1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI

147 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Về Lịch Sử Thế Giới Hiện Đại
Tác giả TS. Lê Tùng Lâm
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Lịch Sử Thế Giới Hiện Đại
Thể loại Tài Liệu Học Tập
Năm xuất bản 2020
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. THÔNG TIN CHUNG (4)
    • 1. Thông tin tổng quát về học phần (4)
    • 2. Mô tả học phần (4)
    • 3. Mục tiêu học phần (4)
    • 4. Tài liệu tham khảo (5)
    • 5. Cách đánh giá học phần (6)
    • 6. Hướng dẫn Bài thu hoạch (6)
  • II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ GỢI Ý LÀM TIỂU LUẬN (7)
  • Chương 1 LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ 1918 ĐẾN 1945 (8)
    • 1.1. Nước Nga và Liên Xô từ năm 1918 đến năm 1945 (8)
      • 1.1.1. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 (8)
      • 1.1.2. Công cuộc xây dựng Chính quyền Xô viết (14)
      • 1.1.3. Liên Xô từ 1922-1941 (17)
    • 1.2. Các nước châu Âu và Mỹ từ năm 1918 đến năm 1945 (21)
      • 1.2.1. Sự hình thành trật tự thế giới mới (21)
      • 1.2.2. Sự phát triển của CNTB Âu – Mĩ (1924-1929) (23)
      • 1.2.3. Khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) và hệ quả (28)
    • 1.3. Quan hệ quốc tế và Chiến tranh Thế giới thứ hai (1939-1945) (30)
      • 1.3.1. Quan hệ quốc tế (1933-1939) (30)
      • 1.3.2. Chiến tranh thế giới thứ Hai (1939-1945) (33)
  • Chương 2 LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ 1945 ĐẾN 1991 (44)
    • 2.1. Chiến tranh lạnh và Quan hệ quốc tế từ 1945-1991 (44)
      • 2.1.1. Sự hình thành trật tự hai cực Yalta (44)
      • 2.1.2. Liên Hợp Quốc (46)
      • 2.1.3. Chiến tranh lạnh bùng nổ và Sự đối đầu Đông – Tây (1947 – 1991) (49)
    • 2.2. Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu từ 1945-1991 (57)
      • 2.2.1. Liên Xô (1945-1991) (57)
      • 2.2.2. Các nước Đông Âu (1945-1991) (64)
      • 2.2.3. Các tổ chức trong hệ thống XHCN (68)
    • 2.3. Các nước tư bản từ 1945-1991 (72)
      • 2.3.1. Nước Mỹ (1945-1991) (72)
      • 2.3.2. Nhật Bản (1945-1991) (75)
      • 2.3.3. Các nước Tây Âu (1945-1991) (77)
      • 2.3.4. Các nước tư bản từ 1973-1991 (79)
      • 2.3.4. Liên minh Châu Âu (EU) (80)
    • 2.4. Các nước châu Á, châu Phi và Mĩ Latin từ 1945-1991 (84)
      • 2.4.1. Một số vấn đề về Phong trào giải phóng dân tộc (84)
      • 2.4.2. Phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á (85)
      • 2.4.3. Phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi (99)
      • 2.4.4. Phong trào giải phóng dân tộc ở Khu vực Mỹ Latinh (102)
  • Chương 3 LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ 1991 ĐẾN NAY (105)
    • 3.1. Trật tự thế giới mới (105)
    • 3.2. Liên bang Nga từ năm 1991 đến nay (108)
    • 3.3. Nước Mỹ từ năm 1991 đến nay (112)
    • 3.4. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và vấn đề toàn cầu hóa (123)
      • 3.4.1. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ (123)
      • 3.4.2. Toàn cầu hóa và tác động (125)
    • 3.5. Châu Á từ năm 1991 đến nay (130)
      • 3.5.1. Sự trỗi dậy của Trung Quốc (130)
      • 3.5.2. Sự trỗi dậy của một số quốc gia châu Á khác (134)
      • 3.5.3. Quan hệ quốc tế ở châu Á – Thái Bình Dương thế kỉ XXI 140 TÀI LIỆU THAM KHẢO (141)

Nội dung

Khoa sư phạm KHXH Trường Đại Học SG, Lịch sử thế giới hiện đại. giáo trình lưu hành nội bộ.Khoa sư phạm KHXH Trường Đại Học SG, Lịch sử thế giới hiện đại. giáo trình lưu hành nội bộ.Khoa sư phạm KHXH Trường Đại Học SG, Lịch sử thế giới hiện đại. giáo trình lưu hành nội bộ.Khoa sư phạm KHXH Trường Đại Học SG, Lịch sử thế giới hiện đại. giáo trình lưu hành nội bộ

THÔNG TIN CHUNG

Thông tin tổng quát về học phần

- Tên học phần: Lịch sử Thế giới hiện đại

- Mã số học phần: LS3

- Điều kiện tiên quyết: NMX

+ Số tiết thảo luận/bài tập: 5/5

+ Số tiết tự nghiên cứu: 60

Mô tả học phần

Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1917 đến nay chứng kiến nhiều biến đổi quan trọng, bao gồm chiến tranh, thành tựu văn hóa, giáo dục, và khoa học công nghệ, cùng với xu hướng toàn cầu hóa Học phần này tập trung vào những vấn đề cốt lõi như sự ra đời, phát triển và suy vong của chủ nghĩa xã hội, sự tiến triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại, cũng như tình hình các nước Á, Phi, và Mỹ Latinh trong bối cảnh hiện đại Ngoài ra, nó còn đề cập đến quan hệ quốc tế, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và các thách thức toàn cầu hiện nay.

