1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÓM tắt TIẾNG VIỆT NCS lê THÙY NHUNG

28 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 275 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thơ nữ sau 75, những tìm tòi và cách tân 1.1. Như một quy luật tất yếu, văn học luôn có xu hướng thay đổi tìm đến những cái mới, hiện đại. Văn học đòi hỏi nhà văn phải có những tìm tòi và cách tân mới để đáp ứng nhu cầu tinh thần của người đọc, đáp ứng nhu cầu tồn tại của nghệ thuật. Việc chỉ ra những tìm tòi và cách tân trong văn học là cần thiết giúp chúng ta có được cái nhìn rõ nét hơn về sự phát triển của văn học với những đặc điểm, sự vận động qua mỗi chặng đường, mỗi giai đoạn, đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu mới cho nền văn học ấy. 1.2. Cùng với sự vận động, phát triển ngày càng mạnh mẽ và toàn diện của nền văn học Việt Nam sau 1975, thơ nữ có những thay đổi lớn trong diện mạo của mình. Trên các diễn đàn, cuộc tranh luận về đổi mới trong thơ nữ diễn ra khá sôi nổi. Đa số ý kiến cho rằng, vị thế của các nhà thơ nữ đang dần được khẳng định với sự hiện diện của một đội ngũ thơ nữ đông đảo, với những quan niệm nghệ thuật rất riêng và những khám phá về nội dung, nghệ thuật. Nhiều hiện tượng thơ nữ được đánh giá cao, tác động tích cực tới sự phát triển của nền thơ đương đại và ghi dấu ấn tượng cả ở trong nước và nước ngoài với nhiều giải thưởng lớn như: Ý Nhi nhà thơ đầu tiên của Việt Nam được đón nhận giải thưởng Cikada của Thụy Điển (2015), Nguyễn Phan Quế Mai nhà thơ Đông Nam Á đầu tiên có tập thơ in trong Lannan Translations Selection Series của Mỹ (2014), Vi Thùy Linh nhà thơ nữ trẻ tuổi thực hiện nhiều tour diễn thơ Pháp Châu Âu, được mời thực hiện đêm thơ riêng tại Paris… Tuy nhiên, thơ nữ cũng xuất hiện nhiều hiện tượng gây tranh cãi, những nhận xét trái chiều về những tìm tòi và cách tân quá táo bạo, nhất là ở một số hiện tượng thơ nữ trẻ đương đại. Trước những tranh luận ấy, việc phân tích được cụ thể sự tìm tòi cách tân trong thơ nữ sẽ giúp người đọc, người nghiên cứu có thêm cái nhìn, cách đánh giá khách quan hơn về diện mạo và những đóng góp tích cực của bộ phận thơ này cho sự phát triển của thơ Việt Nam đương đại.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LÊ THÙY NHUNG

THƠ NỮ VIỆT NAM SAU 1975 NHỮNG TÌM TÒI VÀ CÁCH TÂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 9.22.01.21

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN PHƯỢNG

PGS NGUYỄN VĂN LONG

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn

Viện Văn học

Phản biện 2: PGS.TS Biện Minh Điền

Trường Đại học Vinh

Phản biện 3: TS Trần Hạnh Mai

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

vào hồi 8h giờ 30 ngày 11 tháng 5 năm 2021

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc Gia, Hà Nội

- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Tìm tòi và cách tân trong văn học không chỉ là đòi hỏi của công chúng, củathời đại trước những tác động, biến đổi của thời đại ấy, mà còn là nhu cầu tự thân đểnghệ thuật tồn tại, thoát khỏi lối mòn Phát hiện ra những tìm tòi, cách tân trong vănhọc là cần thiết, giúp chúng ta có được cái nhìn rõ nét hơn về đặc điểm và sự vậnđộng của văn học qua mỗi thời kì, mỗi giai đoạn

1.2 Sau 1975, thơ nữ có nhiều đổi mới trong diện mạo của mình Đa số ý kiến chorằng, vị thế của thơ nữ đang dần được khẳng định với sự xuất hiện của một đội ngũthơ nữ đông đảo cùng những thể nghiệm nghệ thuật độc đáo Tuy nhiên cũng cónhững ý kiến trái chiều, thậm chí xung đột, phản ứng gay gắt trước một số hiện tượngthơ đổi mới quá táo bạo Từ những tranh luận ấy, việc chỉ ra những tìm tòi và cáchtân cụ thể trong thơ nữ sau 75 sẽ góp phần đem đến cái nhìn và sự đánh giá kháchquan hơn về diện mạo cùng những đóng góp của thơ nữ cho sự phát triển của thơViệt Nam đương đại

1.3 Trong xu thế hội nhập của đời sống văn hóa tinh thần, sự phát triển của cácphong trào nữ quyền trên thế giới có tác động đáng kể tới sự phát triển của văn họcnghệ thuật nước ta Đặc biệt với thơ nữ sau 75, sự tác động ấy càng đậm nét hơn khi

