1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên mường nhé​

93 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Thực Trạng Và Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Rừng Dựa Vào Cộng Đồng Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Mường Nhé
Tác giả Đào Công Tiến
Người hướng dẫn TS. Phạm Thế Anh
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 517,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Quan điểm lý thuyết (12)
    • 1.2. Các khái niệm (14)
      • 1.2.1. Đa dạng sinh học (14)
      • 1.2.2. Khái niệm về cộng đồng (15)
      • 1.2.3. Sự tham gia của cộng đồng (16)
      • 1.2.4. Kiến thức bản địa (16)
      • 1.2.5. Khái niệm vùng đệm, quản lý vùng đệm (16)
    • 1.3. Ở Việt Nam (17)
    • 1.4. Trên thế giới (20)
  • Chương 2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU (25)
    • 2.1. Đặc điểm tự nhiên (25)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (25)
      • 2.1.2. Địa chất, thổ nhưỡng (26)
      • 2.1.3. Khí hậu (27)
      • 2.1.4. Thủy văn (28)
      • 2.1.5. Hiện trạng đất đai (28)
      • 2.1.6. Dân số (35)
      • 2.1.7. Lao động (35)
      • 2.1.8. Dân tộc và phong tục tập quán (35)
    • 2.2. Thực trạng kinh tế (37)
      • 2.2.1. Sản xuất nông nghiệp (37)
      • 2.2.2. Sản xuất lâm nghiệp (38)
      • 2.2.3. Các ngành kinh tế khác (39)
      • 2.2.4. Thực trạng cơ sở hạ tầng xã hội (40)
    • 2.3. Nhận xét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến việc (42)
      • 2.3.1. Thuận lợi (42)
      • 2.3.2. Khó khăn (42)
  • Chương 3. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (43)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (43)
    • 3.2. Đối tượng, giới hạn và phạm vi nghiên cứu (43)
      • 3.2.1. Đối tượng nghiên cứu (43)
      • 3.2.2. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu (43)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (44)
      • 3.3.1. Đánh giá thực trạng công tác quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại (44)
      • 3.3.2. Điều tra, đánh giá các hình thức, mức độ quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trong cộng đồng (44)
      • 3.3.3. Đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Khu BTTN Mường Nhé (44)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (44)
      • 3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu (44)
      • 3.4.2. Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu (47)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (48)
    • 4.1. Đánh giá thực trạng công tác quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (48)
      • 4.1.1. Hiện trạng rừng tại khu vực nghiên cứu (48)
      • 4.1.2. Thực trạng hoạt động quản lý bảo vệ rừng tại KBTTN Mường Nhé36 4.2. Vai trò của cộng đồng đối với công tác quản lý BVR tại KBTTN Mường Nhé (49)
    • 4.3. Kết quả điều tra, đánh giá các hình thức, mức độ quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trong cộng đồng (61)
      • 4.3.1. Kết quả điều tra theo thành phần giới tính, tộc người và độ tuổi ở (62)
      • 4.3.2. Kết quả điều tra khai thác lâm sản của hộ gia đình ở vùng điều tra50 4.3.3. Kết quả điều tra thu nhập của hộ gia đình ở vùng điều tra (65)
    • 4.4. Một số nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa phương (69)
      • 4.4.1. Những nhân tố thúc đẩy người dân địa phương tham gia công tác QLBVR (69)
      • 4.4.2. Những nhân tố cản trở người dân địa phương tham gia công tác QLBVR (71)
    • 4.5. Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia của của người dân địa phương trong công tác QLBVR tại khu vực nghiên cứu (75)
      • 4.5.1. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân 58 4.5.2. Giải pháp về khai thác lâm sản (75)
      • 4.5.3. Giải pháp tăng thu nhập kinh tế hộ gia đình (77)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (81)
  • PHỤ LỤC (85)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Quan điểm lý thuyết

Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên quan điểm "Hệ thống", "Sinh thái nhân văn" và "Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng", nhằm giải thích mối quan hệ giữa con người và các nguồn tài nguyên rừng cũng như đa dạng sinh học.

Theo quan điểm hệ thống tài nguyên rừng và đa dạng sinh học, chúng không chỉ là một phần của hệ thống tự nhiên mà còn là một thành tố quan trọng trong hệ thống kinh tế xã hội.

Hệ sinh thái nhân văn nghiên cứu mối quan hệ giữa con người và môi trường, trong đó con người đóng vai trò quan trọng Theo quan điểm Gaia, trái đất là một hệ sinh thái khổng lồ, với quần xã sinh học duy trì điều kiện sống Các thành phần trong hệ sinh thái có mối liên hệ chặt chẽ, thể hiện qua mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội Rừng là nguồn tài nguyên quý giá cho kinh tế và bảo vệ môi trường, được xem như "lá phổi xanh" của nhân loại Tuy nhiên, tác động của con người đã dẫn đến mất mát tài nguyên rừng, đe dọa đa dạng sinh học và suy thoái môi trường Tại Việt Nam, nhiều cộng đồng sống gần rừng lại ở trong tình trạng nghèo khó, và việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên đã làm suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến đời sống người dân và bảo tồn môi trường.

Để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường, việc nâng cao nhận thức cộng đồng, đặc biệt là ở các dân tộc miền núi, là vô cùng quan trọng Mọi người cần hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố văn hóa xã hội và thiên nhiên, từ đó thúc đẩy việc sử dụng bền vững tài nguyên rừng và đa dạng sinh học Khi thiên nhiên phát triển thịnh vượng, cuộc sống con người cũng sẽ trở nên bền vững và thịnh vượng hơn.

Quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng phát huy năng lực nội sinh của cộng đồng trong quản lý, kết hợp phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo và kiến thức của người dân Trong khi các nước phát triển chú trọng cá nhân, các nước đang phát triển, đặc biệt ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, lại đánh giá cao vai trò của gia đình và cộng đồng Quản lý tài nguyên thiên nhiên cộng đồng đã chứng minh hiệu quả lớn trong phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường Don Gilmour và Fischer định nghĩa quản lý rừng cộng đồng là hoạt động kiểm soát và quản lý tài nguyên rừng do người dân địa phương thực hiện, phục vụ cho lợi ích cộng đồng và là phần thiết yếu trong hệ thống canh tác.

Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng tập trung vào việc tối ưu hóa lợi ích cho cộng đồng địa phương, nhằm mục tiêu sử dụng bền vững các tài nguyên rừng.

Các khái niệm

Bài viết đề cập đến các khái niệm quan trọng như đa dạng sinh học, cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng, cùng với kiến thức bản địa Ngoài ra, nội dung cũng nhấn mạnh vai trò của vùng đệm trong việc bảo vệ và quản lý các Vườn Quốc gia (VQG) và Khu Bảo tồn Thiên nhiên (KBT).

Theo Công ước đa dạng sinh học năm 1992, đa dạng sinh học (ĐDSH) được định nghĩa là sự phong phú của các sinh vật sống, bao gồm hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, và hệ sinh thái nước ngọt ĐDSH không chỉ bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen hay đa dạng di truyền), mà còn sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng của các hệ sinh thái Tóm lại, ĐDSH phản ánh sự đa dạng của sự sống ở nhiều cấp độ và tổ hợp khác nhau.

Đa dạng sinh học (ĐDSH) bao gồm đa dạng hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng di truyền Đa dạng hệ sinh thái phản ánh sự phong phú của các sinh cảnh và quần xã sinh vật, cũng như các quá trình sinh thái khác nhau Đa dạng loài đề cập đến số lượng và sự phong phú của các loài trong một khu vực cụ thể Trong khi đó, đa dạng di truyền liên quan đến sự khác biệt về gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau, thể hiện sự phong phú về gen có thể di truyền trong các quần thể.

Trong Luật ĐDSH của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng

Đa dạng sinh học, theo định nghĩa năm 2008, là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên Gen là đơn vị di truyền quy định các đặc tính cụ thể của sinh vật, trong khi hệ sinh thái bao gồm quần xã sinh vật và các yếu tố phi sinh vật trong một khu vực địa lý nhất định, có sự tương tác và trao đổi vật chất với nhau Hệ sinh thái tự nhiên là hệ sinh thái hình thành và phát triển theo quy luật tự nhiên, giữ được nét hoang sơ, trong khi hệ sinh thái mới là những hệ sinh thái mới phát triển trên vùng bãi bồi tại cửa sông ven biển và các vùng đất khác có phù sa bồi đắp.

Đa dạng sinh học (ĐDSH) được định nghĩa trong Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái.

1.2.2 Khái niệm về cộng đồng

Cộng đồng là một thuật ngữ có nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có thể được hiểu theo khía cạnh địa lý, chính trị hoặc xã hội Nó thường được định nghĩa là một nhóm cá nhân có chung mối quan tâm hoặc lợi ích.

Cộng đồng địa lý thường là một tổ chức chính trị làng xã, trong khi cộng đồng xã hội có thể là nhóm ngư dân hoặc tổ chức quản lý rừng Một cộng đồng không nhất thiết phải là một làng, và ngược lại, một làng cũng không phải lúc nào cũng là một cộng đồng Chăm sóc cộng đồng không nên coi là đơn vị đồng nhất, vì có nhiều mối quan tâm khác nhau dựa trên giới tính, giai cấp, kinh tế và dân tộc Gần đây, thuật ngữ “cộng đồng thực” hay “cộng đồng quyền lợi” được áp dụng cho các cộng đồng nghề rừng, nhấn mạnh yếu tố phi địa lý Đây là nhóm người không sống trong một cộng đồng địa lý đơn lẻ nhưng có chung mục tiêu quản lý rừng hoặc cùng chia sẻ mối quan tâm trong nghề rừng.

1.2.3 Sự tham gia của cộng đồng

Tham gia tư vấn ý kiến của cộng đồng là cách để người dân thể hiện thái độ và mối quan tâm về các kế hoạch phát triển và bảo tồn đa dạng sinh học Đây là cơ hội để họ bày tỏ ý kiến, từ đó có thể ảnh hưởng đến quyết định liên quan đến quy hoạch và phát triển bền vững.

Hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa là sản phẩm của một cộng đồng tại một khu vực cụ thể, tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định Sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng, bao gồm người già, trẻ em, đàn ông và phụ nữ, là yếu tố quan trọng trong việc hình thành và duy trì hệ thống này (Louise G, 1998).

1.2.5 Khái niệm vùng đệm, quản lý vùng đệm

Theo Luật lâm nghiệp (2017), vùng đệm là khu vực rừng, đất và mặt nước nằm cạnh ranh giới khu rừng đặc dụng, có chức năng ngăn chặn và giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu rừng này Việc thiết lập vùng đệm nhằm bảo vệ Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên khỏi sự xâm hại của con người Các khu vực này cần xây dựng vùng đệm và Ban quản lý khu rừng đặc dụng sẽ phối hợp với cộng đồng dân cư trong vùng đệm để tham gia vào các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và tài nguyên tự nhiên, đồng thời phát triển du lịch sinh thái, nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện sinh kế cho người dân gắn với hoạt động của khu rừng đặc dụng.

Cơ quan chính quyền Nhà nước tại vùng đệm đã triển khai dự án đầu tư phát triển sản xuất và hạ tầng nông thôn nhằm ổn định đời sống cộng đồng dân cư Đồng thời, dự án cũng thiết lập quy chế trách nhiệm cho cộng đồng và từng hộ gia đình trong việc bảo vệ và bảo tồn khu rừng đặc dụng, trong khi diện tích vùng đệm không được tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng.

Quản lý vùng đệm là một hành động can thiệp dài hạn nhằm đạt được sự bền vững về sinh thái, xã hội và kinh tế Để tối ưu hóa vai trò của vùng đệm trong bảo tồn và phát triển, cần phải giải quyết những vấn đề cốt lõi sau đây.

- Phải có quy hoạch vùng lõi và vùng đệm rõ ràng, có mốc giới kiên cố.

- Xác định cơ chế chia sẻ lợi ích có hiệu quả Người dân được hưởng lợi gì từ Khu bảo tồn thiên nhiên, hoặc Vườn quốc gia.

- Xác định rõ ràng mục tiêu phát triển vùng đệm và có các dự án để thực hiện mục tiêu đó.

- Phối hợp tốt các chương trình, các dự án của các cấp, các ngành khác nhau trên cùng 1 địa bàn.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan là rất quan trọng, đặc biệt là sự tham gia và hỗ trợ của người dân địa phương Các mục tiêu của dự án cần phải phù hợp với nguyện vọng của họ, giúp người dân trở thành chủ thể trong việc quản lý tài nguyên, công việc và quyền lợi của mình Khi người dân thực sự làm chủ, họ sẽ có trách nhiệm hơn với cộng đồng và môi trường sống của chính mình.

Vùng đệm đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn và phát triển, nhưng việc quản lý khu vực này gặp nhiều thách thức Cần có các biện pháp tổng hợp về pháp lý, kinh tế, kỹ thuật và xã hội, cùng với nỗ lực tuyên truyền để đảm bảo quản lý hiệu quả Sự tham gia tích cực của các bên liên quan trong quản lý vùng đệm và Vườn quốc gia là rất cần thiết để thúc đẩy trách nhiệm và vai trò của họ đối với bảo tồn và phát triển bền vững.

Ở Việt Nam

Lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam bắt đầu tương đối sớm so với nhiều quốc gia khác Vào tháng 7/1962, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 72/TTg, thành lập khu rừng cấm Cúc Phương với diện tích 25.000 ha, đánh dấu Vườn Quốc gia đầu tiên của Việt Nam Kể từ đó, Chính phủ đã tiếp tục ra quyết định thành lập nhiều khu rừng đặc dụng khác, đưa tổng số khu rừng đặc dụng tại Việt Nam lên 164.

Để công tác bảo tồn hiệu quả, các quy định cần được thể chế hóa thông qua luật và văn bản dưới luật Điều này bao gồm các điều khoản trong Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 12/08/1991, Luật sửa đổi ngày 03/12/2004, và Luật Lâm nghiệp ngày 15/11/2017 Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 cũng đã quy định về việc Ban quản lý các khu bảo tồn xây dựng quy định sử dụng rừng cho người dân địa phương Gần đây, Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 đã quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, thay thế Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg, cùng với Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020.

Trong suốt nhiều năm, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu cách nâng cao hiệu quả của các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vườn quốc gia (VQG) với mục tiêu bảo tồn và phát triển Họ tập trung vào việc cân bằng mối quan hệ giữa việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương.

Các tác giả Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997) đã chỉ ra rằng diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như tre nứa, nấm, cây dược liệu và động vật hoang dã Những hoạt động này gây áp lực lớn lên rừng và được xem là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân địa phương.

Nghiên cứu của Trần Ngọc Lân (1999) cho thấy nông hộ trong vùng đệm Pù Mát có mối liên hệ chặt chẽ với rừng, với thu nhập từ khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong tổng thu nhập Hiện tại, nông hộ đang chuyển đổi sinh kế, nhưng chỉ một số ít hộ có hiểu biết và vốn đầu tư để thực hiện sự chuyển đổi này.

Nguyễn Huy Dũng và cộng sự (1999) đã tiến hành nghiên cứu về quản lý rừng cộng đồng tại xã Phúc Sen, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng, tập trung vào quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và lợi ích mà mô hình này mang lại cho cộng đồng Nghiên cứu cho thấy rằng quản lý rừng cộng đồng tại đây được hình thành tự phát từ nhu cầu thực tế của người dân về lâm sản, dựa trên các luật tục của cộng đồng Mô hình này đã chứng minh hiệu quả trong việc phát triển kinh tế và bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên rừng.

Tại Sơn La và Lai Châu, dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà đã phát triển mô hình quản lý rừng cộng đồng thông qua sự hợp tác với các cơ quan địa phương như Chi cục Kiểm lâm và chính quyền cấp huyện, xã Dự án đã giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng, đồng thời hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất và xây dựng quy ước quản lý bảo vệ rừng Một bước đột phá trong quản lý rừng cộng đồng là việc áp dụng "Phương pháp đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia và lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng", được đánh giá cao bởi các nhà khoa học, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng rừng tại các khu vực đã được giao quyền.

Vũ Hoài Minh và Hans Warfvinge (2002) đã nghiên cứu thực trạng quản lý rừng tự nhiên bởi các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại ba tỉnh Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế Nghiên cứu này tập trung vào sự hình thành, lợi ích, vấn đề hưởng lợi, quyền sở hữu và các chính sách liên quan đến quản lý rừng Trong năm mô hình quản lý rừng cộng đồng, bốn mô hình là tự phát từ cộng đồng địa phương, chủ yếu là các dân tộc thiểu số như Mường và Thái, được chính quyền địa phương công nhận Các cộng đồng này tự xây dựng quy định, quản lý và sử dụng lâm sản, cũng như phát triển rừng Riêng mô hình quản lý tại Thuỷ Yên Thượng, nơi có người dân tộc Kinh, được hình thành dựa trên sự hợp tác giữa chính quyền địa phương và sự hỗ trợ từ dự án quốc tế.

Trong hội thảo “Mạng lưới lâm nghiệp Châu Á” tháng 9/2003 tại Cao Bằng, Việt Nam, các nước thành viên đã thảo luận về việc lập kế hoạch và xây dựng quy ước quản lý rừng cộng đồng Nội dung thảo luận bao gồm đánh giá tài nguyên có sự tham gia, chương trình quản lý rừng dựa trên cộng đồng, thu nhập từ quản lý rừng cộng đồng, và các chính sách liên quan Các nước tham gia đã thống nhất về các hoạt động và đạt thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực quản lý rừng cộng đồng Đây được coi là một thành công lớn của hội thảo và là bước ngoặt cho công tác quản lý rừng tại khu vực.

Quản lý rừng và đất rừng cộng đồng phụ thuộc vào khuôn khổ thể chế và chính sách của từng quốc gia, địa phương, do đó không thể sao chép nguyên vẹn mô hình từ nơi này sang nơi khác Việc chia sẻ kinh nghiệm và bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện.

Trên thế giới

Trong nhiều thập kỷ qua, cộng đồng quốc tế đã nghiên cứu nhằm thay đổi chiến lược bảo tồn Chiến lược mới này nhấn mạnh việc liên kết quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vườn quốc gia (VQG) với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương Sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng, trên cơ sở tôn trọng văn hóa, là cần thiết trong quá trình ra quyết định.

Các Khu bảo tồn (KBT) thường được thành lập với mục đích chung của quốc gia, nhưng ít chú ý đến nhu cầu của người dân địa phương Nhiều Vườn Quốc gia và KBT áp dụng phương thức quản lý bằng cách cấm người dân địa phương xâm nhập và khai thác tài nguyên rừng (TNR) Tuy nhiên, ở các nước Đông Nam Á, phương pháp này không phù hợp vì để bảo tồn đa dạng sinh học, người dân địa phương lại bị tước quyền tiếp cận TNR, trong khi họ rất phụ thuộc vào nguồn tài nguyên này.

Các nghiên cứu toàn cầu về các khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) và vườn quốc gia (VQG) cho thấy rằng việc quản lý hiệu quả cần dựa trên mô hình kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học và văn hóa của cộng đồng địa phương Tại VQG Kakadu ở Australia, người dân bản địa không chỉ được sống hợp pháp trong khu vực mà còn được công nhận là chủ sở hữu hợp pháp, tham gia vào công tác quản lý thông qua các đại diện trong ban quản lý.

Theo các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks, rừng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp gỗ cho xây dựng và làm hàng rào, cũng như nguồn củi và nơi chăn thả cho gia súc Ngoài ra, rừng còn cung cấp thức ăn cho gia súc, tạo ra lợi tức và công ăn việc làm, đồng thời bảo vệ đất và nước trên các vùng đất dốc.

Theo Gadgil và VP Vartok, người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ các diện tích rừng từ 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào từ những lùm cây này đều bị cấm Trong bối cảnh nạn phá rừng gia tăng, những lùm cây này trở thành di sản quý giá của rừng tự nhiên, quan trọng cho việc thu lượm các sản phẩm như cây thuốc, lá rụng và gỗ khô Mặc dù việc khai thác gỗ bị cấm, tình trạng khai thác gỗ trộm vẫn diễn ra.

Các tác giả Apple Gate, G.B và Gilmour, D.A (1987) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp tại vùng đồi Nêpan Họ chỉ ra rằng các hệ canh tác này phụ thuộc nhiều vào rừng, hiện đang bị suy thoái nhanh chóng Để đảm bảo sự bền vững lâu dài cho các hệ canh tác, cần tăng diện tích dưới mọi dạng che phủ thực vật.

Sự tham gia của người dân địa phương trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Đông Nam Á là cần thiết và hiệu quả Các nỗ lực của chính phủ để di dời cộng đồng ra khỏi khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) không đạt kết quả mong muốn về quản lý và kinh tế xã hội Việc di dời người dân khỏi vùng đất quen thuộc có thể dẫn đến sự xâm lấn và khai thác tài nguyên thiên nhiên (TNR) mà không có sự bảo vệ Người dân địa phương sở hữu nhiều kiến thức truyền thống về sử dụng tài nguyên và các thể chế cộng đồng đã chứng minh hiệu quả trong việc quản lý nguồn tài nguyên này.

Thái Lan được công nhận quốc tế về những thành tựu trong bảo vệ rừng dựa trên cộng đồng, thông qua chương trình làng rừng Nông dân được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở và đất trồng rừng, kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Chính phủ Điều này không chỉ giúp nông dân quản lý đất hiệu quả mà còn ngăn chặn việc chặt phá rừng Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đã tăng cường an toàn cho người nhận đất, từ đó khuyến khích đầu tư và nâng cao năng suất đất.

Chiến lược Quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học của Philippines nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình lập kế hoạch và quản lý bảo tồn Điều này là cần thiết để đảm bảo rằng những người bị ảnh hưởng bởi các quyết định chính sách môi trường có tiếng nói trong việc bảo vệ đa dạng sinh học Sự tham gia của cộng đồng sẽ góp phần quyết định đến thành công của các nỗ lực bảo tồn.

Theo Peluso (1986), tại Indonesia, mối quan hệ giữa đất và rừng của nhà nước, bao gồm rừng sản xuất, rừng trồng và rừng tự nhiên, đã được nghiên cứu kỹ lưỡng Các sản phẩm từ rừng mang lại lợi nhuận nhưng khó quản lý cho các cơ quan Lâm nghiệp, trong khi lại có giá trị lớn đối với cộng đồng địa phương Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ở Indonesia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là các cộng đồng sống và phụ thuộc vào các vùng có đa dạng sinh học cao, như một mục tiêu chính và điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện kế hoạch.

Bink Man W (1988) trong nghiên cứu về làng Ban Pong, tỉnh S Risaket (Thái Lan) đã chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như củi và hoa quả Điều này minh họa rõ ràng sự cần thiết của việc người dân địa phương tham gia vào kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển.

Năm 1980, Conklin, H.C trong tập ATLAT đã mô tả chi tiết các mối quan hệ giữa rừng, lương thực và nước, cũng như sự tương tác giữa những người xây dựng ruộng bậc thang trồng lúa nước và những người canh tác nương rẫy.

Các nghiên cứu toàn cầu hiện nay chủ yếu tập trung vào phân tích định tính về sự phụ thuộc của cộng đồng vào tài nguyên Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc người dân tham gia tích cực vào các hoạt động bảo tồn tài nguyên thiên nhiên (TNR).

Chưa có nghiên cứu định lượng nào xác định rõ ràng tác động của cộng đồng đến TNR, cũng như những nguyên nhân cụ thể gây ra các tác động này.

Các nghiên cứu về tác động giữa con người và TNR trên thế giới và tại Việt Nam đã xem xét nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng vẫn còn thiếu hệ thống chỉ tiêu và chỉ số để đánh giá mức độ tác động của các dân tộc và loại hộ gia đình khác nhau Điều này dẫn đến việc các giải pháp đưa ra còn chung chung và chưa giải quyết triệt để khó khăn thực tế của người dân Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện để đưa ra các giải pháp hữu ích hơn.

ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Đặc điểm tự nhiên

Vị trí KBTTN Mường Nhé được thể hiện ở hình

Hình 2.1: Vị trí KBTTN Mường Nhé

Vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé nằm trong huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, bao gồm 5 xã: Sín Thầu, Leng Su Sìn, Chung Chải, Mường Nhé và Nậm Kè, với tổng diện tích lên tới 48.166,19 ha Khu vực này có ranh giới rõ ràng, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hệ sinh thái và phát triển bền vững.

- Phía Bắc giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa.

- Phía Đông Nam giáp xã Quảng Lâm, huyện Mường Nhé.

- Phía Đông giáp huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu.

- Phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

Khu vực nghiên cứu có địa hình núi cao, bị chia cắt mạnh bởi các dông núi dốc lớn Dãy Phu Đen Đinh nằm ở phía Tây Bắc, kéo dài qua 5 xã và chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với đỉnh cao nhất là Pu Pá Kun (1.892m) Phía Bắc khu vực này tiếp giáp biên giới Việt Lào.

Trung là khu vực nổi bật với các dãy núi Phú Ta Long San và Phú Tu Na, trong đó đỉnh cao nhất đạt 1.405 m Phía Đông Nam thuộc xã Mường Toong có các dông núi với độ cao trung bình trên 1000 m Giữa các dãy núi là những thung lũng nhỏ hẹp và một số dãy núi thấp, trong khi địa hình dần thấp xuống theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.

2.1.2 Địa chất, thổ nhưỡng a) Địa chất

Nền địa chất khu nghiên cứu có nguồn gốc kiến tạo từ đầu kỷ Pecmi, trải qua nhiều biến đổi trong các đại Mêzôzôi và Kainôzôi, đồng thời chịu ảnh hưởng của hoạt động tạo sơn Indexin Khu vực này có tuổi địa chất trẻ, với các ngọn núi trẻ và đỉnh nhọn, nhiều khe rãnh sâu do quá trình bào mòn địa chất tự nhiên chưa diễn ra lâu.

Đá mẹ trong khu nghiên cứu được phân thành hai nhóm chính: đá Macma axit và đá biến chất, bao gồm các loại như Gnai, Amphibolit, Filit, Đá vôi, cùng với sự xuất hiện của Phiến thạch sét, Sa thạch và Sỏi sạn kết Sự đa dạng này của đá mẹ đã tạo ra nhiều loại đất với các chủng loại phong phú khác nhau.

Khu vực nghiên cứu bao gồm các loại đất chính như sau:

- Đất mùn màu vàng nhạt, màu xám vàng trên núi cao, thành phần cơ giới nhẹ thường có ở độ cao 1.600-1.800m.

Đất Feralit mùn vàng đỏ là loại đất phát triển trên các loại đá như A xít, đá Biến chất, đá Diệp thạch, Phiến thạch sét, Sa thạch và Sỏi sạn Đất này thường có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, phân bố ở độ cao từ 700 đến 1600 mét.

- Đất Feralit màu vàng đỏ phát triển trên đá Phiến thạch sét, Sa thạch, Sỏi sạn kết thành phần cơ giới trung bình thường ở độ cao dưới 700m.

Đất Feralit màu xám, được hình thành từ quá trình canh tác lúa và nương rãy, có thành phần cơ giới trung bình đến nhẹ Loại đất này thường phân bố xung quanh các làng bản và trên các sườn núi, nơi có nguồn nước dồi dào.

- Đất dốc tụ chân núi, trồng hoa màu có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình.

Khu vực này chủ yếu có đất đai với thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, kết cấu viên nhỏ và độ mùn từ trung bình đến khá Đất tơi xốp, ẩm cao cùng với tính chất đất rừng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển và phục hồi rừng.

Khu vực này có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới núi cao Nhờ có dãy Hoàng Liên Sơn che chắn, khu vực ít bị ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc, khiến mùa lạnh kết thúc sớm và nhiệt độ không xuống quá thấp Năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

- Nhiệt độ bình quân năm là 22,5 o C Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 39 oC Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 7 o C.

- Lượng mưa trung bình năm 1.950 mm, tập trung chủ yếu vào mùa hè ở các tháng 6,7,8 tổng lượng mưa chiếm tới 80%.

- Độ ẩm không khí bình quân năm là 85%.

Hướng gió thịnh hành tại khu nghiên cứu chủ yếu là Đông Bắc, hoạt động từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Gió Đông Nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10, trong khi gió Tây Nam hoạt động từ tháng 3 đến tháng 7 Ngoài ra, gió Tây khô nóng trên cao cũng diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 7.

- Sương muối, và mưa đá đôi khi xuất hiện.

Khí hậu khu vực tương đối ôn hòa, không gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông, lâm nghiệp Tuy nhiên, cần theo dõi sát sao diễn biến thời tiết hàng năm để điều chỉnh kế hoạch gieo trồng cho phù hợp.

Khu vực bao gồm 2 hệ thống suối chính đó là: a) Hệ thuỷ Nậm Ma

Bao gồm các chi lưu chính như Mò Bông Khò, Toòng San Hò, Y Ma

Hò, Y Già Hò ở phía Bắc thuộc xã Sín Thầu Các chi lưu Nậm Pa Pơi, Huổi

Pa Ma, Nhu Na Ho và Nậm Ma là những địa điểm thuộc xã Chung Chải, nằm trong hệ thống thủy Nậm Nhé Hệ thủy này kết hợp với suối Nậm Ma, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và cuối cùng đổ vào Sông Đà.

Nậm Nhé là một trong hai chi lưu chính, bao gồm các nhánh suối nhỏ như Nậm Là, Huổi Cáy và Nậm Pó Nọi, nằm trong địa phận xã Mường Nhé Chi lưu lớn thứ hai là Nậm Kè, với các nhánh suối nhỏ như Nậm Chà, Trạm Púng.

Kè chảy qua xã Nậm Kè với hai nhánh suối hướng Tây Bắc - Đông Nam, cùng đổ về suối Nậm Nhạt và cuối cùng chảy ra Sông Đà.

Hệ thống sông suối trong khu vực có địa hình phức tạp và độ dốc lớn, dẫn đến lưu lượng dòng chảy lớn trong mùa mưa, gây khó khăn cho giao thông, đặc biệt trên đoạn đường từ Chung Chải đến Sín Thầu Trong mùa nước kiệt, lưu lượng dòng chảy giảm xuống còn 4-6 m³/s.

Theo số liệu thống kê (năm 2019) của Chi cục thống kê huyện Mường Nhé, khu vực nghiên cứu bao gồm các loại diện tích đất chính như sau:

Thực trạng kinh tế

2.2.1 Sản xuất nông nghiệp a) Trồng trọt

Diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại Mường Nhé chỉ chiếm 5,57% tổng diện tích tự nhiên, trong đó đất lúa và lúa màu chiếm 44,5% tổng quỹ đất nông nghiệp Các loại đất còn lại bao gồm nương rẫy cố định, nương rẫy luân canh và đất vườn tạp Tuy nhiên, tập quán canh tác lạc hậu, điều kiện địa hình phức tạp và hạn chế trong đầu tư giống và kỹ thuật đã dẫn đến hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp thấp, với năng suất cây trồng không đạt yêu cầu.

Khu vực hiện nay vẫn duy trì phương thức canh tác truyền thống, thiếu các biện pháp cải tạo đất và bảo vệ chống xói mòn, dẫn đến tình trạng đất chỉ có thể canh tác trong 2-3 năm trước khi bị bỏ hoang Diện tích đất nương rẫy và đất thoái hóa chiếm tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế vườn và mô hình nông lâm kết hợp cũng như kinh tế trang trại địa phương Mặc dù một số hộ đã bắt đầu xây dựng mô hình vườn cây, vườn quả, nhưng chúng vẫn còn manh mún và chưa đạt tiêu chuẩn, thiếu khả năng tạo ra giá trị hàng hóa cao.

Các loài cây trồng chủ yếu trong vùng bao gồm lúa nước, lúa nương, ngô, sắn và đậu tương Năng suất bình quân cho các loại cây trồng chính tương đối thấp, với năng suất lúa 1 vụ đạt 2,5 tấn/ha, lúa 2 vụ 3,8 tấn/ha, lúa nương 1,4 tấn/ha, ngô 1,3 tấn/ha, sắn 5,4 tấn/ha và đậu tương 1,0 tấn/ha Tổng sản lượng lương thực quy thóc của vùng đạt 6.133,0 tấn, với bình quân lương thực đạt 320 kg/người/năm.

Khu vực hiện có tổng đàn gia súc là 15.980 con và gia cầm là 34.320 con, với bình quân mỗi hộ nuôi 1,7 con trâu, 0,8 con bò, 0,1 con ngựa, 0,1 con dê, 2,1 con lợn và 10,6 con gia cầm Phần lớn gia súc và gia cầm được chăn thả tự do, trong khi việc phòng chống dịch bệnh hàng năm chưa được chú trọng Chăn nuôi chủ yếu diễn ra ở quy mô hộ gia đình và chưa phát triển thành hình thức trang trại, dẫn đến sản lượng thấp và thu nhập từ chăn nuôi không cao.

2.2.2 Sản xuất lâm nghiệp a) Tình hình giao đất giao rừng

Công tác giao đất khoán rừng đã chỉ mới được triển khai trong vài năm gần đây, với diện tích giao khoán đạt 7.150 ha cho 520 hộ gia đình, tương đương 9,8% rừng và đất trống đồi trọc Tuy nhiên, tốc độ thực hiện còn chậm và phần lớn diện tích giao khoán tập trung quanh các khu dân cư, trong khi những khu vực cao và xa vẫn do lực lượng kiểm lâm quản lý Với diện tích đất lâm nghiệp lớn, việc đẩy mạnh công tác giao khoán bảo vệ rừng trong thời gian tới là rất cần thiết.

Công tác quản lý bảo vệ rừng tại huyện Mường Nhé đã được thực hiện bởi chính quyền địa phương, Hạt kiểm lâm và các đơn vị liên quan, tuy nhiên tình trạng khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép vẫn diễn ra do địa bàn rộng và phức tạp Nhu cầu sử dụng gỗ tăng cao, đặc biệt sau khi huyện được thành lập, đã dẫn đến việc chặt phá rừng phòng hộ Bên cạnh đó, việc mở mới đường giao thông cũng góp phần làm giảm diện tích rừng có trữ lượng cao Sức ép lên rừng Mường Nhé ngày càng gia tăng, đặt ra nguy cơ mất rừng thường trực Để giải quyết vấn đề này, cần nhanh chóng quy hoạch ba loại rừng, xác định rõ chủ quản lý và sử dụng đúng quy chế, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các đơn vị quản lý và địa phương trong công tác bảo vệ rừng.

Việc khai thác rừng hiện nay vẫn chủ yếu mang tính lợi dụng, trong khi công tác trồng và khôi phục rừng chưa được chú trọng đúng mức Hiện tại, diện tích rừng trồng chỉ đạt 203,90 ha, chiếm 0,12% tổng diện tích đất lâm nghiệp.

2.2.3 Các ngành kinh tế khác

Nền kinh tế khu vực chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, với điều kiện địa lý xa xôi và thiếu tiềm năng khoáng sản, khiến các ngành kinh tế khác khó phát triển Hiện tại, chỉ có một số hộ người Kinh kinh doanh tạp hóa và dịch vụ ăn uống tại trung tâm huyện và các xã.

Kết quả điều tra cho thấy 05 xã vùng đệm huyện Mường Nhé có sự đa dạng về thành phần dân tộc, nhưng tỷ lệ lao động thấp và trình độ dân trí không cao dẫn đến chất lượng lao động hạn chế Các dân tộc sống trong khu vực gặp nhiều khó khăn, với tập quán canh tác lạc hậu và khai thác tài nguyên đất, rừng Dân tộc Hmông chiếm 58,7% dân số, nhiều hộ vẫn đốt nương làm rẫy và săn bắn, dẫn đến mất rừng và suy giảm đa dạng sinh học Trong khi đó, các dân tộc như Hà Nhì, Thái, Xạ Phang, Cống có tập quán canh tác bền vững hơn, ít tác động tiêu cực đến hệ sinh thái rừng, đặc biệt người Hà Nhì có ý thức bảo vệ rừng cao.

Hiện tượng người dân tộc từ Trung Quốc và Lào thường xuyên qua lại để khai thác lâm sản và canh tác nương rẫy đang tiềm ẩn nguy cơ suy giảm rừng, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh biên giới.

Đặc điểm dân số lao động, sự đa dạng dân tộc, trình độ văn hóa thấp và tập quán canh tác lạc hậu đã tạo ra nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội và quản lý bảo vệ rừng tại địa phương Để vượt qua những thách thức này, cần nghiên cứu và xây dựng các chương trình đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội Nhà nước và UBND tỉnh Điện Biên cần thiết lập cơ chế chính sách và ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho sự phát triển bền vững của địa phương.

2.2.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng xã hội

Hiện nay, cơ sở hạ tầng giao thông trong toàn huyện đã được cải thiện với tuyến đường ô tô được rải nhựa và asphalt, kết nối các xã Tuy nhiên, vẫn còn hàng trăm km đường mòn dân sinh trong các thôn bản có chất lượng kém, hẹp, khiến việc di chuyển chủ yếu phụ thuộc vào sức người và sức ngựa.

Khu vực có địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh, chủ yếu là các ruộng nhỏ, gây khó khăn cho việc đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi tưới tiêu Theo khảo sát, các xã như Sín Thầu, Mường Nhé, và Nậm Kè đã xây dựng được 5.600m kênh mương, tập trung vào các khu ruộng lớn, nhưng vẫn còn nhiều mương đất tạm thời do canh tác manh mún, dẫn đến số hộ hưởng lợi từ công trình thủy lợi rất ít.

Hệ thống điện lưới quốc gia đã được mở rộng đến tất cả các xã trong huyện, tuy nhiên vẫn còn một số thôn, bản vùng sâu chưa được kết nối điện lưới và phải phụ thuộc vào máy thủy điện nhỏ và máy nổ để cung cấp điện.

Chương trình 135 đã đầu tư xây dựng hệ thống nước sinh hoạt cho 30 thôn bản nông thôn, chiếm 45,4% tổng số thôn trong vùng Các thôn bản còn lại hiện vẫn sử dụng nước từ các khe nước tự nhiên.

2.2.4.4 Y tế, giáo dục, văn hóa xã hội a) Y tế

Nhận xét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến việc

Khu Mường Nhé là một trong những khu rừng đa dạng sinh học cao, với nhiều loài động thực vật quý hiếm cần được bảo tồn và phát triển Địa hình đồi núi và thảm thực vật phong phú tạo nên cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn cho các nhà khoa học và du khách Đất đai tại đây thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp, giúp người dân tận dụng điều kiện tự nhiên để phát triển kinh tế mà không phụ thuộc vào tài nguyên rừng của KBTTN Mường Nhé.

2.3.2 Khó khăn Đồng bào sống trong khu vực chủ yếu là dân tộc ít người, tập quán canh tác là làm nương rẫy, khai thức rừng và săn bắn Đời sống của người dân rất thấp, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao Đây là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến tài nguyên rừng Bên cạnh đó, do địa hình trải rộng, phức tạp, trong khi đó lực lượng bảo vệ chuyên trách lại mỏng, phương tiện giao thông thiếu nên việc quản lý bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn.

Nền kinh tế hiện tại chủ yếu tự cung, tự cấp với sản phẩm nông nghiệp không đa dạng, dẫn đến đời sống người dân gặp nhiều khó khăn và thường xuyên thiếu lương thực trong 3-4 tháng mỗi năm Sự phụ thuộc vào thiên nhiên tạo ra áp lực lớn đối với công tác quản lý và bảo tồn các hệ sinh thái rừng đặc dụng Để bảo vệ và duy trì hệ sinh thái rừng tự nhiên, cần triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân trong khu vực và khuyến khích sự tham gia của họ vào công tác quản lý bảo vệ rừng.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của bài viết là đánh giá thực trạng quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Qua đó, bài viết sẽ đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rừng, góp phần bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng trong khu vực.

+ Xác định được thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Mường.

+ Xác định những nhân tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng trong công tác QLBVR tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

+ Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng hiệu quả dựa vào cộng đồng cho khu vực nghiên cứu.

Đối tượng, giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Cộng đồng người dân địa phương và công tác QLBVR ở Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

3.2.2 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại 03 xã vùng đệm trong tổng số 05 xã của KBT là Chung Chải, Mường Nhé, Nậm Kè, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

Nghiên cứu về công tác quản lý bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Mường Nhé cho thấy sự tác động đa chiều của người dân địa phương đến tài nguyên rừng Các tác động này bao gồm cả lợi ích và bất lợi, cần phân tích nguyên nhân để hiểu rõ hơn Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và khuyến khích những tác động tích cực từ cộng đồng địa phương là điều cần thiết để bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên trong khu vực.

Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Đánh giá thực trạng công tác quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé

- Các tổ chức cộng đồng địa phương liên quan tới QLBVR ở KBTTN

- Vai trò và ảnh hưởng của các tổ chức bên trong cộng đồng địa phương đến công tác QLBVR tại KBTTN Mường Nhé.

3.3.2 Điều tra, đánh giá các hình thức, mức độ quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trong cộng đồng

- Phân tích sự khác nhau về giới tính, dân tộc, độ tuổi có ảnh hưởng thế nào đến quá trình khai thác và quản lý bảo vệ rừng.

- Điều tra tình hình khai thác lâm sản, thu nhập kinh tế hộ gia đình và các nguồn thu lấy từ rừng trên từng xã.

- Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng tới mức độ tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý rừng

+ Những nhân tố thúc đẩy người dân địa phương tham gia công tác QLBVR.

+ Những nhân tố cản trở người dân địa phương tham gia công tác QLBVR.

3.3.3 Đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Khu BTTN Mường Nhé

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

3.4.1.1 Thu thập các tài liệu thứ cấp

- Các văn bản, chính sách pháp luật của nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu;

- Các báo cáo của tỉnh, huyện, xã về quản lý rừng tại KBT;

Tài liệu nghiên cứu được thu thập tại địa phương bao gồm thông tin về điều kiện tự nhiên, dân sinh và kinh tế xã hội, cùng với báo cáo về công tác quản lý và bảo vệ rừng.

Các tài liệu nghiên cứu bao gồm hội thảo về phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vườn quốc gia (VQG), cùng với các báo cáo nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng tại Việt Nam.

Chọn điểm nghiên cứu là bước quan trọng trước khi tiến hành thu thập dữ liệu, với nguyên tắc đảm bảo tính đại diện cho khu vực nghiên cứu Để hiểu rõ hơn về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, cần tham khảo các tài liệu thứ cấp liên quan Đồng thời, một đợt khảo sát nhanh cũng nên được thực hiện tại các địa điểm trong khu vực nghiên cứu để nắm bắt các đặc trưng về địa hình và điều kiện kinh tế - xã hội của từng nơi.

Theo Donovan (1997), tiêu chuẩn chọn điểm nghiên cứu bao gồm thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận và địa hình Để đảm bảo kết quả nghiên cứu khách quan, đề tài đã chọn ba xã: Chung Chải, Mường Nhé và Nậm Kè, nằm trong vùng đệm của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Mường Nhé, với các tiêu chí cụ thể.

- Có các hộ gia đình tham gia nhận khoán bảo vệ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé.

- Người dân trong xã có các hoạt động phụ thuộc vào tài nguyên như: Đất canh tác nông nghiệp, gỗ, củi, động vật và các tài nguyên khác.

- Có dân tộc ít người đang sinh sống.

Khu vực này đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, với các hoạt động thiết thực nhằm duy trì và bảo vệ tài nguyên rừng Đồng thời, khu vực còn có ranh giới giáp ranh giữa khu bảo tồn và các khu vực khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý hiệu quả.

- Ở mỗi xã chọn 02 bản để nghiên cứu: Xã Chung Chải chọn 02 bản là: bản Đoàn Kết, bản Nậm Pắt, xã Mường Nhé chọn 02 bản Mường Nhé, Nậm

Là và xã Nậm Kè chọn 02 bản là Nậm Kè, Huổi Thanh 2.

Khi chọn hộ gia đình để phỏng vấn, tiêu chí bao gồm việc đại diện cho các dân tộc khác nhau và phân loại theo mức độ giàu nghèo theo tiêu chí địa phương Mỗi bản sẽ được chọn 20 hộ gia đình để thực hiện phỏng vấn.

3.4.1.3 Thu thập thông tin và số liệu điều tra hiện trường

Sử dụng các công cụ PRA để thu thập các thông tin và số liệu:

PRA là một quy trình hợp tác giữa các bên tham gia, trong đó người dân giữ vai trò trung tâm trong việc xác định khó khăn của cộng đồng Họ cùng nhau thảo luận các giải pháp và lập kế hoạch hành động nhằm giải quyết những vấn đề này.

Phỏng vấn ban quản lý các thôn, bản là bước đầu tiên khi đến từng cộng đồng nghiên cứu, nhằm thu thập thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, bao gồm dân số, mức sống, trình độ dân trí, các loại đất đai, hỗ trợ từ bên ngoài và các hình thức sử dụng tài nguyên rừng.

Phân loại hộ gia đình (HGĐ) là công cụ quan trọng để đánh giá tình hình kinh tế của các hộ gia đình Kết quả phân loại này cung cấp cơ sở cho việc phỏng vấn và đánh giá, giám sát sự tác động của các nhóm hộ đối với tài nguyên rừng.

Phân loại hộ gia đình dựa trên khái niệm giầu nghèo, vốn rất khác nhau giữa các cộng đồng Việc phân loại này chủ yếu dựa vào sự hiểu biết và quan sát thực tế của người dân trong cộng đồng Để thực hiện phân loại, người dân sử dụng phiếu theo các tiêu chí mà họ đã đưa ra.

- Phỏng vấn hộ gia đình:

Bảng phỏng vấn bán định hướng đã được chuẩn bị với 120 hộ gia đình từ 03 xã, bao gồm các nhóm hộ khá, trung bình và nghèo, đại diện cho tất cả các thành phần dân tộc trong thôn, xã Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề liên quan đến nguồn thu nhập và sinh kế của cộng đồng địa phương, đồng thời khảo sát các hình thức và nguyên nhân ảnh hưởng của cộng đồng đến tài nguyên rừng Bên cạnh đó, bài phỏng vấn cũng tìm hiểu các giải pháp mà cộng đồng đề xuất nhằm cân bằng giữa bảo tồn và phát triển.

Phân tích tổ chức trong cộng đồng liên quan đến việc xác định các tổ chức hiện hữu, làm rõ chức năng và nhiệm vụ của từng tổ chức Đồng thời, cần đánh giá tầm quan trọng và ảnh hưởng của các tổ chức này đối với việc quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng.

Phỏng vấn cán bộ Hạt Kiểm lâm, cán bộ Ban quản lý KBT và cán bộ xã nhằm kiểm tra chéo thông tin từ các thôn điểm và thu thập thêm số liệu cần thiết.

3.4.2 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu

Dữ liệu thu thập từ bảng phỏng vấn bán định hướng đã được xử lý và phân tích thông qua các phương pháp tổng hợp, mô tả, so sánh và đánh giá Mục tiêu là xác định tiềm năng phát triển quản lý rừng dựa trên cộng đồng tại địa phương.

Phân tích kết quả thảo luận và thông tin định tính về chính sách, tổ chức cộng đồng và thị trường nhằm xây dựng tổ chức quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng Đánh giá này giúp xác định các nguyên tắc và giải pháp cơ bản, phù hợp để quản lý rừng bền vững và hiệu quả tại địa phương.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 29/06/2021, 18:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (2012), Báo cáo công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2006 - 2012, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2006 - 2012
Tác giả: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé
Năm: 2012
2. Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (2011), Báo cáo tổng kết dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 2007 - 2011 , Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 2007 - 2011
Tác giả: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé
Năm: 2011
3. Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (2015), Báo cáo đa dạng sinh học giai đoạn 2010 - 2015, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đadạng sinh học giai đoạn 2010 - 2015
Tác giả: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé
Năm: 2015
4. Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé (2015), Báo cáo công tác quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2005 - 2015, Điện Biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2005 - 2015
Tác giả: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé
Năm: 2015
6. Cục kiểm lâm, Bộ nông nghiêp và PTNT (2004), Lập kế hoạch quản lý cho các khu bảo tồn của Vịêt Nam, Dự án (PARC), Hà Nội tháng 11/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập kế hoạch quản lýcho các khu bảo tồn của Vịêt Nam
Tác giả: Cục kiểm lâm, Bộ nông nghiêp và PTNT
Năm: 2004
7. Gilmour, D.A và Nguyễn Văn Sản (1999), Quản lý vùng đệm ở Việt Nam, IUCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý vùng đệm ở Việt Nam
Tác giả: Gilmour, D.A và Nguyễn Văn Sản
Năm: 1999
8. Trần Ngọc Hải và các cộng tác viên (2002), Phân tích cơ sở lý luận về quản lý bền vững tài nguyên rừng và vai trò kinh tế của lâm sản ngoài gỗ tại một số thôn vùng đệm của VQG Ba Vì, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cơ sở lý luận vềquản lý bền vững tài nguyên rừng và vai trò kinh tế của lâm sản ngoài gỗ tạimột số thôn vùng đệm của VQG Ba Vì
Tác giả: Trần Ngọc Hải và các cộng tác viên
Năm: 2002
9. Hoàng Hoè (1995), Bảo vệ các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là sự nghiệp của nhân dân, Các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, trang (12-14), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiênnhiên là sự nghiệp của nhân dân
Tác giả: Hoàng Hoè
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
10. Trần Ngọc Lân (1999), Phát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững vùng đệm Khu bảo tồnthiên nhiên và vườn quốc gia
Tác giả: Trần Ngọc Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
11. Nguyễn Bá Ngãi (2001), Phương pháp đánh giá nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá nông thôn
Tác giả: Nguyễn Bá Ngãi
Năm: 2001
12. Nguyễn Bá Ngãi (2005), Nghiên cứu một số mô hình quản lý rừng cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, Báo cáo kết quả thực hiện đề tài cấp Bộ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số mô hình quản lý rừng cộngđồng của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bá Ngãi
Năm: 2005
13. Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Ngọc Lung và cộng tác viên (2004), Báo cáo về nghĩa vụ và quyền hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng, Tổ công tác quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng, Tháng 8/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáovề nghĩa vụ và quyền hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng
Tác giả: Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Ngọc Lung và cộng tác viên
Năm: 2004
14. Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Hồng Quân, Ernst Kuester (2005), Báo cáo về lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam, Diễn đàn lâm nghiệp cộng đồng, Trung tâm đào tạo Lâm nghiệp Cộng đồng khu vực Thái Lan, từ ngày 24/8/05 đến 25/8/05, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáovề lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Hồng Quân, Ernst Kuester
Năm: 2005
15. Phân hội các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên (1997), Tuyển tập báo cáo hội thảo quốc gia về sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, Hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyểntập báo cáo hội thảo quốc gia về sự tham gia của cộng đồng địa phươngtrong quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam
Tác giả: Phân hội các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
Năm: 1997
16. Primack, Richard B. (1999), Cơ sở sinh học bảo tồn, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học bảo tồn
Tác giả: Primack, Richard B
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1999
17. Nguyễn Thị Phương (2003), Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương trong vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì tỉnh Hà Tây, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của cộng đồng địaphương trong vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì tỉnh Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Thị Phương
Năm: 2003
18. Quốc hội (2004), Luật bảo vệ và phát triển rừng, Số 29/2004/QH11 ban hành ngày 03/12/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo vệ và phát triển rừng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2004
19. Tài liệu hội thảo (2005), Quản lý rừng bền vững có sự tham gia của người dân, Hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội, tháng 4 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng bền vững có sự tham gia củangười dân
Tác giả: Tài liệu hội thảo
Năm: 2005
20. Đinh Đức Thuận (2005), Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thônở Việt Nam, Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn"ở "Việt Nam
Tác giả: Đinh Đức Thuận
Nhà XB: Nxb Lao động -xã hội
Năm: 2005
21. Thủ tướng chính phủ (1994), Quy định về việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, Nghị định 02/CP ban hành ngày 15/01/1994, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về việc giao đất cho các tổchức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 1994

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w