Mục tiêu học phần

Học viên cần hệ thống lại và cập nhật, bổ sung thêm những kiến thức quan trọng trong tiến trình Lịch sử Thế giới hiện đại như:

Chủ nghĩa xã hội (CNXH) có hệ thống lý luận vững chắc và những vấn đề cơ bản cần được nghiên cứu Sự sụp đổ của CNXH ở châu Âu chỉ phản ánh sự thất bại của mô hình xã hội, nhưng bản chất tốt đẹp của CNXH vẫn cần được phát huy Việt Nam tiếp tục coi CNXH là mục tiêu hướng tới trong quá trình phát triển.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã trải qua sự phát triển mạnh mẽ với những đặc điểm nổi bật, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, tham vọng của các cường quốc đã làm thay đổi đáng kể bản đồ chính trị thế giới, ảnh hưởng đến cấu trúc quyền lực và mối quan hệ quốc tế.

Những vấn đề quan trọng của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Khu vực Mĩ Latin từ sau cách mạng Tháng Mười Nga đến 2000

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa hiện nay đang tạo ra những thách thức và cơ hội mới cho các quốc gia và dân tộc Việc hiểu rõ tác động của xu thế đa cực và toàn cầu hóa là rất quan trọng để các quốc gia có thể thích ứng và phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu ngày càng thay đổi.

Phát triển kỹ năng phân tích, đánh giá và cập nhật những nội dung liên quan đến tiến trình Lịch sử thế giới hiện đại

Có thể áp dụng kiến thức và kỹ năng tìm kiếm tài liệu để giải quyết vấn đề và giảng dạy hiệu quả nội dung lịch sử thế giới từ năm 1918 trở đi trong chương trình Lịch sử và Địa lý lớp 9 THCS.

Hình thành ý thức, trách nhiệm tự học của cá nhân thông qua việc tự học tập, tự nghiên cứu ở nhà

Trong quá trình bồi dưỡng và học tập, cần có thái độ nghiêm túc và chuyên nghiệp, đặc biệt là trong tổ chức và làm việc nhóm, nhằm rèn luyện tư duy khoa học Đồng thời, cần nhận thức đúng về sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người, cũng như những bài học kinh nghiệm, cơ hội và thách thức mà Việt Nam đang đối mặt trong công cuộc đổi mới hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn Anh Thái (Cb, 2015), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội

2 Ngô Minh Oanh (cb, 2017), 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga và Chủ nghĩa xã hội: Từ hiện thực đến quy luật lịch sử, NXB Đại học Quốc gia TPHCM

3 Demofenovich, Bogaturov Aleksey (2015), Lịch sử quan hệ quốc tế, Đặng

Quang Chung dịch, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội

1 Đỗ Thanh Bình (2010), Lịch sử Phong trào giải phóng dân tộc thế kỉ XX-Một cách tiếp cận, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội

2 Trần Thị Vinh, Lê Văn Anh (2011), Lịch sử thế giới hiện đại, Q.1, Q.2, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

Cách đánh giá học phần

5.1 Thang điểm và cách tính điểm đánh giá Điểm đánh giá được tính theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân Điểm học phần là điểm trung bình chung theo trọng số tương ứng của Điểm quá trình (Điểm đánh giá quá trình) và Điểm thi kết thúc học phần (Điểm đánh giá cuối kỳ)

Bài đánh giá Tỷ lệ

- Chuyên cần, thái độ học tập;

- Báo cáo thuyết trình, tham gia thảo luận, làm việc nhóm,

Bài kiểm tra/ bài thảo luận

2 Đánh giá cuối kỳ Bài thu hoạch cuối kỳ 60% Bài thu hoạch

Hướng dẫn Bài thu hoạch

Bài thu hoạch là tài liệu thể hiện kiến thức và kỹ năng mà học viên đã thu nhận từ Học phần Lịch sử Thế giới trong chương trình bồi dưỡng giáo viên dạy môn Lịch sử và Địa lí ở THCS, diễn ra trong thời gian 02 tuần.

Chương trình bồi dưỡng đánh giá mức độ kết quả học tập của học viên, đồng thời kiểm tra khả năng áp dụng kiến thức và kỹ năng đã học vào thực tiễn công việc.

+ Đề tài viết bài thu hoạch theo nội dung yêu cầu của giảng viên

Bài viết cần có độ dài từ 20 đến 25 trang A4, không bao gồm trang bìa, tài liệu tham khảo và phụ lục Sử dụng font chữ Times New Roman, kích thước 13, với khoảng cách dòng là 1,5 Các lề được thiết lập như sau: lề trái 3,5 cm, lề trên, dưới và phải là 2,5 cm.

Văn phong và cách viết của đề tài cần phải rõ ràng và khoa học, với các phân tích và đánh giá cụ thể Ý kiến đưa ra cần được hỗ trợ bởi số liệu minh chứng rõ ràng để tăng tính thuyết phục và độ tin cậy của nội dung.