âm hưởng nữ quyền trở thành một trong những mạch nguồn cảm hứng chủ yếu, gópphần tạo nên những quan niệm, xu hướng riêng cho bộ phận thơ Nó ảnh hưởng mạnh

mẽ tới sự đổi mới của cái tôi trữ tình và một số thể nghiệm nghệ thuật

1.4 Đa số những công trình nghiên cứu thơ nữ Việt Nam sau 75 hiện nay thườngđược nghiên cứu theo hướng tổng quát về đặc điểm thơ, hoặc nhận xét chung trongnhững thay đổi của nền thơ, hoặc đi vào đặc điểm, phong cách của nhà thơ, nhóm nhàthơ Đã đến lúc chúng ta cần có những công trình nghiên cứu bao quát được nhữngtìm tòi và cách tân trong thơ nữ Việt Nam sau 75 để thấy được đổi mới cụ của thể bộphận thơ này trên con đường hiện đại hóa thơ Việt

Cho đến khi chúng tôi thực hiện đề tài “Thơ nữ Việt Nam sau 75, những tìm tòi

và cách tân”, những tranh luận về sự đổi mới của thơ nữ sau 75 chưa phải đã chấm

dứt, đặc biệt ở những hiện tượng thơ nữ mang tính thời sự Chúng tôi mong muốnqua góc nhìn về tìm tòi, cách tân trong thơ nữ sau 75 để thấy rõ hơn sự chuyển mìnhcùng những thành tựu nghệ thuật của bộ phận thơ này

Trang 4

2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung vào những tìm tòi và cách tân của thơ nữ sau 1975 trên một sốphương diện nội dung (cảm hứng trữ tình, cái tôi trữ tình) và hình thức nghệ thuật(cấu trúc, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu)

2.2 Phạm vi nghiên cứu:

Luận án tập trung khảo sát ở một số hiện tượng thơ nữ sau 75 tiêu biểu sau:

Thế hệ nhà thơ nữ trưởng thành từ kháng chiến: Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan ThịThanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ

Thế hệ nhà thơ nữ bắt đầu xuất hiện sau 75: Phạm Thị Ngọc Liên, Lê Thị Mây,Nguyễn Thị Hồng Ngát, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Lê Khánh Mai, Vũ ThịHuyền

Thế hệ nhà thơ nữ xuất hiện từ nửa cuối thập niên 90 đến nay: Phan Huyền Thư,Nguyễn Phan Quế Mai, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Từ Huy,Ng.anhanh, Lữ Thị Mai, Như Quỳnh de Prelle, Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Cụ thể, khi nghiên cứu những hiện tượng này, chúng tôi đi vào khảo sát một số tácphẩm tiêu biểu (Danh mục tham khảo/ III Các tác phẩm khảo sát)

Luận án cũng sử dụng một số tác phẩm giai đoạn trước 75 và một số tác phẩm củacác nhà thơ nam sau 75 để việc đối chiếu so sánh thuyết phục hơn

3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Nhận diện, lí giải những tìm tòi và cách tân của thơ nữ Việt Nam từ sau 1975 đếnnay trên một số phương diện của nội dung và nghệ thuật Đánh giá ý nghĩa của sự đổimới thơ nữ sau 75 với sự phát triển của thơ Việt, đồng thời khẳng định vị trí vànhững đóng góp của các nhà thơ nữ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác định quan niệm tìm tòi và cách tân trên cơ sở lí luận, đồng thời nhìn lại tìnhhình nghiên cứu về những tìm tòi và cách tân trong thơ nữ sau 75 để có cơ sở tiếp cậnđối tượng nghiên cứu

Nhận diện khái quát bức tranh diện mạo của thơ nữ Việt Nam sau 75 qua cácchặng đường nối tiếp, song hành giữa các thế hệ nhà thơ, những quan niệm thơ vànhững xu hướng cách tân thơ

Tập trung phân tích những tìm tòi, cách tân của thơ nữ sau 75 trên phương diệncảm hứng và cái tôi trữ tình Chỉ ra những tìm tòi và cách tân cụ thể trên các phươngdiện cấu trúc, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu

Trang 5

Những tìm tòi, cách tân của thơ nữ sau 75 được khảo sát và đối chiếu so sánh với thơViệt nói chung, thơ nữ nói riêng ở những giai đoạn trước 1975, với thơ nam giới cùngthời để nhận ra sự tiếp nối, đổi mới riêng trong sáng tạo nghệ thuật của thơ nữ

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Phương pháp hệ thống cấu trúc, phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưngthể loại, phương pháp loại hình, phương pháp liên ngành, phương pháp so sánh đốichiếu

(3) Luận án chỉ ra những tìm tòi, cách tân hình thức của thơ nữ sau 75 ở cấu trúc,hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu Từ đó giúp người đọc hiểu hơn về sự thay đổi tư duynghệ thuật và nỗ lực kiến tạo, đổi mới thơ của các nhà thơ nữ

(4) Kết quả nghiên cứu của luận án góp thêm hướng tiếp cận, kiến giải về nhữngđóng góp của thơ nữ Việt Nam sau 75, đưa đến những đánh giá khách quan hơn, đầy

đủ hơn về sự phát triển đa chiều của thơ Việt trong đời sống hôm nay

(5) Bổ sung thêm tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy một số tác phẩm thơ nữsau 75 trong nhà trường cũng như việc nghiên cứu thơ ca trữ tình sau 75

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tìm tòi và cách tân trong thơ

1.1.1 Quan niệm về tìm tòi và cách tân

Từ những cách lí giải về tìm tòi và cách tân trong Từ điển tiếng Việt, Từ điển tiếng

Pháp (Larousse.com), Từ điển tiếng Anh (Vdict.com) ta có thể hiểu:

Tìm tòi là sự khám phá, kiếm tìm ra giá trị mới, phá bỏ thế tĩnh tại của hiện hữusáng tạo Nó phụ thuộc chủ yếu vào ý thức chủ quan của người sáng tạo

Còn cách tân, theo nghĩa khái quát nó tương đồng với nghĩa của từ đổi mới Về từloại, cách tân là từ Hán Việt nên có thể mang nét nghĩa khái quát cao hơn so với từđổi mới (là từ thuần Việt) Nếu cách tân thường được dùng nhiều hơn trong lĩnh vựcvăn học nghệ thuật thì đổi mới thường dùng bao trùm cho lĩnh vực, bình diện rộnghơn Nhiều ý kiến cho rằng cách tân nghiêng về thủ pháp nghệ thuật nhưng thực rathủ pháp nghệ thuật chỉ là một bình diện còn cách tân bao hàm căn bản hơn về hệ tưtưởng, quan niệm Cách tân được biểu hiện ra ở nhiều mức độ Ở mức độ hẹp, cáchtân có thể chỉ nằm trong phạm vi một trào lưu, một phương pháp Ở mức độ rộnghơn, cách tân có thể tạo ra sự thay đổi của trào lưu, thậm chí có thể làm thay đổi một

hệ hình văn học

Tìm tòi và cách tân là hai vấn đề không thể tách rời Nếu tìm tòi là hành động tấtyếu của sự khám phá, đi tìm cái mới thì cách tân chính là kết quả khám phá, là cáimới, cái chất lượng, mang đến những giá trị mới Ngược lại, nếu cách tân là hoạtđộng sáng tác tất yếu thì tìm tòi là một trong những điều kiện của cách tân, dù khôngphải bất cứ sự tìm tòi nào cũng đem đến những cách tân bởi nó cũng có thể tạo ra cáikhác mà không phải cái mới Chỉ khi nào sự tìm tòi tạo ra được giá trị nghệ thuậtmới, lúc đó văn học tất yếu có sự cách tân

1.1.2 Tìm tòi cách tân trong thơ và trong thơ Việt Nam hiện đại

Từ đặc trưng thể loại có thể thấy tìm tòi và cách tân trong thơ thường có sự thống

nhất, hài hòa giữa ba phương diện cơ bản: thứ nhất là làm mới quan niệm về thơ, chất thơ, từ đó xác định vị thế của nhà thơ; thứ hai là khai thác và khám phá các cung bậc cảm xúc mới lạ và độc đáo, từ đó tạo ra cái tôi trữ tình mới; thứ ba là xu hướng tìm

kiếm, tìm tòi những hình thức nghệ thuật thơ mới

Trong thơ Việt Nam hiện đại, tìm tòi và cách tân có sự tiếp nối giữa các giai đoạn:Đầu thế kỉ XX, thơ có sự chuyển đổi hệ hình từ thơ cổ điển sang thơ mới mà trungtâm là thay đổi cái tôi trữ tình từ thời đại cái ta sang thời đại cái tôi Cuộc canh tânnày đi vào lịch sử văn học với sự ra đời của phong trào Thơ Mới Trong đó, đổi mới

Trang 7

căn bản nhất vẫn là cái tôi cá nhân với cảm xúc và cách thụ cảm thế giới mới Nhưnghơn 10 năm của thơ Mới cũng là quá trình vận động, tạo ra những khuynh hướng đadạng và tiệm cận tới khuynh hướng thơ tượng trưng siêu thực

Giai đoạn 45-75, thơ chuyển đổi căn bản từ nội dung cái tôi trữ cá nhân sang cáitôi công dân chiến sĩ với những tình cảm, cảm xúc về quê hương, đất nước Tuynhiên, ở một số nhà thơ đô thị miền Nam những năm 54 - 75 đã sớm có xu hướng tìmtòi vào thế giới bên trong, thế giới nhiều phức tạp, những cách tân mặt hình thứctrong thơ thì có xu hướng đi theo hướng trào lưu hiện đại chủ nghĩa

Sau 1975, tìm tòi và cách tân là cuộc chạy tiếp sức nhờ nỗ lực chung của các nhàthơ Ở thế hệ nhà thơ tiền chiến, một số nhà thơ vẫn tiếp tục có những tìm tòi âmthầm quyết liệt Sau nhiều năm âm thầm viết, đến cuối những năm 80, trong mộthoàn cảnh thuận lợi, họ có cơ hội trình bày những thể nghiệm đó một cách mạnh mẽ

và tự tin trước công chúng Những người giữ vai trò quan trọng tạo nên những cúhích phải kể đến là Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm Tiếp nối là thế hệ nhà thơ xuấthiện từ những năm 90 như Nguyễn Quang Thiều, Dư Thị Hoàn, Dương Kiều Minh,Nguyễn Lương Ngọc Xu hướng cách tân trở thành trào lưu mạnh mẽ, có nhiều bứtphá Một số nhà thơ nữ như Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh Nguyễn Phan Quế Mai,Trang Thanh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư cũng có những đóng góp đáng kể,góp phần làm cho trào lưu cách tân thơ phát triển với nhiều thể nghiệm mới lạ, mở racác hướng tìm tòi mặc dù không phải không có những hiện tượng thơ có xu hướngđổi mới quá đà, cực đoan gây ra những tranh cãi gay gắt

1.2 Tình hình nghiên cứu về những tìm tòi và cách tân trong thơ nữ Việt Nam sau 1975

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy số lượng bài viết, nghiên cứu về sự tìm tòi,cách tân trong thơ nữ sau 75 khá phong phú, đa dạng nhưng tập trung chủ yếu vào haihướng: một là hướng nghiên cứu điểm lại diện mạo, những đóng góp chung của bộphận thơ nữ sau 75, hai là hướng nghiên cứu những tìm tòi, cách tân cụ thể của thơ

nữ qua một số hiện tượng thơ/ một tác giả/ nhóm tác giả/ nhóm tác phẩm Trong đó,

có những bài viết khá toàn diện nhưng cũng có những bài viết còn nhiều vấn đề tranhluận đến nay vẫn chưa tới hồi thống nhất Trên cơ sở kế thừa những thành tựu củangười đi trước, chúng tôi sẽ lựa chọn những nội dung phù hợp để tiếp tục nghiên cứu

đề tài Nhiệm vụ của chúng tôi là xem xét đối tượng nghiên cứu qua sự khảo sát,phân tích các hiện tượng thơ cụ thể, ở các bình diện tiêu biểu để thấy rõ hơn những

Trang 8

tìm tòi và cách tân có giá trị, bổ sung thêm cái nhìn cho quá trình nghiên cứu thơ nữsau 75.

Chương 2 KHÁI QUÁT DIỆN MẠO THƠ NỮ VIỆT NAM SAU 1975 2.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa và văn học

Sự kiện 30/4/1975 là một bước ngoặt lịch sử tạo nên những thay đổi lớn cho nước

ta trên mọi lĩnh vực Hòa chung không khí chiến thắng vang dội của đất nước, thơtiếp tục đi vào mạch cảm hứng sử thi, khẳng định con đường đi lên của cách mạng.Song, nền văn học nói chung, thơ nói riêng cũng phải đối mặt với nhiều khó khănthách thức mới Những dấu hiệu đổi mới xuất hiện chưa thực sự trở thành phong tràorầm rộ, còn nhiều hạn chế mặc dù văn học vẫn vận động theo quán tính Mãi đến nửađầu những năm 80, khi nhu cầu đổi mới dần trở thành sự bức thiết của đời sống vănhọc thì thơ mới có sự chuyển hướng mạnh mẽ

Thành công Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam mở ra công cuộc đổi mớitoàn diện cho đất nước Tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng sự thật đươc phát huymạnh mẽ trong đời sống văn hóa xã hội Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trên tinh thầndân chủ đem lại những đổi mới quan trọng, căn bản trong văn học từ đề tài, chủ đề,cái tôi đến các thể nghiệm hình thức nghệ thuật, giúp các nhà văn có cơ hội đi sâukhám khá hiện thực nhiều chiều Ở vị thế mới, con người cá nhân cũng không phảinén lại hay hòa tan với cộng đồng mà được giải phóng và nhận thức lại đúng với ýnghĩa, giá trị của mình

Từ những năm 90 trở đi, con đường đổi mới ấy có đôi lúc quanh co, chững lạinhưng nó vẫn đang được tiếp tục theo xu hướng mới Các nhà văn vẫn tiếp tục pháthuy sự nhạy bén và bắt kịp xu thế phát triển thời đại để đem đến sự đổi mới và tạonên diện mạo mới, luồng sinh khí mới cho văn học

Sự tiếp nhận nền văn hóa phương Tây, các trào lưu tư tưởng mới của văn học thếgiới đã kích thích các trào lưu đổi mới của thơ Việt, mở ra tầm nhìn văn hóa chongười sáng tác nữ và tạo nên chuyển biến trong cảm hứng, giọng điệu của thơ Sựxuất hiện đông đảo của đội ngũ thơ nữ một phần do nhu cầu quan tâm tới mọi mặtđời sống tinh thần con người, một phần do sự ảnh hưởng của các phong trào đấutranh vì bình đẳng hay quyền lợi của phụ nữ trong xã hội, thúc đẩy sự ý thức pháitính, ý thức nữ quyền

2.2 Nhìn chung về thơ nữ Việt Nam sau 1975

2.2.1. Thơ nữ sau 1975 - sự song hành, tiếp nối các thế hệ

Trang 9

Ở chặng đầu tiên, từ 1975 đến những năm 80 Đội ngũ thơ nữ chủ yếu vẫn lànhững gương mặt từng trưởng thành từ kháng chiến chống Mĩ, tiêu biểu như: Ý Nhi -người vinh dự nhận được giải thưởng Cikada; Xuân Quỳnh - người dự báo trướckhuynh hướng của những nhà thơ nữ đổi mới; Lâm Thị Mỹ Dạ - nhà thơ không chỉnhận được những giải thưởng cao quý về thơ ca mà nhiều tác phẩm còn được dịch,xuất bản ở Mỹ

Chặng đường thứ hai, cuối những năm 80 đến những năm 90 Bên cạnh nỗ lựcđổi mới của thế hệ nhà thơ trước, sự xuất hiện của thế hệ mới tạo nên sắc diện mớicho thơ với nhiều phong cách lạ, độc đáo như: Vũ Thị Huyền xuất hiện trên thi đànvới sự lặng lẽ, ý vị và trầm lắng đến lạ; Dư Thị Hoàn gây chú ý với một hình thức thơ

là lạ, toàn những bài ngắn, câu ngắn, khước từ thể cách và rất nhiều vần điệu ; haythơ nữ hải ngoại, có trường hợp đi rất xa, gây tranh cãi như Nguyễn Thị Hoàng Bắcvới tinh thần phản kháng mạnh mẽ Họ góp phần đưa đến cho thơ tiếng nói mới,tiếng nói của ý thức nữ quyền

Chặng đường thứ ba, từ cuối năm 90 đến nay Thơ nổi bật với sự xuất hiện củathế hệ nhà thơ nữ trẻ Họ có nhiều cơ hội tiếp xúc với các luồng tư tưởng văn học thếgiới, có điều kiện thuận lợi để thể nghiệm sáng tạo nên tìm tòi và cách tân thơ nữchặng này cũng được đẩy xa hơn, nhanh hơn và độc đáo hơn Từ cách viết, cách đặttên tập thơ đến cách đưa tác phẩm đến công chúng bạn đọc cũng rất mới, lạ như: trìnhdiễn thơ ở nước ngoài, in thơ song ngữ, viết bài quảng bá thơ Tiêu biểu như ViThùy Linh, nhà thơ trẻ được Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp mời thực hiệnđêm thơ riêng tại Paris Với bản lĩnh tự tin, sự chủ động táo bạo các nhà thơ đã khámphá nhiều thể nghiệm mới lạ Bởi thế, nhiều người xem Vi Thùy Linh là ngườichuyển động bánh xe ý thức tính nữ trong thơ Việt sau đổi mới; Phan Huyền Thư làhiện tượng thơ có biểu tượng thơ độc đáo “nối dài sự sống cho chữ”; Ly Hoàng Ly làngười mang nhiều hơi thở đương đại với thể nghiệm nghệ thuật trình diễn(performance), sắp đặt (installation)

Thơ ca miền Nam cũng trở nên sôi động hơn với những tên tuổi mới như ThanhXuân, Phương Lan, Lynh Bacardi, Khương Hà…

2.2.2 Những quan niệm thơ

Trong thơ ca truyền thống, thơ là tiếng nói của trái tim, khởi nguồn từ cảm xúctrong sáng và chân thành nhất của tâm hồn trước những biến thiên của cuộc sống Saunày các nhà thơ nữ (sau 75) khẳng định thêm: “thơ không phải là một tồn tại mà làlũy thừa của một tồn tại” (Nguyễn Thị Thúy Hạnh), là nhu cầu không thể thiếu trong

Trang 10

cuộc sống, nhất là khi tâm hồn chai sạn, dần vô cảm theo những chiều hướng tiêu cựccủa lối sống hiện đại Thơ cần như bệ đỡ để nhà thơ nương tựa.

Thơ có thân phận và bổn phận riêng, đem lại ý nghĩa giải thoát những mặc cảm

về bổn phận, thân phận từng ăn sâu trong tiềm thức con người Nó đem lại sự sẻ chia,giãi bày, thức dậy trong người đọc tình yêu và khát vọng vươn lên trước hố thẳm khổđau cuộc đời

Thơ không đơn thuần là sự giải tỏa tâm trạng mà còn là giải tỏa những ẩn ức,không bị vây bủa bởi giới hạn nào giống như “Không viết thì phí mất” (XuânQuỳnh), viết như “Giải thoát một món nợ truyền kiếp” (Hoàng Kim Dung), “viết lànỗi sống buồn” (Phan Huyền Thư), “Tôi làm thơ để giải tỏa những mong đợi” (ViThùy Linh)

Làm thơ là công việc lao động nghệ thuật nghiêm túc để tìm tòi và thể hiện mộtthứ mỹ học mới, giúp các nhà thơ nữ thoát khỏi trạng thái mòn cũ, xơ cứng Ở đó, họ

tự do thể nghiệm và thể hiện cá tính Và quan trọng nhất là sau quan niệm ấy họ thểhiện ý thức sâu sắc về giá trị và tiếng nói của phái mình

2.2.3 Những xu hướng cách tân thơ

2.2.3.1 Xu hướng cách tân trên nền truyền thống

Số đông những tác giả theo xu hướng này là những người từng trưởng thànhtrong kháng chiến chống Mĩ như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Đoàn ThịLam Luyến, Phan Thị Thanh Nhàn Đến thời kì đổi mới họ có sự thay đổi, thậm chíquyết liệt về tư tưởng, nội dung cảm xúc nhưng vẫn kế tục những cái cũ, cái đã thànhcông, khá định hình trong phong cách sáng tác ở giai đoạn trước

Sự lựa chọn xu hướng này còn cả những cây bút mới xuất hiện sau 75 như VũThị Huyền, Phạm Vân Anh, Đường Hải Yến, Lê Mỹ Ý, Chu Thị Minh Huệ, NguyễnThanh Vân, Trang Thanh, Lê Ngân Hằng, Ngô Thị Hạnh Họ là những thế hệ trẻ cóđiều kiện tiếp xúc dễ dàng với cái hiện đại hơn nhưng cách thụ cảm đời sống, cáinhìn con người không xa rời dòng mạch thơ trước Phương thức xây dựng hình ảnh,giọng điệu, ngôn ngữ về cơ bản không đối lập, cắt đứt truyền thống Điều đó giúp chongười đọc có thể dễ dàng tiếp nhận, cảm thụ nghệ thuật và nhà thơ cũng có nền tảngvững chắc hơn để tìm lối đi mới, kênh thẩm mỹ mới

2.2.3.2 Xu hướng cách tân theo hướng hiện đại

Từ sau thời kì đổi mới nhiều nhà thơ nữ mà phần đông là lớp trẻ ít có sự liên hệ,ràng buộc bởi quá khứ như Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn

Trang 11

Ngọc Tư, Từ Huy, Khương Hà Bùi, Thanh Xuân, Ng.anhanh, Phương Uy, Trần LêSơn Ý, Trần Hạ Vy

Họ không ngần ngại bày tỏ khát vọng, hay động chạm tới những vấn đề một thờitừng cấm kị trong văn học Một số nhà thơ đi vào hướng hiện đại chủ nghĩa, tìm tòicách tân nhiều về mặt hình thức Họ cũng thích tìm đến lối thơ tự do phóng khoáng

và có nhiều thể nghiệm hình thức thơ độc đáo hơn dù đôi lúc cũng không tránh khỏinhững mảng màu trừu tượng hay đối mặt với không ít rào cản từ những chuẩn mực,nguyên tắc trong đời sống

Chương 3 NHỮNG ĐỔI MỚI VỀ CẢM HỨNG VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM SAU 1975 3.1 Những đổi mới về cảm hứng trữ tình

3.1.1 Cảm hứng về đời thường

Sau 75, dù cảm hứng sử thi, chất hùng tráng nhường chỗ cho cảm hứng đờithường, song những nhà thơ từng trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ vẫn có

xu hướng tiếp tục khám phá đề tài về chiến tranh với sự tác động của nó tới số phận

cá nhân trong đời sống hôm nay Cảm hứng tự hào, ngợi ca, tôn vinh thưở trước đượcthay bằng sự suy tư, lắng đọng Nó đem tới cảm nhận và cái nhìn sâu sắc về bức tranhhiện thực, nơi con người đang phải đối diện với hậu quả của sự tàn phá, sự tàn khốccủa chiến tranh, thậm chí sự hủy diệt Qua đó các nhà thơ khẳng định mạnh mẽ hơn ýchí, nghị lực của con người, khi đối diện với nỗi suy tư, trăn trở trước cuộc đời đầy bi

kịch của những người mẹ, người chị, người vợ, người con (Không chết - Ý Nhi,

Thương vương đường cũ - Thúy Bắc, Thiếu phụ chờ chồng - Lê Thị Mây, Bức tường chiến tranh Việt Nam - Nguyễn Phan Quế Mai )

Thực tế, nhiều nhà thơ nam cũng đi vào những số phận cá nhân của người mẹ,người chị sau chiến tranh (Hữu Thỉnh, Vương Trọng) nhưng đa phần viết từ sự cảmthông, từ góc nhìn bên ngoài và từ những điều vĩ mô Ngòi bút nữ giới nghiêng về thếgiới bên trong, hình ảnh trở thành những biểu tượng gần gũi với thế giới tâm hồn nữ

Sự trở về đời thường trong cảm hứng sáng tác đưa ngòi bút thơ nữ nghiêng vềnhững vấn đề của đời sống hiện tại nhiều hơn Mạch cảm xúc chủ đạo là tự sự Ở đó

ta có thể bắt gặp niềm vui trước sự đổi thay của đời sống mới, về tình yêu quê hương,thiên nhiên đất nước, về những mảng của đời sống riêng tư (Vũ Thị Huyền, Đoàn ThịLam Luyến, Nồng Nàn Phố…) Ở những nhà thơ trẻ như Vi Thùy Linh, Phan Huyền

Trang 12

Thư, Ng.anhanh, Nguyễn Phan Quế Mai nguồn cảm hứng đời thường còn có nhữngphát hiện mang tính thời sự, thường chú ý tới cách hành xử của con người trong xãhội hiện đại

Nguồn cảm hứng đời thường có sự xuất hiện trở lại trong thơ Nguyễn Duy ở các

tác phẩm Mẹ và em, Bụi nhưng chủ yếu chỉ đề cập tới những vấn đề nhạy cảm, trớ

trêu của cuộc đời Trong thơ nữ hôm nay, cái nhìn của người nữ thường dễ cảmthông, với số phận người phụ nữ hơn nên khi đề cập tới những vấn đề của đờithường, họ thể hiện sự ý thức hơn về giá trị đời sống qua những góc nhìn, cảm nhậnrất riêng, đậm tính nữ Họ thường dừng lại sự khám phá cảm xúc đời thường ở nhữngmảng tối, mảng còn khuất lấp trong tâm tư của người nữ Qua đó thấy được bản lĩnh,dám chấp nhận để vượt lên hiện thực, thấy được sự ý thức của các nhà thơ nữ vềnhững giá trị cuộc sống, khoảnh khắc hạnh phúc hiện tại

thơ đặt chữ phận lên trên hết (Chồng chị chồng em - Đoàn Thị Lam Luyến) Phận ở

đây là bổn phận, là trách nhiệm, là cái cố hữu một thời nhưng nay không thể “tínhđược dài lâu với đời” Phận có thể thay đổi nên họ cũng có những lựa chọn, chủ độnghơn trong cuộc đời của mình

Trong thơ trung đại, vấn đề của thân phận đã được các nhà thơ nữ sau 75 nhậnthức như một thực thể hoàn chỉnh của sự sống, có nhu cầu tồn tại độc lập, có khaokhát được thoả mãn, được hưởng thụ, nhưng cách thể hiện chưa thực sự quyết liệt.Đến thơ giai đoạn 1945 - 1975, vấn đề thân phận không được các nhà thơ đặt ra Sau 1975, các nhà thơ nữ đã đi gần tới ý thức về quyền nữ, ý thức hơn về vị thếcủa mình Thơ nữ xuất hiện nhiều bài thơ ngợi ca vẻ đẹp tính nữ, vẻ đẹp bên trong

của người phụ nữ (Thơ viết cho mình và những người con gái khác - Xuân Quỳnh,

Bài hát của những người nội trợ - Lê Thị Mây, Điều anh không biết - Vi Thùy

Linh…) Thân xác thì được họ miêu tả như đối tượng để chiêm ngưỡng (Mở nút đêm

- Ly Hoàng Ly, Nơi ánh sáng, Vũ trụ trong tay - Vi Thùy Linh…) Khác với cái nhìn

ở nam giới ở chỗ chỉ quan tâm tới những vẻ đẹp người phụ nữ trong cái nhìn mang

Trang 13

tính chất khách quan, cảm tính, thơ nữ hôm nay đi vào chiều sâu, mang tính hướngnội Nó gắn với ý thức giải phóng thân phận giúp nữ giới hiểu hơn chính mình

Thơ nữ sau 75 đề cao những giá trị tự thân chứ không phải tòng thuộc Theo đó,

“phận” có thể éo le, trớ trêu không may mắn nhưng họ chấp nhận, thậm chí tháchthức với định kiến xã hội Vấn đề của thơ nữ sau 75 cũng không phải là đổi phận mà

là khẳng định giá trị riêng, vị thế riêng, quyền làm chủ của người nữ Nếu thế hệXuân Quỳnh còn khiêm tốn thì thế hệ sau, sự khẳng định sức mạnh, giá trị riêng cóphần có quyết liệt hơn

3.1.3 Cảm hứng về tình yêu

3.1.3.1 Tình yêu và những khát khao

Khát khao tình yêu hạnh phúc, thơ nữ thường có xu hướng khẳng định và tìm tới

sự bình yên Tuy nhiên, nếu trước 1975 nó chỉ là khát vọng xa vời thì sau 1975, khátvọng đó thực hơn, đời hơn Họ tìm đến sự mê đắm, cuồng nhiệt ở nhiều tầng bậc

trạng thái cảm xúc mang đậm phái tính (Mưa Sài Gòn - Dư Thị Hoàn, Tập làm thơ

lục bát - Ý Nhi, Đêm là của chúng mình - Ly Hoàng Ly…)

Khám phá nỗi khát vọng hạnh phúc trong tình yêu, thơ nữ sau 75 đem đến sự tận

hưởng trên nhiều phương diện như nhục cảm, giao hòa thân thể (Đêm của những giọt

sương - Phạm Thị Ngọc Liên, Chân dung - Vi Thùy Linh, không đặt tên - Như

Quỳnh de Prelle…) Trước đây, nếu phần nhục thể trong thơ được xem là tầm thường

và bị tránh nói đến trực tiếp, thì giờ đây chúng được xem là một phương diện của vẻđẹp tình yêu Trong thơ nữ, nó mang tới quan niệm mới về sự giải phóng toàn vẹn cả

ở đời sống thực thể, tìm tới tình yêu tuyệt đích

Cái nhìn về người tình của các nhà thơ nữ sau 75 cũng thay đổi Người tìnhkhông đơn thuần chỉ là đối tượng giúp “em” bộc lộ những vẻ đẹp thủy chung, niềmtin, hoài vọng mà được tôn xưng “người vĩ đại” (Xuân Quỳnh), người tình lí tưởng,

là món quà vô giá cuộc đời trao tặng để hòa nhập cuộc đời trong giấc mơ (Ý Nhi),

“Anh là Chúa trong em mãi mãi” (Vi Thuỳ Linh) Cảm hứng ngợi ca người tình trởnên mãnh liệt hơn và được nói ra một cách trực tiếp

3.1.3.2 Tình yêu và những âu lo

Sau 75, ý thức về cái bất định, mong manh, sự không bền vững, không bền chặt,

sự biến suy của tình yêu đem đến cho thơ nữ nhiều hơn nỗi lo âu Đó vẫn là những dự

cảm đắng đót khi tình yêu lụi tàn (Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh…) nhưng bao

hàm trong nó là sự đa cảm, đa đoan đậm tính nữ Những nỗi lo âu ấy bao giờ cũngđược đặt lên trên trước để bắt gặp nỗi niềm trăn trở, băn khoăn Cảm xúc của nhânvật trữ tình đã thoát khỏi tính “nguyên phiến” Các nhà thơ đã chỉ ra được những biến

Trang 14

động phức tạp nhưng rất chân thật trong tâm hồn thơ nữ, chỉ ra nguyên nhân xuấtphát, sự mâu thuẫn giữa hoài vọng và hoài nghi về sự tồn tại của tình yêu bền vững Chúng ta cũng gặp những dự cảm âu lo trong rất nhiều bài thơ của những tác giảnam cùng thời Trước sự biến đổi thời gian, không gian tình yêu, cảm xúc ấy trongthơ nam giới chỉ thoáng qua, vụt hiện trong giây phút Trong thơ nữ hôm nay, nó như

thuộc tính tất yếu, làm nên nét đẹp riêng cho thơ nữ (Chiến tranh - Đoàn Thị Lam Luyến, Viên mãn - Dư Thị Hoàn, Không chắc chắn - Phan Thị Thanh Nhàn, Nhớ bão

- Phan Huyền Thư…)

Khát khao tận hưởng hạnh phúc viên mãn của tình yêu trong sự hòa hợp cả thểxác lẫn tâm hồn, đôi khi bản thể nhân vật trữ tình lại rơi vào hụt hẫng, trống vắng, côđơn vì không thể trở về với chính mình, day dứt trong những cảm xúc mơ hồ khóhiểu Từ cảm xúc ấy, cái nhìn về người tình trong thơ nữ mở rộng khi họ nhận thức rađược “anh” cũng chính là người gây nên nỗi đau, người mang phiền muộn đến cho

em, là người ích kỷ, “gieo vào em sự đơn độc” (Vi Thùy Linh) Cách viết như thếkhông phải để các nhà thơ hạ bệ người tình bởi thực tế họ vẫn luôn có ý thức tônvinh, xem người tình là đối tượng giãi bày nỗi suy tư trăn trở của mình về tình yêuhạnh phúc

Viết về nỗi lo âu trong tình yêu dễ thấy thơ nữ tồn tại hai thái độ đó là: vừa bày tỏ

sự thất vọng trước sự bền chặt vĩnh viễn, sự hòa nhập tuyệt đối trong tình yêu chỉ là lítưởng (dù không phải cái chủ đạo), vừa bộc lộ nhận thức sâu sắc, tỉnh táo và thực tếhơn về những giá trị và giây phút hạnh phúc Các nhà thơ nữ đã đánh thức người đọcvới những cảm thức hiện sinh, giúp ta có cái nhìn tích cực hơn về giá trị cuộc sống,biết quý sự sống trong sự phong phú, phức tạp của những cảm xúc

3.2 Những đổi mới về cái tôi trữ tình

3.2.1 Từ cái tôi công dân đến cái tôi cá thể

Từ sau 75, cái tôi công dân có sự chuyển dần thành cái tôi cá thể Cái tôi ý thức

về mình là một sự sống, vũ trụ riêng, ý thức được mối quan hệ giữa cá nhân này với

cá nhân khác Cái tôi ấy đối lập với cái ta và được hiểu như là một số phận, cá tính

Nó được nhấn mạnh hơn ở bản ngã và giá trị tự thân của người nữ Nó đi sâu vào ýthức cá nhân, cao hơn là ý thức nữ quyền với vị thế mới của người nữ Sự xuất hiệncủa cái tôi cá thể phần nào đó đã giúp thơ nữ nói lên được nhu cầu giải phóng tìnhcảm, bản ngã và tự do thể nghiệm sáng tạo

Từ ý thức về mình như tôi là tôi, là cá thể riêng với bản ngã cá tính và những giátrị riêng, cái tôi cá thể có xu hướng cơ bản trở về với đời sống cá nhân, với bản thểchính mình Ở Thơ Mới, ý thức mình như cá thể riêng với tiếng nói riêng không có gì

Ngày đăng: 29/06/2021, 14:23

w