1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬNMôn: Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin(PHẦN TRIẾT HỌC

33 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 256 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VD: Từ nhận thức đúng về thực tại nền kinh tế của đất nước, Đại hội Đảng lần VI12/1986, đã xác định chuyển nền kinh tế từ trị cung, tự cấp quan liêu sang nền kinh tếthị trường, nhờ đó mà

Trang 1

Họ tên: NGUYỄN NGỌC YẾN VỸ

Lớp: H524

Đơn vị công tác: UBND PHƯỜNG 12

Chức vụ: Phó CT Hội LHPN Phường

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN

Môn: Những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa

Mác – Lênin (PHẦN TRIẾT HỌC)

BÀI 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA

DUY VẬT BIỆN CHỨNG

Câu 1: Phân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Liên hệ vận dụng vào công tác thực tiễn? Phê phán một số biểu hiện chủ quan, duy ý chí, vi phạm nguyên tắc khách quan trong tư duy lãnh đạo, quản lý hiện nay?

1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:

a Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức Vật chất là cái có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức:

- Vật chất là nguồn gốc của ý thức

Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất, vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ýthức: bộ não người - cơ quan phản ánh thế giới xung quanh, sự tác động của thế giới vậtchất vào bộ não người, tạo thành nguồn gốc tự nhiên

Phải có bộ óc của con người phát triển ở trình độ cao thì mới có sự ra đời của ýthức Phải có thể giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài con người mới tạo rađược ý thức, hay nói cách khác ý thức là sự tương tác giữa bộ não con người và thếgiới khách quan

Phải có lao động và ngôn ngữ đây chính là nguồn gốc xã hội của ý thức Nhờ

có lao động mà các giác quan của con người phát triển phản ánh tinh tế hơn đối vớihiện thực ngôn ngữ là cần nối để trao đổi kinh nghiệm tình cảm, hay là phươngtiện thể hiện ý thức Ở đây ta cũng nhận thấy rằng nguồn gốc của xã hội có ý nghĩaquyết định hơn cho sự ra đời của ý thức

- Vật chất là đối tượng, khách thể của ý thức, nó quy định nội dung, hình thức, khả năng và quá trình vận động của ý thức

Bởi lẽ ý thức dưới bất kỳ hình thức nào suy cho cùng đều là phản ánh hiệnthực khách quan, nảy sinh trên những tiền đề vật chất nhất định, ngay cả những ảotưởng hình thành trong bộ óc con người cũng là những ý niệm được hình thànhtrong quá trình đời sống vật chất của họ

Mọi sự sáng tạo của ý thức đều xuất phát từ những tiền đề vật chất và phảituân thủ các quy luật khách quan

- Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức: điều kiện vật chất thay đổi thì ý

thức, nhu cầu cũng thay đổi theo

Vật chất là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của ý thức nên khi vật chất thayđổi thì ý thức cũng phải thay đổi theo

VD: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thường trên cơ sở hoạt động sinh lý thần

Trang 2

cũng bị rối loạn.

VD: Dựa vào điều kiện vật chất ngày càng tăng, nhu cầu của con người thayđổi theo từng thời kỳ: mua xe đạp, sau mua xe máy, sau mua ô tô…

- Vật chất là điều kiện cụ thể hóa ý thức, tư tưởng thành sự thật

Dù ước mơ cao đẹp nhưng không có vật chất thì cũng không thể thành hiện thựcđược

Những ảo tưởng hình thành trong bộ óc con người nếu không được thể hiện rabên ngoài thì cũng là những ý niệm; phải thông qua sự phản ánh bằng các vật chất

cụ thể thì ý thức, tư tưởng mới trở thành sự thật được

b Tác động trở lại của ý thức

- Vai trò của ý thức là trang bị cho con người nhận thức về thế giới khách quan,hình thành mục tiêu, phương hướng và biện pháp cho hoạt động của con người Ýthức chỉ đạo cho con người trong mọi hoạt động của mình thông qua hoạt động củacon người, ý thức có thể tác động trở lại thế giới vật chất vô cùng mạnh mẽ

VD Nếu tâm trạng của người công nhân mà không tốt thì làm giảm năng suấtcủa một dây chuyền sản xuất trong nhà máy

Nếu không có đường lối cách mạng đúng đắn của đảng ta thì dân tộc ta cũngkhông thể giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ

Như vậy ý thức không hoàn toàn phụ thuộc vào vật chất mà ý thức có tính độclập tương đối vì nó có tính năng động cao nên ý thức có thể tác động trở lại Vật chấtgóp phần cải biến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người

- Ý thức do vật chất sinh ra và quy định, nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đốicủa nó Hơn nữa, sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần, phảnánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động, máy móc, nguyên si thế giới vật chất, vìvậy nó có tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan, con người đề ra mục tiêu, phươnghướng, xác định phương pháp, dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy

- Ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu:

+ Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan thì

sẽ thúc đẩy tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất

VD: Từ nhận thức đúng về thực tại nền kinh tế của đất nước, Đại hội Đảng lần VI(12/1986), đã xác định chuyển nền kinh tế từ trị cung, tự cấp quan liêu sang nền kinh tếthị trường, nhờ đó mà sau gần 30 năm đất mới bộ mặt đất nước ta đã thay đổi hoàn toàn.+ Ngược lại, nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của conngười không phù hợp với quy luật khách quan, sẽ kìm hãm sự phát triển của vật chất

VD Nhà máy xử lý rác thải của Đồng Tháp là một ví dụ điển hình, từ việckhông khảo sát thực tế khách quan hay đúng hơn nhận thức về việc sử lý rác vô cơ vàrác hữu cơ là chưa đầy đủ vì vậy khi vừa mới khai trương nhà máy này đã không sử

lý nổi và cho đến nay nó chỉ là một đống phế liệu cần được thanh lý

- Sự thúc đấy hay kìm hãm phụ thuộc vào 3 yếu tố:

+ Ý thức phản ánh thế giới đúng hay sai? Đúng sai ở mức độ nào?

+ Ý thức thể hiện tư tưởng của giai cấp nào? tiến bộ hay lỗ thời, phản động?

Trang 3

+ Mức độ thâm nhập của ý thức vào quần chúng nhân dân ít hay nhiều?

- Tuy vậy, sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhấtđịnh chứ nó không thể sinh ra hoặc tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất được vàsuy cho cùng, dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất Biểu hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữatồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời ýthức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội

- Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để nghiên cứu, xem xétcác mối quan hệ khác như: lý luận và thực tiễn, khách thể và chủ thể, vấn đề chân lý …

2 Ý nghĩa và phương pháp luận

Vì vật chất quyết định ý thức, sinh ra ý thức nên mọi chủ trương chính sáchtrong hoạt động nhận thức, hoạt động con người đều phải xuất phát từ hiện thựckhách quan và hoạt động tuân theo quy luật khách quan, nghĩa là chúng phải cóquan điểm khách quan trong nhận thức hoạt động thực tiễn

Xuất phát từ hiện thực khách quan, không phải từ những cái lẻ tẻ của hiệnthực khách quan, phải xuất phát từ cái chung là quy luật khách quan Nghị quyết 6của Đảng là bài học kinh trong trong việc nắm vững hiện thực khách quan

Hoạt động tuân theo quy luật (quan điểm khách quan)là nhận thức sự vậtphải tôn trọng chính nó có, phản ánh đúng quy luật vận động phát triển của sự vật

và chống chủ quan, duy ý chí

VD: Hiện tôi đang công tác trong lĩnh vực Đoàn TNCS Hồ Chí Minh khi thựchiện công tác này phải luôn tuân thủ quy luật khách quan, trong việc đánh giá phânloại Đoàn viên cuối năm đúng theo các tiêu chí đặt ra trong bảng đăng ký rèn luyệnĐoàn viên từ đầu năm; không được chủ quan duy ý chí, khi đảnh giá phân loạiĐoàn viên theo ý kiến chủ quan của mình

Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, muốn vậy trong mọi hoạtđộng phải thường xuyên trao đổi kiến thức,sử dụng và phát huy vai trò năng độngcủa các nhân tố tinh thần, tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp cho hoạt động của conngười đạt hiệu quả cao Người quản lý phải biết chọn người giao việc, vì mỗi người

có sở trường, năng lực, chuyên môn khác nhau

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta cùng với việc coi trọng pháttriển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất của nhân dân đã rất chú trọng phát triểnvăn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội

Việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ vật chất và ý thưc còn giúp tachống lại thái độ tiêu cực thụ động, chờ đợi, bó tay trước hoàn cảnh hoặc chủ quan,duy ý chí do tách rời và tác động từng vai trò của từng yếu tố vật chất hoặc ý thức

Công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức nếu tuyệt đốihoá yếu tố vật chất, yếu tố kinh tế mà coi nhẹ ý thức của con người, coi nhẹ tínhnăng động sáng tạo của con người sẽ rơi vào chủ quan duy vật tầm thường, ngượclại nếu tuyệt đối hoá yếu tố ý thức và coi nghẹ điều kiện vật chất nhất định sẽ rơivào chủ nghĩa chủ quan duy ý chí

3 Phê phán một số biểu hiện chủ quan, duy ý chí, vi phạm nguyên tắc khách quan trong tư duy lãnh đạo, quản lý hiện nay?

Trong quá trình xây dựng CNXH, chúng ta đã phạm phải sai lầm giáo điều,cứng nhắc và chủ quan duy ý chí khi áp đặt một mô hình CNXH được thiết kế

Trang 4

kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chỉ hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể đượcphép tồn tại với sự thống nhất tuyệt đối về chính trị và tinh thần Do nhận thứcmang tính chủ quan duy ý chí, xa rời thực tiễn, không tôn trọng quy luật kháchquan nên đường lối, chính sách nhằm xây dựng mô hình đó và các biện pháp,phương tiện để thực hiện đường lối, chính sách này không có tác dụng cài tạo thựctiễn, làm cho thực tiễn kinh tế - xã hội của nước ta phát triển theo chiều hướng tiếnlên mà ngược lại còn kìm hãm sự phát triển đó.

Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí đã đưa chúng ta tới ảo tưởng có thể đưa ngaynền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên CNXH Do muốn "tiếnthẳng", muốn quá độ trực tiếp lên CNXH, chúng ta đã bỏ qua chỉ dẫn của Lênin vềhình thức quá độ gián tiếp để một nước mà nền kinh tế còn là sản xuất nhỏ đi lênCNXH Chúng ta đã quên rằng chính Lênin đã khẳng định: "Nếu phân tích tìnhhình chính trị hiện nay, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang ở vào một thời kỳquá độ trong thời kỳ quá độ Toàn bộ nền chuyên chính vô sản là một thời kỳ quá

độ, nhưng hiện nay có thể nói rằng chúng ta có cả một loạt thời kỳ quá độ mới" Dochủ quan duy ý chí, do áo tưởng, chúng ta đã không nhận thức đúng vị trí và vai tròcủa các bước quá độ gián tiếp và do đó chúng ta đã bỏ qua các hình thức kinh tếtrung gian quá độ của một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH Biểu hiện rõ nétnhất của sai lầm đó là đường lối xây dựng CNXH với bốn mục tiêu chủ yếu mà Đạihội IV đã đề ra, là kế hoạch hoàn thành thời kỳ quá độ trong vòng 20 năm, là mongmuốn giải quyết mọi vấn đề kinh tế - xã hội cả bề rộng lẫn chiều sâu trong mộtkhoảng thời gian ngắn, là sự phủ nhận nền sản xuất hàng hóa và thành kiến với quyluật giá trị, với mối quan hệ hàng - tiền, với cạnh tranh… "Chúng ta đã có nhữngthành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thực sự thừa nhận những quy luật của sảnxuất hàng hóa đang tồn tại khách quan, do đó không chú ý vận dụng chúng vào việcchế định các chủ trương, chính sách kinh tế

Một biểu hiện nữa của sai lầm do mắc bệnh chủ quan duy ý chí là đường lốitiến hành công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp Từ chỗ không đánh giá đầy

đủ những đặc thù của một nước nghèo nàn và kém phát triển, nền kinh tế vẫn ở tìnhtrạng nông nghiệp lạc hậu, trang bị kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấpkém, chúng ta đã vội vàng tiến hành công nghiệp hóa XHCN, hơn nữa lại tập trungngay vào công nghiệp nặng với vốn đầu tư lớn song hiệu quả chẳng thu được làbao Đặc biệt, khi tiến hành tập thể hóa nông nghiệp chúng ta đã cứng nhắc, rậpkhuôn theo nước ngoài, không tính đến một cách đầy đủ sự lạc hậu, nặng tính tựcấp, tự túc và phân tán của nền nông nghiệp nước ta Khi đó chúng ta đã quên rằngchính F Engen đã chỉ rõ: "Bất cứ ở đâu, bản thân những biện pháp quá độ cũng sẽphải thích ứng với những điều kiện sẽ có trong thời gian đó, những biện pháp quá

độ đó, trong các nước có chế độ chiếm hữu ít ruộng đất, sẽ căn bản khác với nhữngbiện pháp quá độ trong các nước có chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất" Sai lầm đó

đã được lặp lại sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Khi đó, với khíthế của một dân tộc vừa chiến thắng lại cộng thêm nhiệt tình mang nặng tính tiểu tưsản, chúng ta chỉ thấy một mầu hồng mà không lường hết khó khăn trong quá trìnhcông nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp

Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí đã dẫn chúng ta đến chỗ tạo ra chế độ hànhchính mệnh lệnh, tạo ra cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Đến lượt mình, chế độ

Trang 5

hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp lại trở thành "mảnh đấtmầu mỡ" để chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí phát triển Bởi lẽ, ở chúng luôn có cộinguồn kinh tế - xã hội, tâm lý và tư tưởng, có những tiền đề triết học và cơ sởphương pháp luận làm nảy sinh và nuôi dưỡng chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.

Chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thể hiệndưới những hình thức hết sức đa dạng, bắt đầu từ thói độc đoán, gia trưởng đếnbệnh hình thức, tệ quan liêu giấy tờ Nguy cơ của căn bệnh trầm trọng này trongviệc hoạch định đường lối, chính sách, trong hoạt động thực tiễn là ở chỗ:

Thứ nhất, nó dẫn đến chỗ tách đường lối, chính sách ra khỏi đời sống kinh tế

- xã hội Nó làm cho đường lối, chính sách không phản ánh đúng lợi ích sống còn

và ý chí của quần chúng lao động mà thể hiện lợi ích, ý chí, ý muốn chủ quan củamột nhóm người Bởi vậy, nguy cơ mà nó dẫn đến không chỉ đơn giản là việc quản

lý thiếu hiệu quả, tệ quan liêu giấy tờ, bệnh hình thức, sự thờ ơ mà đó còn là nguy

cơ của việc quan liêu hóa đời sống xã hội, là hiểm họa của việc tách các cơ quannhà nước ở mọi góc độ ra khỏi lực lượng sáng tạo chân chính - quần chúng laođộng

Thứ hai, nó dẫn đến chỗ tuyệt đối hóa biện pháp hành chính, cưỡng bứctrong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa - xã hội, bất chấp những quyluật khách quan của đời sống kinh tế - xã hội

Thứ ba, nó tạo ra thái độ bàng quan, thờ ơ, lãnh đạm ở những người lãnh đạotrước yêu cầu, nguyện vọng của quần chúng Nó dẫn đến hiện tượng lạm dụng chứcquyền để mưu đồ lợi ích cá nhân Nó khiến cho phê bình và tự phê bình trở thànhkhẩu hiệu suông

Và, thứ tư, nó dẫn đến chỗ coi thường ý kiến và khả năng sáng tạo của quầnchúng lao động Nó hạn chế tính công khai, dân chủ, hạn chế quyền tự do và cácquyền công dân khác của quần chúng lao động

Khi thực tiễn đã thay đổi, chế độ hành chính mệnh lệnh, cơ chế tập trungquan liêu bao cấp trở thành cung cách, phương pháp hoàn toàn xa lạ với bản chấtđích thực của CNXH, của công cuộc đổi mới đất nước, của nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu theo định hướng XHCN Bởi lẽ, nhưLênin đã khẳng định: Tính sáng tạo sinh động của quần chúng, đó là nhân tố cơ bảncủa xã hội mới CNXH không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên banxuống Tính chất máy móc hành chính và quan liêu không dung hợp được với tinhthần của CNXH, CNXH sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúngnhân dân

Chủ nghĩa chủ quan duy ý chí còn dẫn đến chỗ cường điệu hóa vai trò củanhân tố chủ quan, của yếu tố chính trị trong việc hoạch định đường lối, chính sách

và trong hoạt động thực tiễn Biểu hiện cụ thể của nó là ở chỗ chúng ta đã quá đềcao nhiệt tình của quần chúng Chúng ta đã ảo tưởng khi cho rằng dựa vào nhiệttình của quần chúng, vào ý chí và nguyện vọng chủ quan Chúng ta sẽ đạt được tất

cả những gì mong muốn, vượt lên trên cả những đòi hỏi của thực tiên, của những

Trang 6

quy luật khách quan đang tác động trong đời sống kinh tế - xã hội Đó là thứ ảotưởng mà V.I Lênin đã từng phê phán khi ông chỉ ra rằng nhiệt tình cách mạng chỉ

là một trong những yếu tố chứ không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự ra đờimột chế độ xã hội mới, nó chỉ có thể phá vỡ được cái cũ chứ không thể xây dựngcái mới Còn khi xem xét mối quan hệ giữa yếu tố chính trị và yếu tố kinh tế, chúng

ta thường dành quyền ưu tiên cho yếu tố chính trị Chính việc vi phạm mối quan hệnày, việc tuyệt đối hóa yếu tố chính trị đã dẫn chúng ta đến chỗ tuyệt đối hóachuyên chính vô sản, coi nó là tất cả, có nó sẽ có tất cả và không thấy ràng nó chỉ làcông cụ, là phương tiện cho sự ra đời một chế độ xã hội mới

Có thể khẳng định rằng công cuộc đổi mới mà chúng ta đang tiến hành sẽkhông thể thành công nếu chúng ta không kiên quyết khắc phục chủ nghĩa chủ quanduy ý chí Chúng ta phải làm cho nó không còn là một căn bệnh trầm trọng như nó

đã từng là như vậy Nhưng khi khắc phục nó, xóa bỏ nó chúng ta phải đề phòng chủnghĩa chủ quan mới, duy ý chí mới - sự bảo thủ, trì trệ, đổi mới nửa vời

VD: Thủ tục hành chính chưa theo hướng thống nhất, công khai, minh bạch, đơngiản, các thủ tục hành chính vẫn còn gây phiền hà, sách nhiễu cho nhân dân và cácdoanh nghiệp

Câu 2: Liên hệ vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu hai nguyên lý và ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật vào công tác thực tiễn ?

