1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú, cư trú tại phường Phan Đình Phùng thành

111 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 3,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC NGUYỄN THANH HÒA THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGUYỄN THANH HÒA

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ, CƯ TRÚ TẠI PHƯỜNG PHAN ĐÌNH PHÙNG THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

THÁI NGUYÊN – NĂM 2020

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGUYỄN THANH HÒA

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ, CƯ TRÚ TẠI PHƯỜNG PHAN ĐÌNH PHÙNG THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN VÀ

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

THÁI NGUYÊN – NĂM 2020

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thanh Hòa, học viên lớp cao học Khóa 22 chuyên ngành

Y học dự phòng, Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp hoàn thành dưới sự hướng dẫn

của TS Phạm Ngọc Minh và TS Nguyễn Thị Tố Uyên

2 Công trình nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào

khác đã được công bố tại Việt Nam

Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung

thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sở nơi nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Người viết cam đoan

Nguyễn Thanh Hòa

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành nhờ sự nỗ lực của tôi và sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới: Đảng ủy - Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học và Khoa

Y tế Công cộng trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Ngọc Minh và TS Nguyễn Thị Tố Uyên, giảng viên trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên Là những người thầy không chỉ trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình phát triển ý tưởng, nghiên cứu y văn, xây dựng và hoàn thiện luận văn này

mà còn luôn chỉ bảo, dạy dỗ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập

Tôi xin được gửi lời cảm ơn các thầy cô giảng viên khoa Y tế Công cộng, cùng toàn thể giảng viên trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình

Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc nhất tôi gửi lời cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đặc biệt là gia đình đã luôn động viên, khích lệ và là nguồn động lực to lớn giúp tôi trong những tháng ngày học tập, nghiên cứu để hoàn thành khoá học này

Một lần nữa xin được trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Tác giả: Nguyễn Thanh Hòa

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BMI Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)

ĐTĐ Đái tháo đường

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

FINDRISC Finnish Diabetes Risk Score (Điểm rủi ro bệnh tiểu đường Phần Lan) FPG Fasting Plasma Glucose (Đường máu lúc đói)

IDF International Diabetes Federation (Liên đoàn Đái tháo đường thế giới)

JNC United States, Joint National Committee (Liên uỷ ban Quốc gia Hoa Kỳ)

KSĐH Kiểm soát đường huyết

KTC Khoảng tin cậy

VĐTL Vận động thể lực

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 11

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3

1.1 Kiểm soát đường huyết và tầm quan trọng của kiểm soát đường huyết 3

1.2 Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 7

1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 13

1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 18

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 20

2.5 Chỉ tiêu nghiên cứu 21

2.6 Định nghĩa biến số 22

2.7 Công cụ thu thập số liệu 28

2.8 Kỹ thuật thu thập số liệu 28

2.9 Quản lý và phân tích số liệu 30

2.10 Đạo đức nghiên cứu 31

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thực trạng kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu 32

3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiểm soát đường huyết 38

CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 46

4.1 Kết quả kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú, cư trú tại phường Phan Đình Phùng thành phố Thái Nguyên 46

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiểm soát đường huyết của bệnh nhân Đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú, cư trú tại phường Phan Đình Phùng

thành phố Thái Nguyên 523

4.3 Hạn chế của đề tài 60

KẾT LUẬN 60

KHUYẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phân loại thể trạng dinh dưỡng dựa theo thang phân loại của

Tổ chức Y tế Thế giới dành cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương 30

Bảng 2.2 Phân độ tăng huyết áp theo JNC VIII-2014 ở người lớn 30

Bảng 3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 32

Bảng 3.2 Đặc điểm trình độ học vấn, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3.3 Đặc điểm trạng thái lo âu, trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 33

Bảng 3.4 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về bệnh đái tháo đường và kiểm soát đường huyết 34

Bảng 3.5 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về bệnh đái tháo đường và kiểm soát đường huyết 35

Bảng 3.6 Đặc điểm tuân thủ chế độ thuốc của đối tượng nghiên cứu theo thang điểm Morisky 35

Bảng 3.7 Mức độ kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu theo chỉ số HbA1c và glucose máu lúc đói 36

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa kiến thức với mức độ kiểm soát đường huyết 38

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa thái độ với mức độ kiểm soát đường huyết 38

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ thuốc với mức độ kiểm soát đường huyết 39

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa độ tuổi với mức độ kiểm soát đường huyết

39

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh với mức độ kiểm soát đường huyết 40

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) với mức độ kiểm soát đường huyết 40

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tiền sử gia đình với mức độ kiểm soát

đường huyết 41 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa hành vi sử dụng rượu, bia và hút thuốc lá với mức độ kiểm soát đường huyết 41 Bảng 3.16 Mối liên quan giữa phương pháp sử dụng thuốc với mức độ

kiểm soát đường huyết 42 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tình trạng trầm cảm, lo âu với mức độ

kiểm soát đường huyết 42 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa vận động thể lực với mức độ kiểm soát

đường huyết 43 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa thời gian ngủ với mức độ kiểm soát

đường huyết 43 Bảng 3.20 Mối liên quan của một số loại thực phẩm đến mức độ kiểm

soát đường huyết 44

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên 19 Hình 2: Biểu đồ Venn về tỷ lệ kiểm soát đường huyết chưa tốt theo hai

tiêu chí 37 Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo kiến thức 34 Biểu đồ 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo mức độ tuân thủ thuốc

điều trị 36

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường là một bệnh mạn tính không lây liên quan chủ yếu đến dinh dưỡng, hành vi và lối sống Hiện nay, ĐTĐ được ví như “đại dịch” toàn cầu, bệnh đã và đang trở thành một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng khi số lượng bệnh nhân không ngừng gia tăng, đặc biệt ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2017 toàn thế giới có 451 triệu người bị ĐTĐ (ở độ tuổi từ 18-99), và dự báo tới năm 2045

có khoảng 693 triệu người mắc ĐTĐ [58] Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ nhanh nhất thế giới, khoảng 8%-10%/năm Nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết trung ương cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6% [2].Theo IDF, tỷ lệ mắc ĐTĐ tại Việt Nam năm

2019 là 5,7% [61]

Đái tháo đường hiện nay vẫn là bệnh không thể chữa khỏi hoàn toàn và có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm Các biến chứng này gây ảnh hưởng trầm trọng đến cuộc sống của người bệnh, làm suy giảm sức lao động, tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội, tăng chi phí điều trị bệnh, tăng tỷ lệ tử vong

và tàn phế Theo IDF, mỗi năm có khoảng 3,2 triệu người chết vì các bệnh liên quan tới ĐTĐ Khoảng 12% chi phí y tế trên toàn cầu những năm gần đây là chi cho người bệnh bị ĐTĐ, năm 2017 là 727 tỷ USD và ước tính đến năm

2045 là 776 tỷ USD [58]

Tuy nhiên, biến chứng của bệnh ĐTĐ hoàn toàn có thể dự phòng và làm chậm tiến triển nếu đường huyết của bệnh nhân được kiểm soát tốt Đã có nhiều nghiên cứu về KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ Ở các nghiên cứu này, chỉ số HbA1c được sử dụng để đánh giá mức độ KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ Theo nghiên cứu của Riyadh và cộng sự (2018) ở Ả Rập Xê Út cho thấy tỷ lệ KSĐH chưa tốt

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

(HbA1c ≥7%) là 74,9% [53] Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan (2011) tỷ lệ KSĐH chưa tốt là 70,6% [8] Nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012) tỷ lệ KSĐH chưa tốt (HbA1c ≥7,5%) lên tới 80,5% [7]

Có nhiều yếu tố liên quan đến mức độ KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ Các yếu

tố tác động trực tiếp đến việc KSĐH của bệnh nhân được báo cáo đó là: Hành

vi tuân thủ điều trị của bệnh nhân [20], hiệu quả quản lý và điều trị bệnh của

cơ sở y tế [21], ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường nhất là môi trường xã hội và các yếu tố sinh học như tiền sử gia đình về bệnh ĐTĐ [52]

Tỉnh Thái Nguyên những năm gần đây đời sống của người dân được nâng cao hơn, kèm theo đó tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ cũng ngày càng gia tăng Hiện nay,

số lượng bệnh nhân ĐTĐ đang được quản lý điều trị ngoại trú trên địa bàn thành phố Thái Nguyên khoảng trên 3.000 bệnh nhân [11] Qua điều tra sổ theo dõi điều trị bệnh ĐTĐ tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, chỉ riêng phường Phan Đình Phùng, số bệnh nhân ĐTĐ đang được quản lý điều trị tại đây là khoảng hơn 350 bệnh nhân Tuy nhiên, nghiên cứu về KSĐH và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân ĐTĐ tại cộng đồng còn chưa được quan tâm

nhiều Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú, cư trú tại phường Phan Đình Phùng thành phố Thái Nguyên và một số yếu tố liên quan” với mục tiêu nghiên cứu như sau:

1 Mô tả thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 điều trị ngoại trú, cư trú tại phường Phan Đình Phùng thành phố Thái Nguyên năm

2019

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng kiểm soát đường huyết

ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 điều trị ngoại trú, cư trú tại phường Phan Đình Phùng thành phố Thái Nguyên năm 2019

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Kiểm soát đường huyết và tầm quan trọng của kiểm soát đường huyết

1.1.1 Chỉ số HbA1c

HbA1c được hình thành do sự kết hợp giữa glucose và gốc NH2 của valine ở đầu tận của chuỗi betaglobin của huyết sắc tố, phản ứng này không cần men và được gọi là phản ứng glycosyl hóa (glycosylation) Tốc độ glycosyl hóa của huyết sắc tố tùy thuộc nồng độ glucose trong máu và HbA1c tồn tại trong suốt đời sống của hồng cầu (khoảng 120 ngày) Hồng cầu mới hình thành không chứa HbA1c và hồng cầu sắp bị đào thải chứa nhiều HbA1c nhất

HbA1c có mối tương quan khá chặt với nồng độ glucose máu lúc đói [6]

Có nghĩa là kiểm soát tốt glucose máu sẽ làm giảm chỉ số HbA1c Trong vòng

2 tháng nếu nồng độ glucose máu tăng cao thì hàm lượng HbA1c có thể tăng lên đến 12-18% Khi HbA1c tăng 1%, glucose máu trung bình sẽ tăng khoảng 29mg/dl Người bệnh chỉ cần thay đối chế độ ăn trong một vài ngày đã có thể giảm đường huyết, nhưng HbA1c chỉ giảm khi bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị trong cả quá trình 2 tháng Vì vậy, HbA1c là chỉ số trung thực nhất để đánh giá kết quả điều trị, tiên lượng biến chứng vì biến chứng là kết quả của cả một quá trình diễn biến kéo dài, còn theo dõi đường máu lúc đói cho biết lượng đường trong máu ngay tại thời điểm xét nghiệm Ưu điểm của xét nghiệm HbA1c là có thể được thực hiện mà không cần nhịn đói và kết quả phản ánh mức độ glucose máu trung bình trong 2 tháng gần nhất

Theo quyết định của Bộ Y tế về “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường tuýp 2” (2017), sử dụng chỉ số globulin màng (HbA1c) để đánh giá mức

độ KSĐH của bệnh nhân ĐTĐ Bệnh nhân là người trưởng thành, không có thai: KSĐH tốt khi HbA1c <7,0%, glucose máu lúc đói <7,2mmol/l [2] So với chỉ số HbA1c, chỉ số gluocse máu lúc đói là xét nghiện được thực hiện thường

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

xuyên ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 vì chi phí phù hợp Việc dựa vào chỉ số glucose máu lúc đói để đánh giá mức độ kiểm soát đường huyết có ưu điểm là có thể làm xét nghiệm tại thời điểm thu thập số liệu để đánh giá bệnh nhân KSĐH tốt hay không tốt Tuy nhiên, nó có nhược điểm là glucose máu lúc đói dễ dàng bị thay đổi do tác động của chế độ ăn uống Do vậy, sẽ không phản ánh được đầy

đủ việc KSĐH của đối tượng nghiên cứu

Chính vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng chỉ số HbA1c để đánh giá mức độ KSĐH và các yếu tố liên quan đến KSĐH của đối tượng nghiên cứu

1.1.2 Tầm quan trọng của kiểm soát đường huyết

Bệnh đái tháo đường có thể gây ra nhiều biến chứng khác nhau Theo nghiên cứu của Bế Thu Hà (2009), biến chứng tim mạch là hay gặp nhất ở bệnh nhân ĐTĐ chiếm 42,8%, tiếp theo là biến chứng tại thận với tỷ lệ 39,6%, ngoài

ra còn một số biến chứng khác như biến chứng tại mắt, thần kinh, hô hấp và da [4] Nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012) cũng cho thấy biến chứng tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất ở bệnh nhân ĐTĐ (18,7%), biến chứng tại mắt (18,3%), tại thận (16,4%) [7] Việc KSĐH tốt sẽ giúp ngăn ngừa sự phát sinh và tiến triển của các biến chứng này Theo nghiên cứu của Stratton và cộng sự (2000),

cứ giảm 1% HbA1c (chỉ số đường huyết trung bình trong vòng 2-3 tháng) sẽ giúp giảm nguy cơ biến chứng dài hạn, cụ thể:

- Giảm 43% biến chứng cắt cụt chi hoặc tử vong do bệnh mạch máu ngoại vi

- Giảm 37% biến chứng mạch máu nhỏ (bệnh thận và mù)

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tế tại tuyến y tế cơ sở nói riêng là làm như thế nào để giúp bệnh nhân ĐTĐ có thể thực hiện những hành vi tốt trong việc KSĐH tại cộng đồng

1.1.3 Biện pháp kiểm soát đường huyết

Kiểm soát đường huyết là việc bệnh nhân ĐTĐ áp dụng các biện pháp giúp đường huyết duy trì ổn định theo mục tiêu điều trị ở bệnh nhân ĐTĐ Mục tiêu điều trị cần đạt ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 là chỉ số HbA1c <7,0%, glucose huyết tương mao mạch lúc đói, trước ăn là 80-130mmol/l (4,4-7,2mmol/l), đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ là <180mg/dl (10,0mmol/l) [2] Theo hướng dẫn của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị bệnh ĐTĐ tuýp 2 năm

2017, để duy trì đường huyết ổn định, tăng cường hiệu quả điều trị bệnh giúp cho việc KSĐH được tốt thì bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 cần phải thực hiện đồng thời các nội dung sau:

1.1.3.1 Thay đổi lối sống

Thay đổi lối sống hay điều trị không dùng thuốc ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp

2 bao gồm luyện tập thể lực và chế độ dinh dưỡng:

* Luyện tập thể lực

Việc luyện tập thể lực ở bệnh nhân ĐTĐ có vai trò quan trọng đặc biệt đối với những bệnh nhân có tình trạng thừa cân, béo phì Vận động thể lực sẽ giúp cân nặng của bệnh nhân trở về mức bình thường

- Khi hướng dẫn bệnh nhân ĐTĐ luyện tập thể lực, trước tiên cần kiểm tra biến chứng tim mạch, mắt, thần kinh, biến dạng chân trước khi luyện tập và đo huyết áp, tần số tim Không luyện tập gắng sức khi glucose huyết > 250-270 mg/dL và ceton dương tính

- Loại hình luyện tập thông dụng và dễ áp dụng nhất đối với bệnh nhân ĐTĐ là đi bộ 150 phút mỗi tuần (hoặc 30 phút mỗi ngày), không nên ngưng luyện tập 2 ngày liên tiếp Mỗi tuần nên tập kháng lực 2-3 lần (kéo dây, nâng tạ) tùy tình trạng cụ thể của từng bệnh nhân

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Người già, đau khớp có thể chia bài tập thành nhiều lần trong ngày, thí

dụ đi bộ sau 3 bữa ăn, mỗi lần 10-15 phút Người còn trẻ nên tập khoảng khoảng

60 phút mỗi ngày, tập kháng lực ít nhất 3 lần mỗi tuần

* Chế độ dinh dưỡng

Dinh dưỡng cần được áp dụng mềm dẻo theo thói quen ăn uống của bệnh nhân, và tùy vào các thức ăn sẵn có tại từng vùng miền Tốt nhất nên có tư vấn của bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng

Chi tiết về dinh dưỡng sẽ được thiết lập cho từng bệnh nhân tùy tình trạng bệnh, loại hình hoạt động, các bệnh lý, biến chứng đi kèm

Các nguyên tắc chung về dinh dưỡng được khuyến cáo cho mọi bệnh nhân ĐTĐ bao gồm:

- Bệnh nhân béo phì, thừa cân cần giảm cân, ít nhất 3-7% so với cân nặng hiện tại

- Nên dùng các loại carbohydrat hấp thu chậm có nhiều chất xơ, không chà xát kỹ như gạo lứt, bánh mì đen, nui còn chứa nhiều chất xơ

- Đạm khoảng 1-1,5 gam/kg cân nặng/ngày ở người không suy chức năng thận Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần Người ăn chay kéo dài có thể bổ sung nguồn đạm từ các loại đậu (đậu phụ, đậu đen, đậu đỏ)

- Nên chú trọng dùng các loại mỡ có chứa acid béo không no một nối đôi hoặc nhiều nối đôi như dầu ô liu, dầu mè, dầu lạc, mỡ cá Cần tránh các loại

mỡ trung chuyển (mỡ trans), phát sinh khi ăn thức ăn rán, chiên ngập dầu mỡ

- Giảm muối trong bữa ăn, còn khoảng 2300 mg Natri mỗi ngày

- Chất xơ ít nhất 15 gam mỗi ngày, nên sử dụng chất xơ từ các loại rau, quả ít ngọt

- Các yếu tố vi lượng: nên chú ý bổ sung các yếu tố vi lượng nếu thiếu, thí

dụ sắt ở bệnh nhân ăn chay kéo dài Dùng Metformin lâu ngày có thể gây thiếu sinh tố B12, nên chú ý đến tình trạng này nếu bệnh nhân có thiếu máu hoặc triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại vi

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Uống rượu điều độ: một lon bia (330 ml)/ngày, rượu vang đỏ khoảng 150-200ml/ngày

- Ngưng hút thuốc

- Các chất tạo vị ngọt: như đường bắp, aspartame, saccharin có nhiều bằng chứng trái ngược Do đó nếu sử dụng cũng cần hạn chế đến mức tối thiểu

1.1.3.2 Điều trị đái tháo đường bằng thuốc

- Các nhóm thuốc hạ glucose huyết đường uống và thuốc dạng tiêm không thuộc nhóm insulin

- Insulin: Insulin được sử dụng ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 1 và cả ĐTĐ tuýp

2 khi có triệu chứng thiếu insulin hoặc không kiểm soát được glucose máu dù

đã ăn uống luyện tập và phối hợp nhiều loại thuốc viên theo đúng chỉ dẫn Ngoài ra ĐTĐ tuýp 2 khi mới chẩn đoán nếu glucose máu tăng rất cao cũng có thể dùng insulin để ổn định glucose máu, sau đó sẽ dùng các loại thuốc điều trị tăng glucose máu khác

1.2 Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường trên thế giới

Theo hướng dẫn điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2, bệnh nhân cần phải thay đối lối sống bao gồm vận động thể lực và dinh dưỡng kết hợp với tuân thủ chế độ thuốc điều trị theo chỉ định của bác sĩ [2] Kiểm soát đường huyết tốt (HbA1c <7,0% và glucose máu lúc đói 4,7-7,2mmol/l) là một trong những mục tiêu điều trị của bệnh ĐTĐ Thực tế, KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ là một vấn đề đang ngày càng được quan tâm trên thế giới vì tỷ lệ KSĐH tốt còn thấp mặc dù

đã có những hướng dẫn và khuyến cáo cập nhật hàng năm

Theo dữ liệu điều tra quốc gia về dinh dưỡng và sức khỏe của Mỹ, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ đạt HbA1c <7,0% trong thập kỷ qua không được cải thiện

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chỉ có khoảng 40% bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ tuýp 1 hoặc tuýp 2 trong dân số đạt được HbA1c <7,0% trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2014 [48]

Deborah Taira Juarez và cộng sự (2012), nghiên cứu về sự thay đổi mức độ KSĐH trên bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 ở Isfahan, Iran từ năm 2006 đến năm 2009 cho thấy trong khoảng thời gian đó KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 chưa được cải thiện, tỷ lệ bệnh nhân KSĐH chưa tốt (HbA1c >7,0%) ở lần khám gần nhất chiếm 64,4% [71] Năm 2013, nghiên cứu trên bệnh nhân ĐTĐ điều trị bằng insulin tại bệnh viện đại học Jimma, Tây Nam Ethiopia cho kết quả tỷ lệ KSĐH chưa tốt còn rất cao (81,7%) và ở những bệnh nhân có mức độ KSĐH chưa tốt này đã mắc thêm các biến chứng trong quá trình điều trị bệnh [43] Một nghiên cứu hồi cứu của Lipska

và cộng sự (2013) về KSĐH từ năm 2006 đến năm 2013 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ có KSĐH tốt (HbA1c <7,0%) có xu hướng giảm từ 56,4% xuống 54,2% (p<0,001) và tỷ lệ bệnh nhân có HbA1c ≥9,0% tăng từ 9,9% lên 12,2% (p<0,001) [37] Rõ ràng KSĐH là vấn đề được quan tâm và có những biện pháp để cải thiện, nhưng giường hiệu quả đạt được còn hạn chế

Nghiên cứu của Appolinary R Kamuhabwa và Emmanuel Charles (2014) trên 469 bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 tại bệnh viện ở Dar es Salaam, Tanzani cho kết quả có đến 69,7% bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 có mức KSĐH chưa tốt Ở nghiên cứu này, mức độ KSĐH ở bệnh nhân được đánh giá dựa vào chỉ số đường máu lúc đói (FBG ≥7,2mmol/l) Bệnh nhân có KSĐH chưa tốt tập trung ở nhóm bệnh nhân không có bảo hiểm y tế (71,7%), bệnh nhân nữ ở độ tuổi 40-59 tuổi

có tỷ lệ KSĐH chưa tốt (76,1%) cao hơn so với nam cùng nhóm tuổi (65,4%) [57]

Kết quả nghiên cứu của Somayyeh Firouzi tại Malaysia cho thấy nồng độ HbA1c trung bình của các bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 là 7,6% ±1,4%, giá trị này nằm ở mức kiểm soát chưa tốt [47] Một nghiên cứu của Alioune Camara và cộng sự (2015) về KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 ở phía Nam Sahara Nghiên cứu này được thực hiện trên 1.267 bệnh nhân, trong đó tỷ lệ ĐTĐ tuýp 2 ở nữ

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

là 61% và độ tuổi trung bình của ĐTNC là 58 tuổi Nghiên cứu cho thấy 939 (74%) có HbA1c >7,0% trong đó bao gồm 388 (41%) có HbA1c >10,0% [55] Nghiên cứu của Shariff Ghazali Sazlina và cộng sự về dự báo KSĐH ở bệnh nhân lớn tuổi bị ĐTĐ tuýp 2 ở Malaysia (2015) Trong số 21.336 bệnh nhân mắc ĐTĐ tuýp 2 ở độ tuổi 60 tuổi, có 38,4% có mức HbA1c ≥8,0% Hầu hết bệnh nhân ở độ tuổi 60-69 tuổi, nữ chiếm 57,3%, có thời gian bị ĐTĐ tuýp

2 từ 5-10 năm (39,4%) [65]

Nghiên cứu của Mahmoud Radwan và cộng sự (2018) về KSĐH ở bệnh nhân chăm sóc ban đầu bị ĐTĐ tuýp 2 ở Dải Gaza, Palestine Nghiên cứu được thực hiện trên 369 bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 từ 4 trung tâm y tế ở dải Gaza cho kết quả như sau: Giá trị trung bình của HbA1c là 8,97% ±2,02%, cao hơn nhiều

so với mức HbA1c khuyến cao (HbA1c <7,0%) Trong đó tỷ lệ bệnh nhân có KSĐH tốt chỉ ở mức 19,5% (HbA1c ≤7,0%) Nghiên cứu cho thấy công tác quản lý bệnh nhân ĐTĐ và các biện pháp hỗ trợ bệnh nhân KSĐH tại đây còn yếu kém và đây là một thách thức lớn đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Palestine [63]

Yohannes Tekalegn và cộng sự nghiên cứu về “Tầm quan trọng của kiểm soát đường huyết và các yếu tố liên quan ở những bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ tuýp 2 tại một bệnh viện chuyên khoa ở Ethiopia” (2018) Kết quả cho thấy trong tổng số 412 bệnh nhân đang được theo dõi điều trị bệnh ĐTĐ tại đây,

có đến 80% đối tượng có KSĐH chưa tốt (glucose máu lúc đói >7,2mmol/l) [67]

Tỷ lệ KSĐH và một số yếu tố liên quan ở người trưởng thành mắc ĐTĐ tuýp 2 ở Ả Rập Xê Út do Riyadh và cộng sự tiến hành năm 2018 cho thấy tỷ lệ KSĐH chưa tốt (HbA1c >7,0%) tại đây là 74,9% [53] Nghiên cứu của Khattab tại Jordan, trong tổng số 917 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có đến 65,1% bệnh nhân có KSĐH chưa tốt (HbA1c ≥7,0%) [33] Nghiên cứu của

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Mohammed Badedi tại Saudi có hơn hai phần ba (74%) bệnh nhân KSĐH chưa tốt [42]

Tóm lại, thực trạng chung về KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 trên thế giới chưa tốt, tỷ lệ KSĐH chưa tốt còn cao

1.2.2 Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp

2 tại Việt Nam

Ở nước ta, những năm gần đây vấn đề KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ đã bắt đầu được quan tâm Các nghiên cứu liên quan đến bệnh ĐTĐ và KSĐH cũng

đã được tiến hành Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này đều được thực hiện tại các cơ sở điều trị, quản lý bệnh nhân ĐTĐ nên các kết quả về tỷ lệ KSĐH

và các yếu tố liên quan còn hạn chế và thiếu tính đại diện

Theo nghiên cứu của Bế Thu Hà (2009) ở tỉnh Bắc Kạn cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có KSĐH chưa tốt (HbA1c >7,0%) là 54,7% Trong đó bệnh nhân làm ruộng tỷ lệ KSĐH chưa tốt là cao hơn so với nhóm cán bộ đương nhiệm

và cán bộ hưu Nhóm bệnh nhân sử dụng thuốc uống đơn trị liệu có tỷ lệ KSĐH tốt cao hơn so với nhóm sử dụng insulin đơn trị liệu hoặc phối hợp thuốc [4] Tỷ lệ KSĐH chưa tốt ở nghiên cứu của Bế Thu Hà tương đương với số liệu nghiên cứu gần đây của Nguyễn Ngọc Thanh Vân (2018) là 56,6% [24]

Kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012), nghiên cứu về kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân ĐTĐ tại bệnh viên Đa khoa Vĩnh Phúc thì tỷ lệ KSĐH chưa tốt (HbA1c >7,0%) ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc là 80,5% Hàm lượng Glucose máu trung bình của bệnh nhân là 8,0±2,4mmol/l, cao hơn mức bình thường khuyến cao (<7,2mmol/l) HbA1c trung bình là 6,8±0,9%, giá trị này nằm trong mức kiểm soát đường huyết tốt (HbA1c<7,0%) Nhóm bệnh nhân <40 tuổi có tỷ lệ KSĐH tốt cao nhất, trong khi nhóm tuổi >70 tuổi chiểm tỷ lệ KSĐH kém cao nhất Trong nghiên cứu này những bệnh nhân làm ruộng cũng có tỷ lệ KSĐH chưa

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tốt cao nhất, trong khi nhóm cán bộ nghỉ hưu có mức độ KSĐH tốt nhất, tương

tự kết quả nghiên cứu của Bế Thu Hà (2009) Tỷ lệ KSĐH chưa tốt tăng dần theo thời gian mắc bệnh của bệnh nhân Nhóm bệnh nhân thừa cân, béo phì có tình trạng KSĐH khó khăn hơn nhóm có thể trạng gầy và bình thường Nhóm bệnh nhân không uống rượu, hút thuốc lá có KSĐH tốt cao hơn nhóm còn lại [7]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) về đánh giá kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân ĐTĐ tại Bệnh viện A Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 có KSĐH chưa tốt (HbA1c >7,0%) là 70,6%, KSĐH chưa tốt theo chỉ số glucose máu lúc đói là 67,78% Với chỉ số HbA1c trung bình là 6,9±1,0% nằm ở mức kiểm soát tốt Trong đó, nhóm tuổi 40-50 tuổi có chỉ số HbA1c trung bình cao nhất (7,2±0,9%) và đây cũng là nhóm tuổi có tỷ

lệ KSĐH chưa tốt cao nhất (44%) Glucose máu lúc đói trung bình là 7,9±2,4mmol/l cao hơn so với mức kiểm soát tốt Ở nghiên cứu này, nhóm bệnh nhân kiểm soát tốt đồng thời cả HbA1c và glucose máu lúc đói tương đối thấp, chỉ có 7,2% KSĐH chưa tốt tăng dần theo nhóm tuổi của bệnh nhân: nhóm mắc bệnh <1 năm, 1-5 năm, >5 năm tỷ lệ KSĐH chưa tốt lần lượt là 10%, 28,9%, 40,6% Kết quả KSĐH chưa tốt ở đối tượng nghề làm ruộng là cao nhất, thấp nhất ở nhóm cán bộ hưu trí Bệnh nhân có thể trạng gầy có tỷ lệ KSĐH chưa tốt là 80% [8]

Nghiên cứu của Trần Thanh Hòa (2013) về đánh giá kết quả điều trị bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Bạch Mai cho kết quả tỷ lệ KSĐH chưa tốt ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu là 79,3% Giá trị trung bình của HbA1c là 8,4±1,8%, glucose máu lúc đói trung bình là 9,9±3,4% Cả hai trị số trung bình này đều cao hơn rất nhiều so với mức KSĐH mục tiêu (HbA1c <7,0%, FBG <7,2mmol/l) Tỷ lệ nam giới và nữ giới có KSĐH chưa tốt (HbA1c≥7,0%) tương đương nhau (19,6% và 21,7%)

Tỷ lệ KSĐH chưa tốt ở các nhóm tuổi chênh lệch không đáng kể Việc luyện

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tập thể lực có vai trò trong việc kiểm soát cả glucose máu lúc đói và HbA1c trong nghiên cứu này [5]

Theo kết quả của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2015) thì tỷ lệ bệnh nhân KSĐH chưa tốt theo chỉ số HbA1c là 14,7%, theo glucose máu lúc đói là 32,7% Giá trị HbA1c trung bình là 6,2±1,2%, gluocse máu lúc đói trung bình

là 6,9±2,0mmol/l, cả hai giá trị này đều nằm ở mức KSĐH tốt (HbA1c<7,0%)

Tỷ lệ KSĐH tốt ở nghiên cứu này cao hơn so với các nghiên cứu khác Lý giải cho kết quả này là do bệnh nhân ở nghiên cứu đều là cán bộ cao cấp trong quân đội, được quản lý sức khỏe tốt, được khám sức khỏe định kỳ hàng tháng, được

tư vấn hướng dẫn trong quá trình điều trị bệnh tốt Hơn nữa, sự hiểu biết và tính

kỷ luật trong tuân thủ điều trị giúp cho kết quả KSĐH tốt hơn Nhóm bệnh nhân mắc bệnh ≤5 năm có tỷ lệ KSĐH tốt là cao nhất (66,7%), nhóm 6-10 năm là 6,2% và nhóm mắc bệnh >10 năm là 17,1% Nhóm tuổi 41-60 tuổi, 60-70 tuổi

và >70 tuổi có tỷ lệ KSĐH tốt lần lượt là 40%, 44,8% và 15,2% Nhóm bệnh nhân thừa cân, béo phì KSĐH tốt là 61%, tỷ lệ KSĐH tốt ở nhóm bệnh nhân

có thể trạng gầy chỉ đạt 1,9% Tỷ lệ KSĐH tốt ở nhóm không uống rượu, không hút thuốc lá cao hơn rất nhiều so với nhóm có uống rượu, hút thuốc lá Điều này cho thấy vai trò tác động của rượu, thuốc lá đến việc KSĐH của bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu này [6]

Kết quả nghiên cứu của Phan Thị Lê (2017), tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ đạt mục tiêu điều trị đối với HbA1c là 78,3% [19] Nghiên cứu của tác giả Phù Hạnh Nguyên (2017) ở Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ, bệnh nhân ĐTĐ khi nhập viện có chỉ số HbA1c trung bình rất cao (8,9%±2,4%), thậm chí có bệnh nhân có chỉ số HbA1c lên tới 17% Rất ít bệnh nhân có chỉ số glucose máu và HbA1c ở mức kiểm soát tốt (15,7% đối với glucose máu và 25% đối với HbA1c) [14]

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2

Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tình trạng KSĐH của bệnh nhân ĐTĐ

có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình điều trị và quản lý bệnh ĐTĐ vì các yếu tố này sẽ tác động trực tiếp đến mức độ KSĐH của người bệnh Dưới đây

là phần trình bày tổng quan tóm tắt về một số yếu tố liên quan đến KSĐH ở các nước trên thế giới và Việt Nam

- Tuổi: Nghiên cứu ở Hawaii cho thấy trong tổng số 2.970 bệnh nhân KSĐH kém, hơn hai phần ba (68,5%) tập trung ở nhóm bệnh nhân dưới 35 tuổi [59] Trong khi đó một nghiên cứu ở Malaysia báo cáo tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ

có KSĐH chưa tốt (HbA1c ≥8,0%) đa số thuộc nhóm tuổi 60-69 tuổi (71,3%) Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012), KSĐH tốt nhất ở nhóm đối tượng dưới 40 tuổi (33,3%), kém nhất ở nhóm trên 70 tuổi (67,4%) [7] Nghiên cứu của Nur Sufiza Ahmad và cộng sự (2014) tỷ lệ KSĐH tốt (HbA1c <6,5%) ở nhóm <40 tuổi là 9,5%, nhóm 41-64 tuổi là 21,5% và nhóm

≥65 tuổi là 32,0%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,024 [44]

- Nghề nghiệp: Theo kết quả nghiên cứu của Bế Thu Hà thì mức độ KSĐH chưa tốt (HbA1c ≥7,0%) cao nhất trong nhóm người làm ruộng chiếm 31,4% [4] Nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012), kiểm soát HbA1c tốt nhất ở nhóm cán bộ hưu trí (41,8%), thấp nhất ở nhóm làm ruộng (71,1%) và có sự liên quan giữa nghề nghiệp với mức độ KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ (p<0,05) [7]

- Chỉ số khối cơ thể (BMI): theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương (2015), nhóm bệnh nhân bị thừa cân hoặc béo phì (BMI ≥23 kg/m2) có tỷ lệ KSĐH tốt cao hơn cả (62,0%), so với nhóm bình thường (BMI: 18,5-22,9 kg/m2) chỉ ở mức 36,1% [6] Tuy nhiên, nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012) cho thấy chiều ngược lại, kiểm soát HbA1c tốt ở người bệnh có chỉ số BMI bình thường là 23,1%, và ở nhóm thừa cân, béo phì là 7,4% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [7] Trong khi đó, nghiên cứu của Nur Sufiza Ahmad

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

và cộng sự ở Malaysia báo cáo không có mối liên quan giữa BMI và KSĐH (p=0,714) Tỷ lệ KSĐH tốt ở nhóm có BMI (18,5-22,9 kg/m2) là 19,7%, nhóm

có BMI (23-27,4 kg/m2) là 24,3% còn ở nhóm BMI ≥27 (kg/m2) là 22,8% [44]

- Uống rượu, hút thuốc lá: Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương nhóm bệnh nhân hút thuốc lá có tỷ lệ KSĐH chưa tốt (HbA1c >7,5%) là 37,8% trong khi nhóm không hút thuốc lá chỉ có 4,8%, nhóm không uống rượu có tỷ lệ KSĐH tốt (HbA1c ≤7,5%) là 91,7% trong khi ở nhóm uống rượu tỷ lệ này là 82,8% Có sự liên quan giữa hành vi hút thuốc lá và uống rượu đến KSĐH ở bệnh nhân nghiên cứu với p<0,05 [6] Nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012) cho thấy tỷ lệ KSĐH tốt ở nhóm đối tượng có hút thuốc lá và uống rượu thường xuyên đều rất thấp Nhóm hút thuốc lá KSĐH ở các mức độ tốt là 5,4%, chấp nhận là 5,4% và kém là 84,2% Nhóm thường xuyên uống rượu: mức độ KSĐH mức độ là tốt 0,0%, chấp nhận (3,0%) và kém (97,0%) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) [7]

- Thuốc điều trị: Nghiên cứu của Bế Thu Hà cho thấy bệnh nhân ĐTĐ sử dụng thuốc uống đơn trị liệu có mức KSĐH chưa tốt là 41,2%, trong khi bệnh nhân sử dụng thuốc tiêm insulin thì tỷ lệ KSĐH chưa tốt là 90% Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng insulin đơn trị liệu hoặc phối hợp thuốc có mức KSĐH chưa tốt chiếm tỷ lệ cao khoảng 90% Bệnh nhân sử dụng phối hợp thuốc có KSĐH chưa tốt cao gấp 2,5 lần so với đơn trị liệu Tỷ lệ bệnh nhân có KSĐH chưa tốt khi điều trị bằng insulin cao gấp 3 lần so với bệnh nhân chỉ sử dụng thuốc hạ đường huyết bằng đường uống [4] Nghiên cứu của Nur Sufiza Ahmad và cộng

sự (2014) cho kết quả tỷ lệ KSĐH tốt (HbA1c <6,5%) ở nhóm dùng thuốc đơn trị liệu là 38,2%, ở nhóm kết hợp thuốc điều trị ĐTĐ uống là 20,2%, nhóm kết hợp thuốc điều trị ĐTĐ uống và insulin chỉ có 8,3% KSĐH tốt Những bệnh nhân trong nhóm dùng thuốc đơn trị liệu có khả năng KSĐH cao gấp 6,81 lần

so với nhóm sử dụng insulin kết hợp thuốc điều trị ĐTĐ uống Có mối liên quan giữa sử dụng thuốc và KSĐH (p<0,0001) [44]

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Tuân thủ thuốc điều trị: Nghiên cứu tại Tanzania, tỷ lệ KSĐH chưa tốt (HbA1c ≥7,0%) là 38% ở nhóm bệnh nhân tuân thủ thuốc chưa tốt Tỷ lệ KSĐH chưa tốt ở những bệnh nhân ít tuân thủ thuốc điều trị ĐTĐ là 80,9%, tuân thủ vừa là 61,7% và tuân thủ tốt 60,5% Ở nhóm bệnh nhân tuân thủ điều trị chưa tốt có KSĐH chưa tốt cao gấp 2,1 lần so với bệnh nhân tuân thủ tốt [57] Kết quả nghiên cứu tổng quan hệ thống của Krass cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị dao động từ 38,5 đến 93,1% Chỉ có sáu trong số 27 nghiên cứu (22,2%) báo cáo tỷ lệ tuân thủ 80% trong dân số nghiên cứu [34]

- Chế độ ăn uống, vận động thể lực và giấc ngủ: Theo một nghiên cứu tại Tanzania, 31,2% bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 có mức KSĐH chưa tốt không tuân theo chế độ ăn uống lành mạnh, 77% bệnh nhân không tham gia vận động thể lực một cách tích cực Một nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy chế độ ăn giảm tinh bột có khả năng làm giảm HbA1c và BMI ở những bệnh nhân ĐTĐ tuýp

2 [31] Người thường xuyên tập thể dục thể thao có KSĐH ở mức tốt là 36,2%, trong khi ở nhóm không tập là 3,7% [7]

Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn, thời gian hoạt động thể lực trung bình của người bệnh ĐTĐ tuýp 2 là 139,0 ±38,3 phút/ tuần, chưa đạt theo khuyến cáo của WHO - người trưởng thành từ 18-64 tuổi nên hoạt động thể lực với cường độ vừa phải ít nhất 150 phút/tuần hoặc 75 phút/tuần đối với các hoạt động gắng sức [69] Tỷ lệ người bệnh ĐTĐ tuýp 2 hoạt động đủ 150 phút/tuần

là 36,2%, trong đó nam (41,8%) cao hơn nữ (31,6%) [23] Theo nghiên cứu của Irvine tập thể dục đều đặn làm tăng sức mạnh cơ và giảm huyết sắc tố glycosyl hóa (sự kết hợp giữa glucose và huyết sắc tố), do đó có ý nghĩa lâm sàng đối với những người mắc bệnh ĐTĐ tuýp 2 [29]

Một số nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa giấc ngủ và KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 [51], [35]

- Thời gian mắc bệnh ĐTĐ: Một nghiên cứu ở Hawaii tìm thấy mối liên quan thuận chiều giữa KSĐH chưa tốt và thời gian mắc bệnh Bệnh nhân mắc

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

bệnh ≥10 năm có KSĐH chưa tốt cao gấp 9 lần so với nhóm bệnh nhân mắc bệnh <3 năm [71] Nghiên cứu khác tại Phía Nam Sahara cho kết quả những bệnh nhân bị bệnh 1-3 năm tỷ lệ KSĐH chưa tốt là 58,2% thấp hơn so với nhóm mắc bệnh từ >3 năm (78,5%) [55] Nghiên cứu ở dải Gaza, Palestine cũng cho kết quả tương tự về mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh và KSĐH chưa tốt khi nhóm bệnh nhân bị ĐTĐ >7 năm có tỷ lệ KSĐH chưa tốt là 57,2% (p<0,05) [63]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương (2015) bệnh nhân KSĐH tốt đa số có thời gian mắc bệnh <5 năm chiếm 66,7% [6] Nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012), thời gian mắc bệnh càng lâu kiểm soát glucose máu và HbA1c càng kém Kiểm soát glucose mức tốt ở nhóm phát hiện bệnh dưới 1 năm là 37,5%, nhóm phát hiện bệnh trên 5 năm là 7,5% Kiểm soát HbA1c mức tốt nhóm phát hiện bệnh dưới 1 năm là 48,2%, nhóm phát hiện bệnh trên 5 năm

là 4,7% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05 [7]

- Hội chứng lo âu, trầm cảm: Một số nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy mối liên quan giữa lo âu, trầm cảm và KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 Nghiên cứu của Papelbaum cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân ĐTĐ là 18,6%, trầm cảm có liên quan đến sự kiểm soát ngắn hạn ở bệnh nhân ĐTĐ [40] Kết quả tương tự cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của James E Aikens [26]

- Kiến thức: Nghiên cứu của Islam SM cho thấy bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 ở Bangladesh có kiến thức hạn chế về nguyên nhân, cách quản lý và các yếu tố nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ Theo đó, ở nhóm đối tượng có kiến thức tốt, trung bình, kém có tỷ lệ KSĐH chưa tốt lần lượt là 40,6%, 45,2% và 58,8% Như vậy kiến thức càng kém thì tỷ lệ KSĐH chưa tốt càng cao [30] Nghiên cứu tổng hợp của Li Qi cho thấy hiệu quả rõ rệt của các chương trình can thiệp hỗ trợ truyền thông cho cộng đồng trong việc cải thiện KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp

2 [45]

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Tiền sử gia đình: nghiên cứu của Alzaheb and Altemani (2018) về tỷ lệ

và yếu tố quyết định KSĐH chưa tốt ở người trưởng thành mắc ĐTĐ tuýp 2

ở Ả Rập Saudi cho thấy có74,9% bệnh nhân KSĐH chưa tốt Kết quả phân tích hồi quy logistic cho thấy bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 có tiền sử gia đình mắc bệnh ĐTĐ có nguy cơ KSĐH kém cao hơn gấp 7 lần so với những đối tượng không có tiền sử gia đình mắc ĐTĐ (OR hiều chỉnh =7,38, 95% CI 4,09 -13,31) [52]

- Hiệu quả công tác quản lý điều trị bệnh đái tháo đường: Việc người bệnh được tiếp cận các thông tin về bệnh ĐTĐ và KSĐH, được tư vấn, nhắc nhở thường xuyên về tuân thủ chế độ thuốc, chế độ ăn uống, vận động thích hợp từ thầy thuốc cũng như việc có nguồn thuốc điều trị ổn định, chất lượng tại các cơ

sở quản lý điều trị bệnh ĐTĐ sẽ có tác động tới hiệu quả KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ Nghiên cứu của Hoàng Văn Minh (2014) cho kết quả 18 trạm y tế ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên không được cung cấp đầy đủ các dịch vụ chăm sóc bệnh ĐTĐ [28] Theo nghiên cứu của Võ Đức Toàn, tỷ lệ trạm y tế cung cấp dịch vụ quản lý ĐTĐ là 40,8% Hoạt động tư vấn về các yếu tố nguy

cơ của bệnh ĐTĐ được triển khai hầu hết ở các trạm y tế xã, phường, thị trấn tại tỉnh Thừa Thiên Huế Nội dung thường được tư vấn là tác hại thuốc lá, lạm dụng rượu bia, dinh dưỡng không hợp lý (90%), tư vấn về hoạt động thể lực (79,6%) Có 62,5% số trạm y tế không được trang bị đầy đủ thuốc điều trị ĐTĐ, chỉ có thuốc dạng viên được sử dụng tại đây tuy nhiên tỷ lệ được trang bị thuốc cũng khá thấp: Metformin (33,6%), Gliclazid (28,3%), Insulin dạng tiêm không được cung cấp tại trạm y tế (100%) [21]

Tóm lại, có sự đa dạng của các yếu tố liên quan đến KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2: từ đặc điểm nhân khẩu học, hành vi sống, đến ý thức và mức độ tham gia của người bệnh trong quá trình điều trị Việc xác định các yếu tố liên quan đến KSĐH có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng các giải pháp giúp bệnh nhân ĐTĐ có thể KSĐH tốt hơn tại cộng đồng

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi thuộc vùng trung du - miền núi Đông Bắc, có diện tích tự nhiên 3.562.82 km²; dân số Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu người, trong đó có 8 dân tộc chủ yếu sinh sống đó là Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa và Dao Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị xã Sông Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương Tổng số gồm 180 xã, trong

đó có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du Phan Đình Phùng là phường nằm ở khu vực trung tâm hành chính của thành phố Thái Nguyên Phường có tổng diện tích tự nhiên 270.27ha với 14.305 người và được chia thành 26 tổ dân phố Dân số: toàn phường hiện có 5.263 hộ gia đình với 14.305 nhân khẩu, trong đó nhân khẩu nam là 6.723 người chiếm 47% tổng số dân toàn phường, nữ là 7.582 người chiếm 53% dân số của phường (2014) [13]

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Hình 1 Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 điều trị ngoại trú, cư trú tại phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên

- Sổ theo dõi bệnh của đối tượng nghiên cứu

* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:

- Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán xác định ĐTĐ tuýp 2

- Bệnh nhân đã được xét nghiệm HbA1c ít nhất 1 lần

- Không mắc các bệnh trầm trọng liên quan đến khả năng tham gia của đối tượng (như ung thư, tim mạch, bệnh tâm thần, thần kinh)

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bệnh nhân không trả lời các thông tin

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 6/2019 đến hết tháng 4/2020

- Địa điểm: phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Cỡ mẫu:

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu trong nghiên cứu mô tả cắt ngang:

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2

2 2 / 1

) 1 (

.

d

p p

Thay vào công thức tính cỡ mẫu, n = 241

Mặc dù cỡ mẫu chúng tôi tính được là 241 Tuy nhiên, trên thực tế qua điều tra sổ theo dõi điều trị bệnh của bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 tại phường Phan Đình Phùng, chúng tôi thu thập được khoảng hơn 350 bệnh nhân Để đảm bảo

về vấn đề y đức, tăng tính đại diện và tính giá trị của nghiên cứu Chúng tôi đã điều tra toàn bộ số bệnh nhân ĐTĐ tại phường đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu Tổng số bệnh nhân đã tham gia nghiên cứu là 345 người

- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu có chủ đích

2.5 Chỉ tiêu nghiên cứu

2.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá thực trạng kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu

2.5.1.1 Nhóm chỉ tiêu về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

- Tỷ lệ ĐTNC theo giới (nam, nữ)

- Tỷ lệ ĐTNC theo các nhóm tuổi:< 45; 45-54; 55-64; >64 (tuổi)

- Tỷ lệ ĐTNC là người dân tộc kinh và dân tộc khác

- Tỷ lệ ĐTNC theo nhóm trình độ học vấn

- Tỷ lệ ĐTNC theo các nhóm nghề nghiệp

- Tỷ lệ ĐTNC có dấu hiệu lo âu, trầm cảm

2.5.1.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá mức độ kiểm soát đường huyết

- Tỷ lệ ĐTNC theo kiến thức về bệnh ĐTĐ và KSĐH

- Tỷ lệ ĐTNC theo thái độ về KSĐH

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Tỷ lệ ĐTNC theo tuân thủ chế độ thuốc điều trị ĐTĐ

- Tỷ lệ ĐTNC có KSĐH tốt theo HbA1c (HbA1c <7,0%)

- Tỷ lệ ĐTNC có KSĐH tốt theo glucose máu lúc đói (FPG <7,2 mmol/l)

2.5.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá các yếu tố liên quan đến kiểm soát đường huyết

- Mối liên quan giữa kiến thức với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa thái độ với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ thuốc với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa độ tuổi với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa thời gian mắc bệnh với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa tiền sử gia đình với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa hành vi sử dụng rượu bia, hút thuốc lá với KSĐH

- Mối liên quan giữa phương pháp sử dụng thuốc với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa trầm cảm và lo âu với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa vận động thể lực và mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa thời gian ngủ với mức độ KSĐH

- Mối liên quan giữa tần suất sử dụng một số loại thực phẩm với KSĐH

2.6 Định nghĩa biến số

STT Biến số,

Phương pháp thu thập

1 Tuổi

Xác định từ lúc sinh đến thời điểm nghiên cứu theo năm dương lịch Phân nhóm tuổi theo sự phân chia nguy cơ của thang điểm FINDRISC chia 4 nhóm [73] :

<45, 45-54, 55-64, >64

Rời rạc Phỏng vấn

trực tiếp

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

trực tiếp

3 Dân tộc

Dân tộc được xác định bởi cơ quan có thẩm quyền được chia dân tộc Kinh và dân tộc khác

2, học hết cấp 3, cao đẳng/ đại học trở lên

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ngày uống ít nhất 2 chén (khoảng 100ml), loại rượu hay uống là bằng gạo hoặc bằng sắn hoặc tuần uống trên 7 lần, (1 lần uống ít nhất là 1 cốc bia 200ml, hoặc 1 cốc rượu vang 120ml, hoặc 30ml rượu mạnh).Có 2 giá trị là không và có đang uống rượu

Có và không Tần suất:

Thường xuyên: >2 lần/ tháng Không thường xuyên: 1-2 lần/

Liên tục

Quan sát sổ theo dõi bệnh

12 HbA1c

Chỉ số Glycohemoglobin đánh giá mức độ KSĐH của bệnh nhân ĐTĐ chia làm 2 mức độ: - Kiểm soát HbA1c tốt (HbA1c

<7,0%)

Liên tục

Sử dụng sổ theo dõi bệnh

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Kiểm soát HbA1c chưa tốt (HbA1c ≥7,0 %)

Trong nghiên cứu, chúng tôi thu thập thông tin về chỉ số HbA1c

ở lần xét nghiệm gần đây nhất của ĐTNC

13

Glucose

máu lúc

đói (FBG)

Chỉ số glucose máu lúc đói

Đường huyết kiểm soát tốt khi FPG = 4,4-7,2 mml/l ; Đường huyết kiểm soát chưa tốt khi FPG ≥7,2 mml/l

Trong nghiên cứu, chúng tôi thu thập thông tin về chỉ số FBG ở lần xét nghiệm gần đây nhất của ĐTNC

Liên tục

Sử dụng sổ theo dõi bệnh

Liên tục

Tham khảo sổ theo dõi bệnh

16 Cân nặng

Trọng lượng đối tượng, tính bằng kilogam, làm tròn đến 1 chữ số thập phân

Liên tục

Tham khảo sổ theo dõi bệnh

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Đơn trị liệu: Bệnh nhân được sử dụng insulin đơn độc hoặc một thuốc uống hạ glucose máu (nhóm Sulfonylurea hoặc nhóm Biguanid)

Phối hợp thuốc: Bệnh nhân được

sử dụng phối hợp insulin với ít nhất một thuốc uống hạ glucose máu hoặc phối hợp ít nhất hai thuốc uống hạ glucose máu

Danh mục

Quan sát sổ theo dõi bệnh

19 Thang đo kiến thức

Phần câu hỏi bao gồm 13 câu về kiến thức bệnh ĐTĐ và KSĐH Mỗi đáp

án đúng: 1 điểm, đáp án sai: 0 điểm Tổng điểm tối đa là 28 điểm

Đánh giá kiến thức: chia 3 mức độ

Tốt: ≥ 21 điểm

Khá: 14-20 điểm

Trung bình, kém: 0-13 điểm

20 Thang đo thái độ

Phần câu hỏi bao gồm 9 câu về thái độ của ĐTNC về KSĐH Câu trả lời gồm 5 mức độ: rất không đồng ý, không đồng ý, trung lập, đồng ý và rất đồng

ý Từ câu 1 đến câu 6, có 5 mức độ tương đương từ 1 đến 5 điểm; riêng 3 câu

7, 8, 9 cho điểm ngược lại từ 5 đến 1 Tổng điểm tối đa là 45 điểm

Đánh giá thái độ: chia 2 mức độ

Tốt: ≥ 32 điểm

Chưa tốt: 0-31 điểm

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

21 Thang đo tuân thủ chế độ thuốc điều trị (MAQ-Medication adherence questionaire Morisky 8) [72]

Phần câu hỏi bao gồm 8 câu về việc tuân thủ uống thuốc điều trị của ĐTNC Mỗi câu hỏi có 2 đáp án: Có hoặc không Mỗi đáp án có: 1 điểm, đáp

án không: 0 điểm, trừ câu số 5 (có: 0 điểm, không: 1 điểm) Tổng điểm tối đa

22 Thang đo trầm cảm (CES-D) [64]

Phần câu hỏi bao gồm 20 câu, mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn (không bao giờ hoặc hiếm khi, đôi khi hoặc rất ít khi, thỉnh thoảng, rất hay xảy ra hoặc hầu hết thời gian) với thang điểm từ 0 đến 3 điểm, riêng các câu 4, 8, 12 và 16 cho điểm ngược lại 3 đến 0 Tổng điểm tối đa là 60 điểm

Đánh giá trạng thái trầm cảm: chia 2 mức độ

Không trầm cảm: <16 điểm

Có dấu hiệu trầm cảm: ≥16 điểm

23 Thang đo lo âu (GAD-7) [66]

Phần câu hỏi bao gồm 7 câu, mỗi câu trả lời gồm 4 đáp án (không ngày nào,

vài ngày, hơn một nửa số ngày, gần như hằng ngày) tương ứng với điểm từ 0 đến 3 điểm Tổng điểm tối đa là 21 điểm

Cách đánh giá:

Không lo âu: 0-4 điểm

Có dấu hiệu lo âu: ≥ 5 điểm

24 Thang đo hoạt động thể lực

Chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi về hoạt động thể lực quốc tế (bản rút gọn)

đã được chuẩn hóa, gồm có 7 câu (International Physical Activity

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Questionnaire - Short Form) Ngoài ra, một câu hỏi về thời gian ngủ trung bình mỗi ngày cũng được xây dựng Cường độ hoạt động thể lực được đánh giá dựa theo MET (metabolic equivalent): là số năng lượng tiêu thụ của một người không vận động; 1 MET = 3,5 ml oxy/kg/phút, và được tính toán dựa theo từng hoạt động: nặng (8,0 MET), trung bình (4,0 MET) và đi bộ (3,3 MET) [62] Hoạt động thể lực của mỗi cá nhân là tổng các hoạt động nói trên (quy đổi ra MET-phút/tuần) và được phân loại theo 3 mức độ: nhẹ (tam phân vị thứ nhất), trung bình (tam phân vị thứ hai) và cao (tam phân vị thứ ba) Thời gian ngủ được chia thành ba nhóm: <6, 6-7, >7 tiếng/ngày

25 Thói quen ăn uống kể từ khi được chẩn đoán ĐTĐ được điều tra dựa trên bộ câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm của nghiên cứu EPIC-Norfolk [56], tập trung chủ yếu các nhóm thực phẩm chính ở Việt Nam Mỗi nhóm thực phẩm được cho điểm theo tần suất tiêu thụ và quy ra số lần hoặc số bữa trong một ngày hoặc tuần, và chia thành hai nhóm dựa vào giá trị trung vị

2.7 Công cụ thu thập số liệu

- Bộ câu hỏi điều tra có cấu trúc

- Sổ theo dõi bệnh của bệnh nhân

2.8 Kỹ thuật thu thập số liệu

Danh sách bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 điều trị ngoại trú, cư trú tại phường Phan Đình Phùng thành phố Thái Nguyên được chúng tôi tham khảo tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên Trước khi tiến hành thu thấp

số liệu, chủ nhiệm đề tài liên hệ trạm y tế phường Phan Đình Phùng xin ý kiến

về cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu, tập huấn cho nhóm cộng tác viên về bộ câu hỏi điều tra để đảm bảo việc thu thập số liệu được đầy đủ và chính xác Nhóm nghiên cứu bao gồm chủ nhiệm đề tài và nhóm cộng tác viên đã đến từng

hộ gia đình có bệnh nhân ĐTĐ tại phường Phan Đình Phùng theo danh sách đã

có để phỏng vấn thu thập số liệu Số liệu nghiên cứu được thu thập như sau:

* Phỏng vấn trực tiếp ĐTNC để thu thập các thông tin về:

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

- Thông tin chung của đối tượng như: tên, tuổi, địa chỉ, giới, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, thời gian mắc bệnh…

- Tiền sử gia đình: có bố, mẹ, anh, chị, em ruột bị ĐTĐ tuýp 2

- Kiến thức về bệnh ĐTĐ và KSĐH

- Thái độ về KSĐH

- Hoạt động thể chất của đối tượng nghiên cứu

- Hành vi hút thuốc lá, thuốc lào

- Hành vi sử dụng rượu, bia

- Tự theo dõi đường huyết tại nhà

- Tuân thủ thuốc điều trị bệnh

- Các triệu chứng lo âu, trầm cảm

- Tần suất sử dụng các loại thực phẩm chính

* Thu thập thông tin từ sổ theo dõi bệnh của bệnh nhân:

- Cân nặng/chiều cao

- Một số xét nghiệm sinh hóa khác

Bảng 2.1 Phân loại thể trạng dinh dưỡng dựa theo thang phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới dành cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Ngày đăng: 01/07/2021, 22:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Xuân Ái, Trương Thụy Kiều Oanh và Nguyễn Văn Tập (2016), Tuân thủ điều trị đái tháo đường của người bệnh tại khoa nội tim mạch – nội tiết Bệnh viện Bình Thạnh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuân thủ điều trị đái tháo đường của người bệnh tại khoa nội tim mạch – nội tiết Bệnh viện Bình Thạnh
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Ái, Trương Thụy Kiều Oanh và Nguyễn Văn Tập
Năm: 2016
3. Lê Thị Hương Giang và Hà Văn Như (2013), "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bệnh ĐTĐ type 2 của người bệnh đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện 198 năm 2013", Y học thực hành. 893(11/2013), tr. 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bệnh ĐTĐ type 2 của người bệnh đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện 198 năm 2013
Tác giả: Lê Thị Hương Giang và Hà Văn Như
Năm: 2013
4. Bế Thu Hà (2009), Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn, Trường Đại học Y dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: Bế Thu Hà
Năm: 2009
5. Trần Thanh Hòa (2013), Đánh giá hiệu quả quản lý bệnh nhân đái tháo đường type 2 ngoại trú tại khoa khám chữa bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả quản lý bệnh nhân đái tháo đường type 2 ngoại trú tại khoa khám chữa bệnh theo yêu cầu Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Trần Thanh Hòa
Năm: 2013
6. Nguyễn Thị Lan Hương (2015), Khảo sát đặc điểm kiểm soát HbA1c của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2015, Trường Đại học kỹ thuật Y tế Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát đặc điểm kiểm soát HbA1c của bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương
Năm: 2015
7. Lê Xuân Khởi (2012), Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012 Đại học Y Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Tác giả: Lê Xuân Khởi
Năm: 2012
8. Nguyễn Thị Ngọc Lan (2011), Đánh giá kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện A Thái Nguyên, Đại học Y dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện A Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Lan
Năm: 2011
9. Nguyễn Văn Lành (2014), Thực trạng bệnh đái tháo đường, tiền đái tháo đường ở người Khmer tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bệnh đái tháo đường, tiền đái tháo đường ở người Khmer tỉnh Hậu Giang và đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Lành
Năm: 2014
10. Lê Thị Nhật Lệ (2018), Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2017, Hội nghị khoa học kỹ thuật lần thứ 35, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2017
Tác giả: Lê Thị Nhật Lệ
Năm: 2018
11. Phùng Văn Lợi (2019), Khả năng tự tiêm Insulin và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi điều trị ngoại trú, truy cập ngày-202028/5, tại trang web http://tump.edu.vn/post/kha-nang-tu-tiem-insulin-va-mot-so-yeu-to-lien-quan-tren-benh-nhan-dai-thao-duong-typ-2-cao-tuoi-dieu-tri-ngoai-tru Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng tự tiêm Insulin và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi điều trị ngoại trú
Tác giả: Phùng Văn Lợi
Năm: 2019
13. Viện khoa học xã hội Việt Nam (2009), Địa chí Thái Nguyên, Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thái Nguyên
Tác giả: Viện khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia
Năm: 2009
14. Phù Hạnh Nguyên (2017), Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2016, Đại học Tây Đô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát việc sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2016
Tác giả: Phù Hạnh Nguyên
Năm: 2017
15. Hoàng Thị Thu và cộng sự (2016), Khảo sát nhận thức và nhu cầu thông tin của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị tại Bệnh viện Quân y 103, Báo cáo Hội nghị khoa học chào mừng 65 năm truyền thống BVQY103, chủ biên, Bệnh viện Quân Y 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội nghị khoa học chào mừng 65 năm truyền thống BVQY103
Tác giả: Hoàng Thị Thu và cộng sự
Năm: 2016
16. Nguyễn Hồng Phát và cộng sự (2018), "Đánh giá sự tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế", Hội nghị khoa học dược bệnh viện Hà Nội mở rộng năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự tuân thủ sử dụng thuốc ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế
Tác giả: Nguyễn Hồng Phát và cộng sự
Năm: 2018
17. Nguyễn Thị Anh Đào và cộng sự (2014), "Khảo sát về sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại khoa nội tiết Bệnh viện Thống Nhất", Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 18(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát về sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại khoa nội tiết Bệnh viện Thống Nhất
Tác giả: Nguyễn Thị Anh Đào và cộng sự
Năm: 2014
18. Nguyễn Trung Kiên và cộng sự (2010), "Nghiên cứu kiến thức, thực hành về bệnh đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 tại Bệnh viện Đa khoa Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu năm 2010", Y học thực hành. 765(5), tr.20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kiến thức, thực hành về bệnh đái tháo đường của bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 tại Bệnh viện Đa khoa Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu năm 2010
Tác giả: Nguyễn Trung Kiên và cộng sự
Năm: 2010
19. Phan Thị Lê và cộng sự (2017), "Kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2016-2017", Y học dự phòng. 27(8/2017), tr. 154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều trị ngoại trú bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2016-2017
Tác giả: Phan Thị Lê và cộng sự
Năm: 2017
20. Nguyễn Thị Thắm và các cộng sự. (2018), "Thực trạng kiểm soát glucose máu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đại học Y dược Hải Phòng", Y học dự phòng.28(9/2018), tr. 162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiểm soát glucose máu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đại học Y dược Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Thị Thắm và các cộng sự
Năm: 2018
21. Võ Đức Toàn (2019), "Thực trạng quản lí bệnh đái tháo đường tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế", Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lí bệnh đái tháo đường tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Võ Đức Toàn
Năm: 2019
22. Nguyễn Bá Trí (2016), Thực trạng bệnh đái tháo đường ở người 45-69 tuổi và một số yếu tố liên quan tại thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy,tỉnh Kon Tum năm 2016, Đề tài cấp ngành, Sở Y tế tỉnh Kon Tum, Kon Tum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bệnh đái tháo đường ở người 45-69 tuổi và một số yếu tố liên quan tại thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy,tỉnh Kon Tum năm 2016
Tác giả: Nguyễn Bá Trí
Năm: 2016

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w