+ Thể hiện thái độ cầu thị, nghiêm túc: không sao chép, coppy bài của người khác Đảm bảo đúng yêu cầu của bài thu hoạch.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ GỢI Ý LÀM TIỂU LUẬN

1 Sự thay đổi bản đồ chính trị châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ nhất

2 Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933

3 Trung Quốc từ 1978 đến nay

5 Cộng hòa Nam Phi 1948 – nay

6 cách mạng Cuba 1959 và tình hình Cuba từ 1959 – nay

7 Cộng hòa Nam Phi 1961 – nay

8 Chiến tranh thế giới thứ hai 1939 – 1945

9 Liên minh châu Âu 1957 – nay

10 Xu thế toàn cầu hóa và những hệ quả của nó

11 Chính sách đối ngoại của Hoa Kì (1945-1991)

12 Chính sách đối ngoại của Hoa Kì (1991-2008)

13 Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đầu thế kỉ XXI

14 Chính sách “Trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc đầu thế kỉ XXI

15 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản (1945-1991)

16 Chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ 1991-nay

17 Cuộc các mạng khoa học công nghệ và tác động của nó

18 Sự phát triển kinh tế của Hoa Kì (1945-1973) và Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

19 Sự phát triển kinh tế của Nhật Bản (1950-1973) và Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

20 Sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc (1961-1979) và Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

21 Sự phát triển kinh tế của Ấn Độ (1950-2000) và Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ 1918 ĐẾN 1945

Nước Nga và Liên Xô từ năm 1918 đến năm 1945

1.1.1 Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 a Những tiền đề của cách mạng

Vào đầu thế kỷ XX, Nga đã phát triển một nền công nghiệp lớn mạnh với sự hình thành của các tổ chức độc quyền, chủ yếu dưới hình thức xanhđica Những tổ chức này đã nắm giữ quyền kiểm soát trong nhiều ngành công nghiệp chủ chốt như dầu mỏ, than đá, luyện kim, và đường sắt, đồng thời cũng ảnh hưởng đến lĩnh vực tiền tệ và tín dụng.

Giai cấp tư bản độc quyền Nga đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế - tài chính của đất nước, gắn bó chặt chẽ với chính quyền Nga hoàng Họ nắm giữ các vị trí chủ chốt trong viện Đuma quốc gia và các cơ quan nhà nước khác, từ đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính sách đối nội và đối ngoại của chính phủ Mặc dù Nga là một nước tư bản phát triển trung bình, nhưng chủ nghĩa tư bản ở đây phát triển muộn và ngày càng lạc hậu, phụ thuộc vào các nước phương Tây.

Nga là một nước quân chủ chuyên chế, nơi toàn bộ quyền lực chính trị thuộc về Nga hoàng Chế độ quân chủ này, đại diện cho giai cấp địa chủ, nắm giữ mọi đặc quyền chính trị và lợi ích kinh tế Chính quyền Nga hoàng, liên kết chặt chẽ với giai cấp tư sản, đã thực hiện sự bóc lột và áp bức tàn bạo đối với các tầng lớp nhân dân lao động, tước đoạt quyền tự do dân chủ và đàn áp mọi phong trào đấu tranh đòi dân chủ.

1 Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 và những thành tựu trong công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô (1922-1945)

2 Những biến đổi về kinh tế, chính trị và bản đồ chính trị châu Âu sau

Chiến tranh thế giới thứ nhất

3 Cuộc đại khủng hoảng kinh tế (1929-1933) và những hệ quả

4 Quan hệ quốc tế giữa các nước trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai

Đến năm 1917, cuộc chiến đã cướp đi sinh mạng của 1,5 triệu người và làm bị thương hơn 4 triệu người, gây nên sự phẫn nộ sâu sắc trong nhân dân Tình hình bi thảm này đã trở thành giọt nước tràn ly, đẩy nước Nga gần hơn tới cuộc cách mạng Chế độ Nga hoàng được đặc trưng bởi sự áp bức của phong kiến và quân phiệt, với sự hiện diện của lực lượng cảnh sát, mật thám và hiến binh đông đảo.

Chế độ Nga hoàng đã biến nước Nga thành một nhà tù cho các dân tộc, với hơn 100 dân tộc khác nhau chiếm 57% dân số Nhân dân các dân tộc không phải Nga phải chịu đựng hai hình thức áp bức: áp bức dân tộc từ chế độ Nga hoàng và áp bức xã hội từ các chúa đất và tư sản địa phương Chính quyền Nga hoàng thực hiện chính sách phân biệt chủng tộc, gây chia rẽ và thù hận giữa các dân tộc, đồng thời cấm giảng dạy và xuất bản tài liệu bằng tiếng mẹ đẻ Trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc, áp bức dân tộc càng trở nên nghiêm trọng hơn.

Sự phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc giữa các tầng lớp và giai cấp, đặc biệt là mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Giai cấp vô sản Nga, mặc dù chỉ chiếm khoảng 10% dân số, nhưng lại có nhiều ưu điểm nổi bật về chất lượng và khả năng cách mạng Họ là bộ phận giác ngộ và tiên tiến nhất, đặc biệt là đội ngũ công nhân đại công nghiệp tập trung tại các xí nghiệp lớn Quá trình chuyển đổi sang chủ nghĩa tư bản đã nâng cao trình độ tập trung của giai cấp công nhân Nga Giai cấp này có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ, đã trải qua nhiều thử thách qua các cuộc cách mạng, đặc biệt là cuộc Cách mạng năm 1905, từ đó tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu Đặc biệt, họ đã thành lập Đảng Bônsêvích do V.I Lênin lãnh đạo, được trang bị lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác, có khả năng tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân Hơn nữa, giai cấp vô sản Nga còn duy trì mối liên hệ chặt chẽ với nông dân lao động và các dân tộc bị áp bức.

Vì vậy, giai cấp công nhân Nga là giai cấp đi tiên phong và có đầy đủ khả năng lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội trong nước

Nông dân là lực lượng cách mạng quan trọng, chiếm 80% dân số và 65% hộ nông thôn là bần nông, chịu áp bức nặng nề với ít hoặc không có ruộng đất Lịch sử cho thấy nông dân Nga đã nhiều lần nổi dậy để đấu tranh cho quyền lợi của mình Các dân tộc bị áp bức ở vùng biên cũng là đồng minh quan trọng của giai cấp công nhân Nga, với phần lớn là nông dân nghèo khổ Trong bối cảnh đế quốc chủ nghĩa, mâu thuẫn dân tộc và cuộc đấu tranh giải phóng ngày càng trở nên gay gắt.

Chủ nghĩa tư bản độc quyền và các quan hệ tiền TBCN đã tạo ra sự kết hợp giữa những hình thái kinh tế tiên tiến và lạc hậu, khiến Nga trở thành điểm nóng của những mâu thuẫn sâu sắc trong chủ nghĩa đế quốc.

Mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản

Mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân

Mâu thuẫn giữa đế quốc Nga và các dân tộc bị áp bức

Mâu thuẫn giữa đế quốc Nga và các nước đế quốc Tây Âu

Cuộc cách mạng xã hội chỉ có thể thành công khi có đủ tiền đề kinh tế - xã hội khách quan và điều kiện chủ quan, nhưng cần thiết phải có một tình thế cách mạng Cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914) đã tạo ra bối cảnh thuận lợi cho sự bùng nổ của cuộc cách mạng này.

1918) đã dẫn tới sự xuất hiện một tình thế cách mạng đó ở nước Nga b Cách mạng dân chủ tư sản

Tháng Hai – bước quá độ lên cách mạng XHCN ở Nga

Sau 3 năm theo đuổi cuộc chiến tranh Thế giới thứ nhất, nước

Nga đã lâm vào một tình trạng khủng hoảng kinh tế và xã hội - chính trị trầm trọng

Chiến tranh kéo dài đã làm lộ rõ sự lạc hậu về kinh tế và quân sự của Nga, gây ra những mâu thuẫn xã hội gay gắt Nền công nghiệp không đáp ứng được yêu cầu chiến tranh, trong khi quân đội thiếu thốn trang bị và vũ khí, dẫn đến những thất bại nặng nề Hậu quả của chiến tranh là 1,5 triệu người chết và 4-5 triệu người bị thương, trong khi nền kinh tế quốc dân kiệt quệ, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp đình trệ Vận tải đường sắt không còn đủ khả năng chuyên chở hành khách và hàng hóa, thất nghiệp gia tăng, và nguồn cung thực phẩm tại các thành phố lớn trở nên thất thường Nạn đói diễn ra nghiêm trọng ở nhiều vùng nông thôn, kích thích phong trào đấu tranh của nhân dân ngày càng mạnh mẽ.

Đầu năm 1917, thủ đô Pêtrôgrát diễn ra làn sóng đấu tranh chống chính quyền Vào ngày 23-2 (8-3 theo công lịch), nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ, các công nhân nữ từ các nhà máy đã xuống đường biểu tình theo lời kêu gọi của Đảng bộ Bônsêvích Pêtrôgrát Hơn 128 nghìn công nhân từ 50 nhà máy tham gia bãi công với khẩu hiệu "Đả đảo chiến tranh".

Làn sóng đấu tranh chống chế độ chuyên chế đang ngày càng mạnh mẽ, với khẩu hiệu "Đả đảo chế độ chuyên chế" và biểu tượng "Bánh mì" Trong bối cảnh này, lực lượng quân đội - chỗ dựa cuối cùng của chế độ - đang có dấu hiệu dao động và dần nghiêng về phía quần chúng nổi dậy.

Ngày 27-2, Công nhân chiếm các kho vũ khí và trang bị cho mình Binh lính ở thủ đô ngả hẳn sang phía nhân dân Với khí thế mạnh mẽ và lực lượng áp đảo, quần chúng khởi nghĩa đánh chiếm các công sở, nhà ga xe lửa, trung tâm bưu điện, các nhà giam và giải phóng tù chính trị Các bộ trưởng và tướng tá bị bắt giam Quần chúng khởi nghĩa đã làm chủ tình hình ở thủ đô

Cuộc Cách mạng dân chủ tư sản tháng Hai năm 1917 đã lật đổ chế độ Nga hoàng chuyên chế, đưa nước Nga trở thành một nhà nước cộng hòa dân chủ Tuy nhiên, sau Cách mạng tháng Hai, tình hình chính trị ở Nga trở nên phức tạp với sự tồn tại của hai chính quyền song song.

+ Chính phủ tư sản lâm thời

+ Xô viết đại biểu công nhân, nông dân và binh lính

Các nước châu Âu và Mỹ từ năm 1918 đến năm 1945

Sau Thế chiến I, tình hình thế giới trải qua nhiều biến động quan trọng, đặc biệt là quan hệ quốc tế và bản đồ chính trị châu Âu Các nước tư bản phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng cũng đối mặt với cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và những hậu quả nghiêm trọng từ Thế chiến II.

1.2.1 Sự hình thành trật tự thế giới mới

Cuộc Thế chiến I kết thúc với thắng lợi của phe Hiệp ước, bao gồm Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản và Italia Tuy nhiên, tất cả các quốc gia đều rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế và chính trị Để phân chia thành quả chiến thắng và quyết định số phận các nước bại trận, các đế quốc đã tổ chức Hội nghị ở Versailles, Pháp và Washington, Mỹ Các quyết định từ những hội nghị này đã tạo ra một trật tự thế giới mới theo hệ thống V-O (Versailles - Washington).

Sự hình thành Hệ thống Versaillès

Sau khi Chiến tranh thế giới kết thúc, các nước thắng trận đã tổ chức hội nghị tại Versailles, Pháp, vào ngày 18-1-1919 để phân chia lại thế giới Hội nghị diễn ra trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến đổi lớn.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã chấm dứt sự thống trị duy nhất của chủ nghĩa tư bản trên toàn cầu và kích thích phong trào cách mạng thế giới, đe dọa sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản Do đó, các quốc gia đế quốc đã tìm mọi biện pháp để tiêu diệt nước Nga Xô viết.

Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất đã gây ra sự tàn phá nặng nề cho các quốc gia tham chiến, dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong tương quan lực lượng giữa các nước tư bản Hoa Kỳ đã vươn lên trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu và là chủ nợ chính của các nước châu Âu, trong khi các đế quốc còn lại, dù thắng hay thua, đều chịu ảnh hưởng tiêu cực và suy yếu.

Hội nghị có sự tham gia của đại biểu từ 27 quốc gia, trong đó ba cường quốc Mỹ, Anh và Pháp nắm quyền quyết định Mỗi nước đế quốc đều mang tham vọng và mục đích riêng, dẫn đến những mâu thuẫn nội bộ, khiến hội nghị diễn ra trong bầu không khí căng thẳng và quyết liệt.

Pháp muốn tận dụng sức mạnh lục quân để khẳng định vị thế bá chủ tại châu Âu, đồng thời làm suy yếu Đức, đối thủ chính của mình Nước này yêu cầu Đức trả lại các vùng Andat và Floren, đồng thời có ý định chiếm vùng Xarơ Pháp cũng muốn cắt giảm lãnh thổ của Đức, buộc nước này phải bồi thường chiến tranh lớn và chịu sự kiểm soát về kinh tế và quân sự.

Anh và Mĩ mong muốn kiềm chế sự phụ thuộc của Đức, đồng thời giữ cho Đức có sự cân bằng với Pháp Họ cũng muốn phục hồi chủ nghĩa quân phiệt của Đức như một công cụ để tấn công Liên Xô Vấn đề Đức là mối quan tâm hàng đầu của các cường quốc.

Nhật Bản củng cố địa vị ở Trung Quốc, Nhật Bản cũng đã dần xâm nhập vào

Trung Quốc đã ký hiệp ước 21 điểm với Nhật Bản, công nhận quyền lợi và ảnh hưởng của Nhật tại Trung Quốc, đồng thời lôi kéo nước này tham gia vào cuộc chiến Nhật Bản phát động thuyết "Châu Á của người châu Á", thực chất là để thúc đẩy lợi ích của mình Theo hiệp ước, Nhật Bản thừa hưởng mọi quyền lợi của Đức tại vùng Sơn Đông, và còn có ý định chiếm lĩnh vùng Viễn Đông của Nga, mở rộng ảnh hưởng ra toàn khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Italy hy vọng sẽ mở rộng lãnh thổ của mình xuống xuống vùng Địa Trung Hải và Ban Căng, mở rộng xuống vùng Bắc Phi

Các nước đế quốc đã tổ chức lại thế giới theo lợi ích của mình, dẫn đến những tranh cãi kéo dài suốt nửa năm Lênin đã châm biếm về sự hỗn loạn này khi nói rằng "Chúng cãi cọ nhau từ 5 tháng nay và bầy thú dữ đó cắn cấu nhau loạn xạ đến nỗi chỉ còn lại cái đuôi." Dù không một nước nào hài lòng với kết quả, các thoả hiệp và văn kiện ký kết đã hình thành hệ thống hòa ước Versailles mới.

Hội Quốc Liên được thành lập vào ngày 25-1-1919 nhằm đảm bảo hòa bình và an ninh thế giới, đồng thời duy trì hiện trạng theo hệ thống Versailles Mục tiêu chính của Hội là phát triển hợp tác giữa các quốc gia để bảo vệ hòa bình và an ninh cho tất cả các dân tộc.

Hoạt động của HQL tập trung vào giám sát việc tái giảm quân bị, bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị tạm thời, đồng thời giải quyết các vấn đề tranh chấp quốc tế Những quan hệ quốc tế trái với quy ước sẽ bị hủy bỏ, và các quốc gia vi phạm sẽ phải chịu các biện pháp trừng phạt kinh tế và tài chính.

Hội Quốc liên được thành lập nhằm duy trì trật tự thế giới tư bản theo sắp đặt của các nước Đồng minh chiến thắng tại hội nghị Versailles Đây là kết quả của sự dung hòa mâu thuẫn trong phe Đồng minh về việc phân chia lại thế giới, chủ yếu giữa bốn cường quốc Mỹ, Anh, Pháp và Nhật Do đó, Hội Quốc liên thực chất chỉ là công cụ của chủ nghĩa Đồng minh để bảo vệ quyền lợi giữa các quốc gia này, dù được che đậy bằng những thuật ngữ trang trọng.

Hội nghị Versailles kết thúc mà không có quốc gia nào hài lòng với kết quả, đặc biệt là Mỹ, khi thượng viện Mỹ từ chối thông qua hòa ước Versailles Mâu thuẫn giữa Mỹ với Anh và Nhật Bản trở nên căng thẳng hơn Do đó, vào tháng 11 năm 1921, Mỹ triệu tập hội nghị Washington với sự tham gia của Anh, Pháp, Italy, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Trung Quốc.

Phái đoàn của các cường quốc châu Âu và Mỹ tại Hội nghị Washington được dẫn dắt bởi những nhân vật nổi tiếng như Bá tước Banphua (Balfour) từ Anh, Bơriăng (Briand) và Xarô (Sarraut) từ Pháp, cùng Hingơ (Hughes) từ Mỹ Dù Mỹ cố gắng tạo dựng hình ảnh tích cực cho hội nghị, mục đích thực sự của họ là củng cố vị thế toàn cầu và tại khu vực Thái Bình Dương, đồng thời làm tổn hại quyền lợi của các đối thủ, đặc biệt là Anh và Nhật.

Hội nghị đã kí được ba bản hiệp ước quan trọng:

Quan hệ quốc tế và Chiến tranh Thế giới thứ hai (1939-1945)

Sự hình thành ba ”lò lửa” chiến tranh

Lò lửa chiến tranh ở Viễn Đông

Nhật Bản là quốc gia đầu tiên có ý định phá vỡ hệ thống Vecxai - Oasinhtơn bằng sức mạnh quân sự Từ năm 1927, Thủ tướng Nhật Tanaca đã trình bày kế hoạch chiến tranh toàn cầu lên Thiên hoàng, nhấn mạnh rằng chiến tranh cần thiết để xóa bỏ những bất công từ các Hiệp ước Oasinhtơn (1921 - 1922) và đề xuất xâm lược Trung Quốc, mở rộng ra toàn thế giới Sau hai lần thất bại ở Sơn Đông, vào ngày 18 - 9 - 1931, Nhật Bản đã tạo ra "Sự kiện đường sắt Nam Mãn Châu" như cái cớ để chiếm Đông Bắc Trung Quốc, nơi tập trung 77% vốn đầu tư của Nhật tại đây Đây chính là bước khởi đầu cho kế hoạch xâm lược quy mô lớn của Nhật Sau khi chiếm được vùng này, quân Nhật đã thành lập "Nhà nước Mãn Châu độc lập" với chính phủ bù nhìn do Phổ Nghi đứng đầu, biến Đông Bắc Trung Quốc thành thuộc địa và là bàn đạp cho các cuộc xâm lược quân sự tiếp theo.

Việc Nhật Bản xâm lược Đông Bắc Trung Quốc đã ảnh hưởng đến quyền lợi của các nước tư bản phương Tây, đặc biệt là Mỹ, nhưng Mỹ cùng với Anh và Pháp đã nhân nhượng cho hành động này với hy vọng Nhật sẽ tiêu diệt phong trào cách mạng ở Trung Quốc và tấn công Liên Xô Điều này khiến Nhật Bản phớt lờ phản đối từ phái đoàn điều tra Lytton của Hội Quốc liên Ngày 24 tháng 2 năm 1933, Hội Quốc liên thông qua báo cáo công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Mãn Châu, không công nhận "nước Mãn Châu" do Nhật dựng lên, nhưng vẫn đề nghị duy trì "những quyền lợi đặc biệt của Nhật" ở Trung Quốc, mà không tuyên bố hành động của Nhật là xâm lược hay áp đặt hình phạt nào Trước sức mạnh quân sự của Nhật, Hội Quốc liên chỉ sử dụng sức mạnh tinh thần, nhưng không đạt được kết quả Nhật Bản tiếp tục mở rộng xâm lược, chiếm đóng hai tỉnh Nhiệt Hà và Hà Bắc, và vào ngày 24 tháng 3 năm 1933, Nhật Bản tuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên để tự do hành động, phá vỡ nguyên trạng ở Đông Á theo Hiệp ước Oasinhtơn.

Năm 1922 đánh dấu sự tan vỡ đầu tiên của Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn, và không dừng lại ở đó, vào năm 1937, Nhật Bản đã bắt đầu mở rộng chiến tranh trên toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc.

Sự hình thành lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu

Vào tháng 1 năm 1933, khi Hitler lên nắm quyền ở Đức, châu Âu đã chứng kiến sự xuất hiện của một cuộc chiến tranh thế giới nguy hiểm Lực lượng quân phiệt Đức đã nuôi dưỡng ý chí phục thù từ sau khi thua trận và chấp nhận hòa ước Vécxai Sự sụp đổ của chính phủ Muylơ và sự lên nắm quyền của Bơruyninh vào đầu năm 1930 đã đánh dấu một giai đoạn chuyển biến trong chính sách nội bộ và đối ngoại của Đức Xu hướng thiết lập một chính quyền "mạnh" và nền chuyên chính dân tộc chủ nghĩa cực đoan đã trở thành nhu cầu cấp thiết cho giới quân phiệt Đảng Quốc xã, với Hitler là "người hùng", được xem là lực lượng có khả năng ngăn chặn "tình trạng hỗn loạn và chủ nghĩa bônsêvích" Ngày 30 tháng 1 năm 1933, Tổng thống Hinđenbua đã bổ nhiệm Hitler làm Thủ tướng, mở ra một thời kỳ đen tối trong lịch sử nước Đức.

Việc Hitler lên cầm quyền không chỉ là sự kiện của Đức mà còn đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử quan hệ quốc tế Đối mặt với Hitler, chủ nghĩa "xoa dịu" của Anh, sự trì trệ của Pháp và chủ nghĩa trung lập của Mỹ trở thành những hiện tượng tiêu biểu của thời kỳ này Từ đó, Hitler từng bước thực hiện việc thanh toán hệ thống Véc-xai và chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh thế giới mới nhằm thiết lập quyền thống trị toàn cầu.

Bước đầu tiên của Hítle trong kế hoạch chinh phục châu Âu là chiếm đoạt các vùng lãnh thổ phía đông, đặc biệt là Nga Ông cũng không loại trừ khả năng xâm lược phương Tây, với Pháp là "kẻ thù truyền thống" Hítle đề ra kế hoạch Âu-Á và Âu- Phi để mở rộng lãnh thổ ra châu Á, châu Phi và châu Mỹ Sau khi lên nắm quyền, ông tái vũ trang nước Đức và rút khỏi các ràng buộc quốc tế để chuẩn bị cho chiến tranh Vào tháng 10 năm 1933, Đức Quốc xã rời Hội nghị giải trừ quân bị và tuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên Ngày 16 tháng 3 năm 1935, Hítle vi phạm Hoà ước Véc-xai bằng cách công bố đạo luật cưỡng bức tòng quân và thành lập 36 sư đoàn Ba tháng sau, Đức ký Hiệp định hải quân với Anh, cho phép xây dựng hạm đội, vi phạm Hiệp ước Véc-xai Hítle còn tìm cách thủ tiêu những chính trị gia phương Tây cản trở kế hoạch của ông Ngày 7 tháng 3 năm 1936, ông ra lệnh tái chiếm vùng Rênani, công khai vi phạm các hiệp ước và tiến sát biên giới Pháp, tạo ra một tình hình chiến tranh nguy hiểm ở châu Âu.

Lò lửa chiến tranh thứ hai ở châu Âu

Mặc dù thắng trận, Italia không hài lòng với sự phân chia thế giới theo Hoà ước Vecxai và khao khát mở rộng ảnh hưởng ở Balkan, chiếm thuộc địa ở châu Phi và kiểm soát Địa Trung Hải Để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế 1929-1933, chính quyền phát xít Italia quân sự hoá nền kinh tế và thực hiện chính sách bành trướng xâm lược Sau khi thất bại trong việc ký kết Hiệp ước tay tư vào tháng 6-1933, Mussolini bắt đầu chuẩn bị cho kế hoạch xâm lược và thực hiện đạo luật quân sự hoá từ năm 1934 Quan hệ giữa Italia và Đức căng thẳng do mâu thuẫn lợi ích ở Balkan; tuy nhiên, Italia đã ký Hiệp ước Stresa với Anh và Pháp vào tháng 4-1935 nhằm chống Đức, nhưng liên minh này nhanh chóng tan vỡ khi Anh ký hiệp ước riêng với Đức về hạn chế hải quân vào tháng 6-1935 Ngày 3-10-1935, Italia xâm lược Ethiopia, dẫn đến việc Hội Quốc Liên lên án và áp đặt trừng phạt kinh tế, nhưng không ngăn cản được hành động của Italia Sau khi chiếm Ethiopia, Italia ký Nghị định thư tháng 10-1936 với Đức, đánh dấu sự hình thành trục Berlin-Roma, và cả hai nước bắt đầu phối hợp trong các cuộc đối đầu ở châu Âu, bao gồm việc can thiệp vào nội chiến Tây Ban Nha (1936-1939).

Vào ngày 25 tháng 11 năm 1936, Đức và Nhật Bản đã ký kết Hiệp ước chống Quốc tế cộng sản, đánh dấu sự hình thành mối liên hệ giữa hai lò lửa chiến tranh ở châu Âu và Viễn Đông Hiệp ước này cam kết phối hợp các hoạt động chính trị đối ngoại và các biện pháp chống lại Liên Xô cũng như Quốc tế cộng sản, đồng thời nhằm chống lại Anh, Pháp và Mỹ Italia tham gia hiệp ước vào ngày 6 tháng 11 năm 1937, chính thức thiết lập Trục phát xít Berlin - Roma - Tokyo Sự kiện Italia rút khỏi Hội Quốc Liên vào ngày 3 tháng 12 năm 1937 đã hoàn tất quá trình chuẩn bị cho các nước trong khối Trục tự do hành động, thực hiện kế hoạch chiến tranh bành trướng lãnh thổ.

Những hoạt động quân sự trước chiến tranh

Vào cuối những năm 30 quan hệ quốc tế trở nên vô cùng phức tạp và căng thẳng

Sự chuyển hoá mâu thuẫn giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới sự hình thành hai khối đế quốc đối địch nhau:

+ Khối Trục phát xít do Đức, Italia, Nhật Bản cầm đầu

+ Khối đế quốc do Anh, Pháp, Mĩ cầm đầu

Trong khi khối Trục phát xít đã chuẩn bị cho kế hoạch chiến tranh từ đầu những năm 30, khối đế quốc Anh, Pháp và Mỹ chỉ bắt đầu quá trình này vào cuối thập niên 30 Mặc dù hai khối đế quốc mâu thuẫn gay gắt về thị trường và quyền lợi, họ vẫn thống nhất trong mục đích chống lại Liên Xô.

Xô, tiêu diệt Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, thể hiện qua chính sách thoả hiệp và dung túng của các cường quốc tư bản với chủ nghĩa phát xít Điều này nhằm chống lại Liên Xô và đè bẹp phong trào cách mạng toàn cầu.

Trong bối cảnh quan hệ quốc tế, cuộc đấu tranh giữa ba lực lượng chính: Liên Xô, Khối Trục phát xít và Khối đế quốc Anh, Pháp, Mỹ đang diễn ra ngày càng căng thẳng Các cuộc chiến tranh cục bộ đã lan rộng từ châu Âu sang châu Á, từ Thượng Hải đến Gibranta, khiến chiến tranh thế giới trở nên khó tránh khỏi.

1.3.2 Chiến tranh thế giới thứ Hai (1939-1945) a Từ Hội nghị Muy-nich đến Thế chiến bùng bổ

Hội nghị Muy-ních tháng 9 năm 1938 đánh dấu sự nhượng bộ của các cường quốc đế quốc trước sự bành trướng của Đức Quốc xã Đến thời điểm này, Đức đã hoàn tất chuẩn bị cho chiến tranh, trở thành một cường quốc công nghiệp và quân sự hàng đầu châu Âu Vào tháng 3 năm 1938, Đức thôn tính Áo và thông qua đạo luật sáp nhập, vi phạm rõ ràng Hệ thống Hòa ước Versailles Hành động này của Hitler không gặp phải sự phản kháng đáng kể từ các cường quốc phương Tây, khi Anh chỉ thị không khuyến khích Áo kháng cự và Pháp có những phản ứng yếu ớt.

Sau khi chiếm áo, Đức đã lên kế hoạch thôn tính Tiệp Khắc, một vị trí quan trọng trong chiến lược thống trị châu Âu Hitle đã nêu ra "vấn đề người Đức ở vùng Xuyđét", nơi có khoảng 3,2 triệu người Đức sinh sống Sau nhiều căng thẳng, Hitle yêu cầu cắt vùng Xuyđét khỏi Tiệp Khắc, tuyên bố đây là yêu sách cuối cùng về lãnh thổ của ông ở châu Âu Các cường quốc tư bản phương Tây tiếp tục chính sách thoả hiệp, gây áp lực buộc Tiệp Khắc chấp nhận yêu sách này, dẫn đến làn sóng phản đối mạnh mẽ trong dư luận quốc tế, bao gồm cả Anh, Pháp, Tiệp Khắc và Liên Xô.

Liên Xô đã nhiều lần bày tỏ sự sẵn sàng hỗ trợ Tiệp Khắc, đưa ra các biện pháp cụ thể trong Hội nghị liên tịch với Pháp và Tiệp Khắc Đồng thời, Liên Xô đã tập trung quân đội ở biên giới phía Tây và đặt quân trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu Mặc dù Liên Xô đề xuất Hội Quốc Liên thảo luận về các biện pháp bảo vệ Tiệp Khắc, nhưng tất cả các đề nghị này đã bị các chính phủ Anh và Pháp từ chối.

Ngày 29 - 9 - 1938, những người đứng đầu các chính phủ Anh, Pháp, Đức và Italia đã tham dự Hội nghị Muyních (Đức) để quyết định số phận của Tiệp Khắc Đại biểu Tiệp Khắc không được mời tham dự, chỉ được triệu tập đến để nghe kết quả Hiệp ước Muyních qui định Tiệp Khắc phải cắt toàn bộ vùng Xuyđét (trong vòng 10 ngày) cho Đức và phải cắt cho Ba Lan, Hunggari những vùng lãnh thổ đã được xác định trước đó (trong thời hạn 3 tháng) Trước áp lực của Anh và Pháp, chính phủ Tiệp Khắc chấp nhận Hiệp ước Mu yních, theo đó, Tiệp Khắc mất đi khoảng 1/4 dân số, 1/5 lãnh thổ với nhiều công trình quân sự quan trọng Để đổi lại, Hítle đã kí với Anh bản Tuyên bố không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Anh Sau đó, ngày 6 - 12 - 1938, Hiệp định không xâm lược Pháp - Đức cũng được kí kết tại Pari

LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ 1945 ĐẾN 1991

LỊCH SỬ THẾ GIỚI TỪ 1991 ĐẾN NAY

Ngày đăng: 30/06/2021, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w