1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

1.1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

a Nội dung của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

* Khái niệm

- Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sựtác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, cácyếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới

VD: Mối liên hệ giữa điện tích dương và điện tích âm trong một nguyên tử; mốiliên hệ giữa các nguyên tử, giữa các phân tử, giữa các vật thể; mối liên hệ giữa vô cơ vớihữu cơ; giữa sinh vật với môi trường; giữa xã hội với tự nhiên; giữa cá nhân với cá nhân;giữa cá nhân với tập thể, cộng đồng; giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các mặt, các bộphận của đời sống xã hội; giữa tư duy với tồn tại; giữa các hình thức, giai đoạn nhậnthức; giữa các hình thái ý thức xã hội…

- Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều

sự vật, hiện tượng của thế giới

- Trong mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, những mối liên hệ phổ biến nhất

là mối liên hệ giữa các mặt đối lập, mối liên hệ giữa lượng và chất, khẳng định và phủđịnh, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng…Giữa các sự vật, hiện tượng củathế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biếntrong phạm vi nhất định hoặc mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó mối liên hệ đặc thù là

sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định

* Tính chất của các mối liên hệ

- Tính khách quan của các mối liên hệ: Theo quan điểm biện chứng duy vật,

Trang 7

các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Sựquy định lẫn nhau, tác động và chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượnghoặc trong bản thân chúng là cái vốn có của nó, tồn tại không phụ thuộc vào ý chícon người; con người chỉ có khả năng nhận thức được những mối liên hệ đó.

- Tính phổ biến của mối liên hệ: Không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trìnhnào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối với các sự vật, hiện tượng hay quá trìnhkhác mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyểnhóa lẫn nhau Không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệthống, bao gồm các yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất

cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống mở tồn tại trong mối liên hệ với hệ thốngkhác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau

- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ: Các sự vật, hiện tượng hay quá trìnhkhác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đốivới sự tồn tại và phát triển của nó; Cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưngtrong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trìnhvận động, phát triển của sự vật thì cũng có tính chất và vai trò khác nhau

- Tính cụ thể trong không gian và thời gian: không gian, thời gian khácnhauthì mối liên hệ sẽ khác nhau

* Nội dung của nội dung các mối liên hệ

Mối liên hệ của sự vật, hiện tượng trong thế giới rất phong phú đa dạng, trongtính phong phú đa dạng ấy vai trò vị trí của các mối liên hệ đối với sự tồn tại vàphát triển của sự vật là khác nhau

Những mối liên hệ cơ bản, chủ yếu, bên trong… đóng vai trò quyết định sựtồn tại và phát triển của sự vật Còn các mối liên hệ không cơ bản, thứ yếu, bênngoài… chỉ ảnh hưởng chứ không quyết định

VD: Hiện nay, Đảng ta đang xác định phải đổi mới đồng bộ công tác GD-ĐT,trong đó quan trọng nhất và đóng ý nghĩa quyết định nhất là đổi mới đội ngũ conngười, nâng cao trình độ của lực lượng giáo viên để thực hiện công tác dạy và học

là là trọng tâm, là mối liên hệ cơ bản, chủ yếu

b Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện,quan điểm lịch sử - cụ thể

* Quan điểm toàn diện

- Trong nhận thức: Xem xét đánh giá sự vật phải toàn diện, đồng thời phải xácđịnh đúng vai trò vị trí của từng mối liên hệ

- Trong hoạt động thực tiễn: Muốn cải tạo sự vật phải sử dụng đồng bộ cácbiện pháp, phương tiện khác nhau, lực lượng khác nhau, đồng thời phải biết kết hợpvới chính sách có trọng tâm, trọng điểm, chống quan điểm phiến diện, chủ nghĩachiết trung, thuật ngụy biện

- Ý nghĩa:

+ Khi xem xét bất cứ 1 sự vật hiện tượng nào, chúng ta phải đặt nó trong quan hệvới sự vật hiện tượng khac, phải nghiên cứu các mặt cấu thành của nó, các quá trìnhphát triển của nó, từ trong tổng số mối liên hệ, tìm ra mối liên hệ bản chất chủ yếu …

Trang 8

+ Để cải tạo sự vật thì phải có giải pháp đồng bộ, toàn diện, chọn lĩnh vực nào làchủ yếu.

+ Chống quan niệm siêu hình, không thấy được trọng tâm, trọng điểm, đánhgiá tràn lan các mối liên hệ, không thấy đâu là chủ yếu

+ Chống chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện Trong đó, chủ nghĩa chiếttrung là kết hợp 1 cách vô nguyên tắc giữa các sự vật, hỉện tượng

+ Khi giải quyết 1 vấn đề cần xem xét các yếu tố cấu thành liên hệ mật thiết,phải xem xét yếu tố lịch sử hình thành trong mối tương quan với hiện tại

VD: Hiện tôi đang công tác tại UBND phường tôi đã xác định rõ để thực hiên côngtác phụ nữ, phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ của phụ nữ thật tốt và theo chủ trương củaĐảng ủy – UBND cũng như là Hội LHPN Quận

* Quan điểm lịch sử - cụ thể

- Yêu cầu việc nhận thức các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần xét đếntính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tác động; xác định rõ vị trí vai trò khácnhau của mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để đưa ra các biện phápđúng đắn phù hợp với đặc điểm cụ thể của đối tượng; phải chú ý đến điều kiện, hoàncảnh lịch sử cụ thể mà sự vật đó sinh ra, tồn tại, biến đổi và phát triển, chống bệnhchung chung trừu tượng, không lịch sử, không cụ thể; phiến diện, siêu hình, máy móc

- Ý nghĩa: Góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động

thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta Song để thực hiện đượcchúng, mỗi chúng ta cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên

hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạotrong hoạt động của mình

VD: Hiện tôi đang công tác tại UBND phường 12 về công tác phụ nữ, dựa vào các

hệ thống chỉ tiêu 5 nhiệm vụ và Nghị quyết của Đảng bộ phường, nhận thức được điềunày, Hội phường đã xây dựng Nghị quyết và lãnh đạo các chi hội thực hiện Chươngtrình công tác năm của đơn vị, Kế hoạch để thực hiện

* Phân biệt vận động và phát triển:

- Vận động: Là mọi sự biến đổi nói chung, chưa tính đến tính chất, khuynhhướng hay kết quả của nó

- Phát triển: Cũng là sự vận động nhưng theo khuynh hướng đưa sự vật đi lên

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

- Phép BCDV khẳng định:

+ Phát triển là khuynh hướng chung của sự vận động của thế giới

+ Nguồn gốc, động lực của sự phát triển là tự thân, do đấu tranh giữa các mặtđối lập (MĐL) ngay trong chính bản thân sự vật

+ Cách thức của sự phát triển là quá trình chuyển hóa dần dần về lượng dẫnđến sự thay đổi về chất và ngược lại

Trang 9

+ Khuynh hướng của sự phát triển là theo con đường phủ định của phủ định.

- Sự phát triển thực hiện rất khác nhau trong hiện thực, tùy thuộc vào hìnhthức tồn tại cụ thể của các dạng VC:

* Tính chất của sự phát triển

- Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận

động và phát triển Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật hiện tượng, là quátrình giải quyết mâu thuẫn của sự vật hiện tượng Vì vậy phát triển là thuộc tính tấtyếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người

- Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn

ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ phát triển là

khuynh hướng chung của mọi sự vật hiện tượng mỗi lĩnh vực có quá trình phát triểnkhông hoàn toàn giống nhau Sự vật khác nhau thì sự phát triển cũng khác nhau,tồn tại ở những giai đoạn khác nhau thì sự phát triển diễn ra cũng khác nhau

b Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí về sự phát triển

Là cơ sở lý luận khoa học để xây dựng quan điểm phát triển

Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng nhận thứcthế giới và cải tạo thế giới Xem xét, đánh giá các SVHT phải đặt nó trong sự vậnđộng biến đổi và phát triển, phải thấy được khuynh hướng phát triển tất yếu của nó.Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khác phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, địnhkiến, đối lập với sự phát triển Xây dựng tinh thần lạc quan, khoa học

Chống quan điểm siêu hình, tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, phủ nhận cáimới, phủ nhận sự phát triển

Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trongthực tiễn, một mặt cần phải đặt sự vật theo khuynh hướng đi lên của nó vì vậy đòihỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quátrình phát triển của nó

Như vậy với tư cách là khoa học về mối quan hệ phổ biến và sự phát triển,phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mac-Lênin giữ 1 vai trò đặc biệt quan trọngtrong nhận thức và thực tiễn; khẳng định vai trò của phép biện chứng duy vật

2 Ba Quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

2.1 Nội dung của Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Vai trò của quy luật: Đây là 1 trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng,nói lên nguồn gốc động lực của sự phát triển

V.I Lê nin gọi quy luật này là hạt nhân của phép biệt chứng, nghĩa là nắm bắtđược quy luật này sẽ là cơ sở để hiểu các quy luật khác và hiểu được nguồn gốc vậnđộng, phát triển của mọi hiện tượng; là cơ sở để nghiên cứu các Quy luật khác

a Khái niệm

- Mặt đối lập là những mặt mang những lực lượng, thuộc tính, khuynhhướng… liên hệ hữu cơ với nhau nhưng vận động ngược chiều, bài trừ, gạt bỏ lẫnnhau

- Mâu thuẫn biện chứng là sự liên hệ, tác động lẫn nhau của các mặt đối lập

Trang 10

Đây là mâu thuẫn tất yếu, tồn tại trong các sự vật, hiện tượng.

- Thống nhất của các mặt đối lập là sự liên hệ hữu cơ với nhau, không tác rời,nương tựa và bổ sung cho nhau

- Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động, phủ định, bài trừ và gạt bỏ lẫnnhau, làm cho mâu thuẫn được giải quyết, được chuyển hóa lẫn nhau

b Nội dung của Quy luật (thể hiện quan điểm khách quan, quan điểm toàn diện, quan điểm thực tiễn => quy luật mâu thuẫn)

- Tất cả các sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau, tứcnhững mặt đối lập trong sự tồn tại của nó Các mặt đối lập của sự vật vừa thống nhất vừađấu tranh với nhau tạo thành nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật.Phép biện chứng duy vật đã đưa ra và sử dụng các khái niệm: mặt đối lập,mâu thuẫn biện chứng, sự thống nhất của các mặt đối lập, đấu tranh của các mặtđối lập để diễn đạt mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lậptrong bản thân sự vật - tạo thành nguồn gốc, động lực của sự vận động và pháttriển của sự vật

- Mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:

Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khácnhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy mâu thuẫn biện chứng baohàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập Sự thống nhất gắn liền với

sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đốicủa sự vận động và phát triển

Sự phát triển của sự vật, hiện tượng gắn liền với quá trình hình thành, phát triển vàgiải quyết mâu thuẫn Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của cácmặt đối lập quy định sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn pháttriển Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫnnhau, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thểthống nhất mới; sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế

c Ý nghĩa của Quy luật

- Về tư tưởng, chúng ta không sợ và không che giấu mâu thuẫn Để hiểu và thúcđẩy sự vận động và phát triển của sự vật, ta phải phát hiện và giải quyết mâu thuẫn

Ví dụ: Đấu tranh giữa cái đúng và cái sai, bản chất thiện và ác trong bản thânmỗi con người đã làm cho nhận thức con người ngày càng hoàn thiện phát triển

- Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật và làkhách quan trong bản thân sự vật nên cần phải phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật bằngcách phân tích sự vật tìm ra những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau và mốiliên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng

- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể, biết phân loại mâu thuẫn vàtìm cách giải quyết cụ thể đối với từng mâu thuẫn

- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn - phù hợp với từng loại mâuthuẫn, trình độ phát triển của mâu thuẫn Không được điều hòa mâu thuẫn Phải tìm

ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn khi điều kiện đãchín muồi, do vậy không được tùy tiện, nóng vội, phải xác định đúng trạng tháichín muồi của mâu thuẫn, tạo điều kiện thúc đẩy sự chín muồi của mâu thuẫn, tìm

Trang 11

ra biện pháp, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổchức thực tiễn để giải quyết mâu thuẫn có hiệu quả.

- Phải có quan điểm lịch sử cụ thể trong việc phân tích và giải quyết mâu thuẫn.Phân tích mâu thuẫn là xác định rõ loại hình của mâu thuẫn, trình độ phát triển của mâuthuẫn để từ đó tìm ra phương thức giải quyết thích hợp Chỉ khi phân tích rõ được mâuthuẫn mới có thể định hướng ra đường lôi chiến lược hoặc sách lược đúng đắn, Nhậnđịnh không đúng về mâu thuẫn sẽ dẫn đến những quyết định và hành động sai lầm

- Mâu thuẫn chỉ có thể được giải quyết bằng con đường đấu tranh dưới nhữnghình thức và biện pháp khác nhau

VD: Hiện nay tôi đang công tác tại UBND Phường 12, hàng tháng Hội LHPNđều tổ chức sinh hoạt định kỳ, qua đó nhận thấy trong tổ chức chúng tôi không cóxảy ra các mâu thuẫn; tuy nhiên khi họp luôn luôn phân tích, tìm ra những mâuthuẫn còn bất cập trong đơn vị, tiến hành việc đấu tranh phê bình và tự phê bình

để tự tìm ra những mâu thuẫn đang còn tồn tại, từ đó rút kinh nghiệm, kịp thời đề

ra những giải pháp khắc phục những thiếu sót đó và xây dựng tổ chức ngày càngtrong sạch, vững mạnh

2.2 Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi

về chất và ngược lại

Vai trò của quy luật: Quy luật chỉ ra cách thức của sự vận động và phát triểncủa các SVHT trong TGKQ

a Một số khái niệm

- Chất: Là tính quyết định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu

cơ những thuộc tính làm cho sự vật là nó và phân biệt nó với những sự vật khác

- Lượng: Là phạm trù triết học để chỉ tính quyết định vốn có của sự vật về mặt

số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũngnhư các thuộc tính của nó

- Độ: Là khoảng giới hạn tồn tại của sự vật mà trong giới hạn đó sự thay đổi

về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật

- Điểm nút: Là điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thayđổi chất của sự vật

- Bước nhảy: Là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sựvật do những thay đổi vể lượng trước đó gây ra Các hình thức bước nhảy xét vềthời gian và tính chất của sự thay đổi về chất người ta chia làm 2 loại: Bước nhảydần dần và bước nhảy đột biến (ví dụ) Xét về quy mô có: bước nhảy toàn bộ vàbước nhảy cục bộ

b Nội dung quy luật

- Mỗi SVHT là 1 thể thống nhất giữa chất và lượng Sự thay đổi dần dần vềlượng trong khuôn khổ của độ tới điểm nút sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản về chấtcủa sự vật thông qua bước nhảy

- Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng tạo ra môi trường,điều kiện mới cho sự thay đổi về lượng

=> Quá trình tác động đó diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng biến đổi,phát triển

Trang 12

c Ý nghĩa phương pháp luận

Vì mọi sự biến đổi đều bắt đầu từ sự biến đổi về lượng nên trong các hoạt độngtrước hết phải chú ý đến sự tăng trưởng và tích lũy về lượng, tránh tư tưởng nôn nóng, đốtcháy giai đoạn

Muốn thay đổi chất của sự vật thì phải tác động làm thay đổi lượng của nó.Đối với một chất xác định, sự biến đổi về lượng là có giới hạn Vì vậy, khi sựbiến đổi về lượng đã đến điểm nút phải có sự biến đổi kịp thời, tránh tư tưởng hữukhuynh (bảo thủ, trì truệ, chần chừ) hoặc tư tưởng tả khuynh (nóng vội)

Nắm vững quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng đối với công cuộc đổi mớiđất nước ta hiện nay

Ví dụ: Hiện các thế lực thù địch đang không ngừng chống phá cách mạngnước ta, chống phá công cuộc xây dựng CNXH Việt Nam bằng chiến lược “diễnbiến hòa bình”, bạo loạn lật đổ Thực chất của chiến lược này là tác động liên tục

và lâu dài để đến điểm nút nào đó nhằm từng bước làm suy giảm lòng tin vào lýluận cách mạng, vào ĐCS Việt Nam Thông qua sự biến đổi về lượng, các thế lựcphản động muốn làm thay đổi về chất đội ngũ cán bộ và cả chế độ xã hội Vì thế,phải không ngừng đấu tranh, nâng cao tinh thần cảnh giác, chống lại âm mưu thâmđộc của kẻ thù

2.3 Quy luật phủ định của phủ định

Vai trò của quy luật: Chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển của các SVHT trongthế giới

Phủ định biện chứng có 2 đặc trưng: Tính khách quan và tính kế thừa

+ Tính khách quan: Là quá trình tự thân phủ định do đấu tranh giữa các MĐL của

sự vật

+ Tính kế thừa: Là sự duy trì một số đặc trưng, đặc điểm của cái bị phủ định

b Nội dung quy luật

- Sự phát triển của sự vật luôn thông qua những lần phủ định biện chứng vớinhững chu kỳ nhất định, mỗi chu kỳ là 1 vòng khâu của sự phát triển

- Để hình thành 1 chu kỳ phát triển sự vật phải trải qua 2 lần phủ định lớn:+ Phủ định lần 1: Tạo ra cái đối lập với cái ban đầu, đó là khâu trung giantrong sự phát triển

+ Phủ định lần 2: Tái lập lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở mới cao hơn, sự phủđịnh lần thứ 2 được gọi là phủ định của phủ định

=> Phủ định của phủ định: là kết thúc 1 chu kỳ phát triển nhưng lại là điểmxuất phát của 1 chu kỳ tiếp theo Sự nối tiếp vô tận của những chu kỳ tạo ra xuhướng tiến lên theo con đường xoáy ốc của sự phát triển

Trang 13

c Ý nghĩa phương pháp luận

- Do phát triển bao giờ cũng thông qua các vòng khâu phủ định nên muốn pháttriển được phải có tinh thần cách mạng, đấu tranh để loại bỏ, vượt qua những cái gì

đã lạc hậu, lõi thời, không còn phù hợp với sự phát triển

- Quy luật là cơ sở lý luận khoa học để xây dựng niềm tin vào sự tất thắng củacái mới

- Quy luật cũng chỉ ra tính chất khó khăn phức tạp của sự ra đời cái mới, đòihỏi có thái độ quý trọng, ủng hộ cái mới, tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ

- Khi phủ định cái cũ phải chống quan điểm phủ định sạch trơn hay kế thừanguyên si, thiếu chọn lọc phê phán

Ví dụ: Công cuộc đổi mới của nước ta trước thời kì đổi mới (1976-1985), khi cơ sở vậtchất con chưa có chúng ta nôn nóng muôn đốt cháy giai đoạn nên đã phải trả giá, đất nướclầm vào khủng hoảng trì truệ Từ sau Đại Hội Đảng lần VI (12/1986) đến nay, chúng taphát triển theo cơ chế thị trường với nhiều hình thức cụ thể tác động vào quá trình pháttriển kinh tế, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCH, xây dựng cơ

sở hạ tầng của xã hội chủ nghĩa, kế thừa và phát triển tích cực những kết quả của côngnghiệp tư bản như thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ - môi trường; mở rộnggiao lưu kinh tế nước ngoài, nhanh chóng hội nhập vào tổ chức thương mại thế giới, đaphương hoá và đa dạng hoá hình thức và đối tác… Từ đó, đất nước ta đã đổi mới, thoátkhỏi nghèo nàn, lạc hậu, bước đầu xây dựng thành công công cuộc XHCN, tiến mạnhtrên CNH-HĐH, vị thế nước ta ngày càng nâng cao trên trường quốc tế

Câu 3: Phân tích ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn? Liên hệ vận dụng vào công tác thực tiễn? Phê phán một số biểu hiện của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều trong tư duy lãnh đạo, quản lý hiện nay?

Sự gắn kết giữa nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn luôn là một đòi hỏicấp bách và là một phương thức để mang đến thành công cho hoạt động của mỗi cánhân, của tổ chức và của một chính đảng Nhận thức đúng và giải quyết hợp lý mốiquan hệ biện chứng tác động qua lại của lý luận và thực tiễn, dùng lý luận làm kimchỉ nam cho hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, thực tiễnphải là cơ sở, động lực của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý luôn là chìa khóa

để để giải quyết mọi vướng mắc trên con đường đi đến mục tiêu đã định Ngược lại,nhận thức không đúng và giải quyết không tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn

sẽ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, kinh viện và chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc chủ quanduy ý chí, tất nhiên sẽ dẫn đến những thất bại mà đối với một chính đảng, sự thấtbại đó có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng

1 Thực tiễn

* Trước Mác:

Trang 14

- CNDV: không thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức và cải tạo thếgiới;

- CNDT: xem hoạt động thực tiễn như hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận

* Quan điểm của Mác

- Thực tiễn là toàn bộ hoạt động Vật chất mang tính lịch sử - xã hội của con ngườinhằm mục đích cải tạo tự nhiên - xã hội

- Phân tích:

+ Trong xã hội có 2 hoạt động là hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần, nhưngchỉ có hoạt động vật chất mới được xem là thực tiễn, bởi vì hoạt động vật chất là hoạtđộng con người dùng công cụ, phương tiện VC tác động vào đối tượng VC

+ Hoạt động thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội do có 4 điểm sau: Luôn diễn

ra trong xã hội xác định với những mối quan hệ xã hội cụ thể; Chỉ diễn ra ở trong 1giai đoạn, trong 1 thời kỳ lịch sử nhất định; Không có hoạt động thực tiễn nào tồntại vĩnh viễn; Mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau con người sử dụng công cụ, phươngtiện khác nhau, cách thức khác nhau để hoạt động thực tiễn

+ Mục đích của hoạt động thực tiễn là tác động để cải tạo tự nhiên- xã hội, từ đóthúc đẩy tự nhiên và xã hội phát triển

- Hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn, bao gồm:

+ Hoạt động sản xuất ra của cải VC: Đây là hoạt động thực tiễn sớm nhất củacon người nhưng là hoạt động cơ bản quyết định nhất vì nó quyết định đến sự tồntại và phát triển của xã hội loài người, chi phối 2 hoạt động còn lại

+ Hoạt động đấu tranh chính trị - xã hội: Đây là hoạt động thực tiễn cao nhấtcủa con người vì thông qua hoạt động này con người trực tiếp lao động, cải biếncác mối quan hệ xã hội từ đó thúc đẩy xã hội phát triển, như hoạt động đấu tranhgiai cấp; đấu tranh giải phóng dân tộc, đỉnh cao là CMXH

+ Hoạt động thực nghiệm khoa học: Đây là hoạt động thực tiễn đặc biệt củacon người vì hoạt động thực tiễn này không trực tiếp diễn ra ở môi trường xã hội

mà thông qua môi trường nhân tạo con người phát hiện ra quy luật, thuộc tính của

VC và khi thành công thì đem ra ứng dụng thực tế

2 Lý luận

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loàingười, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quátrình lịch sử

Xét về bản chất: lý luận là một hệ thống tri thức chặt chẽ mang tính trừu tượngkhái quát, đúc kết từ thực tiễn, được diễn đạt thông qua các khái niệm, phạm trù,nguyên lý, quy luật, phản ánh bản chất của sự vận động, biến đổi, phát triển của sựvật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, được hình thànhtrong mối quan hệ với thực tiễn

3 Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ với nhau, tác động qua lại nhau,trong đó thực tiễn giữ vai trò quyết định

a Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận

Trang 15

* Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức

- Là cơ sở vì thông qua hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, con người tác độngvào thế giới khách quan làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những đặc điểm, thuộctính, bản chất, quy luật được giác quan con người phản ánh lại Trải qua nhiều lần nhưvậy, các giác quan của con người sẽ ghi nhận lại và con người sẽ có được nhận thức vềthế giới khách quan

VD: Người nông dân qua nhiều lần trồng trọt có thể tìm ra các biện pháp,cách thức để cải tạo, lai giống và nâng cao năng suất cho cây trồng

- Là nguồn gốc vì thông qua hoạt động thực tiễn giúp rèn luyện các giác quan

bộ não làm cho năng lực phản ánh của các giác quan bộ não ngày càng phát triển,hoàn thiện, từ đó giúp nhận thức của con người cũng ngày càng phát triển, hoànthiện hơn

VD: Người bác sĩ qua quá trình học tập và làm việc, chỉ cần qua phim ảnh,triệu chứng lâm sàng và hỏi bệnh nhân là xác định được tình trạng bệnh tật của họ

- Hoạt động thực tiễn giúp con người chế tạo các công cụ, phương tiện hỗ trợ

để “nối dài các giác quan của con người”, làm cho giác quan, bộ não ngày càng

hoàn thiện, nhờ đó phản ánh thế giới vật chất chính xác, khắc phục được giới hạnnhận thức của con người

VD: Kính viễn vọng giúp nhìn xa hơn; điện thoại di động giúp nghe từ xa vàliên lạc ngày càng thuận tiện

* Thực tiễn là động lực của quá trình nhận thức

- Thông qua hoạt động thực tiễn làm xuất hiện hàng loạt những mâu thuẫn giữađúng và sai; giữa nhận thức cũ và thực tiễn mới; buộc con người phải lý giải, tìm cáchgiải quyết các mâu thuẫn đó; khi mâu thuẫn được giải quyết, sẽ thúc đẩy nhận thức củacon người không ngừng phát triển tăng lên

VD: Tại Việt Nam những năm 1975-1986, do áp dụng cơ chế tập trung quan liêubao cấp, đã làm xảy ra khủng hoảng kinh tế - xã hội; điều đó đòi hỏi Đảng ta trên thựctiễn đất nước phải nhận thức và đổi mới; từ đó Đại hội VI Đảng ta đã đổi mới và nhờ

đó đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng

- Thực tiễn luôn vận động, biến đổi không ngừng, đặt ra cho con người nhữngnhu cầu, nhiệm vụ mới, do vậy mỗi bước đi lên của thực tiễn trở thành động lực thúcđẩy nhận thức của con người phát triển theo

VD: Hiện nay trên đất nước ta đang xảy ra nhiều dịch cúm như H5N1, H7N9

…; điều đó đòi hỏi các nhà lãnh đạo, đặc biệt là của Bộ NN-PTNT, các nghiên cứukhoa học phải không ngừng nghiên cứu để tìm ra biện pháp khắc phục

* Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức (chân lý).

Chỉ thông qua hiệu quả của hoạt động thực tiễn mới khẳng định được nhận thứccủa con người là đúng hay sai, đúng sai đến đâu, mức độ nào Tuy nhiên, những tri thức

Trang 16

được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng cũng chỉ mang tính tương đối.

VD: Tại Việt Nam những năm 1975-1986, do áp dụng cơ chế tập trung quan liêubao cấp đã xảy ra khủng hoảng kinh tế - xã hội; qua gần 30 năm Đảng ta tiến hành đổimới đất nước theo hướng CNH-HĐH, đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng Điều

đó đã chứng minh nhận thức của Đảng ta sau Đại Hội Đảng lần VI (12/1986) là đúngđắn

b Vai trò tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn

Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luậnkhoa học và ngược lại có thể kìm hãm sự phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luậnphản khoa học, phản động, lạc hậu

Lý luận khoa học sẽ trở thành kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn Nó hướngdẫn, chỉ đạo, soi sáng cho thực tiễn, vạch ra phương pháp giúp hoạt động thực tiễn

đi tới thành công Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: "Không có lý luận thì lúng túng nhưnhắm mắt mà đi"

Lý luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vậnđộng và phát triển của thế giới khách quan, giúp con người xác định đúng mục tiêu

để hành động có hiệu quả hơn, tránh được những sai lầm, vấp váp

Lý luận khoa học thâm nhập vào hoạt động của quần chúng tạo nên sức mạnhvật chất, điều chỉnh hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động của con người trở nên

tự giác, chủ động, tiết kiệm được thời gian, công sức, hạn chế những mò mẫm, tựphát

Lý luận khoa học dự kiến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trongtương lai, từ đó chỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển Con người ngày càng đi sâukhám phá giới tự nhiên vô cùng vô tận bằng những phương tiện khoa học hiện đại thìcàng cần có những dự báo đúng đắn Nếu dự báo không đúng sẽ dẫn đến những sai lầm,hậu quả xấu không thể lường được trong thực tiễn Vì thế, chức năng dự báo tương lai làchức năng quan trọng của lý luận

Lý luận cách mạng có vai trò to lớn đối với thực tiễn cách mạng Lênin chorằng: "Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng" Mácthì nhấn mạnh: "Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì nó biến thành lực lượngvật chất"

Vai trò của lý luận khoa học ngày càng tăng lên, đặc biệt trong giai đoạn mớicủa thời đại ngày nay, thời đại của cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc diễn ra gay

go, phức tạp, cùng với sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ Ăngghen chỉ ra rằng: một dân tộc muốn đứng trên đỉnh caokhoa học thì không thể không có tư duy lý luận

Sự lạc hậu, giáo điều về lý luận dẫn đến sự khủng hoảng về lý luận của chủnghĩa xã hội trong thời gian qua là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủnghoảng của chủ nghĩa xã hội nói chung, cụ thể là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ởLiên Xô và Đông Âu trước đây

c Nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Theo quan điểm mácxít, lý luận và thực tiễn không tách rời nhau mà giữachúng có sự liên hệ, xâm nhập và tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển

Ngày đăng: 26/06/2021, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w