Tính cấp thiết của đề tài Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định pháp lý của bồi thường dân sự, trong lịch sử pháp luật việc bồi thường dân sự thường được giải
Trang 1Thiệt hại và cách xác định thiệt hại trong trách nhiệm
bồi thường ngoài hợp đồng TRÌNH BÀY
HỌ VÀ TÊN SV: TRẦN MIH TRUNG
MÃ SV:
A Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định pháp lý của bồi thường dân sự, trong lịch sử pháp luật việc bồi thường dân sự thường được giải quyết bằng phạp trù đạo đức, khi xã hội chưa có nhà nước, chưa có pháp luật vấn
đề bồi thường dân sự được giải quyết theo phong tục tập quán của từng bộ tộc người hoặc của từng nhớm người
Khi xã hội phát triểu nhà nước và pháp luật ra đời, bồi thường dân sự nói chung là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của bộ luật dân sự thường hết sức đa dạng, phúc tạp và khó giải quyết, khó xác định các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật này, nhung theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam thì người nào gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi xảy ra thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
Thiệt hại do thính mạng bị xâm phạm
Thiệt hại do danh dự nhâm phẩm và uy tin bị xâm phạm
Người bị thiệt hại có quyền yêu cần người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho minh nhưng phải theo nguyên tắc cơ bản đó là: Phải có thiệt hại xảy ra, người gây
ra thiệt hại phải là người có lỗi, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
Trang 2Trong thực tế xét xử, tòa án xác định yếu tố lỗi trong trường hợp này hết sức phức tạp, thương là lỗi hỗn hợp, do đó tôi chọn đề tài này nhằm nghiên cứu giữa lý luận
và thực tiễn
2 Mục địch nguyên cứu đề tài
Như đã nói ở trên, vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một phạm trù hết sức phức tạp về cả lý luật và thực tiễn, do đó tôi chọn đề tài này để đối chiếu so sánh và đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để góp vần vào việc hoàn chỉnh chế định pháp lý của đề tài này
A PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I
1.1 Khái quát về trách nhiệm và căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hiểu một cách đơn giản là loại trách nhiệm bồi thường không phát sinh từ quan hệ hợp đồng; người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
1.2 Khái niệm về trách nhiệm và căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là cở sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm BTTH có phát sinh trên thực tế hay không Vấn đề xác định chính xác căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là vấn đề cực kỳ quan trọng Về nội dung này, BLDS 2015 đã được chỉnh lý và có nhiều khác biệt so với BLDS 2005, cụ thể:
Một là, so với BLDS 2005, quy định tại Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 có những điểm khác biệt cơ bản như sau:
Thứ nhất, nếu như trong BLDS 2005, yếu tố lỗi (kể cả lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý) được
sử dụng như là căn cứ đầu tiên để xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng thì trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH đầu tiên lại là hành vi xâm
Trang 3phạm của người gây thiệt hại Theo đó, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Rõ ràng, BLDS 2015 đã thay đổi quy định theo hướng người bị thiệt hại không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên gây thiệt hại nữa, họ chỉ cần xác định được hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại là đã có thể yêu cầu bồi thường Trách nhiệm chứng minh lỗi giờ đây sẽ thuộc về người gây thiệt hại trong trường hợp muốn được miễn trách nhiệm BTTH (Khoản 2 Điều 585 BLDS 2015) hoặc được giảm mức bồi thường (Khoản 2, 4 Điều 586 BLDS 2015) Sự thay đổi này, theo tôi là hợp lý hơn và đã giảm bớt được gánh nặng chứng minh cho người bị thiệt hại
Thứ hai, khi xác định chủ thể được BTTH, BLDS 2015 đã quy định theo hướng khái quát hơn, không còn chia ra trường hợp cá nhân và pháp nhân hoặc chủ thể
khác như BLDS 2005 nữa Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 chỉ quy định: “Người
nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” “Người khác” ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả cá
nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác và như vậy đã bao hàm được tất cả các loại chủ thể được BTTH như quy định tại BLDS 2005 trước đây
Thứ ba, cùng với việc xác định căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH, việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm BTTH cũng là vấn đề hết sức cần thiết Theo nguyên tắc chung, người nào thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường Điều này về cơ bản giống với quy định của BLDS 2005 Tuy nhiên, BLDS 2015 lại quy định thêm trường hợp
ngoại lệ, đó là “trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Đây là một quy định rất phù hợp, bởi vì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng về nguyên tắc là được đặt ra cho chính chủ thể có hành vi gây thiệt hại, nhưng có khi lại là người khác, ví dụ như Điều 586 về Năng lực chịu trách nhiệm BTTH của cá nhân, trong trường hợp này, người gây ra thiệt hại là con nhưng người chịu trách nhiệm bồi thường lại là cha mẹ hay người giám hộ; Điều 598 quy định về BTTH
do người thi hành công vụ gây ra, trong trường hợp này, người gây thiệt hại là người thi hành công vụ nhưng người chịu trách nhiệm bồi thường là cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức hay cơ quan tiến hành tố tụng v
Trang 4Việc BLDS 2015 mở rộng trường hợp làm phát sinh trách nhiệm BTTH do người khác gây ra là nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người bị thiệt hại trong việc đạt được mục đích bồi thường Điều mà pháp luật về BTTH ngoài hợp đồng luôn tìm cách hướng tới là tìm được một hay nhiều chủ thể có điều kiện thực hiện trách nhiệm BTTH Càng có nhiều người chịu trách nhiệm BTTH thì người bị thiệt hại càng có cơ hội được bồi thường tốt hơn
Hai là, BLDS 2015 đã bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là “tài
sản gây thiệt hại” Cụ thể, theo Khoản 3 Điều 584 BLDS 2015, chủ sở hữu người
chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của mình gây ra (Ví dụ Điều 605 quy định về Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây
dựng khác gây ra: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử
dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác ”) Bởi lẽ trên thực tế,
trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng có thể phát sinh khi có sự kiện tài sản gây
ra thiệt hại BLDS 2015 đã khắc phục được sự thiếu rõ ràng của BLDS 2005 về trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra thiệt hại, tạo nên sự thống nhất trong quy định
về thực tiễn áp dụng pháp luật, góp phần làm ổn định và lành mạnh hóa các quan
hệ pháp luật dân sự Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 584 cũng đã quy định thêm về những trường hợp loại trừ trách nhiệm BTTH để đảm bảo tính thống nhất trong mọi trường hợp khi tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại
2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có điều kiện sau:
1 Có thiệt hại xảy ra:
Đây là điều kiện tiên quyết, điều kiện quan trong nhất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bởi nếu không có thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại không bao giờ phắt sinh Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khôi phục, bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hịa, do đó phải có thiệt hại thì mục đích đó mới đạt được
Nếu thiệt hại do tài sản bị xâm phạm thì việc xác định “ có thiệt hại ” là vấn đề không mấy khó khăn, tuy nhiên trường hợp sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của
Trang 5cá nhân và chủ thể khác Tổn thất thực tế được đề cập ở đây là sự giám sát, mất mát về lợi ích vật chất, tinh thần, hay những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại mà người bị hại phải gánh chịu
Những thiệt hại thực tế xảy ra có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinh thần Thiệt hại vật chất là thiệt hại được biểu hiện cụ thể như tàn sản đã mất mát, những chi phí cần thiết để ngăn chặn, hạn chết, sửa chữa thay thế tài sản bị hư hỏng, những khoản thu nhập thực tế bị mất
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra những thiệt hịa về tính mạng, sức khỏe của người khác thì thiệt hại được xác định như thế nào? Tính mạng của con người là vô giá không thể tính thành tiền, do vậy bồi thường thiệt hịa ở đây phải là bồi thường về tính mạng, sức khỏe mà còn là những bồi thường về mặt thiệt hại vật chất Những chi phí cho việc cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng cho bên bị thiệt hại hoặc những chi phí cần thiết khác
Theo thông tư 173/UBTP-TANDTC của tòa án nhân nhân tối cao ngày 23-3-1972
hưỡng dân thì thiệt hại được xác định: “ Đó là thiệt hại vật chất, biểu thiện cụ thể
là thiệt hịa về tìa sản hoặc những chi phí và những thu nhập bị mất, do có sự thiệt hịa về tính mạng, sức khỏe đưa đến Thiệt hại đó phải thực sự xảy ra và tính toán được”
Pháp luật về dân sự nói chung, chế định bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nói riêng là những vấn đề rất nhạy cảm và vô cùng phức tạp, bởi vì những thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại vật chất, không thể có công thức chung quy định ra tiền áp dụng các trường hợp Việc giải quyết bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cũng chỉ nhằm an ủi, động viên làm dịu đi nỗi đau cho chính nạn nhân Đây là vấn đề rất khó, nhưng cho đến nay,
về căn bản các cơ quan có thẩm quyền chưa có ban hành văn bản hưỡng dẫn cụ thể
để áp dụng cho thống nhất, vì vậy khi vận dụng thực tiễn gây nhiều tranh cãi, chưa thông nhất
Thiệt hại phải tính toán được tương đương với một số lượng tiền xác định mới đảm bảo đầy đủ cơ sở cho việc bồi thường Tuy nhiên, đối với thiệt hại về mặt tinh thần không thể tính toán bằng tiền Hơn thế đây là khái niệm còn khá trìu tượng, bởi
“tinh thần ” thì làm sao có thể cân đo, đong, đếm cụ thể để xác định thiệt hại, do vậy Tòa án chỉ có thể căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định thiệt hại, để
Trang 6xác định số tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần, nhằm đảm bảo quyền lợi của người bị nạn và gia đình họ, khắc phục phần nào hậu quả xảy ra Tòa án cũng chỉ chấp nhận những thiệt hại hợp lý mà thôi, những thiệt hại mang tính suy diễn như:
“thu nhập một người nông dân ở quê nghèo là từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng / 1 tháng”.
Có thiệt hại tức là có tổn thất thực tế, tồn tại khách quan và phải tính được bằng một số tiền cụ thể nhất định, còn những thiệt hại mang tính suy diễn, chủ quan sẽ không được thừa nhận nếu không có căn cứ xác đáng
Như vậy, những thiệt hại về vật chất là những thiệ hại trị giá được bằng tiền, đó là thiệt hại thông thường trong các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại Đó là những thiệt hại vật chất trong cá thiệt hại về tài sản, về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm
Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không thể có công thức chung để quy định tiền áp dụng cho mọi trường hợp cụ thể nhằm mục đích an ủi, động viên
và phần nào tạo điều kiện để khắc phục khó khăn, làm dịu đi nỗi đau cho chính người bị thiệt hại hay cho những người thân thích của họ
Thiệt hại về tinh thần là sự thiệt hại về giá trị tinh thần, tình cảm hoặc sự suy sụp
về tâm lý, tình cảm hoặc sự suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân HÌnh thức biểu hiện thiệt hịa vè tinh thần rất đa dạng như : Suy sụp về tâm lý của người bị thiệt hịa sau khi sức khỏe bị xâm phạm làm cho bị tàn tật, bị biến dạng bế ngoài ( ví dụ như bị sẹo ở mặt, bị gãy chân làm cho người bị thiệt hại đi cà nhắc )
Ngoài những thiệt hại về tinh thần mà bản thân người bị thiệt hại phải gánh chịu thì
có những trường hợp người thân thích của họ cũng phải gánh chịu tổn thất về tinh thần này Ví dụ đó có thể là sự suy sụp, haong mang, lo lắng, sự đau thương của những người thân thích với cái chết của nạn nhân Khác với thiệt hại vật chất, thiệt hại tinh thần không có tiêu chí chung để xác định cho mọi cá nhân bởi điều kiện, hoàn cảnh của từng cá nhân là không giống nhau, nhưng thiệt hại về tinh thần thường đi kèm với thiệt hại vật chất
Pháp luật Việt Nam thừa nhận có thiệt hại về tinh thần, tuy nhiên có quan điểm cho rằng thiệt hại về tinh thần chỉ là khái niệm xã hội và ở phạm vi tình cảm Nhưng có quan điểm cho rằng bồi thường bằng tiền có thể khắc phục phần nào thiệt hại về
Trang 7tinh thần, không thể dùng tiền bù đắp được Tuy nhiên , pháp luật dân sự VIệt Nam quy định mức tiền bồi thường thiệt hại về tinh thần tại khoản 2 điều 609 và khaorn
2 điều 610 nghị quyết số 03/2006/NQ-HDTP của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 08 tháng 7 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã có sự hướng dẫn
cụ thể về bồi thường tổn thất tinh thần
Thiệt hại về tính mạng sức khỏe làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phó cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhậm thực tế bị mất, giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm phạm bao gồm chi phí hợp lý
để ngăm chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tin bị xâm phạm
Thiêt hại do bị tổn thât về tinh thần Bộ luật dân sự quy định: Tòa án có thể cáo buộc người xâm hại bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị hại, người thân thích gần gũi của nạn nhân
Buộc người xâm phạm đến sức khỏe người khác phải bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về mặt tinh thần cho người bị thiệt hại và cho những người thân thích của người bị hại trong vụ bị xâm p Qzxhạm về tính mạng là hợp lý
cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với phong thục tập quán, truyền thông tương thân tương ái của dân tốc Việt NAM
Những quy định này chỉ định hướng nhưng chưa có tính định lượng trong việc bồi thường thiệt hại Bởi vậy, Tòa án là người phải xác định trong trường hợp nào được bồi thường, bồi thường bao nhiêu cho ai?
2 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật:
Hành vi gây thiệt hại trước tiên phải là hành vi pháp luật cấm thực hiện, nếu hnahf
vi đó được thực hiện, thực hiện mà pháp luật không cấm thì người thực hiện hành
vi đó không phải bồi thường thiệt hại Không thể có người gây thiệt hịa khi không
có hành vi gây thiệt hại Hành vi gây thiệt hại là hành vi có ý thức của con người diền ra trái với quy định và gây ra thiệt hại tới các đối tượng của pháp luật bảo vệ Hành vi gây thiệt hại có thể bằng hành động hoặc không hành động, hành động và không hành động đều là những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khác quan, được ý thức kiểm soát, lý trí điều khiển và đều có khả năng làm biến đổi tình
Trang 8trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đượ pháp luật bảo vệ Hành động gây thiệt hại có thể là tác động trực tiếp của chủ thế vào đối tượng gây thiệt hại hoặc có thể là tác động gián tiếp của chủ thế vào đối tượng thông qua công cụ, phương tiện gây ra thiệt hại Không hành động, gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, nó làm biến đổi tình trạng bình thường của dối tượng tác động, gây thiệ hại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc pháp luật quy định bắt buộc phải làm mặc dù có đầy đủ điều kiện để làm việc đó
Thực tế thì việc xác định hành vi gây thiệt hại bằng hành động không khó, bởi vì
nó tác động trực tiếp đến đối tượng bị thiệt hại đến đối tượng bị thiệt hại như: bắn, đâm, chém Nhưng ở dạng không có hành động hoặc được thực hiện thông qua hành vi của người khác thì cần xác định mối quan hệ giữa thiệt hại của hành vi của người gây thiệt hại và trách nhiệm, nghĩa vụ của họ đối với thiệt hại xảy ra Ví dụ: người gây thiệt hại do phòng về chính đáng, do tình thế cấp thiết thì không phải bồi thường Tuy nhiên, nếu hành vi phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiệt đó mà vượt qua giới hạn cho phép thì các hành vi bị coi là trái pháp luật và phải bồi thường
Trước khi có Bộ luật dân sự thì ngành Tòa án thường căn cú vào Thông từ số
173/UBND-TANDTC ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cao để phải giải
quyết các quan hệ pháo luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Theo tinh thân nội dung Thông tư thì hành vi pháp luật trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: “ Có thể là một việc phạm pháp về hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi pháp đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc một vi phạp quy tắc sinh hoạt xã hội ”
Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thế khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào xâm phạm đến các
quyền đó Bởi vậy Điều 584 bộ luật dân sự 2015 có quy định rõ
1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, tài sản, quyền lợi lợi ích hợp pháp khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do
Trang 9lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc có luật khác quy định
3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này
3 Có lỗi của người gây thiệt hại
Người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi Xét về hình thức lỗi
là thía độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, lỗi được thể hiện dưới dạng cố
ý hay vô ý
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của minh sẽ gây thiệt hại cho người khác màvẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại sảy ra
Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khẳ năng gây ra thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại
sẽ không xảy r hoặc có thể ngăn chặn được
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung Con người phải chịu trách nhiệm kho họ có lỗi, có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi Bởi vậy, những người không có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
sẽ không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó
Lỗi được cấu thành bởi hai yếu tố là lý trí và ý chí Lý trí là sự thể hiện năng lực nhận thức tại khác quan, còn ý chú là yếu tố biểu hiện năng lực điều khiền hành vi trên cơ sở nhận thức thực tại khác quan
Có thể xem xet hành vi của người ngây thiệt hại trên các mặt sau:
- Nhận thức của người gây thiệt hại
- Hành vi gây thiệt hại có đúng pháp luật hay trái pháp luật
- Hành vi cụ thể của người gây thiệt hại
Trang 10Nếu xét lỗi dưới góc độ quan hệ của cá nhân thì lỗi của người gây thiệt hại là sự biểu hiện quan hệ giữa bản thân người gây thiệt hịa và xã hội mà nội dung của nó
là sự phủ định chủ quan của những quy tắc ứng xử chung của xã hội, đòi hỏi các nhân phải tôn trọng được thể hiện bằng các quy định của pháp luật
Tuy nhiên, có tường hợp người gây ra thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì không phải bồi thường
4 Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật:
Mối quan hệ nhân quả là sự liên hệ giữa hai hiện tượng trong đó có chứa đựng nguyên nhân và kết quả Phải có sự vận động của hiện tượng là nguyên nhân tỏng những điều kiện hoàn cảnh cụ thể mới nảy sinh hiện tượng là kết quả Hành vi vi phạm pháp luật là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại là hậu quả Xét về nguyên tắc, nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả trong khoảng thời gian xác định và hành vi trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp ( nguyên nhân quyết định đối với thiệt hại xảy ra ) Có nghĩa là thiệt hại đã có sẵn cơ sở trong hành vi Một hành vi vi phạm nhất định trong một điều kiện xác định thì chỉ làm nảy sinh ra hậu quả này chứ không phải là hậu quả khác Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành
vi vi phạm và ngược lại, nếu không có hành vi thì thiệt hại không xảy đến Nếu không xác định được mối quan hệ này sẽ không xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại cảu người có hành vi vi phạm và không được người gây thiệt hại phải bồi thường cho người thiệt hại
Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trai pháp luật hay ngược lại hành vi pháp
luật là nguyên nhân xảy ra Điều này được quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự
2015 dưới dạng: “người nào xâm phạm mà gây thiệt hại thì phải bồi thường ”.
Ở đây chúng ta có thể thấy rõ hành vi đó
Tuy nhiên việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trai pháp luật và thiệt hại xảy ra trương nhiều trường hợp rất khó khăn Do đó cần phải xem xét, phân thích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại