đó đánh giá tác động xã hội là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu cầnphải thực hiện.Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài “Đánh giá tác động xã hội của công tác quản lí rừng tại Lâm tr
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
1.1.1 Đánh giá tác động xã hội của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness) Từ sau năm 1990 các hoạt động đánh giá được thực hiện đã bao gồm cả đánh giá tác động (impact assessment), tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000) Hiện nay, việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá, bao gồm tất cả các thay đổi về sinh thái, văn hoá - xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lại bởi các hoạt động của một chương trình, dự án. Đánh giá tác động môi trường và xã hội (ESIA) đang ngày càng được tăng cường và áp dụng ở nhiều ngành với mục tiêu nhằm đảm bảo cho các vấn đề môi trường và xã hội được quan tâm thoả đáng trước khi đưa ra những lựa chọn đầu tư quan trọng, là phương tiện phù hợp để hỗ trợ quá trình ra quyết định [5]. ở rất nhiều quốc gia ESIA được thiết lập như một qui trình lập kế hoạch/phê duyệt chủ yếu chỉ áp dụng cho thiết kế khả thi các dự án phát triển qui mô lớn với vùng tác động hạn chế ESIA không có mối liên kết cụ thể với bất kỳ một cơ chế phê duyệt hay cấp phép nào, điều đó có nghĩa rằng những kết quả của qui trình ESIA không thể có hiệu lực và khó kiểm soát [52]. Đánh giá và giám sát tác động nhằm để trả lời câu hỏi: những thay đổi được mong đợi có thực sự xảy ra không? và có hay không những tác động không được mong đợi nhằm điều chỉnh việc quản lý chương trình, dự án; cung cấp thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định từ cấp dự án tới cấp ra chính sách nhằm xác định mức độ bền vững của các hoạt động cũng như khâu thiết kế dự án; Giải trình cho các thành viên dự án về các mục tiêu đã được đề ra và vấn đề sử dụng các nguồn tài nguyên đã được cung cấp [5].
Năm 1996 trong báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland, MichealLuedeke và Jeff Martin đã khuyến nghị rằng hoạt động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng đầu, còn đối với các dự án đầu tư mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường. Để không bỏ qua trong quá trình thực hiện đánh giá tác động dự án, tổ chức nghiên cứu cao cấp về phát triển quốc tế Nhật bản (2003) đã đề xuất việc đánh giá tác động không chỉ tập trung so sánh kết quả đầu ra với đầu vào của dự án mà còn phải xem xét những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực, hiện tại và tương lai, thậm chí là những ảnh hưởng gián tiếp phát sinh từ những ảnh hưởng trực tiếp Vì vậy, trong quá trình đánh giá dự án, việc thiết kế phương pháp và câu hỏi nên chia thành 2 nhóm vấn đề là chính sách, thể chế - quản lý, kỹ thuật, môi trường, văn hoá - xã hội và kinh tế - tài chính; những tác động được phân loại thành 4 nhóm: tích cực/tiêu cực và mong đợi/không mong đợi.
Theo Renard R [72] việc đánh giá hiệu quả kinh tế (áp dụng giá bóng - tính đến lạm phát, chi phí cơ hội) nên đồng thời là các đánh giá hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường trong đánh giá các chương trình, dự án lâm nghiệp.
FAO [74], [75] nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng Cũng theo FAO
[68], một dự án trong lâm nghiệp dù có đạt được hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, B/C ) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội (tạo việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng, ) và hiệu quả môi trường thì không được coi là một dự án bền vững.
Nghị định thư Kyoto ra đời và việc thành lập Quĩ môi trường toàn cầu (GEF) càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Đứng về phương diện các phương thức canh tác, hay sử dụng các phương án sử dụng đất khác nhau, Walfredo [73] đã cho rằng: Phương thức canh tác sẽ có những tác động tới kinh tế, sinh thái và xã hội từ đó sẽ có ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, cân bằng sinh thái và phát triển xã hội Tất cả các mối quan hệ ảnh hưởng này sẽ tác động toàn diện về kinh tế - xã hội - bảo vệ môi trường sinh thái.
1.1.2 Nghiên cứu về quản lý rừng bền vững
Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà khoa học trên thế giới có sự quan tâm đặc biệt về vấn đề sử dụng đất đai, tài nguyên rừng bền vững Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các nhu cầu của con người ở các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau dẫn đến sự đa dạng, phức tạp và những quan điểm khác nhau của công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững ở mỗi quốc gia Tuy nhiên, điểm giống nhau cơ bản khi nói đến quản lý sử dụng đất đai tài nguyên rừng bền vững đều được thể hiện ở ba vấn đề: kinh tế, xã hội và môi trường Cuối cùng người ta cũng đã cố gắng đưa ra một định nghĩa về QLRBV nhằm diễn đạt bản chất của nó, đồng thời để từ đó xây dựng nên những nguyên tắc cơ bản trong công tác QLRBV.
Khái niệm về QLRBV hình thành từ đầu thế kỷ 18 Ban đầu chỉ chú trọng đến khai thác, sử dụng gỗ được lâu dài, liên tục Cùng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và phát triển kinh tế - xã hội, QLRBV đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ thống sinh thái rừng và cuối cùng là QLRBV trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ, toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường QLRBV là việc đóng góp của công tác lâm nghiệp đối với sự phát triển, sự phát triển đó phải mang lại lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, có thể cân bằng giữa nhu cầu hiện tại và tương lai [29].
Vào đầu thế kỷ 18, các Nhà lâm học Đức như Hartig, GL [77], Heyer, F [78]
… đã đề xuất ra nguyên tắc sử dụng lâu bền đối với rừng thuần loài đều tuổi Vào thời điểm này các nhà khoa học người Pháp (Gournand, 1922) và người Thụy Sỹ (H Biolley) cũng đã đề ra phương pháp kiểm tra, điều chỉnh sản lượng đối với rừng đồng tuổi khai thác chọn [72].
Hiện nay đã có nhiều tổ chức đưa ra khái niệm QLRBV như Tổ chức Gỗ nhiệt đới (ITTO), Hiệp ước Helsinki [19] ủy ban Quốc tế về môi trường và phát triển [29], Các định nghĩa trên có cách diễn đạt khác nhau nhưng bao gồm hai vấn đề chính là quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra và đảm bảo sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường [37].
Vấn đề đặt ra với QLRBV là như thế nào?, đó là công tác quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng nhằm ngăn chặn tình trạng mất rừng do khai thác sử dụng quá mức mà trong đó việc khai thác lợi dụng tài nguyên rừng không mâu thuẫn với việc đảm bảo vốn rừng, đảm bảo chức năng tái sản xuất của rừng, đồng thời phát huy được vai trò chức năng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái bền vững của rừng đối với con người và thiên nhiên.
Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý rừng đã tập trung ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển Vai trò sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng không được chú ý Mặc dù trong các quy định pháp luật thì rừng là tài sản của toàn dân nhưng trên thực tế người dân không hề được hưởng lợi từ rừng, vì vậy họ chỉ biết khai thác rừng để lấy lâm sản và lấy đất canh tác phục vụ cho nhu cầu sống của chính họ mà cũng không hề quan tâm đến vấn đề xây dựng và bảo vệ vốn rừng Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng nên trong giai đoạn này tình trạng khai thác quá mức trở thành nguyên nhân quan trọng của suy thoái nghiêm trọng tài nguyên rừng [49].
Từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều quốc gia đã bị giảm sút nghiêm trọng, môi trường sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền núi bị đe doạ thì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích hợp nữa Người ta đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái rừng thông qua việc ban bố một số chính sách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia quản lý và sử dụng tài nguyên rừng Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở ấn Độ và dần dần biến thái thành các hình thức quản lý khác nhau như lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xã hội (Nêpan, Thái Lan, Philippin, ) [44].
Do diện tích rừng bị suy thoái và canh tác nông nghiệp không bền vững, FAO (1967 - 1969) đã quan tâm đến phát triển nông lâm kết hợp (NLKH) và trong các nghiên cứu của mình đã đi đến thống nhất: áp dụng biện pháp NLKH là phương thức tốt nhất để sử dụng đất rừng nhiệt đới một cách hợp lí, tổng hợp và nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động dư thừa đồng thời thiết lập cân bằng sinh thái [68] Ngày nay, NLKH đã trở thành một phương thức kinh doanh phổ biến – gọi là “phương thức sản xuất kinh doanh NLKH”.
1.1.3 Các chính sách thu hút người dân tham gia vào công tác quản lí rừng
Nghiên cứu của Ianuskơ K (1996) cho thấy để duy trì được hiệu quả, tính ổn định và bền vững của rừng cần phải giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế, trong đó cần có kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với các quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách đòn bẩy để thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng, phương thức canh tác phải gần với kiến thức bản địa và được người dân áp dụng.
Ở Việt Nam
1.2.1 Đánh giá tác động xã hội của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
QLRBV chỉ đạt được khi dung hoà được 3 yếu tố: kinh tế, môi trường và xã hội Trong một chừng mực nào đó, yếu tố xã hội chính là yếu tố quyết định, tác động trực tiếp lên các yếu tố khác, đặc biệt ở nước ta khi cơ chế, chính sách về QLRBV vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện.
Trên thực tế rất nhiều lâm trường hoạt động yếu kém đối với các vấn đề xã hội, không giải quyết triệt để những bất đồng giữa lợi ích đơn vị với lợi ích cộng đồng Người dân sống tại khu vực rừng phải chịu ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực trong khi các hoạt động quản lý rừng không thể mang lại lợi ích và đảm bảo những nhu cầu tối thiểu của họ Do vậy, việc tiến hành đánh giá tác động xã hội nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra của hoạt động quản lý rừng là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay đối với mỗi lâm trường [23]. Ở Việt Nam, “đánh giá tác động” được quan tâm chú ý nhiều từ khi đổi mới, đặc biệt trong các dự án phát triển; đánh giá dự án không chỉ được đánh giá qua các tiêu chí phân tích tài chính mà nó còn bao gồm cả những tiêu chí đánh giá về hiệu quả xã hội và môi trường Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi sang kinh tế thị trường, đánh giá hiệu quả kinh tế thường được chú trọng hơn Mặc dù vậy, môi trường và xã hội cũng tác động không nhỏ đến quá trình sản xuất kinh doanh nhất là trong kinh doanh lâm nghiệp, vì vậy giai đoạn hiện nay để QLRBV người ta tiến hành đánh giá cả tác động về kinh tế, môi trường và xã hội.
Phạm Xuân Thịnh [53], Đàm Đình Hùng [28] đã đề cập đến một số tác động của dự án về mặt kinh tế, xã hội và môi trường, đúc kết các kinh nghiệm, rút ra những mặt làm được và những mặt còn tồn tại làm cơ sở định hướng phát triển ở giai đoạn hậu dự án và cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, các báo cáo mới chỉ mô tả các hoạt động của dự án, còn đánh giá tác động của dự án mang nhiều tính chất định tính cảm quan hơn là các số liệu định lượng.
Lại Thị Nhu (2004) khi nghiên cứu “Đánh giá tác động của dự án trồng rừng nguyên liệu ván dăm giai đoạn 1999 - 2003 của Công ty Lâm nghiệp Thái Nguyên”[43] đã đánh giá về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, quá trình đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án.Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở những tác động tích cực mà chưa đi sâu phân tích những tác động tiêu cực của dự án.
Nguyễn Minh Hằng, Vũ Nam (2006) [23] trong công trình đánh giá tác động xã hội tại lâm trường Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã xác định được các nhóm liên quan đến hoạt động quản lý rừng, các hoạt động sử dụng rừng chủ yếu của người dân bản địa và nhu cầu của các nhóm liên quan trong phạm vi lâm trường Tuy nhiên, nghiên cứu không chỉ ra những chỉ số, chỉ tiêu và tiêu chuẩn cụ thể về mặt xã hội nào đã phù hợp và chưa phù hợp với bộ tiêu chuẩn QLRBV của Hội đồng quản trị rừng quốc tế FSC làm cơ sở để đề xuất một số giải pháp nhằm QLRBV và tiến tới cấp chứng chỉ rừng cho đơn vị.
Nguyễn Văn sản, Lê Khắc Côi (2007) [46] đã thực hiện việc đánh giá tác động kinh tế - xã hội tại công ty lâm sản xuất khẩu (Forexco) tỉnh Quảng Nam và chỉ ra sự phù hợp và chưa phù hợp của từng tiêu chí, chỉ số và tiêu chuẩn trong bộ tiêu chuẩn QLRBV của Hội đồng quản trị rừng quốc tế FSC từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn chỉnh các tiêu chí tiến tới QLRBV và cấp chứng chỉ rừng. Tuy nhiên, những đánh giá tác động chỉ dựa theo các chỉ số của bộ tiêu chuẩn, những giải pháp đề xuất chỉ đặt trong tình huống cụ thể ở hiện tại mà chưa có những dự báo, phân tích xu hướng thay đổi các yếu tố xã hội nhằm đề xuất các giải pháp và những công việc ưu tiên trong tiến trình QLRBV và cấp chứng chỉ rừng.
Chương trình lâm nghiệp Việt Nam - Cộng hoà liên bang Đức (2007) đã tiến hành hỗ trợ đánh giá tác động xã hội tại lâm trường Ninh Sơn - Ninh Thuận, Lâm trường M’Drắk - Đăklăk, lâm trường Đăktô - Kontum và Lâm trường Văn Chấn – Yên Bái [11], [12], [13], [14] Bước đầu đã chỉ ra được những tồn tại cơ bản, sự phù hợp của các chỉ số, chỉ tiêu và tiêu chuẩn trong quản lý rừng của các lâm trường từ đó đề xuất những giải pháp nhằm QLRBV theo tiêu chuẩn FSC Việt Nam.
2.2.2 Nghiên cứu về quản lý rừng bền vững
Công tác quản lý sử dụng tài nguyên rừng ở Việt Nam từ trước tới nay được chia thành 3 thời kỳ theo quá trình phát triển của lịch sử cũng như quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước như sau [36]:
- Thời kỳ trước năm 1945: Toàn bộ rừng nước ta là rừng tự nhiên đã được chia theo các chức năng để quản lý sử dụng:
Rừng chưa quản lý: Là những diện tích rừng ở những vùng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt Nhà nước thực dân chưa có khả năng quản lý, người dân được tự do sử dụng lâm sản, đốt nương làm rẫy Việc khai thác lâm sản đang ở mức tự cung tự cấp, lâm sản chưa trở thành hàng hóa.
Rừng mở để kinh doanh: Là những diện tích rừng ở vùng có dân cư và đường giao thông thuận lợi cho vận chuyển lâm sản Những diện tích này được chia thành các đơn vị như khu, sau khu là các lô khai thác, việc khai thác được tiến hành theo chu kỳ sản lượng.
Rừng cấm: Là những diện tích rừng sau khai thác, cần được bảo vệ để tái sinh trong cả chu kỳ theo vòng quay điều chế.
Nhìn chung, trong thời kỳ trước 1945 tài nguyên rừng Việt Nam còn phong phú, nhu cầu lâm sản nói chung của con người còn thấp, rừng bị khai thác lợi dụng tự do Mức độ tác động của con người vào rừng còn ít, tài nguyên rừng còn khá phong phú, vấn đề QLRBV chưa được đặt ra [37].
- Thời kỳ từ năm 1946 - 1990: với sự ra đời của ngành Lâm nghiệp các hoạt động của ngành đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Ngay sau hoà bình lập lại, toàn bộ diện tích rừng và đất rừng ở miền Bắc được quy hoạch vào các lâm trường quốc doanh Nhiệm vụ chủ yếu là khai thác lâm sản để phục vụ cho nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế Nhiệm vụ xây dựng và phát triển vốn rừng tuy có đặt ra nhưng chưa được các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp quan tâm đúng mức.
Giai đoạn từ 1946 - 1960 công tác bảo vệ rừng chủ yếu là khoanh nuôi bảo vệ, hướng dẫn nông dân miền núi sản xuất trên nương rẫy, ổn định công tác định canh định cư, khôi phục kinh tế sau chiến tranh.
Giai đoạn 1961 - 1975 QLBVR được đẩy mạnh, khoanh nuôi tái sinh rừng gắn với công tác định canh định cư Khai thác rừng đã chú ý đến thực hiện theo quy trình, quy phạm, đảm bảo xúc tiến tái sinh tự nhiên.
Giai đoạn 1976 - 1989 bảo vệ rừng gắn liền với việc tu bổ, khoanh nuôi,trồng rừng, gắn chặt công tác quản lý bảo vệ với việc đầu tư nghiên cứu ứng dụng KHCN vào việc xây dựng hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ,rừng sản xuất [7].
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu đề tài
- Đánh giá được tác động xã hội của công tác quản lí rừng tại lâm trường
- Đánh giá được mức độ phù hợp của các tiêu chuẩn xã hội trong Bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV đối với công tác quản lý rừng ở lâm trường Văn Chấn.
Về thực tiễn: Đề xuất được một số giải pháp và các công việc ưu tiên nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV ở lâm trường Văn Chấn.
2.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các hoạt động sản xuất kinh doanh của lâm trường Văn Chấn, mối quan hệ qua lại về mặt xã hội giữa Lâm trường Văn Chấn với người dân địa phương ở 4 xã thuộc địa bàn của Lâm trường bao gồm; Nậm Búng, Gia Hội, Sơn Lương và Nậm Lành.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong đánh giá những tác động về mặt xã hội của lâm trường đến người dân trên địa bàn 4 xã và ngược lại; đối chiếu với các chỉ số, tiêu chí và tiêu chuẩn về mặt xã hội (tiêu chuẩn 2, 3 và 4) trong
Bộ tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam (phiên bản 9C) để đề xuất một số giải pháp và các công việc ưu tiên nhằm QLRBV và tiến tới cấp chứng chỉ rừng tại Lâm trường Văn Chấn Đề tài không đánh giá các tác động về kinh tế và môi trường của các hoạt động sản xuất kinh doanh tại Lâm trường Văn Chấn.
- Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và QLBVR tại lâm trường Văn Chấn
+ Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức lâm trường.
+ Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Tình hình quản lý bảo vệ rừng.
- Tình hình sản xuất và kinh tế hộ gia đình các xã trên địa bàn lâm trường
+ Cơ cấu sử dụng đất đai.
+ Tình hình sản xuất nông nghiệp các xã trên địa bàn lâm trường.
+ Tình hình sử dụng tài nguyên rừng
+ Phân loại kinh tế hộ
+ Cơ cấu thu nhập và chi tiêu
- Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp và khoán QLBVR
+ Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp trên địa bàn.
+ Đánh giá tình hình giao khoán QLBVR.
+ Đánh giá cơ hội tạo thu nhập của các hộ gia đình sống gần rừng từ các hoạt động quản lý rừng của lâm trường Văn Chấn.
- Đánh giá tác động qua lại giữa lâm trường Văn Chấn và địa phương
+ Các hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường đối với địa phương.
+ Những hoạt động sản xuất của địa phương đối lâm trường.
- Đánh giá mức độ phù hợp của các tiêu chuẩn xã hội trong công tác QLR ở lâm trường Văn Chấn
+ Tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV và những tiêu chí về xã hội.
+ Đánh giá mức độ phù hợp các tiêu chí xã hội trong công tác quản lí rừng ở lâm trường Văn Chấn.
- Đề xuất một số giải pháp và các công việc ưu tiên nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và bền vững về mặt xã hội ở lâm trường Văn Chấn
+ Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về tác động xã hội của công tác quản lí rừng ở lâm trường Văn Chấn.
+ Đề xuất một số giải pháp.
+ Đề xuất các công việc ưu tiên.
2.4.1 Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận
Chủ đề chính của luận văn là đánh giá tác động xã hội của công tác quản lí rừng ở Lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái, vấn đề này cần phải được xem xét và đánh giá trên 2 góc độ: i) Hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng của lâm trường Văn Chấn có tác động như thế nào đến các yếu tố xã hội ở địa phương. ii) Các yếu tố xã hội của địa phương có tác động như thế nào đến hoạt động quản lý rừng của lâm trường.
Như vậy, trong quá trình nghiên cứu 2 vấn đề này phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại với nhau, chứ không được xem xét các vấn đề theo một chiều hướng nhất định Mối quan hệ biện chứng này là cơ sở quan trọng để đánh giá sự thích ứng của các tiêu chuẩn/chỉ số xã hội trong Bộ tiêu chuẩn quốc gia cũng như đề xuất các khuyến nghị cho công tác QLRBV tại lâm trường Văn Chấn.
- Đánh giá những vấn đề liên quan đến việc quản lý rừng và tác động xã hội của lâm trường Văn Chấn cần phải xem xét trên quan điểm lịch sử, nghĩa là không chỉ chú ý đến các hoạt động hiện tại mà phải xem xét cả các hoạt động diễn ra trong quá khứ và tương lai, đặt nó trong trạng thái động theo tiến trình lịch sử Điều này đặc biệt quan trọng khi lâm trường Văn Chấn đang trong quá trình sắp xếp đổi mới và chuyển đổi thành công ty lâm nghiệp Văn Chấn.
- Đánh giá tác động xã hội không có nghĩa là chỉ chú ý đến đánh giá các khía cạnh xã hội một cách thuần túy mà còn cần phải chú ý đến cả khía cạnh về kinh tế và kỹ thuật như tình hình phát triển kinh tế của địa phương dưới ảnh hưởng của hoạt động quản lý rừng, cơ hội tạo thu nhập và việc làm, kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp tại địa phương, vì các yếu tố này có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới các yếu tố xã hội.
- Đánh giá tác động xã hội là một vấn đề phức tạp không chỉ liên quan trực tiếp đến các đơn vị (lâm trường, xã, thôn, ) và người dân địa phương mà còn liên quan đến nhiều cơ quan, ban ngành khác trên địa bàn nên trong quá trình nghiên cứu cần phải tiếp cận có sự tham gia của nhiều các đơn vị khác nhau như Hạt kiểm lâm huyện, Trạm kiểm lâm Sơn Lương, UBND các xã, thôn có liên quan và đặc biệt là người dân, những hộ gia đình sống gần rừng,
- Do thời gian nghiên cứu ngắn nên cách tiếp cận chủ yếu sẽ là kế thừa tối đa các số liệu và thông tin đã có như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình hoạt động của lâm trường, giao khoán quản lý bảo vệ rừng, đề tài chỉ tiến hành điều tra bổ sung các thông tin còn thiếu hoặc để cập nhật thông tin.
- Diện tích sản xuất lâm nghiệp của lâm trường phân bố khá rộng: trên địa bàn 4 xã với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau, độ cao tăng dần khi đi từ xã Sơn Lương lên xã Nậm Búng và kèm theo đó là đời sống và đặc điểm canh tác ở các xã cũng rất khác nhau, trong 4 xã vùng cao có xã Nậm Lành là xã 135 Vì vậy, khi xem xét, đánh giá tác động xã hội cũng như đề xuất các khuyến nghị cần phải tiếp cận theo từng khu vực cụ thể.
- Trong khu vực của lâm trường Văn Chấn có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống như Thái, Dao, H'mông, Dáy, Mường, Tày, mỗi dân tộc có tập quán canh tác, trình độ dân trí, văn hóa khác nhau, vì vậy, khi đánh giá tác động xã hội cần phải chú ý đến đặc điểm của từng dân tộc cụ thể.
2.4.2 Phương hướng giải quyết vấn đề
Nghiên cứu này xuất phát từ việc khảo sát và đánh giá các nhân tố chi phối đặc thù đến hoạt động sản xuất kinh doanh của lâm trường như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm và ảnh hưởng của dân cư sống xung quanh rừng, để thấy được mối quan hệ qua lại giữa hoạt động quản lý rừng của lâm trường và địa phương Từ đó nhìn nhận rõ vị trí, vai trò của người dân địa phương trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và QLBVR của lâm trường, đồng thời cũng làm rõ vai trò và sự ảnh hưởng của lâm trường đến sự phát triển của cộng đồng dân cư xung quanh.
Phương hướng giải quyết vấn đề được khái quát hóa qua sơ đồ sau: ĐKTN-KTXH các xã trên địa bàn Lâm trường
Các hoạt động SXKD của Lâm trường Điểm mạnh
Sơ đồ 2.1: Phương hướng giải quyết vấn đề
Trên cơ sở đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng vấn đề cụ thể chủ yếu thông qua bức tranh hiện trạng để xem xét thực chất của vấn đề Từ thực trạng này, sẽ đi sâu đánh giá những cơ hội và thách thức trong việc phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý bền vững tài nguyên rừng làm cơ sở đề xuất những khuyến nghị có tính khả thi cho vùng nghiên cứu, trong đó chú trọng đánh giá mức độ phù hợp của các tiêu chuẩn xã hội trong bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV đối với thực trạng công tác quản lý rừng ở khu vực nghiên cứu.
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.3.1 Thu thập thông tin, số liệu
- Tại Hà Nội: Tiến hành thu thập các tài liệu sau:
Báo cáo nghiên cứu về đánh giá tác động xã hội đã được tiến hành ở một số địa điểm khác của Dự án GTZ như ở Ninh Sơn - Ninh Thuận, lâm trườngM’DRăk - Đăk Lăk và lâm trường Đăk Tô - Kon Tum;
Nội dung nghiên cứu …
- Đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và QLBVR tại lâm trường Văn Chấn
+ Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức lâm trường.
+ Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Tình hình quản lý bảo vệ rừng.
- Tình hình sản xuất và kinh tế hộ gia đình các xã trên địa bàn lâm trường
+ Cơ cấu sử dụng đất đai.
+ Tình hình sản xuất nông nghiệp các xã trên địa bàn lâm trường.
+ Tình hình sử dụng tài nguyên rừng
+ Phân loại kinh tế hộ
+ Cơ cấu thu nhập và chi tiêu
- Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp và khoán QLBVR
+ Đánh giá tình hình giao đất lâm nghiệp trên địa bàn.
+ Đánh giá tình hình giao khoán QLBVR.
+ Đánh giá cơ hội tạo thu nhập của các hộ gia đình sống gần rừng từ các hoạt động quản lý rừng của lâm trường Văn Chấn.
- Đánh giá tác động qua lại giữa lâm trường Văn Chấn và địa phương
+ Các hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường đối với địa phương.
+ Những hoạt động sản xuất của địa phương đối lâm trường.
- Đánh giá mức độ phù hợp của các tiêu chuẩn xã hội trong công tác QLR ở lâm trường Văn Chấn
+ Tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV và những tiêu chí về xã hội.
+ Đánh giá mức độ phù hợp các tiêu chí xã hội trong công tác quản lí rừng ở lâm trường Văn Chấn.
- Đề xuất một số giải pháp và các công việc ưu tiên nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và bền vững về mặt xã hội ở lâm trường Văn Chấn
+ Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về tác động xã hội của công tác quản lí rừng ở lâm trường Văn Chấn.
+ Đề xuất một số giải pháp.
+ Đề xuất các công việc ưu tiên.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm nghiên cứu và cách tiếp cận
Chủ đề chính của luận văn là đánh giá tác động xã hội của công tác quản lí rừng ở Lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái, vấn đề này cần phải được xem xét và đánh giá trên 2 góc độ: i) Hoạt động quản lý, bảo vệ và kinh doanh rừng của lâm trường Văn Chấn có tác động như thế nào đến các yếu tố xã hội ở địa phương. ii) Các yếu tố xã hội của địa phương có tác động như thế nào đến hoạt động quản lý rừng của lâm trường.
Như vậy, trong quá trình nghiên cứu 2 vấn đề này phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại với nhau, chứ không được xem xét các vấn đề theo một chiều hướng nhất định Mối quan hệ biện chứng này là cơ sở quan trọng để đánh giá sự thích ứng của các tiêu chuẩn/chỉ số xã hội trong Bộ tiêu chuẩn quốc gia cũng như đề xuất các khuyến nghị cho công tác QLRBV tại lâm trường Văn Chấn.
- Đánh giá những vấn đề liên quan đến việc quản lý rừng và tác động xã hội của lâm trường Văn Chấn cần phải xem xét trên quan điểm lịch sử, nghĩa là không chỉ chú ý đến các hoạt động hiện tại mà phải xem xét cả các hoạt động diễn ra trong quá khứ và tương lai, đặt nó trong trạng thái động theo tiến trình lịch sử Điều này đặc biệt quan trọng khi lâm trường Văn Chấn đang trong quá trình sắp xếp đổi mới và chuyển đổi thành công ty lâm nghiệp Văn Chấn.
- Đánh giá tác động xã hội không có nghĩa là chỉ chú ý đến đánh giá các khía cạnh xã hội một cách thuần túy mà còn cần phải chú ý đến cả khía cạnh về kinh tế và kỹ thuật như tình hình phát triển kinh tế của địa phương dưới ảnh hưởng của hoạt động quản lý rừng, cơ hội tạo thu nhập và việc làm, kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp tại địa phương, vì các yếu tố này có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới các yếu tố xã hội.
- Đánh giá tác động xã hội là một vấn đề phức tạp không chỉ liên quan trực tiếp đến các đơn vị (lâm trường, xã, thôn, ) và người dân địa phương mà còn liên quan đến nhiều cơ quan, ban ngành khác trên địa bàn nên trong quá trình nghiên cứu cần phải tiếp cận có sự tham gia của nhiều các đơn vị khác nhau như Hạt kiểm lâm huyện, Trạm kiểm lâm Sơn Lương, UBND các xã, thôn có liên quan và đặc biệt là người dân, những hộ gia đình sống gần rừng,
- Do thời gian nghiên cứu ngắn nên cách tiếp cận chủ yếu sẽ là kế thừa tối đa các số liệu và thông tin đã có như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình hoạt động của lâm trường, giao khoán quản lý bảo vệ rừng, đề tài chỉ tiến hành điều tra bổ sung các thông tin còn thiếu hoặc để cập nhật thông tin.
- Diện tích sản xuất lâm nghiệp của lâm trường phân bố khá rộng: trên địa bàn 4 xã với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau, độ cao tăng dần khi đi từ xã Sơn Lương lên xã Nậm Búng và kèm theo đó là đời sống và đặc điểm canh tác ở các xã cũng rất khác nhau, trong 4 xã vùng cao có xã Nậm Lành là xã 135 Vì vậy, khi xem xét, đánh giá tác động xã hội cũng như đề xuất các khuyến nghị cần phải tiếp cận theo từng khu vực cụ thể.
- Trong khu vực của lâm trường Văn Chấn có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống như Thái, Dao, H'mông, Dáy, Mường, Tày, mỗi dân tộc có tập quán canh tác, trình độ dân trí, văn hóa khác nhau, vì vậy, khi đánh giá tác động xã hội cần phải chú ý đến đặc điểm của từng dân tộc cụ thể.
2.4.2 Phương hướng giải quyết vấn đề
Nghiên cứu này xuất phát từ việc khảo sát và đánh giá các nhân tố chi phối đặc thù đến hoạt động sản xuất kinh doanh của lâm trường như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm và ảnh hưởng của dân cư sống xung quanh rừng, để thấy được mối quan hệ qua lại giữa hoạt động quản lý rừng của lâm trường và địa phương Từ đó nhìn nhận rõ vị trí, vai trò của người dân địa phương trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và QLBVR của lâm trường, đồng thời cũng làm rõ vai trò và sự ảnh hưởng của lâm trường đến sự phát triển của cộng đồng dân cư xung quanh.
Phương hướng giải quyết vấn đề được khái quát hóa qua sơ đồ sau: ĐKTN-KTXH các xã trên địa bàn Lâm trường
Các hoạt động SXKD của Lâm trường Điểm mạnh
Sơ đồ 2.1: Phương hướng giải quyết vấn đề
Trên cơ sở đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng vấn đề cụ thể chủ yếu thông qua bức tranh hiện trạng để xem xét thực chất của vấn đề Từ thực trạng này, sẽ đi sâu đánh giá những cơ hội và thách thức trong việc phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý bền vững tài nguyên rừng làm cơ sở đề xuất những khuyến nghị có tính khả thi cho vùng nghiên cứu, trong đó chú trọng đánh giá mức độ phù hợp của các tiêu chuẩn xã hội trong bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV đối với thực trạng công tác quản lý rừng ở khu vực nghiên cứu.
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.3.1 Thu thập thông tin, số liệu
- Tại Hà Nội: Tiến hành thu thập các tài liệu sau:
Báo cáo nghiên cứu về đánh giá tác động xã hội đã được tiến hành ở một số địa điểm khác của Dự án GTZ như ở Ninh Sơn - Ninh Thuận, lâm trườngM’DRăk - Đăk Lăk và lâm trường Đăk Tô - Kon Tum;
Thu thập các quy định, hướng dẫn và tài liệu về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, đặc biệt là Bộ tiêu chuẩn Quốc gia phiên bản 9C về QLRBV do Tổ công tác quốc gia soạn thảo (nay là Viện QLRBV và chứng chỉ rừng).
Các bản đồ và số liệu tài nguyên rừng của lâm trường Văn Chấn tại Văn phòng Dự án GTZ Trung ương.
- Tại địa phương: Làm việc với các cơ quan quản lý lâm nghiệp, các tổ chức có liên quan để thu thập các thông tin, số liệu cần thiết phục vụ nghiên cứu Các cơ quan làm việc bao gồm:
Sở NN & PTNT, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Yên Bái.
Văn phòng dự án GTZ tỉnh Yên Bái.
Văn phòng Dự án GTZ tại lâm trường Văn Chấn.
Hạt Kiểm lâm huyện Văn Chấn, Trạm Kiểm lâm Sơn Lương.
Phòng Thống kê huyện Văn Chấn.
UBND 4 xã khu vực lâm trường Văn Chấn, gồm: xã Nậm Búng, Gia Hội,
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu, trong đó chú trọng đến các số liệu về kinh tế - xã hội như dân số, dân tộc, lao động, thu nhập, tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng,
Cơ cấu tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường.
Mối quan hệ qua lại giữa lâm trường Văn Chấn với địa phương trong QLBVR cũng như phát triển kinh tế - xã hội của địa phương,
- Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng có liên quan: Quá trình điều tra, phỏng vấn được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc theo mẫu phiếu đã được soạn sẵn với những câu hỏi mở Đối tượng phỏng vấn trực tiếp được chia thành 3 nhóm theo 3 loại kênh thông tin sau: