1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP LỚN ĐỀ BÀI: LÍ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG. LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM.

15 103 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 272,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lê nin về hàng hóa sức lao động cùng với thực trạng thị trường sức lao động của nước ta hiện nay thì viêc hoàn thiện thị trường sức lao động không chỉ mang

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP LỚN

ĐỀ BÀI: LÍ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG LIÊN

HỆ VỚI THỰC TẾ TẠI VIỆT NAM

HỌ VÀ TÊN: LÊ THU HIỀN

MSSV: 11181664

LỚP: NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN 2 (218_48)

Hà Nội, tháng 3 năm 2019

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Nguồn lao động là tài sản quý giá và to lớn đối với một quốc gia, đó vừa là tiền đề, vừa là động lực và là mục tiêu để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế

xã hội của đất nước Quan tâm đến nguồn lao động tức là quan tâm đến mọi mặt vấn đề liên quan đến người lao động, từ đó bộc lộ bản chất, tính ưu việt của chế

độ Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lê nin về hàng hóa sức lao động cùng với thực trạng thị trường sức lao động của nước ta hiện nay thì viêc hoàn thiện thị trường sức lao động không chỉ mang tính kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị,

là một vấn đề cấp thiết

Trong những năm vừa qua nền kinh tế nước ta đang dần dần chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhiều thị trường khắp cả nước đã từng bước được hình thành và phát triển, nhưng trình độ phát triển còn thấp so với các nước và sự phát triển của các thị trường đó còn thiếu đồng bộ Một trong

số những thị trường được hình thành đó là thị trường sức lao động (hay còn gọi

là thị trường lao động) Trước thời kì đổi mới, chúng ta hầu như không hề thừa nhận thị trường sức lao động Thế nhưng trong điều kiện hiện nay, việc thừa nhận

nó là tất yếu Vào ngày 23/6/1994, nhà nước ta đã ban hành Bộ Luật Lao Động, tiếp sau đó là một loạt các nghị định của Chính phủ hướng dẫn, thi hành Bộ Luật Lao động đã có những tác động tích cực đến việc hình thành khuôn khổ pháp lý cho thị trường này Sức lao động được coi là một hàng hóa đặc biệt, tiền lương được coi là mức giá của sức lao động và được quyết định bởi sự thỏa thuận giữa hai bên

Vậy hàng hóa sức lao động là gì? Chúng có những đặc điểm, vai trò và giá trị

ra sao đối với nền kinh tế? Thị trường hàng hóa sức lao động tại Việt Nam hiện nay diễn ra như thế nào từ sau năm 1986? Để hiểu rõ hơn vấn đề này, em lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Lí luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin về hàng hóa sức lao động

và liên hệ với thực tế tại Việt Nam.”

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

I Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:

1 Sức lao động là gì?

Theo C Mác, “Sức lao động đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”

2 Những điều kiện biến sức lao động trở thành hàng hóa:

Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất Nhưng không phải trong bất cứ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định sau đây:

-Thứ nhất: Người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ

được sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa Sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hóa, nếu nó do bản thân con người có sức lao động đưa ra bán Muốn vậy, người có sức lao động phải có quyền sở hữu năng lực của mình Việc biến sức lao động trở thành hàng hóa đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến

-Thứ hai: Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản

xuất để không thể tự tiến hành lao động sản xuất Chỉ trong điều kiện ấy, người lao động mới buộc phải bán sức lao động của mình vì không còn cách nào để sinh sống

Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động biến thành hàng hóa

Dưới chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện đầy đủ hai điều kiện đó Cách mạng

tư sản đã giải phóng người lao động khỏi sự lệ thuộc về thân thể vào chủ

nô và chúa phong kiến Thêm vào đó, do tác động của quy luật giá trị và

Trang 4

các biện pháp tích lũy nguyên thủy của tư bản đã làm phá sản những người sản xuất nhỏ, biến họ trở thành vô sản và tập trung tư liệu sản xuất vào trong tay một số ít người Việc mua bán sức lao dộng được thực hiện dưới hình thức thuê mướn

Trong các hình thái trước tư bản chủ nghĩa, chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ bị phá vỡ thì mới xuất hiện điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa Chính sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trở nên có tính phổ biến và đã báo hiệu sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội – thời đại của chủ nghĩa tư bản

Sức lao động trở thành hàng hóa là điều kiện quyết định để biến tiền thành tư bản

II Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động:

1 Giá trị hàng hóa sức lao động:

Giá trị hàng hóa sức lao động cũng giống như các hàng hóa khác được quy định bởi số lượng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra và tái sản xuất ra sức lao động Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Để sản xuất ra và tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một số lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Ngoài

ra, người lao động còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và con cái Chỉ có như vậy thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất liên tục

Vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra sức lao động sẽ quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy Hay nói một cách khác, số lượng giá trị sức lao động được xác định bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động

Trang 5

Khác với hàng hóa thông thường, giá trị hàng hóa sức lao động bao hàm

cả yếu tố tinh thần và lịch sử Điều đó thể hiện ở chỗ nhu cầu của công nhân không chỉ có nhu cầu về vật chất mà còn gồm cả những nhu cầu về tinh thần (giải trí, học tập,…) Nhu cầu đó cả về khối lượng lẫn cơ cấu những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân không phải lúc nào và ở đâu cũng giống nhau Nó tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước Ngoài ra còn phụ thuộc vào tập quán, điều kiện địa lý và khí hậu, điều kiện hình thành giai cấp công nhân

Nhưng đối với một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định Do đó có thể xác định do những bộ phận sau đây hợp thành:

Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết

để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân

Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho gia đình người công

nhân

Để nêu ra được sự biến đổi của giá trị sức lao động trong một thời kỳ nhất định, cần nghiên cứu sự tác động lẫn nhau của hai xu hướng đối lập

nhau Một mặt là sự tăng nhu cầu trung bình xã hội về hàng hóa và dịch vụ,

về học tập và trình độ lành nghề, do đó làm tăng giá trị sức lao động Mặt

khác là sự tăng năng suất lao động xã hội, do đó làm giảm giá trị sức lao

động Trong điều kiện tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và những điều kiện khác, sự khác biệt của công nhân

về trình độ lành nghề, về sự phức tạp của lao động và mức độ sử dụng năng lực trí óc và tinh thần của họ tăng lên Tất cả những điều kiện đó không thể không ảnh hưởng đến các giá trị sức lao động Không thể không dẫn đến

Trang 6

sự khác biệt theo ngành và theo lĩnh vực của nền kinh tế bị che lấp đằng sau đại lượng trung bình của giá trị sức lao động

2 Giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động:

Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng giống như các hàng hóa khác chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng lao động, tức là quá trình người công nhân tiến hành lao động sản xuất

Những tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động được thể hiện đó là:

Thứ nhất, sự khác biệt giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động so với

giá trị sử dụng của các hàng hóa khác là ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị và giá trị sử dụng của nó đều biến mất theo thời gian Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của thân giá trị sức lao động Phần lớn hơn

đó chính là giá trị thặng dư, Như vậy, hàng hóa sức lao động có thuộc tính

là nguồn gốc sinh ra giá trị Đó là đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động so với các hàng hóa khác Nó là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Như vậy, tiền chỉ thành tư bản khi sức lao động trở thành hàng hóa

Thứ hai, con người là chủ thể của hàng hóa sức lao động Vì vậy, việc

cung ứng sức lao động phụ thuộc vào những đặc điểm về tâm lý, kinh tế,

xã hội của người lao động Đối với hầu hết các thị trường khác thì cầu phụ thuộc vào con người với những đặc điểm của họ, nhưng đối với thị trường lao động thì con người lại có ảnh hưởng quyết định tới cung

Trang 7

PHẦN LIÊN HỆ VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM TẠI VIỆT NAM

A - Thực trạng thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay

I - Nguồn lao động - cung của thị trường lao động

1.Về số lượng:

Việt Nam hiện nay đang sở hữu một thế hệ dân số vàng Do đó mà nguồn lao động của nước ta rất dồi dào trong hiện tại và cả tương lai Hiện nay, số lượng người lao động chiếm khoảng 60% dân số Hằng năm, nước ta lại được bổ sung thêm khoảng hơn 1 triệu lao động mới Nguyên nhân của sự gia tăng nhanh chóng về số lượng lao động ở nước ta là do tốc độ tăng dân số cũng như hậu quả

từ cuộc bùng nổ dân số trước đây và xu hướng trẻ hóa dân số đang diễn ra Năm

2013, dân số Việt Nam đã đạt khoảng 90 triệu người, trong đó nhóm dân số có

độ tuổi từ 15-64 chiếm 69% tổng số dân

2 Về chất lượng:

Người lao động nước ta cần cù, có kinh nghiệm trong sản xuất gắn với

truyền thống của dân tộc được tích lũy qua nhiều thế hệ, đặc biệt là trong các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp Nguồn lao động trẻ đang có

xu hướng tăng, có khả năng ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học-kĩ thuật vào sản xuất

Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động của nước ta còn thấp Năm 2012, số người lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 17.6% Nguyên nhân chủ yếu khiến chất lượng nguồn lao động của nước ta còn hạn chế là do cơ cấu đào tạo chưa hợp lý (thừa thầy thiếu thợ), chất lượng đào tạo chưa đạt tiêu chuẩn Người lao động đã qua đào tạo còn mỏng về số lượng, một số lượng lớn người lao động có trình độ lại đang có thiên hướng ra nước ngoài làm ăn,…

3 Sự phân bố nguồn lao động:

Hiện nay, thị trường lao động đang có sự phát triển không đồng đều, dẫn tới

sự chênh lệch về tỷ suất cung – cầu trong thị trường lao động ở mỗi ngành nghề

Trang 8

và mỗi vùng miền khác nhau Trong các ngành kinh tế, tỉ trọng người lao động hoạt động trong ngành nông lâm - ngư nghiệp vẫn chiếm phần lớn với trên 50% Trong khu vực nông thôn – thành thị, tỉ trọng người lao động ở nông thôn chiếm tới khoảng 70% nhưng người lao động đã qua đào tạo lại tập trung chủ yếu ở thành thị Điều này làm cho thị trường lao động của nước ta phát triển không đồng đều giữa các ngành và các vùng với nhau, khiến nhịp độ phát triển kinh tế đất nước cũng trở nên không đồng bộ, thống nhất

II -Vấn đề việc làm và sự mâu thuẫn cung - cầu trong thị trường lao động:

Với nguồn lao động đông đảo về số lượng nhưng chất lượng lại hạn chế, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm hoặc phải làm trái ngành nghề đào tạo đang diễn ra phổ biến và dần trở thành một vấn nạn của xã hội ở nước ta, gây lãng phí nguồn lao động

Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, sáu tháng đầu năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính là 2.28% (tăng 0.32% so với năm 2012), còn tỷ lệ thiếu việc làm là 2.95% (tăng 0.21% so với năm 2012) Như vậy, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở nước ta đang có xu hướng gia tăng Điều này đồng nghĩa với hiện nay trong thị trường lao động, cung đang lớn hơn cầu

Mặt khác, hằng năm, nước ta lại được bổ sung thêm khoảng 1 triệu lao động mới, trong đó có khoảng trên 200 nghìn sinh viên đại học, cao đẳng tốt nghiệp, cung cấp một lượng lớn nguồn nhân lực cho xã hội nhưng các công ty, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài vẫn kêu ca “khan hiếm nguồn lực” dẫn đến tình trạng “vừa thiếu vừa thừa” nguồn lao động Nguyên nhân của tình trạng này là do sự mất cân đối về cung – cầu lao động Nguồn lao động quá lớn trong điều kiện các ngành sản xuất chưa thể tạo ra đủ việc làm Thêm nữa,

người lao động chưa qua đào tạo hoặc có tay nghề thấp quá nhiều, trong khi số người lao động có trình độ, chuyên môn lại quá ít

Trang 9

Ngoài ra còn do nền kinh tế nước ta trong một vài năm trở lại đây gặp phải nhiều biến động bất lợi, các công ty, doanh nghiệp nhà nước cơ cấu lại tổ chức,

sa thải bớt nhân viên, các doanh nghiệp nhỏ làm ăn thua lỗ, phá sản Chính vì thế, mặc dù đã đạt được khá nhiều thành tích trong công tác kiểm soát và điều tiết tỷ lệ tăng lao động nhưng vấn đề việc làm vẫn diễn biến rất khó khăn, phức tạp

III - Tiền công:

Trong thị trường lao động, giá cả của hàng hóa sức lao động được thể hiện dưới dạng tiền công

Ở nước ta, tiền công cho người lao động được nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Các doanh nghiệp trên cơ sở quy định của pháp luật về mức lương tối thiểu cho người lao động, có thể tự xây dựng hệ thống tiền công riêng sao cho phù hợp với tình hình kinh tế của doanh nghiệp và sự đóng góp sức lực của người lao động

Trên thực tế, chính sách tiền lương của nước ta hiện nay chỉ bằng khoảng 40% giá trị sức lao động mà người lao động bỏ ra Các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước được hưởng mức lương còn thấp, vì vậy khó tránh khỏi nạn tham nhũng và tình trạng khan hiếm nhân tài Ví dụ: do mức lương trung bình của giáo viên quá thấp, ra trường xin việc làm lại vô cùng khó khăn nên chưa thu hút được người có năng lực, dẫn đến chất lượng đầu vào của các trường đào tạo ngành sư phạm ngày càng giảm Ở các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài, người lao động vẫn có mức lương chưa thỏa đáng Điều này đã làm nảy sinh tình trạng làm thêm giờ, thậm chí làm thêm giờ vượt quá quy định của pháp luật, đặc biệt đối với những ngành như dệt may, chế biến nông sản đã làm ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động và gây ra sự tranh chấp giữa người lao động với doanh nghiệp

Bên cạnh đó, do mức lương thấp, người lao động buộc phải tự cứu lấy mình bằng một số “nghề tay trái” Chế độ tiền lương thấp còn làm mất đi sức hút đối với những người lao động có trình độ, tay nghề cao, dẫn đến tình trạng “chảy

Trang 10

máu chất xám” Ngược lại, có những trường hợp người lao động lại được hưởng mức lương quá cao so với sức lực mà họ bỏ ra Chính vì thế, hiện nay chế độ tiền công trong thị trường lao động nước ta còn nhiều bất hợp lý, còn mang tính bình quân cao, cần được khắc phục để đáp ứng đúng, đủ sức lao động mà người lao động đã bỏ ra

Nguyên nhân của thực trạng tiền công cho người lao động ở nước ta hiện nay chưa hợp lý là do chính sách tiền công của nhà nước còn hạn chế, mức lương tối thiểu đặt ra quá thấp, cơ chế quản lý tiền công cho người lao động ở các doanh nghiệp tư nhân còn lỏng lẻo Ngoài ra còn do nền kinh tế trong nước phát triển chưa bền vững, thường xuyên biến động, gây ảnh hưởng tới mức lương của người lao động

B - Giải pháp phát triển thị trường lao động Việt Nam:

Thứ nhất, cần vận dụng linh hoạt lý luận hàng hoá sức lao động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ hai, cần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, theo thành phần kinh tế và giữa các vùng miền để thị trường lao động có sự phát triển đồng đều, thống nhất, tránh tình trạng có nơi thì dư thừa, có nơi lại khan hiếm nguồn lực

Thứ ba, để giảm tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm, cần tiếp tục kiềm chế tốc

độ gia tăng dân số nhằm thu hẹp cung của thị trường lao động; nâng cao chất lượng đào tạo bằng cách cơ cấu lại chỉ tiêu đào tạo đối với từng ngành, từng nghề sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng nguồn lực của xã hội, cải tiến chế độ

ưu đãi đối với đội ngũ giáo viên, giảm học phí, đầu tư trang thiết bị học tập hiện đại; đa dạng hóa các loại hình đào tạo; khuyến khích phát triển các ngành thủ công, làng nghề truyền thống tại các địa phương để giải quyết số lao động dư thừa tại chỗ; chú trọng sử dụng người lao động trẻ tuổi có năng lực để tránh gây

Ngày đăng: 28/06/2021, 07:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w