Qua lời kể của những người đã từng có thời gian sống và làm việc cùng nhà văn Nam Cao, thì dưới các bản thảo của mình, ngoài bút danh Nam Cao nhà văn còn còn ký rất nhiều bút danh khác n[r]
Trang 1Giai thoại về Tản Đà
Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm 1888, mất năm 1939,
ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây Quê ông ở gần núi Tản sông Đà, nên ông lấy hiệu là Tản Đà Ông thông minh, học chữ Hán giỏi, nhưng thi mấy khoa không đỗ, sinh ra chán nản Sau ông bỏ nghề thi
cử, chuyên làm thơ, làm báo Thơ ca của ông khá gần gũi với thơ ca dân gian, có một nghệ thuật đặc biệt điêu luyện, được nhiều người ưa thích Tương truyền Tản Đà rất thích ăn rau sắng, nhất là loại rau sắng chùa Hương.
Nhiều lần ông đã ca tụng thứ rau này trong thơ ca của mình.Khoảng năm Nhâm Tuất (1922) ông ở trong một hoàn cảnh rất túng bấn, đến dịp hội chùa Hương
18 tháng 3 ông không đi được Ngồi nhà nhớ hội chùa, nhớ rau sắng, ông ngâm bài ca tự tình rằng:
Muốn ăn rau sắng chùa Hương, Tiền đò ngại tốn con đường ngại xa Mình đi ta ở lại nhà, Cái dưa thì khú, cái cà thì thâm
Sau đó bài thơ được phổ biến trên báo.Cuối tháng 3 năm ấy, ông bỗng nhận được một bưu kiện gửi đến, không đề là của ai Mở xem thì là một bó rau sắng chùa Hương còn xanh tươi, kèm thêm mảnh giấy con đề 4 câu thơ rằng:
Kính dâng rau sắng chùa Hương, Tiền đò đỡ tốn, con đường đỡ xa, Không đi thời gửi lại nhà, Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.
Ký tên: Đỗ Trang nữ.Nhà thơ vừa cảm động, vừa lấy làm lạ không biết món quà của ai Với trí óc đầy mơ mộng, ông gọi ngay người cho quà là "người tình nhân không quen biết" Ông không biết gửi lời cảm tạ về đâu, nên đành làm một bài thơ đăng lên báo vào mục Truyện thế gian
Bài thơ như sau:
Mấy lời cảm tạ tri âm Đồng bang là nghĩa, đồng tâm là tình Đường xa rau vẫn còn xanh, Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào Yêu nhau xa cách càng yêu, Dẫu rằng suông nhạt còn nhiều chứa chan,
Trang 2Nước non khuất nẻo ngư nhàn,
Tạ lòng xin mượn "thế gian" đưa tình.
Giai thoại về nhà văn Nguyễn Tuân
Chủ Nhật, 23/10/2011 09:23
Cho bác “chen” với
Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân có thói quen đến uống bia ở quầy bia Cổ Tân Bấy giờ bia còn là loại hiếm nên đôi khi nhà văn cũng phải xếp hàng như mọi người và bởi vậy
mà ông được chứng kiến không ít cảnh “chen ngang” Lần ấy, nhà văn già rất ngạc nhiên khi thấy một chú bé - tay xách một cái can to - ở đâu bỗng chạy đến, lách vào đứng ngay trước mặt ông Nhà văn nắm lấy vai chú bé, hỏi ngay:
- Này, cháu làm gì thế?
Đứa bé ngước mắt nhìn ông già rồi trả lời hết sức thản nhiên:
- Thưa bác, cháu xếp hàng mua bia cho bố cháu
- Thế thì - nhà văn già cúi xuống đứa bé - cháu hãy nhìn kỹ bác đây này: Bác già rồi Đầu bác hói, tóc bác bạc, cằm bác có râu Nhớ chưa?
- Dạ thưa bác, cháu nhớ rồi - Lần này đứa bé trả lời có vẻ ngần ngại Song nó vẫn băn khoăn - Nhưng thưa bác, nhớ thế để làm gì ạ?
Nhà văn già điềm nhiên trả lời:
- À, để rồi ngày mai nhỡ bác có đến sau thì nhớ cho bác “chen ngang” với nhé
Đứa bé im lặng, đỏ bừng mặt Hình như nó đã hiểu
Tình bạn Nguyễn Tuân - Ngô Tất Tố
Nhà văn Nguyễn Tuân sinh năm 1910, so với nhà văn Ngô Tất Tố (sinh năm 1894) thì thuộc thế hệ “đàn em”, nhưng sinh thời, hai ông đã từng có những kỷ niệm rất mật thiết với nhau, như bạn bè đồng trang lứa
Tác giả Vang bóng một thời có lần nhớ lại: Hồi ấy (quãng những năm ba mươi), nhiều
đêm Ngô Tất Tố thường ngồi ở toà soạn một báo nọ trong góc phố Hàng Da để viết bài Nguyễn Tuân trẻ trai thường hay đi chơi về khuya nên thỉnh thoảng lại tạt qua đây ngủ nhờ Bao giờ cũng vậy, trông thấy bộ dạng Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố lại vui vẻ hỏi:
“Thế nào, có vui và đông lắm không? Thôi bác thức, tôi đi ngủ đây” Và Nguyễn Tuân tâm sự: “Nhiều đêm về oi ả quá, tôi chỉ muốn ngủ, còn viết gì thì viết, mai hãy hay Nhìn những trang viết dở của bác Tố trên bàn, tự nhiên trong người thấy đứng đắn trở lại Và ngồi vào trước tờ giấy trắng, vừa ngáp vừa nhìn ông bạn vong niên ngon giấc sau khi đã viết một số trang kia”
Đấy là một kỷ niệm với Ngô Tất Tố lúc ông còn sống, trong đó Nguyễn Tuân không hề phủ nhận vai trò “động viên” tinh thần của bậc đàn anh trong quá trình sáng tác
Sau khi Ngô Tất Tố mất (1954), năm 1962, Nguyễn Tuân có viết lời giới thiệu cho
cuốn Tắt đèn tái bản, ông được trả nhuận bút tới 500 đồng Giới xuất bản cho đấy là
mức “tuyệt trần cao của loại văn đề tựa” (vì theo Nguyễn Tuân cho biết, phở lúc bấy giờ
Trang 3chỉ ba hào một bát) Chưa hết, khi vào vai Chánh tổng trong phim Chị Dậu (chuyển thể
từ tiểu thuyết Tắt đèn), ngoài thù lao vai diễn, Nguyễn Tuân càng có thêm nhiều quần
chúng biết đến Ông kể lại: “Đi trên hè phố, nhiều người tôi không quen nhưng nhìn tôi với nụ cười cảm tình với một nhân vật màn ảnh họ vừa nhận ra”
Đối với Nguyễn Tuân, ông có niềm vui thật trọn vẹn khi nhớ về tình bạn giữa ông và Ngô Tất Tố: Một tình bạn buổi ban đầu đến với văn chương, một tình bạn trong những năm kháng chiến gian khổ, một tình bạn trên trang sách mà ông viết lời giới thiệu và một tình bạn trên những thước phim mà ông tham gia một cách tâm huyết
Giai thoại làng văn
Nguyễn Tuân & Nguyên Hồng
Nguyên Hồng đến thăm Nguyễn Tuân Hai cụ bày rượu ra uống, bày bàn cờ ra chơi
Ngồi cả buổi, hai cụ bàn về chuyện thời thế, chuyện văn chương rất tâm đắc nhưng cả hai không ai đụng đến quân cờ
Nậm rượu ngon đã cạn, thức nhắm đã vơi, bỗng Nguyên Hồng cầm quân cờ đánh chát một cái xuống bàn, thét to:
- Chiếu tướng!
Nguyễn Tuân giơ cả hai tay lên trời:
- Thua!
Xuân
Hoàng
quên con
Nhà thơ Xuân
Hoàng đưa con đến
bệnh viện khám bệnh Khi cháu vào phòng khám rồi, anh lững thững tản bộ trước sân Bất chợt có người bạn đi qua trông thấy, rủ anh nhảy lên xe đạp về nhà mình uống rượu đọc thơ, anh đi liền
Tàn bữa rượu, ra về đã quá trưa, Xuân Hoàng thấy mình quên quên một cái gì Thò tay vào túi thấy chìa khóa xe, anh nhớ mình để xe ở bệnh viện
Trang 4Đến bệnh viện, anh thản nhiên lấy xe đạp về nhà Thấy vợ ở nhà, anh nghĩ: “Sao
bà ấy về sớm nhỉ?” Bà vợ thấy anh về, liền hỏi:
- Con đâu? Anh đưa nó đi khám bệnh cơ mà!
Xuân Hoàng chợt tỉnh:
- Ồ nhỉ! Chết cha Có ông bạn rủ đi đọc thơ, thế là quên biến!
Trở lại bệnh viện không thấy con đâu, anh hốt hoảng đạp xe đi khắp thị xã tìm con, chiều mới về Đến nhà, thấy con đang nằm ngủ Thì ra khám bệnh xong, không thấy bố, nó đã khôn ngoan nhờ bác sĩ gọi điện cho mẹ ở Tỉnh hội Phụ nữ sang đón
Bà vợ giấu kín việc này để cho ông chồng đãng trí một bài học
Biên tập là cái gì?
Nhà văn Nguyễn Quỳnh là biên tập viên NXB Kim Đồng đi thăm bạn ở Vĩnh Phúc Bất ngờ có chuyện gấp, ông phải về lúc gần nửa đêm
Đến bến Chèm vừa nửa đêm Bến vắng tanh vắng ngắt May quá, gặp một ông
cụ giữ ngô, nhà văn hỏi đường đến nhà người chèo đò của hợp tác xã Nghe gọi, mắt nhắm mắt mở, ông lái đò dậy thắp đèn rồi đòi xem giấy công tác Thấy giấy ghi: “Đồng chí Nguyễn Quỳnh, biên tập viên nhà xuất bản Kim Đồng”, ông càu nhàu:
- Biên tập là cái đ gì mà đêm phải sang sông?
Nguyễn Quỳnh nghiêm mặt:
- Sao ông lại nói thế? Ông không đọc thơ Tố Hữu: “Nửa đêm biên tập diệt đồn
à?”(Thực ra là: “nửa đêm bôn tập ”).
Ông lái đò vui vẻ:
- Em ít đọc thơ Vâng, mời bác xuống bến
Thơ tặng tổ thơ
Năm ấy tổ thơ
báo Văn Nghệ chỉ có
nhà thơ Vĩnh Mai và
Xuân Quỳnh Xuân
Trang 5Quỳnh gọi Vĩnh Mai là “bố” xưng “con” Ít lâu sau, nhà thơ Phạm Hổ được bổ sung vào tổ thơ Phạm Hổ bị bệnh hen Tổ thơ xem ra yếu
Chế Lan Viên không tiện nói thẳng ra điều đó, ông tặng tổ thơ mấy vần lục bát nghịch ngợm:
Tổ thơ một
Bố già lẩn thẩn, con còn ngô nghê
Lại thêm Phạm Hổ mới về
Hổ gì hổ giấy khò khè cả đêm!
Thứ trưởng ôm vai tôi
Nhà thơ Trần Lê Văn có thời gian được điều về làm việc ở Ty Văn hóa tỉnh H
Một hôm, thứ trưởng Cù Huy Cận về thăm ty Đi qua phòng văn nghệ, thấy Trần
Lê Văn, Huy Cận bắt tay rồi ôm vai dạo quanh sân đọc gần chục bài thơ mới viết Các trưởng phó ty nhìn cảnh ấy rất bực mình
Mấy ngày sau, trong cuộc họp cơ quan, một anh trưởng phòng phê bình Trần Lê Văn:
- Anh là cái thá gì mà dám ôm vai thứ trưởng!
Từ tốn, Trần Lê Văn cải chính:
- Không ạ, thứ trưởng ôm vai tôi chứ tôi không dám ôm vai thứ trưởng
Thật như bịa
Anh em văn nghệ sĩ,
sau đợt chỉnh huấn,
viết bản tự kiểm
thảo Nhà văn
Nguyên Hồng sau
khi viết được vài
trang, nghỉ tay rít
một hơi thuốc lào Ông đến sau lưng nhà văn Nguyễn Công Hoan nhìn vào tập
giấy trắng của bạn Ngoài mấy chữ “Bản tự kiểm thảo” viết nắn nót, ngồi nửa
Trang 6buổi sáng, Nguyễn Công Hoan chưa viết được chữ nào Nguyên Hồng cười khà khà:
- Người ta bảo mỗi tối ông viết được vài ba chục trang tiểu thuyết, sao lần này ông viết chậm thế?
Nguyễn Công Hoan hóm hỉnh:
- Viết tiểu thuyết là bịa như thật cho nên nó nhanh Còn thứ này muốn viết nhanh thì phải viết thật như bịa cho nên khó ơi là khó!
NHỮNG BÚT DANH CỦA NHÀ VĂN NAM CAO
Nhà văn Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, quê ở xã Đại Hoàng, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam Ông là một trong những gương mặt tác giả tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam - một nhà văn hiện thực lớn của Việt Nam, một nhà nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu lớn nhất thế kỷ XX Bạn đọc từ lâu đã coi “Sống mòn”, “Chí Phèo”, “Lão Hạc”, “Đôi mắt”… như những “file nén” chứa đầy giá trị nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo sâu sắc được ký dưới bút danh Nam Cao mà ít người hiểu được ý nghĩa của bút danh này Và chắc rất nhiều bạn đọc cũng không biết ngoài “Nam Cao” ra, nhà văn còn sử dụng bút danh nào khác? Yêu mến nhà văn và muốn có một cách tiếp cận phong phú hơn về cây bút hiện thực – nhân đạo tiêu biểu của văn học dân tộc, bài viết này hi vọng sẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị xung quanh việc chọn bút danh của nhà văn Nam Cao.
Qua lời kể của những người đã từng có thời gian sống và làm việc cùng nhà văn Nam Cao, thì dưới các bản thảo của mình, ngoài bút danh Nam Cao nhà văn còn còn ký
rất nhiều bút danh khác như Nam, Cao, Thúy Rư, Nhiêu Khê, Nguyệt, Suối Trong, Ma
Văn Hữu, Xuân Du… Trong đó bút danh Nam Cao được nhà văn sử dụng nhiều nhất và
bút danh này được coi như một “con dấu phong cách” mà nhà văn đóng lên các tác phẩm của mình, về sau được coi như những “khuôn thước” cho dòng văn học hiện thực thế kỷ XX
Nam Cao chính thức bước vào văn đàn năm 1936 với các bút danh Nguyệt, Thúy
Rư, Xuân Du, Nhiêu Khê… Lúc này trào lưu văn học lãng mạn đang nở rộ do đó các sáng tác đầu tiên của Nam Cao cũng ít nhiều mang khuynh hướng lãng mạn, ủy mị, ướt
át Các tác phẩm cùng với những bút danh của nhà văn thời kỳ này chưa gây được tiếng vang và lưu lại ấn tượng trong lòng độc giả Nhà văn chỉ thực sự ghi tên mình trên văn
đàn khi tập truyện “Đôi lứa xứng đôi”(tên trong bản thảo là “Cái lò gạch cũ”), sau đổi tên thành “Chí Phèo” ra đời – tác phẩm đánh dấu sự rũ bỏ hoàn toàn những ảnh hưởng của
văn học lãng mạn và những non nớt, vụng về ban đầu của nghề văn Đây cũng là lần đầu
Trang 7tiên ông dùng bút danh Nam Cao Từ đây Nam Cao chuyển hẳn sang dòng văn học hiện
thực - nhân đạo với liên tiếp các truyện ngắn đặc sắc phản ánh chân thực bộ mặt xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám cùng với nỗi bi kịch của con người khi bị cái đói, cái khốn khổ, cái dốt nát bủa vây Các tác phẩm của ông tuy không đả phá trực diện tội ác của thực dân – phong kiến nhưng luôn ngầm chứa sức mạnh của sự tố cáo, phản kháng và đầy ắp tình cảm nhân đạo đối với nhân dân Không thể phủ định rằng trong gia tài tác
phẩm của nhà văn, các tác phẩm được ký dưới bút danh Nam Cao đóng góp một phần
quan trọng khẳng định tầm vóc và vị trí của nhà văn trong nền văn học dân tộc
Giải thích về lý do vì sao anh mình chọn bút danh Nam Cao, ông Trần Hữu Đạt,
em trai của nhà văn cho biết: Nam Cao đã ghép chữ đầu tên huyện (Nam Sang) với chữ đầu tên tổng (Cao Đà) làm thành bút danh của mình, để nhớ ơn mảnh đất nơi ông sinh ra
Có một câu chuyện kể rằng khi chia tay Hoàng Cao - một người bạn thân của mình trước khi hai người đi hai hướng đánh giặc, Nam Cao đã nhắn nhủ với bạn rằng: “Chúng mình
là con trai làng Đại Hoàng, trai Lý Nhân, trai Nam Sang, đi đâu, làm gì cũng phải xứng danh là trai Nam Sang nhé!” Nam Cao vốn là người có lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu nhân dân vô cùng sâu sắc nên bút danh đó còn có ý nghĩa là nước Nam cao cả, cao sang nữa
Như đã liệt kê ở trên, ngoài bút danh Nam Cao, nhà văn xuất sắc thế kỷ XX
còn có các bút danh khác như Nhiêu Khê, Xuân Du, Thúy Rư… Theo nhà văn Tô Hoài,Nam Cao ký bút danh Nhiêu Khê là có ý đùa Còn bút danh Xuân Du mà nhà văn
ký dưới các bài thơ của mình là do ông lấy 2 chữ ở đầu câu thơ mà nhà văn và Tô Hoài hồi ấy thường ngâm ngợi:
Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi
Tạm dịch:
Mùa xuân chơi miền cỏ non
Mùa hạ tắm hồ sen ngát
Mùa thu uống rượu hoàng hoa
Mùa đông ngâm thơ tuyết trắng
Trang 8Còn bút danh Thúy Rư thì do nhà văn lấy một số chữ trong tên thật của mình (Trần Hữu
Tri) để ghép lại mà thành Ở đây chữ “i” đã được thay bằng chữ “y” Ngoài những bút
danh đó ra, khi hoạt động ở Việt Bắc, Nam Cao còn có tên là Ma Văn Hữu Hồi Cứu
quốc ở Việt Bắc, Báo tỉnh Hà Nam, Báo Quân khu Ba… Nam Cao làm ca dao còn lấy bút
danhSuối Trong.
Nam Cao bước vào văn đàn khá sớm nhưng chỉ khi ngòi bút ấy chỉ thực sự sắc sảo khi tập trung hướng vào miêu tả cuộc sống hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Vì những đóng góp của mình, Nam Cao được coi là người đem lại chiến thắng vẻ vang cho chủ nghĩa hiện thực trong văn chương hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Bút danh thì có nhiều nhưng phong cách và “cái chất riêng ” của Nam Cao cho đến nay vẫn chỉ có một Và có thể khẳng định rằng trong tất cả các bút
danh đã dùng,Nam Cao là bút danh để lại trong lòng bạn đọc nhiều ấn tượng và ý nghĩa
nhất
NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ MỐI TÌNH KHÔNG BIÊN GIỚI
Nhà văn Nguyễn Đình Thi vốn nổi tiếng vì tài hoa và vẻ ngoài đẹp trai, phong trần Gắn với cuộc đời ông là những chuyện tình lãng mạn, đẹp đẽ Mối tình của Nguyễn Đình Thi với nữ nhà báo Madeleine Riffaud để lại trong lòng người nhiều dư vị nuối tiếc, bâng khuâng xen lẫn cảm phục.
Cuộc gặp “sét đánh” giữa đôi trai tài, gái sắc xảy ra vào năm
1951, tại Đại hội liên hoan Thanh niên Quốc tế diễn ra ở Berlin, Nguyễn Đình Thi được
cử làm đại biểu của VN Tại đây, chàng trai 27 tuổi đẹp trai, tài hoa lần đầu gặp được một phụ nữ rất quan trọng trong đời mình Năm ấy, Nguyễn Đình Thi đã nổi tiếng với hai ca
khúc Diệt phát xít vàNgười Hà Nội, đang giữ cương vị Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu
quốc kiêm Ủy viên Thường vụ Quốc hội Lúc này cuộc chiến tranh chống Pháp đang đi vào giai đoạn khốc liệt, tin chiến thắng đến liên tục, nên đoàn đại biểu Việt Nam luôn là tâm điểm của các đoàn quốc tế, truyền thông và báo chí Trong đó, Nguyễn Đình Thi càng được chú ý bởi vóc dáng cao ráo, vẻ đẹp trai rất phong trần và khả năng nói tiếng Pháp lưu loát, tư duy sắc sảo
Thuộc phái đoàn đến từ Pháp, Madeleine Riffaud, phóng viên báo Nhân đạo cũng không
kém nổi bật, không chỉ bởi chị đẹp một cách thanh tú và mê hoặc hay vì chị là tác giả của
tập thơ Con ngựa đỏ đã được trao giải văn chương Pháp, mà Madeleine Riffaud từng là
đội viên du kích chống phát xít, nữ du kích đầu tiên hạ sát một sĩ quan Nazi giữa lòng Paris Riffaud bị Gestapo bắt năm 1944, bị kết án tử hình và được giải cứu thành công chỉ
6 ngày trước ngày hành quyết Năm 1946, Madeleine được nước Pháp phong tặng danh hiệu anh hùng và được thưởng huân chương Bắc Đẩu bội tinh, phần thưởng cao quý nhất của nước Pháp Với một quá khứ kỳ lạ như thế, việc Madeleine Riffaud được nhiều người quan tâm, ngưỡng mộ không phải là lạ Trong số đó có Nguyễn Đình Thi Hay nói đúng
Trang 9hơn là họ bị “sét đánh” và say mê nhau từ lần đầu gặp gỡ Đôi trai tài gái sắc cảm nhau vì tài, luôn quấn quýt trong đợt liên hoan, mà dù đã cố gắng giữ khoảng cách, khách sáo với nhau, nhưng nhiều nhà văn từ phái đoàn các nước cũng đã nhận ra những “tín hiệu bất thường” và tác hợp cho họ Kết thúc kỳ liên hoan, cả hai chia tay trong lưu luyến
Mối tình đẹp, thủy chung
Ở hai đất nước xa xôi, những cánh thư vẫn liên tục đi về kết nối họ với nhau Nhà thơ Huy Cận, bạn thân của Nguyễn Đình Thi sau này từng kể lại: "Cuối năm 1951, một hôm tôi nhận được bức thư của chị Madeleine Riffaud gửi cho anh Thi, nhờ tôi chuyển Ngoài phong bì có đề 'Xin mở xem thư và nhớ học thuộc lòng càng tốt, để đọc lại cho anh Thi nghe, nhỡ mà thư có thể trôi mất hoặc ướt khi qua suối qua đèo'" Tôi mở thư ra đọc, bắt đầu bằng hai câu ca dao Việt Nam: "Ông tơ ghét bỏ chi nhau - Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi" và "Đôi ta làm bạn thong dong - Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng", tiếp theo là thư bằng tiếng Pháp Cuối tháng anh Thi mới gặp tôi, tôi đọc cả bức thư cho anh Thi nghe rồi mới giao thư ”
Nguyễn Đình Thi đã làm nhiều bài thơ tặng người tình trong mộng của mình Một bài thơ Nguyễn Đình Thi từng viết tặng Madeleine Riffaud được nhiều người biết đến, đó là bài
thơ Nhớ viết trên đường hành quân:
Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn
Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người
Tình yêu xa xôi nhưng không bao giờ thôi cháy trong tim họ Nhưng lúc này, Nguyễn Đình Thi đã có vợ và ba con nơi quê nhà Điều này không ngăn cản trái tim Madeleine Riffaud luôn hướng về người yêu và đất nước Việt Namđang trong bom đạn Đến năm
1955, vợ Nguyễn Đình Thi mất, Madeleine Riffaud qua Việt Namliên tục để gặp gỡ ông
Cả hai đã có những ngày tháng say đắm và hạnh phúc tuyệt vời Tưởng như không gì có thể ngăn cản hai trái tim đang bừng bừng lửa cháy đến với nhau Tuy nhiên, cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt, cùng với tình hình gian nan của đất nước, ở cái thời ấy, hai người với
Trang 10hai quốc tịch làm sao có thể tiến đến hôn nhân Một lần nữa, họ chấp nhận xa nhau Nói
là xa, nhưng với nhớ nhung cháy bỏng của một người đàn bà yêu, cộng với niềm trắc ẩn của một nữ nhà báo cách mạng, chị vẫn thường qua lại Việt Nam, để gặp Nguyễn Đình Thi và để viết lên những tiếng nói phản ánh cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc Việt Nam đến bạn bè quốc tế Lặn lội khắp chiến trường Nam Bắc, lao vào mưa bom bão đạn, Madeleine Riffaud đã viết nên những bài báo từng đoạt các giải thưởng, gây tiếng vang với truyền thông quốc tế Chính bà cũng là người đưa các tiểu thuyết của Nguyễn Đình Thi ra khỏi biên giới Việt Nam Hình ảnh quen thuộc của Madeleine Riffaud mà người ta thường thấy và đến nay vẫn còn lưu lại trong các ảnh tư liệu chiến tranh, là chị đứng trong lửa khỏi, quấn khăn rằn rất hiên ngang và rất “Việt Nam” Có người nói, hình ảnh
người con gái hiện lên đẹp đẽ trong bài thơ Lá đỏ, chính là tạc lại từ Madeleine Riffaud:
Gặp em trên cao lộng gió
Rừng lạ ào ào lá đỏ
Em đứng bên đường, như quê hương
Vai áo bạc quàng súng trường
Chưa từng là vợ chồng, nhưng Madeleine Riffaud đã nguyện luôn thủy chung với Nguyễn Đình Thi Bà không hề lấy chồng, ở vậy với những kỷ niệm cho đến cuối đời Người ta nói, căn hộ của bà ở Pháp đầy ắp hình ảnh chụp có, phác họa có, chân dung Nguyễn Đình Thi, được treo trên tường Những kỷ vật của bà và ông luôn được bà nâng niu trân trọng Phần ông, trước lúc mất năm 2003, đã giao lại tập hồ sơ cho người con trai
và dặn chỉ mở ra sau khi ông mất Trong tập hồ sơ ấy có gần 1.000 bức thư, bưu thiếp, những lời yêu thương cháy bỏng họ trao nhau trong suốt cuộc yêu thương gần nửa đời người