụng chính sách này trong một thời gian nhất định vì chính sách bán phá giá chỉ có thể loại bỏ được một số đối thủ nhỏ nhưng khó đánh bại được các đối thủ lớn Khi tham gia một số thị trường doanh nghiệp cần thận trọng, nếu Chính phủ nước sở tại có ban hành
Trang 30Việc lựa chọn, tổ chức hệ thống kênh phân phối có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giá cả, doanh thu của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc khá nhiều vào việc tổ chức, sử dụng kênh phân phối, chất lượng đội ngũ bán hàng, dịch vụ bán hàng sau phân phối và do vậy có ảnh hưởng quan trọng đến sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ
Xây dựng được một kênh phân phối hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện tập trung đầu tư vào công việc sản xuất của mình, làm cho quá trình lưu thông hàng hoá được nhanh chóng Bất cứ nhà sản xuất nào cũng nỗ lực thiết lập hệ thống phân phối bán hàng hoá, dịch vụ đến người tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua trung gian hay một công ty chuyên về phân phối hàng hoá
Cạnh tranh về phân phối được thể hiện qua các nội dung sau:
Khả năng đa dạng hoá các kênh và chọn được kênh chủ đạo Ngày nay, các doanh nghiệp thường có một cơ cấu sản phẩm rất đa dạng Thích ứng với mỗi sản phẩm đó có các biện pháp cũng như các kênh phân phối khác nhau Việc phân định đâu là kênh phân phối chủ lực có ý nghĩa quyết định trong việc tối thiểu hoá chi phí dành cho tiêu thụ sản phẩm
Tìm được những người điều khiển đủ mạnh Đối với các doanh nghiệp sử dụng các đại lý độc quyền thì cần phải xem xét đến sức mạnh của doanh nghiệp thương mại làm đại lý cho doanh nghiệp Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, có vốn lớn và đủ sức chi phối được lực lượng bán hàng trong kênh trên thị trường Đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều kênh phân phối và trực tiếp quản lý các kênh phân phối phải tìm ra được kênh phân phối chủ đạo, chiếm tỷ lệ chính trong
tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Có hệ thống bán hàng phong phú Đặc biệt là hệ thống các kho, các trung tâm bán hàng Các trung tâm này phải có được cơ sở vật chất hiện đại
Có nhiều biện pháp để kết dính các kênh lại với nhau.Đặc biệt những biện pháp quản lý người bán và điều khiển người bán đó
Có những khả năng hợp tác giữa các người bán trên thị trường, đặc biệt là trong các thị trường lớn
Có các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng hợp lý
Trang 311.1.5 Các yếu tô ảnh hướng đến năng lực cạnh tranh
1.1.5.1 Các nhân tố bên ngoài
* Nhân tố kinh tế:
Các nhân tố kinh tế là những nhân tố quan trọng nhất của môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế phát triển với tốc độ cao sẽ kéo theo sự tăng thu nhập cũng như khả năng thanh toán của người dân do vậy sức mua của dân cũng tăng lên Mặt khác, nền kinh tế phát triển mạnh làm tăng khả năng tích tụ và tập trung tư bản lớn, tăng cơ hội đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, do sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ kéo theo
sự tăng lên một cách nhanh chóng số lượng các doanh nghiệp tham gia thị trường,
và như vậy mức độ cạnh tranh sẽ lại trở nên gay gắt Trái lại, khi nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thoái, tỷ lệ lạm phát tăng làm cho giá cả sẽ tăng, sức mua của người dân bị giảm sút, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để giữ khách hàng, do đó sự cạnh tranh trên thị trường cũng sẽ khốc liệt hơn
Lãi suất ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm Với mức lãi suất đi vay cao, chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên do phải trả lãi tiền vay lớn, do vậy sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ bị giảm đi đặc biệt là đối với các đối thủ có tiềm lực mạnh về tài chính
Các nhân tố lạm phát tỷ giá hối đoái, các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế… cũng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp cũng như là mức độ cạnh tranh trên thị trường
* Nhân tố chính trị và pháp luật:
Thể chế chính trị, hệ thống luật pháp rõ ràng, mở rộng và ổn định sẽ là cơ
sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, cạnh tranh lành mạnh và có hiệu quả Ngược lại sẽ thành rào cản đối với họ
Trang 3222
Chẳng hạn, luật cạnh tranh và chống độc quyền, các huật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện cạnh tranh, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần và trên mọi lĩnh vực Hay các chính sách của Nhà nước về xuất nhập khẩu, về thuế xuất nhập khẩu cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước so với các doanh nghiệp sản xuất ở nước ngoài
* Nhân tố xã hội:
Nhân tố xã hội thường biến đổi hoặc thay đổi dần dần theo thời gian nên đôi khi khó nhận biết nhưng lại qui định các đặc tính của thị trường mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải tính đến khi tham gia vào thị trường đó cho dù có muốn sống hay không Nhân tố xã hội có thể bao gồm
- Lối sống, phong tục, tập quán
- Thái độ tiêu dùng
đề cao sản phẩm nội địa như Ấn Độ, Nhật Bản thì các sản phẩm ngoại nhập sẽ kém khả năng cạnh tranh so với các Doanh nghiệp của quốc gia đó Sự khác biệt về xã hội sẽ dẫn đến việc liệu sản phẩm của Doanh nghiệp khi xuất sang thị trường nước ngoài đó có được thị trường đó chấp nhận hay không cũng như việc liệu doanh nghiệp đó có đủ khả năng đáp được yêu cầu của thị trường mới hay không Vì vậy các doanh nghiệp phải tìm hiểu nghiên cứu kỹ các yếu tố xã hội tại thị trường mới cũng như thị trường truyền thống để từ đó tiến hành phân đoạn thị trường, đưa ra được những giải pháp riêng Đáp ứng thị trường tốt nhất yêu cầu của thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
* Nhân tố công nghệ:
Tiến bộ khoa học công nghệ tạo điều kiện cho doanh nghiệp áp dụng các thiết
bị hiện đại để sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, thu thập xử lý thông tin về các đối thủ và thị trường Bên cạnh đó, hiện nay khi công cụ cạnh tranh chuyển từ giá sang chất lượng thì các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao mới có sức cạnh tranh cao
Trang 33vì quản lý nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp khai thác được mọi tiềm năng của người lao động góp phần vào sự phát triển, sử dụng chi phí tiền lương một cách hiệu quả nhất, ngăn chặn mọi sự di chuyển lao động ra khỏi doanh nghiệp lảm ảnh hưởng đến hoạt động của bộ máy
* Tài chính
Doanh số bán và khả năng sinh lợi là những yếu tố tài chính hay sự thay đổi của nó có thể là dấu hiệu sống còn của một ngành sản phẩm và tính cạnh tranh của sản phẩm ấy Nó còn là dấu hiệu của thành công chiến lược trước đó và do đó giúp doanh nghiệp đánh giá có cần thay đổi hướng hoạt động kinh doanh hay không Phần lớn doanh nghiệp coi doanh số và khả năng sinh lời là then chốt cho những mục tiêu của mình
Doanh số bán hàng có tầm quan trọng chiến lược, nó tăng có nghĩa là lượng khách hàng đã tăng, ngược lại doanh số bán giảm có nghĩa là cơ sở khách hàng giảm
và mất tính kinh tế do quy mô Khả năng sinh lợi và doanh số bán là thước đo phản ánh năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mạnh doanh số bán hàng không ngừng tăng theo thời gian và khi doanh số tăng làm cho lợi nhuận tăng theo và khi chi phí bỏ ra là nhỏ hơn doanh thu thì khả năng sinh lời của họ tăng Chính vì vậy tài chính là một yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Với một tiềm lực tài chính vững chắc doanh nghiệp có nhiều
cơ hội thực hiện chiến lược phát triển của mình
* Máy móc thiết bị và công nghệ
Máy móc thiết bị là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố định, nó là những cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu quyết định năng lực sản xuất của doanh nghiệp, là nhân tố đảm bảo năng lực cạnh tranh Nếu máy móc thiết bị và trình độ công nghệ thấp kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm, làm tăng các chi phí sản xuất, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ không đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn
Trang 3424
1.1.6 Mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
*Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter
Theo Michael Porter, năng lực cạnh tranh của một ngành hay của doanh nghiệp được xem xét theo năm nhân tố, được mô tả trong sơ đồ dưới đây:
Hình 1.2: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter
(Nguồn: Nguyễn Khoa Khôi và Đồng Thị Thanh Phương, 2007)
Một ngành được hiểu là một nhóm các đối thủ cạnh tranh sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ tương tự nhau để đáp ứng nhu cầu về cơ bản giống nhau của khách hàng Ví dụ, ngành cung cấp dịch vụ viễn thông di động chuyên cung cấp cho khách hàng sử dụng các dịch vụ điện thoại di động, cho dù công nghệ có thể khác nhau, địa điểm có thể khác nhau Ngành cung cấp dịch vụ Internet chuyên cung cấp cho khách hàng truy nhập đến Internet, dù phương thức và hạ tầng, kênh phân phối của mỗi doanh nghiệp là khác nhau nhưng về bản chất vẫn là cung cấp cho khách hàng truy nhập đến Internet
* Cạnh tranh từ các đối thủ cạnh tranh hiện tại
Trong một môi trường cạnh tranh thông thường, luôn luôn có nhiều hơn một doanh nghiệp cung cấp một loại hình sản phẩm hay dịch vụ nhất định Xét trong một ngành kinh doanh, các đối thủ là những doanh nghiệp đang cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tương tự cho khách hàng Như vậy, xét trên góc độ tính thay thế, khách hàng có thể mua sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đối thủ Trong hầu hết các ngành kinh doanh, càng có nhiều đối thủ tham gia thị trường thì sự cạnh tranh
Nguy cơ từ đối thủ tiềm ẩn
Cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh hiện tại
Nhà
Đe dọa từ sản phẩm thay thế
Trang 3525
càng gay gắt Các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức khuyếch trương, chính sách sản phẩm, chính sách khách hàng, chính sách hậu mãi và bảo hành để nhằm lôi kéo và giữ khách hàng cho doanh nghiệp mình
Khi một doanh nghiệp đối thủ thực hiện các hoạt động tăng cường ảnh hưởng trên thị trường, như cạnh tranh về giá, tăng cường quảng cáo, hậu mãi và chế độ sau bán hàng tốt thì sẽ gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành Nếu các chiến thuật kinh doanh được sử dụng mang lại hiệu quả thì thị phần
và lợi nhuận của các doanh nghiệp trong ngành sẽ bị đe dọa Rõ ràng, các hành động của đối thủ cạnh tranh hiện tại ảnh hưởng nhiều đến doanh nghiệp Để chiến thắng, doanh nghiệp cần có những hành động, chiến thuật kinh doanh thích hợp, tức là phải nâng cao năng lực cạnh tranh
Các hành động, động thái của đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Độ khốc liệt của sự cạnh tranh trong ngành phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường, sự tăng trưởng của ngành, tổng chi phí cố định, tính chất và đặc điểm của sản phẩm và dịch vụ, các rào cản, quy mô sản xuất và tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranh
* Áp lực từ các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Đây cũng là một trong những yếu tố khá quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, dù yếu tố này có sự khác nhau giữa các ngành kinh doanh khác nhau
Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng là các doanh nghiệp hiện tại chưa tham gia vào thị trường, nhưng đang chuẩn bị hoặc có ý định tham gia Đó có thể là những doanh nghiệp mới thành lập, cũng có thể là những doanh nghiệp cũ nhưng muốn mở rộng ngành nghề kinh doanh Các đối thủ tiềm tàng này sẽ mang những năng lực cạnh tranh mới vào thị trường, và đương nhiên sẽ có những chiến thuật kinh doanh để thu hút và lôi kéo khách hàng sang mua sản phẩm, dịch vụ của họ Điều này tất yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo hướng đi xuống
Dĩ nhiên, sự thâm nhập thị trường của những doanh nghiệp mới cũng gặp những rào cản mang tính đặc thù ngành, cũng như ảnh hưởng bởi phản ứng của các doanh nghiệp đã kinh doanh trong ngành từ trước Các rào cản gây ảnh hưởng đến sự gia nhập ngành kinh doanh này của đối thủ tiềm tàng gồm có những lợi thế kinh tế do quy mô, tính khác biệt của sản phẩm, các yêu cầu về vốn, các bất lợi về chi phí, sự khó khăn khi thâm nhập các kênh phân phối, và cả chính sách vĩ mô Ngoài ra, các đối thủ tiềm tàng cũng có thể gặp phải một số rào cản như về
Trang 3626
pháp lý, kinh nghiệm và uy tín của những doanh nghiệp hiện tại đang hoạt động, các hoạt động chống trả của doanh nghiệp hiện tại, các vấn đề bản quyền, Tuy nhiên, các đối thủ tiềm tàng, theo nghĩa là các đối thủ mới, đặc biệt trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin và Internet có thể có các lợi thế khi nắm trong tay những công nghệ mới, vốn nước ngoài và sự ủng hộ của người tiêu dùng đối với các doanh nghiệp ngoài độc quyền Năng lực của các đối thủ tiềm tàng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện đang kinh doanh trong ngành
* Áp lực từ các sản phẩm và dịch vụ thay thế
Các sản phẩm, dịch vụ thay thế được các doanh nghiệp ở các ngành khác sản xuất, cung cấp nhưng lại thỏa mãn cùng một nhu cầu của khách hàng Chẳng hạn như đối với ngành cung cấp dịch vụ Internet thì sản phẩm thay thế có thể
là điện thoại, thư tín thông thường (thay thế cho tính năng trao đổi thông tin, liên lạc của mạng Internet), báo chí, truyền hình (thay thế cho tính năng cung cấp thông tin trên Internet),
Sản phẩm, dịch vụ thay thế ảnh hưởng đến giá Nếu giá của sản phẩm, dịch
vụ thay thế thấp hơn so với giá doanh nghiệp đưa ra, nguy cơ giảm sút thị trường, giảm lợi nhuận là hoàn toàn hiện hữu, có khả năng giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khi trong ngành, các sản phẩm và dịch vụ được phát triển một cách đa dạng thì ảnh hưởng của sản phẩm thay thế đến từ ngành khác sẽ giảm đi, hay nói cách khác, các sản phẩm thay thế sẽ kém sức hấp dẫn hơn đối với khách hàng Ví dụ, khi mà một nhà cung cấp dịch vụ Internet đủ khả năng triển khai hạ tầng đến mỗi nhà dân, để không chỉ bán dịch vụ Internet, mà còn bán các dịch vụ khác như truyền hình, điện thoại, khi đó, các sản phẩm thay thế truyền thống ít nhiều cũng
Trang 3727
các sản phẩm, dịch vụ đầu vào với chất lượng và giá cả hợp lý
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này, đó là số lượng các nhà cung ứng sẵn có, tính chất của sản phẩm dịch vụ, chi phí thay đổi nhà cung ứng, và tính ưu tiên của ngành kinh doanh đối với nhà cung ứng,
Ví dụ, trước đây trong thị trường cung ứng đường truyền viễn thông quốc tế cho Internet chỉ có duy nhất một doanh nghiệp cung ứng là VNPT (Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam) Điều này dẫn đến là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Internet không có sự lựa chọn nào ngoài việc phải mua băng thông của VNPT Đến nay, các nhà cung cấp dịch vụ Internet đã có nhiều hơn một nhà cung ứng đầu vào để lựa chọn
* Quyền lực thương thuyết của người mua
Người mua là những người có nhu cầu và có khả năng thanh toán đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Người mua có thể là người tiêu dùng cuối cùng, cũng có thể là các nhà bán buôn để bán lẻ cho những người tiêu dùng cuối cùng, hoặc có thể là những doanh nghiệp Người mua khi đó trở thành khách hàng và có thể gây áp lực đối với doanh nghiệp, có thể là về giá cả, hoặc về các quyền lợi kèm theo, dịch vụ kèm theo, những đòi hỏi về chất lượng dịch vụ Những đòi hỏi của người mua luôn làm cho doanh nghiệp phải có ý thức cải tạo và nâng cao tính hấp dẫn của sản phẩm, nâng cao chất lượng của sản phẩm, khiến cho tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành cao hơn
