1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý rừng tại lâm trường văn chấn, tỉnh yên bái

246 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 246
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đó đánh giá tác động xã hội là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu cầnphải thực hiện.Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài “Đánh giá tác động xã hội của công tác quản lí rừng tại Lâm tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NễNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

=======

=======

TRƯƠNG TẤT ĐƠ

đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý rừng tại

lâm tr-ờng văn chấn tỉnh yên bái

Trang 3

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Võ Đại Hải người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình giúp đỡ,truyền đạt những kiến thức quí báu và dành cho tác giả những tình cảm tốt đẹptrong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn.Tấm gương lao động và các ý tưởng khoa học mới của thầy giáo hướng dẫn là bàihọc quí giá đối với bản thân tác giả.

-Xin chân thành cảm ơn các cán bộ Khoa Đào tạo Sau đại học, đặc biệt làPGS.TS Nguyễn Văn Thiết đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt thờigian học tập và làm luận văn

Tác giả xin cảm ơn Phòng nghiên cứu kỹ thuật Lâm sinh, các cán bộ nghiêncứu Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Lâm Trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái,Chương trình Lâm nghiệp Việt Nam – Cộng hoà Liên bang Đức (GTZ), UBNDhuyện Văn Chấn, UBND xã và những các hộ gia đình của 4 xã Nậm Búng, Gia Hội,Sơn Lương và Nậm Lành đã cung cấp thông tin và tạo mọi điều kiện thuận lợi chotác giả triển khai thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn

Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và ngườithân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập vàhoàn thành bản luận văn này

Hà Nội, tháng 5 năm 2009

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn ……… ……… ……… i

Mục lục……… ……… ……… ii

Danh mục các ký hiệu và từ viết tắt……… … .v

Danh mục các bảng ……… … vi

Danh mục các hình ảnh, biểu đồ và sơ đồ ………….……… vii

Đặt vấn đề……… ……… ………….………… 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……….… 3

1.1 Trên thế giới……… ……… 3

1.2 Ở Việt Nam……… ………… …………. 8

Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .18

2.1 Mục tiêu đề tài ……… ……… 18

2.2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.……… 17

2.3 Nội dung nghiên cứu … 18

2.4 Phương pháp nghiên cứu 20

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27

3.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội……… ……… 29

3.3 Nhận xét, đánh giá chung về ĐKTN, KT-XH khu vực nghiên cứu 32

3.3.1 Thuận lợi 32

3.3.2 Khó khăn 33

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại Lâm trường Văn Chấn 34

4.1.1 Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức Lâm trường 34

4.1.2 Tài nguyên rừng 38

Trang 5

4.1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh…… ……….…….……. .38

4.1.4 Tình hình quản lý bảo vệ rừng… ………… 43

4.2 Tình hình sản xuất và kinh tế hộ gia đình các xã trên địa bàn Lâm trường 49

4.2.1 Cơ cấu sử dụng đất đai……… ……… 49

4.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp các xã trên địa bàn Lâm trường….…

50 4.2.3 Tình hình sử dụng tài nguyên rừng 56

4.2.4 Nguồn vốn đầu tư 59

4.2.5 Phân loại kinh tế hộ gia đình 59

4.2.6 Cơ cấu thu nhập và chi tiêu 60

4.3 Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp và giao khoán QLBVR … 69

4.3.1 Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp trên địa bàn……… 69

4.3.2 Đánh giá tình hình giao khoán QLBVR ……… 70

4.3.3 Đánh giá cơ hội tạo thu nhập của các hộ gia đình sống gần rừng từ các hoạt động quản lý rừng của Lâm trường Văn Chấn 75

4.4 Đánh giá tác động qua lại giữa Lâm trường Văn Chấn và địa phương …. 77

4.4.1 Các hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường đối với địa phương 77

4.4.2 Những hoạt động sản xuất của địa phương đối với Lâm trường……… 83

4.5 Đánh giá mức độ phù hợp của các tiêu chuẩn xã hội trong QLRBV ở Lâm trường Văn Chấn 85

4.6 Đề xuất một số giải pháp và các công việc ưu tiên nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và bền vững về mặt xã hội ở lâm trường Văn Chấn 90

4.6.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về tác động xã hội của công tác quản lí rừng ở lâm trường Văn Chấn 90

4.6.2 Một số dự báo 92

4.6.3 Đề xuất một số giải pháp 98

4.6.4 Đề xuất các công việc ưu tiên 103

Chương 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ………… 105

5.1 Kết luận…… 105

5.2 Tồn tại ……… ……….……… 108

Trang 6

5.3 Khuyến nghị……… ……… 108TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC:

Phụ lục 1: Danh sách một số người chủ yếu đã tham gia phỏng vấn, trao đổi

Phụ lục 2: Danh sách các thôn trên địa bàn Lâm trường sau khi sắp xếp lại thànhCông ty Lâm nghiệp Văn Chấn

Phụ lục 3: Tổng hợp diện tích giao rừng, khoán rừng đến từng thôn xã trên địa bàn

Lâm trường Văn Chấn giai đoạn 2006-2008

Phụ lục 4: Diện tích trồng chè Shan theo dự án Lâm trường đến 31/12/2008

Phụ lục 5: Diện tích rừng trồng của Lâm trường đến 31/12/2008

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Tình hình dân số 4 xã trên địa bàn Lâm trường Văn Chấn3.2 Tình hình lao động trên dịa bàn 4 xã Lâm trường Văn Chấn3.3 Số lượng học sinh ở 4 xã trên địa bàn Lâm trường Văn Chấn4.1 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ lâm trường Văn Chấn4.2 Tổng số cán bộ Lâm trường chia theo trình độ chuyên môn4.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2004-20084.4 Kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2003-2008

4.5 Hoạt động và kinh phí PCCCR của Lâm trường năm 2006-20084.6 Số vụ cháy rừng của Lâm trường Văn Chấn giai đoạn 2005-20084.7 Số vụ vi phậm lâm luật trên địa bàn Lâm trường 2004-20084.8 Cơ cấu sử dụng đất 4 xã trên địa bàn Lâm trường

4.9 Diện tích và năng suất một số loài cây trồng chính trên dịa bàn 4 xã4.10 Lịch thời vụ sản xuất nông nghiệp các xã trên địa bàn

4.11 Tình hình chăn nuôi trên địa bàn Lâm trường năm 2008

4.13 Đánh giá nhu cầu sử dụng gỗ, củi tại chỗ trên địa bàn Lâm trường4.14 Số hộ nghèo trên địa bàn 4 xã Lâm trường Văn Chấn

4.15 Diện tích rừng giao khoán bảo vệ ở Lâm trường Văn Chấn4.16 Một số hoạt động hỗ trợ địa phương của Lâm trường Văn Chấn4.17 Kết quả đánh giá mức độ phù hợp các chỉ số xã hội của Lâm trường4.18 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức tác động xã hội4.19 Dự báo biến động dân số trên địa bàn giai đoạn 2008-2020

4.20 Dự báo tỷ lệ tăng dân số đến 2020 theo mục tiêu của các xã4.21 Dự báo biến động số hộ gia đình trên địa bàn giai đoạn 2008-20204.22 Dự báo nhu cầu sử dụng củi của 4 xã trên địa bàn Lâm trường4.23 Dự báo nhu cầu sử dụng gỗ làm nhà mới tại 4 xã trên địa bàn4.24 Biện pháp hoàn thiện các tiêu chuẩn về mặt xã hội của FSC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu

đ ồ

4.1

4.2a4.2b4.3a4.3b4.4a

4.4b

4.54.64.74.84.9

Trang 11

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ

Trang 13

1973, RAMSA 1998, UNCED 1992, CBD 1994, UNFCCC 1994, UNCCD

-1998 Tuy nhiên, tài nguyên rừng đang ngày càng bị suy giảm Theo FAO, trongmấy chục năm qua trên thế giới đã mất đi trên 200 triệu ha rừng tự nhiên, trong khi

đó phần lớn diện tích rừng còn lại bị thoái hoá nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học

và chức năng sinh thái Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý, sử dụng tàinguyên rừng không hợp lý, không đảm bảo phát triển bền vững, đặc biệt là về mặt

xã hội và môi trường

Trong giai đoạn hiện nay quản lý rừng bền vững (QLRBV) được đặt ra như

là một yêu cầu cấp thiết đối với mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế Đầu thập kỷ 90của thế kỷ XX, nhờ sáng kiến của những người sử dụng và kinh doanh gỗ về việcchỉ buôn bán và sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu rừng đã được quản lý bềnvững, từ đó một loạt các tổ chức QLRBV đã ra đời và có phạm vi hoạt động khácnhau trên thế giới như Montreal, ITTO, Pan - European, Africal TimberOrganization Initiative, CIFOR và FSC, trong đó chứng chỉ FSC là có uy tín và cóphạm vi áp dụng rộng rãi nhất

Hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN cũng chủ yếu xoay quanh chủ đềQLRBV với 2 lý do: một là xu hướng mất rừng của các nước đang phát triển do áplực của dân số, lương thực, khai thác trái phép, cháy rừng, hai là bị thị trường thếgiới từ chối dần việc nhập khẩu nếu đồ gỗ không có chứng chỉ QLRBV Chứng chỉrừng thực chất là chứng chỉ ISO 9000 và 14000 về công nghệ và môi trường chochủ doanh nghiệp lâm nghiệp, vì lợi ích của chính mình và lợi ích, uy tín của quốcgia mình, các chủ rừng tự nguyện tham gia vào quá trình QLRBV và nhận đượcchứng chỉ rừng

Ở Việt Nam, từ năm 1945 đến 1990 diện tích rừng liên tục giảm từ 14,3 xuống9,2 triệu ha, độ che phủ còn 27,2% mà lý do chính là do quản lý và sử dụng rừng khôngbền vững Từ sau năm 1992 thông qua các chương trình lớn như dự án 327 và

661,… gần 3 triệu ha rừng đã được phục hồi, góp phần thúc đẩy ngành lâm nghiệpphát triển và cân bằng môi trường cho đất nước Theo kết quả kiểm kê rừng công bốngày 17/7/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT thì đến hết 31/12/2007 diện tích rừng

Trang 14

nước ta đã tăng lên 12.837.333 triệu ha với độ che phủ là 38,2% Để giữ được diện tích rừng hiện có và phát triển thêm vốn rừng thì QLRBV là một yêu cầu rất cần thiết

ở nước ta

Trong Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 ghi rõ: Thiết

lập, quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững 3 loại rừng; đẩy mạnh xây dựng thương hiệu và cấp chứng chỉ rừng cho các mặt hàng xuất khẩu; Nâng cấp năng lực quản

lý cho chủ rừng, xây dựng các tiêu chuẩn và cấp chứng chỉ rừng, mục tiêu đến năm

2020 ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ rừng Chương trình Quản lý và phát triển bền vững – là một trong 5 chương trình trọng điểm quốc gia

về lâm nghiệp, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lần đầu tiên xác định cho

đất nước một lâm phận ổn định 15,6 triệu ha, với 7,8 triệu ha rừng sản xuất, có 30%được cấp chứng chỉ QLRBV, cung cấp 22,2 triệu m3 gỗ/năm đạt kim ngạch xuấtkhẩu 7,8 tỷ USD vào năm 2020

QLRBV đòi hỏi phải phải đáp ứng bền vững trên cả 3 khía cạnh: kinh tế, xãhội và môi trường, trong đó hiện nay ở Việt Nam yếu tố xã hội được đặc biệt quantâm vì nó gắn liền với đời sống hàng chục triệu người dân miền núi, gắn với chủtrương xóa đói giảm nghèo và chính sách đầu tư của Chính phủ Điều này có ýnghĩa hơn trong bối cảnh Nhà nước đang có những thay đổi lớn về chính sách quản

lý rừng và tổ chức ngành lâm nghiệp; việc sắp xếp, đổi mới các lâm trường quốcdoanh thành các công ty lâm nghiệp tự hạch toán kinh doanh độc lập trên phạm vitoàn quốc, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp lâm nghiệptrong việc hướng tới QLRBV

Lâm trường Văn Chấn là doanh nghiệp Nhà nước được thành lập từ năm

1964, sau nhiều lần thay đổi tên, trụ sở và chức năng nhiệm vụ, năm 2007 Lâmtrường Văn Chấn đang trong quá trình chuyển đổi thành Công ty Lâm nghiệp.Trước năm 2006 hoạt động của lâm trường chủ yếu thực hiện nhiệm vụ của dự án

661, khi chuyển sang cơ chế mới Lâm trường đang đứng trước những cơ hội vàthách thức mới Hiện nay lâm trường đang được Chương trình Lâm nghiệp ViệtNam - Cộng hòa Liên Bang Đức (GTZ) hỗ trợ xây dựng phương án QLRBV, trong

Trang 15

đó đánh giá tác động xã hội là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu cầnphải thực hiện.

Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài “Đánh giá tác động xã hội của công tác quản

lí rừng tại Lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái” đặt ra là hết sức cần thiết nhằm giúp

Lâm trường Văn Chấn nói riêng và các lâm trường có điều kiện tương tự, nhìn nhận

và đánh giá được những tác động xã hội trong QLR, mối quan hệ qua lại giữa địaphương và lâm trường để tiếp cận và dần đáp ứng được các tiêu chí của Bộ Tiêuchuẩn quốc gia về QLRBV mà trước hết là các tiêu chí xã hội trong điều kiện và bốicảnh mới

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 16

1.1 Trên thế giới

1.1.1 Đánh giá tác động xã hội của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp

Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánhgiá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness) Từsau năm 1990 các hoạt động đánh giá được thực hiện đã bao gồm cả đánh giá tácđộng (impact assessment), tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vữngsau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000) Hiện nay, việc đánh giá tác độngđược coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá, bao gồm tất cả các thayđổi về sinh thái, văn hoá - xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lạibởi các hoạt động của một chương trình, dự án

Đánh giá tác động môi trường và xã hội (ESIA) đang ngày càng được tăngcường và áp dụng ở nhiều ngành với mục tiêu nhằm đảm bảo cho các vấn đề môitrường và xã hội được quan tâm thoả đáng trước khi đưa ra những lựa chọn đầu tưquan trọng, là phương tiện phù hợp để hỗ trợ quá trình ra quyết định [5]

ở rất nhiều quốc gia ESIA được thiết lập như một qui trình lập kế hoạch/phêduyệt chủ yếu chỉ áp dụng cho thiết kế khả thi các dự án phát triển qui mô lớn vớivùng tác động hạn chế ESIA không có mối liên kết cụ thể với bất kỳ một cơ chếphê duyệt hay cấp phép nào, điều đó có nghĩa rằng những kết quả của qui trìnhESIA không thể có hiệu lực và khó kiểm soát [52]

Đánh giá và giám sát tác động nhằm để trả lời câu hỏi: những thay đổi đượcmong đợi có thực sự xảy ra không? và có hay không những tác động không đượcmong đợi nhằm điều chỉnh việc quản lý chương trình, dự án; cung cấp thông tin cầnthiết cho quá trình ra quyết định từ cấp dự án tới cấp ra chính sách nhằm xác địnhmức độ bền vững của các hoạt động cũng như khâu thiết kế dự án; Giải trình chocác thành viên dự án về các mục tiêu đã được đề ra và vấn đề sử dụng các nguồn tàinguyên đã được cung cấp [5]

Năm 1996 trong báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland, MichealLuedeke và Jeff Martin đã khuyến nghị rằng hoạt động đánh giá tài chính đơn thuầnchỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng

Trang 17

đầu, còn đối với các dự án đầu tư mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc việcđánh giá hiệu quả xã hội và môi trường.

Để không bỏ qua trong quá trình thực hiện đánh giá tác động dự án, tổ chứcnghiên cứu cao cấp về phát triển quốc tế Nhật bản (2003) đã đề xuất việc đánh giátác động không chỉ tập trung so sánh kết quả đầu ra với đầu vào của dự án mà cònphải xem xét những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực, hiện tại và tương lai, thậm chí

là những ảnh hưởng gián tiếp phát sinh từ những ảnh hưởng trực tiếp Vì vậy, trongquá trình đánh giá dự án, việc thiết kế phương pháp và câu hỏi nên chia thành 2nhóm vấn đề là chính sách, thể chế - quản lý, kỹ thuật, môi trường, văn hoá - xã hội

và kinh tế - tài chính; những tác động được phân loại thành 4 nhóm: tích cực/tiêucực và mong đợi/không mong đợi

Theo Renard R [72] việc đánh giá hiệu quả kinh tế (áp dụng giá bóng - tínhđến lạm phát, chi phí cơ hội) nên đồng thời là các đánh giá hiệu quả xã hội, hiệu quảmôi trường trong đánh giá các chương trình, dự án lâm nghiệp

FAO [74], [75] nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa

ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng Cũng theo FAO[68], một dự án trong lâm nghiệp dù có đạt được hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR,B/C ) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội (tạo việc làm, tăng thu nhập cho cộngđồng, ) và hiệu quả môi trường thì không được coi là một dự án bền vững

Nghị định thư Kyoto ra đời và việc thành lập Quĩ môi trường toàn cầu (GEF)càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

Đứng về phương diện các phương thức canh tác, hay sử dụng các phương án

sử dụng đất khác nhau, Walfredo [73] đã cho rằng: Phương thức canh tác sẽ cónhững tác động tới kinh tế, sinh thái và xã hội từ đó sẽ có ảnh hưởng tới tăng trưởngkinh tế, cân bằng sinh thái và phát triển xã hội Tất cả các mối quan hệ ảnh hưởngnày sẽ tác động toàn diện về kinh tế - xã hội - bảo vệ môi trường sinh thái

1.1.2 Nghiên cứu về quản lý rừng bền vững

Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà khoa học trên thế giới có sự quan tâm đặc biệt

về vấn đề sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững Sự khác biệt về điều kiện tự

Trang 18

nhiên, kinh tế - xã hội và các nhu cầu của con người ở các quốc gia, vùng lãnh thổkhác nhau dẫn đến sự đa dạng, phức tạp và những quan điểm khác nhau của côngtác quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững ở mỗi quốc gia Tuy nhiên, điểmgiống nhau cơ bản khi nói đến quản lý sử dụng đất đai tài nguyên rừng bền vữngđều được thể hiện ở ba vấn đề: kinh tế, xã hội và môi trường Cuối cùng người tacũng đã cố gắng đưa ra một định nghĩa về QLRBV nhằm diễn đạt bản chất của nó,đồng thời để từ đó xây dựng nên những nguyên tắc cơ bản trong công tác QLRBV.

Khái niệm về QLRBV hình thành từ đầu thế kỷ 18 Ban đầu chỉ chú trọng đếnkhai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục Cùng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật

và phát triển kinh tế - xã hội, QLRBV đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lýkinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ thống sinh thái rừng và cuối cùng làQLRBV trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ, toàn diện về các lĩnhvực kinh tế, xã hội và môi trường QLRBV là việc đóng góp của công tác lâm nghiệpđối với sự phát triển, sự phát triển đó phải mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và xãhội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai [29]

Vào đầu thế kỷ 18, các Nhà lâm học Đức như Hartig, GL [77], Heyer, F [78]

… đã đề xuất ra nguyên tắc sử dụng lâu bền đối với rừng thuần loài đều tuổi Vàothời điểm này các nhà khoa học người Pháp (Gournand, 1922) và người Thụy Sỹ(H Biolley) cũng đã đề ra phương pháp kiểm tra, điều chỉnh sản lượng đối với rừngđồng tuổi khai thác chọn [72]

Hiện nay đã có nhiều tổ chức đưa ra khái niệm QLRBV như Tổ chức Gỗnhiệt đới (ITTO), Hiệp ước Helsinki [19] ủy ban Quốc tế về môi trường và pháttriển [29], Các định nghĩa trên có cách diễn đạt khác nhau nhưng bao gồm hai vấn

đề chính là quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu

đề ra và đảm bảo sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường [37]

Vấn đề đặt ra với QLRBV là như thế nào?, đó là công tác quản lý sử dụngđất đai, tài nguyên rừng nhằm ngăn chặn tình trạng mất rừng do khai thác sử dụngquá mức mà trong đó việc khai thác lợi dụng tài nguyên rừng không mâu thuẫn vớiviệc đảm bảo vốn rừng, đảm bảo chức năng tái sản xuất của rừng, đồng thời pháthuy được vai trò chức năng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái bền vững củarừng đối với con người và thiên nhiên

Trang 19

Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý rừng đã tập trung ở nhiềuquốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển Vai trò sự tham gia của cộng đồngtrong quản lý rừng không được chú ý Mặc dù trong các quy định pháp luật thì rừng làtài sản của toàn dân nhưng trên thực tế người dân không hề được hưởng lợi từ rừng, vìvậy họ chỉ biết khai thác rừng để lấy lâm sản và lấy đất canh tác phục vụ cho nhu cầusống của chính họ mà cũng không hề quan tâm đến vấn đề xây dựng và bảo vệ vốnrừng Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, nhu cầu lâm sảnngày càng tăng nên trong giai đoạn này tình trạng khai thác quá mức trở thành nguyênnhân quan trọng của suy thoái nghiêm trọng tài nguyên rừng [49].

Từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia đã bị giảmsút nghiêm trọng, môi trường sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền núi bị đe doạthì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích hợp nữa Người ta đãtìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái rừng thông qua việc ban bố một số chínhsách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia quản lý và sử dụng tài nguyênrừng Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầutiên ở ấn Độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như lâmnghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái Lan, Philippin, ) [44]

Do diện tích rừng bị suy thoái và canh tác nông nghiệp không bền vững,FAO (1967 - 1969) đã quan tâm đến phát triển nông lâm kết hợp (NLKH) và trongcác nghiên cứu của mình đã đi đến thống nhất: áp dụng biện pháp NLKH là phươngthức tốt nhất để sử dụng đất rừng nhiệt đới một cách hợp lí, tổng hợp và nhằm giảiquyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động dư thừa đồng thời thiết lậpcân bằng sinh thái [68] Ngày nay, NLKH đã trở thành một phương thức kinh doanhphổ biến – gọi là “phương thức sản xuất kinh doanh NLKH”

1.1.3 Các chính sách thu hút người dân tham gia vào công tác quản lí rừng

Nghiên cứu của Ianuskơ K (1996) cho thấy để duy trì được hiệu quả, tính ổnđịnh và bền vững của rừng cần phải giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩmcho các khu rừng trồng kinh tế, trong đó cần có kế hoạch xây dựng và phát triển cácnhà máy chế biến lâm sản với các quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụchính sách đòn bẩy để thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng,

Trang 20

phương thức canh tác phải gần với kiến thức bản địa và được người dân áp dụng.

Theo Thom R Waggener (2000) để phát triển trồng rừng theo hướng sản xuấthàng hoá với hiệu quả kinh tế cao không chỉ đòi hỏi phải có sự đầu tư tập trung vềkinh tế và kỹ thuật mà còn phải nghiên cứu làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề có liênquan đến chính sách và thị trường Chính vì vậy ở các nước phát triển như Mỹ,Nhật, Canada, nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tậptrung vào 2 vấn đề lớn là thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Liu Jinlong (2004) [70] dựa trên việc phân tích và đánh giá thực tế đã đưa ramột số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng ở Trung Quốc là:

i) Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá;

ii) Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước;iii) Giảm thuế đánh vào các lâm sản;

iv) Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng

v)Phát triển hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng.Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ quan điểm chung

về quản lý lâm nghiệp, vấn đề đất đai, thuế,… cho tới mối quan hệ giữa các doanhnghiệp và người dân Đây là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng ởTrung Quốc và là những định hướng cho các nước khác, trong đó có Việt Nam

Các hình thức khuyến khích trồng rừng cũng được nhiều tác giả trên thế giớiquan tâm nghiên cứu như Narong Mahannop (2004) [71] ở Thái Lan, Ashadi and NinaMindawati (2004) [69] ở Indonesia, Cho thấy hiện nay ở các nước Đông Nam Á, 3vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng là:

i) Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất

ii) Quy định rõ đối tượng hưởng lợi rừng trồng

iii) Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân

Đây là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã

và đang giải quyết để thu hút nguồn vốn tư nhân đầu tư vào trồng rừng

Trang 21

1.2.4 Các giải pháp tăng cường quản lý rừng bền vững

Theo thống kê của FAO (2003), trong giai đoạn 1990 - 1995 ở các nước đangphát triển đã có hơn 65 triệu ha rừng bị mất Tính đến năm 2000, diện tích rừng củatoàn thế giới, kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng chỉ còn 3.869,455 triệu ha, tỷ lệ chephủ chỉ chiếm 29,6% lãnh thổ [18]

Đối phó với tình trạng trên, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, đềxuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng như: Chiến lược bảo tồnquốc tế (1980, 1991); Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983); Chương trìnhhành động của tổ chức Nông lương thực (FAO,1985); Hội nghị của Liên hợp quốc

về môi trường và phát triển (UNCED, Rio de Janeiro, 1992); Công ước về buôn bánđộng thực vật quý hiếm (CITES); Công ước về đa dạng sinh học (CBD, 1992);Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994); Công ước về chống sa mạchóa (CCD, 1996); Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997) [18]

Hiện nay, trên thế giới nhiều nước đã có các bộ tiêu chuẩn QLRBV cấp quốcgia (Canada, Thụy Điển, Malaysia, Indonesia, ) và cấp quốc tế như tiến trìnhHelsinki, tiến trình Montreal Hội đồng quản trị rừng (FSC) và Tổ chức gỗ nhiệt đớivới bộ tiêu chuẩn QLR của (C&I) được vận dụng ở nhiều nước trên thế giới [19]

Hội nghị lần thứ 18 tháng 9/1998 tại Hà Nội, Các nước trong khu vực ĐôngNam Á đã thoả thuận về đề nghị của Malaysia xây dựng bộ tiêu chí và chỉ số vùngASEAN về QLRBV (viết tắt là C&I ASEAN) Thực chất C&I ASEAN cũng giốngnhư C&I của ITTO, bao gồm 7 tiêu chí và cũng chia làm 2 cấp quản lý là cấp quốcgia và cấp đơn vị quản [17] Theo FSC Newsletter số 4 ngày 04/6/2007, đã có 818chứng chỉ QLRBV được cấp cho 81 quốc gia với tổng diện tích 90.784.799 ha và5.646 chứng chỉ chuỗi hành trình (CoC) cấp cho các doanh nghiệp chế biến gỗ tại

78 nước [37], trong đó những cánh rừng đầu tiên ở Đông Dương được nhận chứngchỉ FSC vào ngày 29/02/2006 là hai khu rừng tự nhiên ở Trung Lào [1]

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Đánh giá tác động xã hội của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp

QLRBV chỉ đạt được khi dung hoà được 3 yếu tố: kinh tế, môi trường và xãhội Trong một chừng mực nào đó, yếu tố xã hội chính là yếu tố quyết định, tác

Trang 22

động trực tiếp lên các yếu tố khác, đặc biệt ở nước ta khi cơ chế, chính sách vềQLRBV vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện.

Trên thực tế rất nhiều lâm trường hoạt động yếu kém đối với các vấn đề xãhội, không giải quyết triệt để những bất đồng giữa lợi ích đơn vị với lợi ích cộngđồng Người dân sống tại khu vực rừng phải chịu ảnh hưởng bởi những tác độngtiêu cực trong khi các hoạt động quản lý rừng không thể mang lại lợi ích và đảm bảonhững nhu cầu tối thiểu của họ Do vậy, việc tiến hành đánh giá tác động xã hộinhằm giải quyết các vấn đề đặt ra của hoạt động quản lý rừng là vấn đề cấp thiếttrong giai đoạn hiện nay đối với mỗi lâm trường [23]

Ở Việt Nam, “đánh giá tác động” được quan tâm chú ý nhiều từ khi đổi mới,đặc biệt trong các dự án phát triển; đánh giá dự án không chỉ được đánh giá qua cáctiêu chí phân tích tài chính mà nó còn bao gồm cả những tiêu chí đánh giá về hiệuquả xã hội và môi trường Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi sang kinh tế thịtrường, đánh giá hiệu quả kinh tế thường được chú trọng hơn Mặc dù vậy, môitrường và xã hội cũng tác động không nhỏ đến quá trình sản xuất kinh doanh nhất làtrong kinh doanh lâm nghiệp, vì vậy giai đoạn hiện nay để QLRBV người ta tiếnhành đánh giá cả tác động về kinh tế, môi trường và xã hội

Phạm Xuân Thịnh [53], Đàm Đình Hùng [28] đã đề cập đến một số tác độngcủa dự án về mặt kinh tế, xã hội và môi trường, đúc kết các kinh nghiệm, rút ranhững mặt làm được và những mặt còn tồn tại làm cơ sở định hướng phát triển ởgiai đoạn hậu dự án và cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuynhiên, các báo cáo mới chỉ mô tả các hoạt động của dự án, còn đánh giá tác độngcủa dự án mang nhiều tính chất định tính cảm quan hơn là các số liệu định lượng

Lại Thị Nhu (2004) khi nghiên cứu “Đánh giá tác động của dự án trồng

rừng nguyên liệu ván dăm giai đoạn 1999 - 2003 của Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên”[43] đã đánh giá về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, quá trình đánh

giá có sử dụng các chỉ tiêu chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án.Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở những tác động tích cực mà chưa đi sâu phântích những tác động tiêu cực của dự án

Trang 23

Nguyễn Minh Hằng, Vũ Nam (2006) [23] trong công trình đánh giá tác động

xã hội tại lâm trường Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã xác địnhđược các nhóm liên quan đến hoạt động quản lý rừng, các hoạt động sử dụng rừngchủ yếu của người dân bản địa và nhu cầu của các nhóm liên quan trong phạm vilâm trường Tuy nhiên, nghiên cứu không chỉ ra những chỉ số, chỉ tiêu và tiêu chuẩn

cụ thể về mặt xã hội nào đã phù hợp và chưa phù hợp với bộ tiêu chuẩn QLRBVcủa Hội đồng quản trị rừng quốc tế FSC làm cơ sở để đề xuất một số giải phápnhằm QLRBV và tiến tới cấp chứng chỉ rừng cho đơn vị

Nguyễn Văn sản, Lê Khắc Côi (2007) [46] đã thực hiện việc đánh giá tácđộng kinh tế - xã hội tại công ty lâm sản xuất khẩu (Forexco) tỉnh Quảng Nam vàchỉ ra sự phù hợp và chưa phù hợp của từng tiêu chí, chỉ số và tiêu chuẩn trong bộtiêu chuẩn QLRBV của Hội đồng quản trị rừng quốc tế FSC từ đó đề xuất hệ thốngcác giải pháp nhằm hoàn chỉnh các tiêu chí tiến tới QLRBV và cấp chứng chỉ rừng.Tuy nhiên, những đánh giá tác động chỉ dựa theo các chỉ số của bộ tiêu chuẩn,những giải pháp đề xuất chỉ đặt trong tình huống cụ thể ở hiện tại mà chưa có những

dự báo, phân tích xu hướng thay đổi các yếu tố xã hội nhằm đề xuất các giải pháp

và những công việc ưu tiên trong tiến trình QLRBV và cấp chứng chỉ rừng

Chương trình lâm nghiệp Việt Nam - Cộng hoà liên bang Đức (2007) đã tiếnhành hỗ trợ đánh giá tác động xã hội tại lâm trường Ninh Sơn - Ninh Thuận, Lâmtrường M’Drắk - Đăklăk, lâm trường Đăktô - Kontum và Lâm trường Văn Chấn –Yên Bái [11], [12], [13], [14] Bước đầu đã chỉ ra được những tồn tại cơ bản, sự phùhợp của các chỉ số, chỉ tiêu và tiêu chuẩn trong quản lý rừng của các lâm trường từ

đó đề xuất những giải pháp nhằm QLRBV theo tiêu chuẩn FSC Việt Nam

2.2.2 Nghiên cứu về quản lý rừng bền vững

Công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng ở Việt Nam từ trước tới nay đượcchia thành 3 thời kỳ theo quá trình phát triển của lịch sử cũng như quá trình pháttriển kinh tế xã hội của đất nước như sau [36]:

- Thời kỳ trước năm 1945: Toàn bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được

chia theo các chức năng để quản lý sử dụng:

Trang 24

 Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểmtrở, dân cư thưa thớt Nhà nước thực dân chưa có khả năng quản lý, ngườidân được tự do sử dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy Việc khai thác lâm sảnđang ở mức tự cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hóa.

 Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở vùng có dân cư

và đường giao thông thuận lợi cho vận chuyển lâm sản Những diện tích nàyđược chia thành các đơn vị như khu, sau khu là các lô khai thác, việc khaithác được tiến hành theo chu kỳ sản lượng

 Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác, cần được bảo vệ

để tái sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế

Nhìn chung, trong thời kỳ trước 1945 tài nguyên rừng Việt Nam còn phongphú, nhu cầu lâm sản nói chung của con người còn thấp, rừng bị khai thác lợi dụng

tự do Mức độ tác động của con người vào rừng còn ít, tài nguyên rừng còn kháphong phú, vấn đề QLRBV chưa được đặt ra [37]

- Thời kỳ từ năm 1946 - 1990: với sự ra đời của ngành Lâm nghiệp các hoạt

động của ngành đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Ngay sau hoà bình lập lại,toàn bộ diện tích rừng và đất rừng ở miền Bắc được quy hoạch vào các lâm trườngquốc doanh Nhiệm vụ chủ yếu là khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu pháttriển của các ngành kinh tế Nhiệm vụ xây dựng và phát triển vốn rừng tuy có đặt ranhưng chưa được các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan tâm đúng mức

 Giai đoạn từ 1946 - 1960 công tác bảo vệ rừng chủ yếu là khoanhnuôi bảo vệ, hướng dẫn nông dân miền núi sản xuất trên nương rẫy, ổn địnhcông tác định canh định cư, khôi phục kinh tế sau chiến tranh

 Giai đoạn 1961 - 1975 QLBVR được đẩy mạnh, khoanh nuôi táisinh rừng gắn với công tác định canh định cư Khai thác rừng đã chú ý đếnthực hiện theo quy trình, quy phạm, đảm bảo xúc tiến tái sinh tự nhiên

 Giai đoạn 1976 - 1989 bảo vệ rừng gắn liền với việc tu bổ, khoanhnuôi, trồng rừng, gắn chặt công tác quản lý bảo vệ với việc đầu tư nghiêncứu ứng dụng KHCN vào việc xây dựng hệ thống rừng đặc dụng, rừngphòng hộ, rừng sản xuất [7]

Trang 25

- Thời kỳ từ năm 1991 đến nay: ngành lâm nghiệp nước ta chuyển đổi cơ

chế quản lí lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội, gắn với định hướng pháttriển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; Hệ thống và tính chất quản lýngành cũng đã có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu quản lý TNR tổng hợp, đangành, đa mục tiêu; Hàng loạt các chủ trương, chính sách mới được ban hành, tạođiều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành Lâm nghiệp và quản lý TNR bền vững

Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 12/1998 hội thảo Quốc gia về QLRBV do BộNông nghiệp & PTNT, WWF Đông Dương, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan tại HàNội và Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đồng tài trợ đã được tổ chức tại thành phố

Hồ Chí Minh Có nhiều báo cáo, thảo luận về khái niệm QLRBV, đánh giá hiện trạng

về rừng và quản lý sản xuất lâm nghiệp tại Việt Nam, Kết quả hội thảo đã thống nhấtthành lập Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (NWG) và đề xuất chương trìnhhoạt động trong 5 năm đầu tiên [4] Nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt độngQLRBV và cấp chứng chỉ rừng ở nước ta, tháng 6/2006 Viện Quản lý rừng bền vững vàchứng chỉ rừng (trực thuộc Hội KHKT lâm nghiệp Việt Nam) được thành lập

Vũ Nhâm (2001 - 2004) [38] đã thực hiện đề tài nghiên cứu và xây dựng

được “Hướng dẫn tổ chức đánh giá rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững

quốc gia” nhằm hỗ trợ cho 10 lâm trường thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT ký cam

kết thực hiện phương án QLRBV

Hướng tới mục tiêu thực hiện QLRBV, Viện quản lý rừng bền vững và chứngchỉ rừng cùng với các chuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước đã nhóm họp nhằm xâydựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV cho Việt Nam, đến nay đã hoàn thành phiên bản 9C.Những tiêu chuẩn, tiêu chí này dựa trên cơ sở điều chỉnh, bổ sung những tiêu chuẩn,tiêu chí của FSC quốc tế, có sử dụng nhiều ý kiến đóng góp của các nhà quản lý và cácnhà khoa học lâm nghiệp trong nước và quốc tế để đảm bảo những tiêu chuẩn quốc tếvừa phù hợp với điều kiện Việt Nam và được ban giám đốc FSC quốc tế phê duyệt[67] Do những tiêu chuẩn và tiêu chí áp dụng chung trong toàn quốc, đồng thời phảiphù hợp với tiêu chuẩn tiêu chí quốc tế nên việc áp dụng không thể phù hợp với mọitrường hợp và mọi điều kiện của từng địa phương Vì vậy, khi áp dụng các

Trang 26

tiêu chuẩn, tiêu chí cần có sự mềm dẻo trong một phạm vi nhất định nào đó, vừađược các tổ chức chứng chỉ rừng quốc tế FSC và FSC quốc gia chấp nhận.

2.1.3 Các chính sách thu hút người dân tham gia vào công tác quản lí rừng

Từ sau khi đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp Nhà nước đã ban hànhhàng loạt chính sách về đất đai, đầu tư, tín dụng,… đã có tác động mạnh tới pháttriển sản xuất lâm nghiệp ở Việt Nam

- Nghị định 01/CP; 02/CP; 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng ổn

định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [10].

- Luật khuyến khích đầu tư trong nước, nghị định 43/1999/NĐ - CP, nghị định 50/1999/NĐ-CP,

2001).

- Nghị định số 139/2004-NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng

và quản lý lâm sản [6].

mục thực vật, động vật hoang dã quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 18/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định danh mục thực vật, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ.

- Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2001 về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất là rừng

Trang 27

- Ngay sau khi Việt Nam gia nhập khối ASEAN (1995), nhu cầu hợp tác vềQLRBV trong khối đã trở thành một trong các nội dung chính trong các cuộc họpthường niên Qua nhiều cuộc thảo luận nhằm xây dựng hệ thống tiêu chuẩn QLRBVcho ASEAN và đẩy mạnh việc thực hiện QLRBV trong mỗi nước thành viên ViệtNam nổi lên là nước có nhu cầu cấp thiết phải quản lý rừng bền vững khi nguồn tàinguyên rừng trong nước đã trở nên cạn kiệt.

Nhà nước đã tiến hành quy hoạch lâm phận trong phạm vi cả nước và từng địaphương, phân chia rừng theo mục đích sử dụng Đã tiến hành giao đất, giao rừng chocác tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.Từng bước thực hiện mỗi mảnh đất, khu rừng đều có chủ cụ thể và hướng tới xã hộihoá nghề rừng Chính sách giao khoán rừng và đất lâm nghiệp đã thu hút mọi nguồnnhân lực, vật lực cùng kinh doanh có hiệu quả rừng và đất rừng được giao

Nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển trồng rừng kinh tế ở Việt Namtrong thời gian gần đây cũng đã được quan tâm nhiều hơn, song cũng chỉ tập trungvào một số vấn đề như: phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng, sửdụng đất lâm nghiệp và một số nghiên cứu nhỏ về thị trường Các công trình quantrọng có thể kể đến là:

- Đỗ Doãn Triệu (1997) [50] đã nghiên cứu xây dựng một số luận cứ khoahọc và thực tiễn góp phần hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư nướcngoài vào trồng rừng nguyên liệu công nghiệp

- Võ Nguyên Huân (1997) [25] “Đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ởThanh Hoá”, nghiên cứu các loại hình chủ rừng sản xuất và khuyến nghị các giảipháp chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý và sử dụng bềnvững Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của chính sách giaođất khoán rừng và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng

- Vũ Long (2000) [35] “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi giao và khoánđất lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc”;

- Đỗ Đình Sâm, Lê Quang Trung (2003) [48] “Đánh giá hiệu quả trồng rừngcông nghiệp ở Việt Nam”

Trang 28

Phạm Xuân Phương (2003) [40] đã rà soát các chính sách liên quan đến rừngnhư chính sách về đất đai, đầu tư tín dụng tuy nhiên cũng chỉ rõ các chủ trương,chính sách là rất kịp thời rất có ý nghĩa, nhưng trong quá trình triển khai thực hiệncòn gặp nhiều bất cập Tác giả cũng định hướng hoàn thiện các chính sách để cóquy hoạch tổng thể cho vùng trồng rừng nguyên liệu, chủ rừng có thể vay vốn trồngrừng đảm bảo có lợi nhuận, đảm bảo rừng được trồng với tập đoàn giống tốt.

Nguyễn Xuân Quát, Nguyễn Hồng Quân và Phạm Quang Minh, (2003) [41]Cho thấy thực trạng trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâmsản trong thời gian qua đã thu được một số kết quả đáng kể nhưng cũng còn nhiềuvấn đề cần giải quyết như: diện tích rừng trồng sản xuất hàng năm chỉ đạt 50% kếhoạch, các cơ sở chế biến còn ở xa vùng nguyên liệu, chính sách còn chưa đồng bộ

Lê Quang Trung, Cao Lâm Anh, Trần Việt Trung (2000), qua quá trìnhnghiên cứu và phân tích các chính sách khuyến khích trồng rừng Thông nhựa đãđưa ra 10 khuyến nghị rất sát thực định hướng phát triển loại rừng này [51]

Nhìn chung, các nghiên cứu đã tập trung vào các vấn đề bức xúc nhất củakinh tế - chính sách phát triển lâm nghiệp hiện nay và bước đầu đã giải quyết đượcnhững vấn đề thực tế đặt ra Tuy nhiên, do quy mô và phạm vi nghiên cứu nhỏ, cáckhía cạnh được quan tâm hẹp, vấn đề thị trường ít được chú ý nên giá trị vận dụngcủa các giải pháp và đề xuất thấp Việc xây dựng hệ thống chính sách phù hợp đểthu hút người dân tham gia vào công tác phát triển rừng, xoá đói giảm nghèo bằngnghề rừng trên chính mảnh đất họ được giao vẫn còn là những thách thức nhằm giảiquyết yêu cầu của sản xuất lâm nghiệp là hiệu quả và bền vững

2.2.4 Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rừng bền vững

Mặc dù còn khá mới mẻ song QLRBV và chứng chỉ rừng cũng rất được quantâm Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau::

- Phạm Đức Lân và Lê Huy Cường (1998): Quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên lưu vực sông Sê San [30]

- Hồ Viết Sắc (1998): Quản lý bảo vệ rừng khộp ở Easup - Đắc Lắc [47]

- Đỗ Đình Sâm (1998): Du canh với vấn đề QLRBV ở Việt Nam [45]

Trang 29

- Lại Hữu Hoàn (2003): Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý sửdụng tài nguyên rừng bền vững tại xã Hương Lộc, huyện Nam Động, tỉnh ThừaThiên - Huế [24].

- Lê Văn Hùng (2004): Nghiên cứu cơ sở và thực tiễn làm căn cứ đề xuất cácgiải pháp quy hoạch quản lý rừng bền vững tại lâm trường Ba Rền - công ty lâmnghiệp Long Đại - tỉnh Quảng Bình [26]

- Nhữ Văn Kỳ (2005): Nghiên cứu một số giải pháp quản lý sử dụng tàinguyên rừng bền vững tại khu vực rừng phòng hộ hồ Cấm Sơn, huyện Lục Ngạn,tỉnh Bắc Giang [28]

- Nguyễn Tiến Thành (2007): Quy hoạch kinh doanh rừng theo tiêu chuẩn QLRBV tại lâm trường Yên Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang [49]

Bên cạnh những nỗ lực của Chính phủ và Bộ NN&PTNT cũng đã có nhiều tổchức và dự án quốc tế hỗ trợ quá trình hướng tới QLRBV ở Việt Nam Tiêu biểu làChương trình Hỗ trợ Quản lý và Sử dụng rừng bền vững (GTZ) với các hoạt động:Lập bản đồ và phân vùng chức năng rừng trong môi trường quy hoạch quản lý rừng

tự nhiên của các lâm trường quốc doanh (tháng 11 năm 2006) với hoạt động; Tổchức hội thảo xây dựng kế hoạch và thực hiện QLRBV (tháng 5 năm 2007) [20];Hướng dẫn xây dựng Phương án QLR tại các Lâm trường điểm [21]

Những nghiên cứu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần hướng tớiQLRBV của các địa phương và thể hiện được sự cam kết của Việt Nam với cộngđồng quốc tế trong vấn đề QLRBV Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nghiên cứumang tính chất về cơ sở lý luận chưa phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến quản

lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững và bước đầu đưa các nghiên cứu áp dụng vàomột số địa phương

Trang 30

những tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm có giá trị cho việc đánh giá nhữngtác động kinh tế, xã hội và môi trường nhằm QLRBV và hướng tới cấp chứng chỉrừng trên thế giới Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở mỗi nướckhác nhau nên nội dung và phương pháp đánh giá ở mỗi nơi khác nhau, các tiêuchuẩn và tiêu chí trong QLRBV phải đạt được yêu cầu vừa đảm bảo nguyên tắcquốc tế vừa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh ở mỗi quốc gia, mỗi vùng sinh thái.

- Mặc dù QLRBV khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng các nghiên cứu và sự quantâm của chính phủ thể hiện ở nhiều các công trình gần đây Đánh giá tác động trên

cả 3 phương diện môi trường, kinh tế và xã hội gần đây ở nước ta đã được nhiều

nghiên cứu thực hiện nhưng cũng mới chỉ đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển.Đánh giá tác động xã hội của công tác quản lí rừng cũng đã được tiến hành nhưngchưa có hệ thống, đặc biệt là chưa gắn việc đánh giá với các tiêu chí QLRBV, quanđiểm và cách tiếp cận trong đánh giá cũng chưa được toàn diện Việc nghiên cứuđánh giá tác động xã hội của hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp nhằm đềxuất các giải pháp QLRBV tiến tới cấp chứng chỉ rừng dựa trên cơ sở các số liệuthực tế và dự báo cũng như lộ trình các công việc ưu tiên cho từng giai đoạn là việclàm cần thiết và có ý nghĩa cả về khoa học lẫn thực tiễn góp phần đẩy nhanh tiếntrình QLRBV và cấp chứng chỉ rừng ở Việt Nam theo Chiến lược Phát triển Lâmnghiệp đến năm 2020

Xuất phát từ những yêu cầu đó, đề tài: “Đánh giá tác động xã hội của

công tác quản lý rừng tại lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái” đặt ra là rất cần

thiết đối với lâm trường Văn Chấn, đặc biệt trong bối cảnh lâm trường đang

chuyển đổi

thành doanh nghiệp lâm nghiệp

Trang 31

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu đề tài

Về lí luận:

- Đánh giá được tác động xã hội của công tác quản lí rừng tại lâm trường

- Đánh giá được mức độ phù hợp của các tiêu chuẩn xã hội trong Bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV đối với công tác quản lý rừng ở lâm trường Văn Chấn

Về thực tiễn:

Đề xuất được một số giải pháp và các công việc ưu tiên nhằm thúc đẩy tiếntrình QLRBV ở lâm trường Văn Chấn

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa lâm trường Văn Chấn, mối quan hệ qua lại về mặt xã hội giữa Lâm trường VănChấn với người dân địa phương ở 4 xã thuộc địa bàn của Lâm trường bao gồm; Nậm Búng, Gia Hội, Sơn Lương và Nậm Lành

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong đánh giá những tác động

về mặt xã hội của lâm trường đến người dân trên địa bàn 4 xã và ngược lại; đốichiếu với các chỉ số, tiêu chí và tiêu chuẩn về mặt xã hội (tiêu chuẩn 2, 3 và 4) trong

Bộ tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam (phiên bản 9C) để đề xuất một số giải pháp vàcác công việc ưu tiên nhằm QLRBV và tiến tới cấp chứng chỉ rừng tại Lâm trườngVăn Chấn Đề tài không đánh giá các tác động về kinh tế và môi trường của các hoạt động sản xuất kinh doanh tại Lâm trường Văn Chấn

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và QLBVR tại lâm trường Văn Chấn

+ Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức lâm trường

+ Tài nguyên rừng

Trang 32

+ Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.

+ Tình hình quản lý bảo vệ rừng

- Tình hình sản xuất và kinh tế hộ gia đình các xã trên địa bàn lâm trường

+ Cơ cấu sử dụng đất đai

+ Tình hình sản xuất nông nghiệp các xã trên địa bàn lâm trường.+ Tình hình sử dụng tài nguyên rừng

+ Nguồn vốn đầu tư

+ Phân loại kinh tế hộ

+ Cơ cấu thu nhập và chi tiêu

- Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp và khoán QLBVR

+ Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp trên địa bàn

+ Đánh giá tình hình giao khoán QLBVR

+ Đánh giá cơ hội tạo thu nhập của các hộ gia đình sống gần rừng từ các hoạtđộng quản lý rừng của lâm trường Văn Chấn

- Đánh giá tác động qua lại giữa lâm trường Văn Chấn và địa phương

+ Các hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường đối với địa phương

+ Những hoạt động sản xuất của địa phương đối lâm trường

- Đánh giá mức độ phù hợp của các tiêu chuẩn xã hội trong công tác QLR ở lâm trường Văn Chấn

+ Tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV và những tiêu chí về xã hội

+ Đánh giá mức độ phù hợp các tiêu chí xã hội trong công tác quản lí rừng ở lâm trường Văn Chấn

- Đề xuất một số giải pháp và các công việc ưu tiên nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và bền vững về mặt xã hội ở lâm trường Văn Chấn

+ Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về tác động xã hội của công tác quản lí rừng ở lâm trường Văn Chấn

+ Một số dự báo

+ Đề xuất một số giải pháp

+ Đề xuất các công việc ưu tiên

Trang 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận

2.4.1.1 Quan điểm nghiên cứu

Chủ đề chính của luận văn là đánh giá tác động xã hội của công tác quản lírừng ở Lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái, vấn đề này cần phải được xem xét vàđánh giá trên 2 góc độ:

i) Hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng của lâm trường Văn Chấn

có tác động như thế nào đến các yếu tố xã hội ở địa phương

ii) Các yếu tố xã hội của địa phương có tác động như thế nào đến hoạt động quản lý rừng của lâm trường

Như vậy, trong quá trình nghiên cứu 2 vấn đề này phải được đặt trong mốiquan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại với nhau, chứ không được xem xétcác vấn đề theo một chiều hướng nhất định Mối quan hệ biện chứng này là cơ sởquan trọng để đánh giá sự thích ứng của các tiêu chuẩn/chỉ số xã hội trong Bộ tiêuchuẩn quốc gia cũng như đề xuất các khuyến nghị cho công tác QLRBV tại lâmtrường Văn Chấn

- Đánh giá những vấn đề liên quan đến việc quản lý rừng và tác động xã hộicủa lâm trường Văn Chấn cần phải xem xét trên quan điểm lịch sử, nghĩa là khôngchỉ chú ý đến các hoạt động hiện tại mà phải xem xét cả các hoạt động diễn ra trongquá khứ và tương lai, đặt nó trong trạng thái động theo tiến trình lịch sử Điều nàyđặc biệt quan trọng khi lâm trường Văn Chấn đang trong quá trình sắp xếp đổi mới

và chuyển đổi thành công ty lâm nghiệp Văn Chấn

- Đánh giá tác động xã hội không có nghĩa là chỉ chú ý đến đánh giá các khía

cạnh xã hội một cách thuần túy mà còn cần phải chú ý đến cả khía cạnh về kinh tế

và kỹ thuật như tình hình phát triển kinh tế của địa phương dưới ảnh hưởng của hoạt

động quản lý rừng, cơ hội tạo thu nhập và việc làm, kỹ thuật canh tác nông lâmnghiệp tại địa phương, vì các yếu tố này có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tớicác yếu tố xã hội

Trang 34

2.4.1.2 Cách tiếp cận

- Đánh giá tác động xã hội là một vấn đề phức tạp không chỉ liên quan trựctiếp đến các đơn vị (lâm trường, xã, thôn, ) và người dân địa phương mà còn liênquan đến nhiều cơ quan, ban ngành khác trên địa bàn nên trong quá trình nghiên

cứu cần phải tiếp cận có sự tham gia của nhiều các đơn vị khác nhau như Hạt kiểm

lâm huyện, Trạm kiểm lâm Sơn Lương, UBND các xã, thôn có liên quan và đặc biệt

là người dân, những hộ gia đình sống gần rừng,

- Do thời gian nghiên cứu ngắn nên cách tiếp cận chủ yếu sẽ là kế thừa tối đa

các số liệu và thông tin đã có như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình hoạtđộng của lâm trường, giao khoán quản lý bảo vệ rừng, đề tài chỉ tiến hành điều tra

bổ sung các thông tin còn thiếu hoặc để cập nhật thông tin

- Diện tích sản xuất lâm nghiệp của lâm trường phân bố khá rộng: trên địabàn 4 xã với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau, độ cao tăng dần khi đi từ

xã Sơn Lương lên xã Nậm Búng và kèm theo đó là đời sống và đặc điểm canh tác ởcác xã cũng rất khác nhau, trong 4 xã vùng cao có xã Nậm Lành là xã 135 Vì vậy,khi xem xét, đánh giá tác động xã hội cũng như đề xuất các khuyến nghị cần phảitiếp cận theo từng khu vực cụ thể

- Trong khu vực của lâm trường Văn Chấn có nhiều dân tộc thiểu số sinhsống như Thái, Dao, H'mông, Dáy, Mường, Tày, mỗi dân tộc có tập quán canh tác,trình độ dân trí, văn hóa khác nhau, vì vậy, khi đánh giá tác động xã hội cần phảichú ý đến đặc điểm của từng dân tộc cụ thể

2.4.2 Phương hướng giải quyết vấn đề

Nghiên cứu này xuất phát từ việc khảo sát và đánh giá các nhân tố chi phốiđặc thù đến hoạt động sản xuất kinh doanh của lâm trường như điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội, đặc điểm và ảnh hưởng của dân cư sống xung quanh rừng, để thấy

được mối quan hệ qua lại giữa hoạt động quản lý rừng của lâm trường và địa

phương Từ đó nhìn nhận rõ vị trí, vai trò của người dân địa phương trong hoạt độngsản xuất, kinh doanh và QLBVR của lâm trường, đồng thời cũng làm rõ vai trò và

sự ảnh hưởng của lâm trường đến sự phát triển của cộng đồng dân cư xung quanh

Trang 35

Phương hướng giải quyết vấn đề được khái quát hóa qua sơ đồ sau:

ĐKTN-KTXHcác xã trên địabàn Lâm trường

Các hoạt độngSXKD của Lâmtrường

Điểm mạnh

Các cơ hội

Sơ đồ 2.1: Phương hướng giải quyết vấn đề

Trên cơ sở đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng vấn đề cụ thể chủ yếu

thông qua bức tranh hiện trạng để xem xét thực chất của vấn đề Từ thực trạng này,

sẽ đi sâu đánh giá những cơ hội và thách thức trong việc phát triển hoạt động sản

xuất kinh doanh và quản lý bền vững tài nguyên rừng làm cơ sở đề xuất nhữngkhuyến nghị có tính khả thi cho vùng nghiên cứu, trong đó chú trọng đánh giá mức

độ phù hợp của các tiêu chuẩn xã hội trong bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV đốivới thực trạng công tác quản lý rừng ở khu vực nghiên cứu

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.3.3.1 Thu thập thông tin, số liệu

- Tại Hà Nội: Tiến hành thu thập các tài liệu sau:

Trang 36

 Báo cáo nghiên cứu về đánh giá tác động xã hội đã được tiến hành ởmột số địa điểm khác của Dự án GTZ như ở Ninh Sơn - Ninh Thuận, lâmtrường M’DRăk - Đăk Lăk và lâm trường Đăk Tô - Kon Tum;

Trang 37

 Thu thập các quy định, hướng dẫn và tài liệu về quản lý rừng bềnvững và chứng chỉ rừng, đặc biệt là Bộ tiêu chuẩn Quốc gia phiên bản 9C vềQLRBV do Tổ công tác quốc gia soạn thảo (nay là Viện QLRBV và chứngchỉ rừng).

 Các bản đồ và số liệu tài nguyên rừng của lâm trường Văn Chấn tại Văn

phòng Dự án GTZ Trung ương

- Tại địa phương: Làm việc với các cơ quan quản lý lâm nghiệp, các tổ chức cóliên quan để thu thập các thông tin, số liệu cần thiết phục vụ nghiên cứu Các cơquan làm việc bao gồm:

 Sở NN & PTNT, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Yên Bái.

 Văn phòng Dự án GTZ tại lâm trường Văn Chấn.

 Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn, Trạm Kiểm lâm Sơn Lương.

 UBND 4 xã khu vực lâm trường Văn Chấn, gồm: xã Nậm Búng, Gia Hội,

 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu, trong đóchú trọng đến các số liệu về kinh tế - xã hội như dân số, dân tộc, laođộng, thu nhập, tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng,

 Cơ cấu tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường

 Mối quan hệ qua lại giữa lâm trường Văn Chấn với địa phương trong QLBVR cũng như phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,

- Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan: Quá trình điều tra,phỏng vấn được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc theo mẫuphiếu đã được soạn sẵn với những câu hỏi mở Đối tượng phỏng vấn trực tiếp đượcchia thành 3 nhóm theo 3 loại kênh thông tin sau:

Trang 38

+ Lâm trường Văn Chấn - Chủ rừng: Đối tượng phỏng vấn là lãnh đạo lâmtrường và cán bộ kỹ thuật, công nhân lâm trường Nội dung phỏng vấn tập trung

Trang 39

vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, giao khoán bảo vệ rừng của lâmtrường, những khó khăn, tồn tại và thách thức đối với lâm trường, định hướng pháttriển của lâm trường khi chuyển đổi thành công ty; những hoạt động hỗ trợ địaphương của lâm trường, những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực từ cộng đồng dân cưxung quanh đến hoạt động của lâm trường đặc biệt là đến công tác QLBVR,

+ UBND các xã trên địa bàn lâm trường: Tiến hành làm việc với tất cả 4 xãtrên địa bàn: Nậm Búng, Gia Hội, Sơn Lương và Nậm Lành Đối tượng phỏng vấn

là cán bộ lãnh đạo xã và các cán bộ chuyên trách xã, thôn như cán bộ nông lâmnghiệp, cán bộ địa chính, nội dung phỏng vấn là đặc điểm tình hình kinh tế - xãhội của xã, hoạt động sử dụng đất, cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp, đặc điểm dân

cư, các phúc lợi và dịch vụ xã hội trên địa bàn xã (y tế, giáo dục, các chương trình

dự án hỗ trợ), các chương trình dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã; hoạtđộng giao khoán bảo vệ rừng, những hỗ trợ đối với công tác sản xuất kinh doanh vàquản lý bảo vệ rừng của lâm trường, những tác động tích cực và tiêu cực từ nhữnghoạt động của lâm trường đến sản xuất và đời sống của người dân và ngược lại.+ Các hộ gia đình - người bị tác động trực tiếp: Các hộ gia đình được lựachọn ngẫu nhiên ở mỗi xã theo nguyên tắc có đủ các thành phần dân tộc, nghềnghiệp, mức sống, Nội dung phỏng vấn tập trung vào hoạt động kinh tế, thu nhập,chi tiêu và mức sống của các hộ gia đình, những hoạt động liên quan đến tài nguyênrừng tại địa phương đặc biệt là hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nhận khoán và bảo

vệ rừng, những thu nhập từ rừng, Những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của lâmtrường đến đời sống và sản xuất của người dân, những ảnh hưởng của người dânđến hoạt động sản xuất của lâm trường

2.3.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Sử dụng phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA) và phương pháp đánh

giá nhanh nông thôn (RRA) để đánh giá những tác động của các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp trên địa bàn các xã của lâm trường

- Sử dụng phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) để phân tích và đánh giá vấn đề

Trang 40

- Đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí về xã hội của Bộ tiêuchuẩn Quốc gia về QLRBV được thực hiện cho từng chỉ số cụ thể và được chiathành 3 mức độ: Đã phù hợp, phù hợp một phần và chưa phù hợp.

Các bước thực hiện nghiên cứu được khái quát hóa qua sơ đồ sau:

Dân

số, dântộc, laođộng

Đánh giá sự phù hợpvới bộ tiêu chuẩn Quốcgia về QLRBV

Các đề xuất, khuyến

nghị

Ngày đăng: 29/06/2021, 18:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w