Những đòi hỏi của người mua đặc biệt thể hiện rõ khi thực hiện các đơn hàng lớn, họ có quyền đàm phán (mặc cả) khi mua khối lượng lớn Đối với người tiêu dùng cuối cùng, họ thường nhạy cảm hơn đối với giá cả khi mua các sản phẩm tương tự hoặc sản phẩm có giá cao hơn mức thu nhập thông thường của họ Ngoài ra, việc khách hàng chuyển dịch từ việc mua sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác làm sụt giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp không nắm bắt kịp thời và thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng, vốn có thể thay đổi theo thời gian, thì khách hàng có thể chuyển sang các nhà cung cấp khác Điều này có thể dẫn đến thị phần của doanh nghiệp giảm sút, hay sự giảm sút về năng lực cạnh tranh
1.2 LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG VÀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ viễn thông
1.2.1.1 Khái niệm dịch vụ viễn thông
Sản phẩm dịch vụ viễn thông rất đa dạng và phong phú nó bao gồm cả sản phẩm hữu hình là các thiết bị viễn thông và sản phẩm vô hình là các dịch vụ viễn
Trang 3828
thông Trong đó dịch vụ viễn thông có một đặc điểm chung nhất đó là kết quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức Kết quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tạo nên bởi 3 tính chất cơ bản: Tin tức cần được chuyển giao chính xác đến người nhận tin; Nội dung truyền đưa tin tức phải được đảm bảo nguyên vẹn; Tin tức cần phải được đưa kịp thời đến người nhận tin (Nguyễn Xuân Vinh, 2004) Trong dịch vụ viễn thông tồn tại hai khái niệm về sản phẩm dịch vụ đó là: Sản phẩm hoàn chỉnh là kết quả cuối cùng trong hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị viễn thông về việc truyền đưa một loại tin tức hoàn chỉnh nào đó từ người gửi đến người nhận Ví dụ: Truyền số liệu, điện thoại… từ người gửi đến người nhận
Sản phẩm công đoạn là kết quả có ích trong hoạt động sản xuất của từng đơn
vị Viễn thông về việc truyền đưa một loại tin tức ở một giai đoạn nhất định của quá trình sản xuất hoàn chỉnh
Theo qui định tại điều 37 – Nghị định CP số 109, dịch vụ viễn thông được hiểu là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát thu những ký hiệu tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh hình ảnh thông qua mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp
Như vậy, viễn thông là một trong các dạng trao đổi thông tin và là hình thức trao đổi thông tin hiện đại nhất
Khi nói đến viễn thông là nói đến một hệ thống cung cấp dịch vụ viễn thông bao gồm các yếu tố cấu thành nên mạng lưới cung cấp: Khách hàng, nhà cung ứng, môi trường trao đổi thông tin và các dịch vụ viễn thông do nhà cung ứng cung cấp.Trong đó, khách hàng là người có nhu cầu trao đổi thông tin và là người sử dụng dịch vụ Viễn thông đó có thể là những cá nhân, tập thể, các tổ chức doanh nghiệp hay Chính phủ Nhà cung ứng là các doanh nghiệp cung cấp một số hay phần lớn dịch vụ viễn thông Môi trường vật chất cần thiết cho việc cung ứng dịch
vụ Viễn thông bao gồm hệ thống tổng đài, thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn, hệ thống mạng cáp, hệ thống nhà trạm, quầy giao dịch… và con người trong doanh nghiệp (Nguyễn Xuân Vinh, 2004)
1.2.1.2 Đặc điểm của dịch vụ viễn thông
Thứ nhất, tin tức được gửi – nhận nguyên vẹn trong quá trình sản xuất
Với các sản phẩm dịch vụ viễn thông, khi nhận được yêu cầu sử dụng dịch
vụ từ phía khách hàng, các thông tin thoại hoặc phi thoại được mã hoá sau đó được truyền đưa qua mạng viễn thông công cộng rồi được giải mã sau đó chuyển đến
Trang 3929
cho người nhận Nội dung và hình thức của thông tin được người gửi đi ra sao thì người nhận nhận được như vậy, không hề có sự thay đổi Trong quá trình này có tồn tại sự thay đổi chỉ là về vị trí không gian Hơn nữa, trong quá trình này, nội dung thông tin phải được đảm bảo an toàn tuyệt đối, không để mất mát sai lạc thông tin hay để lộ thông tin
Ngày nay, với việc hội tụ giữa tin học – Viễn thông đã tạo ra điều kiện cho ngành viễn thông có thể truyền đưa nhiều loại tin tức khác nhau thông qua việc sử dụng nhiều thiết bị, nhiều công nghệ khác nhau thì đặc điểm này càng được thể hiện rõ nét hơn Đặc biệt là ảnh hưởng của đặc điểm này đến chỉ tiêu tốc độ ngày càng được nâng cao
Thứ hai, dịch vụ viễn thông có tính vô hình
Sản phẩm viễn thông không phải là vật phẩm được chế tạo mới, không phải
là vật thể cụ thể, mà là nó là kết quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận và được thể hiện dưới dạng dịch vụ Đặc điểm này làm cho chất lượng của dịch vụ viễn thông phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng, và
do đó nó không đồng nhất vì các khách hàng luôn có nhu cầu, có sở thích khác nhau hoặc có sự thoải mãn về dịch vụ khác nhau
Cũng do dịch vụ viễn thông viễn thông không phải là vật chất cụ thể tồn tại ngoài quá trình sản xuất nên không thể đưa vào cất giữ được trong kho, không thể thay thế được Chính vì vậy phải có những yêu cầu cao đối với chất lượng sản phẩm viễn thông
Thứ ba, quá trình sản xuất dịch vụ viễn thông mang tính dây chuyền
Quá trình truyền đưa tin tức là quá trình diễn ra từ hai phía Điểm đầu và điểm cuối của một quá trình truyền đưa tin tức có thể ở các xã khác nhau, các huyện khác nhau, các tỉnh khác nhau, và các quốc gia khác nhau Thông thường
để thực hiện một đơn vị sản phẩm viễn thông cần có nhiều đơn vị sản xuất trong nước và có khi có nhiều đơn vị sản xuất ở các nước khác nhau cũng tham gia và trong quá trình đó người ta sử dụng nhiều loại thiết bị truyền thông khác nhau Như vậy, để truyền đưa một tin tức hoàn chỉnh từ người gửi đến người nhận thường có hai hay nhiều đơn vị viễn thông tham gia, mỗi đơn vị chỉ thực hiện một giai đoạn nhất định của quá trình truyền đưa tin tức hoàn chỉnh đó
Đây là đặc điểm quan trọng chi phối đến công tác tổ chức, quản lý hoạt động viễn thông Đặc biệt là công tác quản lý chất lượng sản phẩm dịch vụ cần có quy định thống nhất về thể lệ, quy trình khai thác, bảo dưỡng thiết bị, và có chính sách đầu tư xây dựng mạng lưới một cách hợp lý, thông nhất, trong công tác đào tạo nhân sự…Có như vậy dây truyền sản xuất viễn thông mới hoạt động nhịp nhàng
Trang 4030
ăn khớp với nhau
1.2.1.3 Các loại hình dịch vụ viễn thông chủ yếu
- Dịch vụ viễn thông cơ bản: là dịch vụ truyền đưa tức thời thông tin dưới dạng ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng viễn thông hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin được gửi và nhận qua mạng Dịch vụ cơ bản bao gồm:
+ Dịch vụ viễn thông cố định (nội hạt, đường dài trong nước, quốc tế) gồm: dịch vụ truyền dẫn, thu, phát tín hiệu truyền hình, dịch vụ điện thoại, dịch vụ truyền
số liệu, dịch vụ thuê kênh, dịch vụ telex, dịch vụ điện báo
+ Dịch vụ viễn thông di động (nội vùng, toàn quốc) gồm: dịch vụ thông tin
di động mặt đất, dịch vụ điện thoại trung kế vô tuyến, dịch vụ tin nhắn
+ Dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh
+ Dịch vụ viễn thông di động vệ tinh
+ Dịch vụ vô tuyến điện hàng hải và các dịch vụ cơ bản khác do Bộ Bưu chính, viễn thông quy định
- Dịch vụ cộng thêm: là dịch vụ được cung cấp thêm đồng thời cùng với dịch
vụ cơ bản, làm phong phú và hoàn thiện thêm dịch vụ cơ bản, trên cơ sở các tính năng kỹ thuật của thiết bị hoặc khả năng phục vụ của doanh nghiệp viễn thông
- Dịch vụ giá trị gia tăng: là dịch vụ làm tăng thêm giá trị sử dụng thông tin của người sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình hoặc nội dung thông tin, hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet
- Dịch vụ kết nối Internet: là dịch vụ cung cấp cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế
- Dịch vụ truy nhập Internet: là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng truy nhập Internet
- Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông: là dịch vụ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông cho người sử dụng Dịch vụứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội phải tuân theo các quy định pháp luật về bưu chính, viễn thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan
1.2.1.4 Thị trường viễn thông Việt Nam và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông
- Viễn thông là ngành quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước