Từ đó đến nay đã có nhiều bài viết về cuồn sách này như bài: Đọc “Tiểu luận” Nguyễn Huy Thiệp của Đỗ Ngọc Thạch đăng trên http://Vandanviet.net, Tìm hiểu phong cách tiểu luận, phê bình c
Trang 1LÊ THỊ HIỀN LƯƠNG
TẠP VĂN VÀ TIỂU LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA NGUYỄN HUY THIỆP
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Biện Minh Điền
NGHỆ AN, 2012
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 HIỆN TƯỢNG NGUYỄN HUY THIỆP TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp trong sáng tác 8
1.1.1 Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh của thời kỳ Đổi mới (từ 1986) 8
1.1.2 Nguyễn Huy Thiệp sáng tác với nhiều thể loại khác nhau (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ) 10
1.1.3 Nguyễn Huy Thiệp một hiện tượng trong sáng tác truyện ngắn……11
1.1.4 Nguyễn Huy Thiệp - một bản lĩnh, một cá tính sáng tạo độc 13
1.2 Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp trong viết tạp văn và tiểu luận phê bình văn học 15
1.2.1 Tạp văn và tiểu luận phê bình trong văn học Việt Nam đương đại 15
1.2.2 Con đường đến với tạp văn và tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Huy Thiệp 18
1.2.3 Giăng lưới bắt chim và sự hiện diện của Nguyễn Huy Thiệp trong lĩnh vực tạp văn và tiểu luận phê bình 19
Trang 3TRONG TẠP VĂN VÀ TIỂU LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC
2.1 Về nhà văn và con đường của văn học 24
2.1.1 Thế giới nội tâm và tư tưởng của nhà văn 24
2.1.2 Con đường của văn học 29
2.1.3 Vấn đề tính dục trong văn học 33
2.1.4 Vấn đề “thời của tiểu thuyết” 38
2.1.5 Về một số tác gia, tác phẩm văn học 42
2.2 Về nhà thơ và con đường của nhà thơ (các tiểu luận) 49
2.2.1 Nhà thơ 49
2.2.2 Con đường của nhà thơ 53
2.2.3 Về một số nhà thơ 56
2.2.4 Về một số vấn đề của thơ và đời sống thơ 71
2.3 Về một số vấn đề của đời sống, văn hóa, nghệ thuật (tạp văn) 74
2.3.1 Vấn đề tranh luận, phê bình, bình luận 74
2.3.2 Vấn đề đất và người Nam Bộ 76
2.3.3 Một số vấn đề về hội họa, về kịch, về “tạp văn”,… 77
Chương 3 BÚT PHÁP, GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ NGUYỄN HUY THIỆP TRONG TIỂU LUẬN PHÊ BÌNH VÀ TẠP VĂN 3.1 Khái niệm về bút pháp và bút pháp trong tiểu luận phê bình 81
3.1.1 Khái niệm bút pháp 81
3.1.2 Bút pháp trong tiểu luận phê bình 81
3.2 Bút pháp Nguyễn Huy Thiệp trong tiểu luận phê bình, tạp văn 83
3.2.1 Bút pháp Nguyễn Huy Thiệp trong tiểu luận phê bình 83
3.2.2 Bút pháp Nguyễn Huy Thiệp trong tạp văn 86
Trang 43.3.1 Giọng điệu 88
3.3.2 Ngôn ngữ 99
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Huy Thiệp nổi lên trên diễn đàn văn học đương đại ViệtNam như một hiện tượng, trước hết với tư cách một tác giả viết truyện ngắnxuất sắc
Các ý kiến tranh cãi về ông tuy có sự đối lập nhưng dù phê bình hayngợi khen thì giới phê bình, nghiên cứu đều thừa nhận: Nguyễn Huy Thiệp làmột tài năng độc đáo, “là cây bút vàng” và “lạ” Đồng thời giới nghiên cứu,công chúng độc giả cũng thừa nhận Nguyễn Huy Thiệp, nhà văn có nhiềutruyện ngắn và tiểu thuyết xuất sắc Đã có nhiều công trình, nhiều đề tài luậnvăn nghiên cứu các tác phẩm, các nhân vật văn học của ông
1.2 Ngoài sáng tác truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn viết tạp văn,
tiểu luận phê bình văn học Năm 2003 Nguyễn Huy Thiệp cho in cuốn Giăng
lưới bắt chim, tập hợp các bài tạp văn, tiểu luận, phê bình Cuốn đã gây ra
nhiều làn sóng dư luận trái chiều Người thì bảo Nguyễn Huy Thiệp khôngbiết làm phê bình, kẻ lại nói “đó là cuốn phê bình văn học đáng đọc nhấttrong văn nghệ 30 năm đổi mới”[62] Ngày 10 tháng 10 năm 2006, Hội Nhàvăn Hà Nội đã chính thức trao giải thưởng thường niên về lý luận phê bình
cho Giăng lưới bắt chim Từ đó đến nay đã có nhiều bài viết về cuồn sách này
như bài: Đọc “Tiểu luận” Nguyễn Huy Thiệp của Đỗ Ngọc Thạch đăng trên
http://Vandanviet.net, Tìm hiểu phong cách tiểu luận, phê bình của Nguyễn
Huy Thiệp trong “Giăng lưới bắt chim” của Tuệ Minh, Trần Đăng Lộc đã
bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ ngữ văn Đặc điểm tiểu luận phê bình văn
học Nguyễn Huy Thiệp qua tập Giăng lưới bắt chim Khi chọn đề tài “Tạp
văn và tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Huy Thiệp”, chúng tôi hy vọng
Trang 6luận văn sẽ bổ sung thêm góc nhìn, thêm sự đánh giá về Nguyễn Huy Thiệpđầy đủ hơn, xác đáng hơn
1.3 Tập Giăng lưới bắt chim (tập hợp 43 bài tạp văn và tiểu luận phê
bình văn học) của Nguyễn Huy Thiệp đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều hiệntượng của văn học Việt Nam đương đại… Tìm hiểu, nghiên cứu tạp văn, tiểuluận phê bình văn học của Nguyễn Huy Thiệp cũng là nhắm cập nhật và gópphần bàn bạc những vấn đề cấp thiết của văn học nghệ thuật hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu Nguyễn Huy Thiệp và sáng tác của nhà văn
Tuy không gây được nhiều sự chú ý như thập niên cuối của thế kỷ XX(ở thể loại truyện ngắn), nhưng ở thập kỷ đầu thế kỷ XXI, Nguyễn Huy Thiệpvẫn thu hút được sự theo dõi của các nhà nghiên cứu phê bình và sự quan tâmcủa độc giả Các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp không chỉ thu hút các nhànghiên cứu chuyên nghiệp hay những người trực tiếp giảng dạy, tác phẩm củaông còn trở thành đối tượng tìm hiểu của nhiều luận văn sau đại học và khóaluận tốt nghiệp Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có hàng chục công trìnhnghiên cứu đủ các cấp độ, góc nhìn về Nguyễn Huy Thiệp như: Đặc điểmnhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Ngôn ngữ truyện ngắnNguyễn Huy Thiệp, Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp…
Ngay từ những tác phẩm đầu tay của mình như Tướng về hưu, những
ngọn gió Hua Tát, Con gái thủy thần, Kiếm săc, Vàng lửa, Phẩm tiết… Phong
cách nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp đã trở thành đề tài bàn luận, tranhluận của nhiều nhà phê bình, nghiên cứu Chỉ tính riêng trong những năm từ
1987 đến 1989 đã có khoảng 70 bài in trên các báo, tạp chí, sách, nhận định
về Nguyễn Huy Thiệp Các bài viết đó đã được Phạm Xuân Nguyên tập hợp
trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp Ông viết: “Nguyễn Huy Thiệp có lẽ là
người đầu tiên trong văn học Việt nam lập kỷ lục có nhiều bài viết nhất về
Trang 7sáng tác của mình, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, và không có độ lùi của thời gian Phê bình tức thời theo sáng tác, liên tục, lâu dài Không chỉ trong nước, cả nước ngoài, không chỉ người Việt cả người ngọai quốc” [51,7].
Xung quanh các sáng tác của nhà văn xuất hiện nhiều ý kiến khen chê khácnhau nhưng sức hấp dẫn của những trang văn này đối với các độc giả đã được
nhiều nhà phê bình thừa nhận Bùi Việt Thắng nhận xét “Mỗi truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp đều như một “khối thuốc nổ” làm tan vỡ mọi nếp nghĩ bình thường của độc giả” [64], Nguyễn Đăng Mạnh thì cho rằng: “Những truyện của Nguyễn Huy Thiệp có sức hấp dẫn khó cưỡng lại được Anh có nhiều ngón nghề lôi cuốn người đọc cũng “Bợm” lắm” [47] Cho đến thời
điểm hiện tại, khi nhắc đến hiện tượng văn học tiêu biểu sau chiến tranh, bất
cứ tác giả nào đều phải ít nhiều đề cập đến Nguyễn Huy Thiệp như một biểuhiện xuất sắc và độc đáo của dòng văn học Việt Nam đương đại nói chung vàmảng truyện ngắn nói riêng
2.2 Về tạp văn, tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Huy Thiệp
Đã có không ít ý kiến bàn về tạp văn và tiểu luận phê bình văn họccủa Nguyễn Huy Thiệp, nhất là khi các tạp văn, tiểu luận phê bình văn học
của ông được tập hợp trong cuốn Giăng lưới bắt chim (Nxb Thanh niên,
Hà Nội, 2010)
Giăng lưới bắt chim của Nguyễn Huy Thiệp ngay sau khi phát hành đã
gây dư luận trái chiều Người thì bảo Nguyễn Huy Thiệp không biết làm phêbình, kẻ lại nói “đó là cuốn phê bình văn học đáng đọc nhất trong văn nghệ 30
năm đổi mới” Nhà lý luận, phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến cho rằng:
“Mỗi nhà lý luận nhân văn đều có một cách giải thích khác nhau về tác phẩm
Lý luận chẳng qua chỉ là những huyền thoại Những huyền thoại mới đến sẽthế chỗ và loại trừ những huyền thoại cũ Rồi sau đó, những huyền thoạitương lai lặp lại quá trình với những huyền thoại hiện tại” “Tôi thành thật
Trang 8chúc mừng Thiệp Thiệp có tặng tôi Giăng lưới bắt chim với lời đề tựa: “Đây
là một cuốn sách nhảm nhí, có nhiều nhầm lẫn”, song chính nó đã làm tôithức tỉnh Bản thân là nhà phê bình lý luận nhưng tôi tự thấy mình chưa làmđược điều gì thật sự sâu sắc cho Phê bình lý luận Đọc Thiệp xong, tôi thấy
mình phải thay đổi” “Chúc mừng Hội Nhà văn Hà Nội đã tìm đúng tác phẩm
để trao giải Bởi trong tình trạng cả tác giả lẫn độc giả cả nước đều đang nửa
tỉnh nửa mê như hiện nay thì sự xuất hiện của Giăng lưới bắt chim là vô cùng
Bên cạnh những lời ca ngợi dành cho Giăng lưới bắt chim, còn có
nhiều ý kiến trái ngược vì như đã nói, lối viết của Nguyễn Huy Thiệp mangmàu sắc liều lĩnh, cực đoan và điều đó gây không ít khó chịu cho bạn đọc
Ngay trong bài “Giăng lưới bắt lý luận”, Vương Trí Nhàn cũng chỉ ra “chỗ
giống của người này, chỗ giống người của kẻ khác người”; chỗ chưa được củaNguyễn Huy Thiệp: “…khi viết về những đồng nghiệp, trong phần lớn trườnghợp ông tỏ ra khá tầm thường và tùy tiện Viết như đang lè nhè giữa một đámđông chén chú, chén anh nào đó Viết để lấy lòng mọi người Viết để trả nợ.Viết để ra vẻ bề trên, ban phát cho các đàn em… Hình như ông quên mất
Trang 9mình là nhà văn kiểu mới, một nhà văn công dân, đứng ra đối thoại với cả xãhội” [53,310].
Tập sách trước hết bao gồm 5 bài tiểu luận quan trọng được NguyễnHuy Thiệp viết trong khoảng thời gian đang xảy ra cuộc tranh luận văn học vềmình (1988-1992) Bẵng đi tới gần 10 năm, kể từ năm 2000 trở đi, NguyễnHuy Thiệp mới viết những bài báo dưới dạng tạp văn (ký tên Dương Thị Nhã)
in rải rác trên các báo Tiền Phong, Nông nghiệp Việt Nam, Phụ nữ Thành phố
Hồ Chí Minh v.v Sau đó danh chính ngôn thuận Nguyễn Huy Thiệp lại ký
tên thật và bắt đầu dè dặt giới thiệu một số người như Đồng Đức Bốn, ViThùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyến Bảo Sinh, v.v… trên một số báo và tạpchí Những ghi chú trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng đã từng
được giới thiệu như một phụ lục trong tuyển tập Giăng lưới bắt chim
2.3 Luận văn là công trình tìm hiểu tạp văn, tiểu luận phê bình văn học
của Nguyễn Huy Thiệp (in trong tập Giăng lưới bắt chim, Nxb Thanh niên,
2010) với cái nhìn tập trung và hệ thống…
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tạp văn và tiểu luận phê bình văn
học của Nguyễn Huy Thiệp
3.2 Giới hạn của đề tài
Để tài tập trung khảo sát, tìm hiểu các bài tạp văn và tiểu luận phêbình văn học của Nguyên Huy Thiệp Những thể loại khác trong sáng tác củaông chúng tôi chỉ chú ý tham khảo để đối chiếu, từ đó để có cái nhìn đầy đủhơn về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
Văn bản tài liệu để khảo sát, luận văn dựa vào các bài tạp văn và tiểuluận phê bình văn học của Nguyễn Huy Thiệp đã đăng rải rác trên các báo,tạp chí và mạng Internet từ năm 1988 đến năm 2009 Tuy nhiên chủ yếu vẫn
Trang 10là các tạp văn và tiểu luận phê bình văn học của ông được tập hợp trong cuốn
Giăng lưới bắt chim, Nxb thanh niên, Hà Nội, 2010.
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Qua khảo sát các tạp văn và tiểu luận phê bình văn học của NguyễnHuy Thiệp, luận văn nhằm xác định những thành công và hạn chế, nhất lànhững những đóng góp đáng ghi nhận của nhà văn cho các thể tài tạp văn vàtiểu luận phê bình trong văn học Việt Nam đương đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2.1 Đưa ra cái nhìn tổng quát về tạp văn và tiểu luận phê bình vănhọc trong sự nghiệp văn học của Nguyên Huy Thiệp, xác định, vai trò, vị trí, ýnghĩa của bộ phận này trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Huy Hiệp
4.2.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá các ý kiến của Nguyễn Huy Thiệp
về các vấn đề, các hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại
4.2.3 Khảo sát, phân tích nghệ thuật viết tạp văn và tiểu luận phê bìnhvăn học của Nguyễn Huy Thiệp
Cuối cùng rút ra một số kết luận về bản lĩnh và đóng góp của NguyễnHuy Thiệp trong viết tạp văn và tiểu luận phê bình văn học
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có các phươngpháp chính: Phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích - tổnghợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp cấu trúc - hệ thống…
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp
Luận văn là công trình tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá các bàitạp văn, tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Huy Thiệp với cái nhìn tậptrung và hệ thống
Trang 11Hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo ítnhiều hữu ích cho việc tìm hiểu, nghiên cứu tạp văn và tiểu luận phê bình vănhọc của Nguyễn Huy Thiệp nói riêng, tạp văn và tiểu luận phê bình văn họccủa văn học Việt Nam đương đại nói chung
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính cuả luận
văn được triển khai trong 3 chương
Chương 1: Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp trong văn học Việt Namđương đại
Chương 2: Quan điểm của Nguyễn Huy Thiệp trong tạp văn và tiểuluận phê bình văn học
Chương 3: Nghệ thuật viết tạp văn và tiểu luận phê bình văn học củaNguyễn Huy Thiệp
Cuối cùng là Tài liệu tham khảo
Trang 12Chương 1 HIỆN TƯỢNG NGUYỄN HUY THIỆP TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp trong sáng tác
1.1.1 Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh của thời
kỳ Đổi mới (từ 1986)
Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950, tại ở huyện ThanhTrì, Thành phố Hà Nội Thuở nhỏ ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thônđồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc… Nông thôn vànhững người lao động vì thế để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong nhiều sángtác của ông: “Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn…” [67,10]
Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng giáo dục chủ yếu của ông ngoại,vốn là người am hiểu Nho học, và mẹ, vốn là người sùng đạo Phật Năm
1960, gia đình chuyển về quê, định cư ở xóm Cò, làng Khương Hạ, Hà Nội.Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa Sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lêndạy học tại Tây Bắc đến năm 1980 Năm 1980, ông chuyển về làm việc tại BộGiáo dục và Đào tạo, sau đó, làm việc tại Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ,
Cục Bản đồ cho đến khi về hưu
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã ra nghị quyếttiến hành công cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực, trong đó có văn học Văn học
có thể nói là mảnh đất cho sự tự do sáng tạo đầu tiên theo tinh thần đổi mới
Và dĩ nhiên, những uy quyền sáng tạo mà văn đàn lúc đó đưa lại đã đượcchuẩn mực hóa và lây lan sang các ngành nghệ thuật khác
Xuất hiện khi tinh thần đổi mới trên văn đàn đã bước qua những giâyphút bung vỡ ban đầu và đang rất cần đến một khuôn mẫu nhất định có giá trịnhư thủ lĩnh, Nguyễn Huy Thiệp nhanh chóng đảm nhận vai trò “Vị tướng”
Trang 13của văn đàn Vai trò vị tướng này chỉ dừng lại ở đạo quân truyện ngắn.Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của truyện ngắn
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp “đánh lại” cả một “vương triều truyệnngắn” trước đó, nơi mà những sơn son thiếp vàng của nó được Nguyễn MinhChâu - một nhà văn đầy nhiệt tâm và nhạy cảm đã trình muốn “đọc lời aiđiếu” Sẽ không ai quên được những cú báng bổ đầu tiên mà truyện ngắnNguyễn Huy Thiệp để lại trên gương mặt báo chí văn học - văn nghệ Nhiềungười mang theo vết thương đó như cách ngậm một sinh khí mới để cùng vớiNguyễn Huy Thiệp trường chinh trên con đường kiến tạo “Văn học đổi mới”
Được coi là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam thời kì đổimới, sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp hội tụ rõ nét tính liên tục và tính đứtđoạn của lịch sử văn học dân tộc Có thể nói không quá rằng, một mìnhNguyễn Huy Thiệp không làm nên được diện mạo của nền văn học Việt Namsau 1975 đến nay, nhưng ông lại có thể đào xới lên nhiều vấn đề thuộc về bảnchất văn học, tạo nên sức bật khỏi ảnh hưởng văn học trước 1975, từ đó đưavăn học Việt Nam sau 1975 đi xa hơn, vững vàng hơn trên hành trình đổi mớivăn học dân tộc, hòa nhập vào biển cả văn học hiện đại của thế giới
Đánh giá hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ tiếp nhận văn học
và các mối quan hệ lịch sử - xã hội có thể thấy nhà văn chính là một sảnphẩm, một giá trị đồng hành với công cuộc Đổi mới Nhiều ý kiến đã nhậnđịnh Nguyễn Huy Thiệp “là một dòng mạch xuất hiện đồng thời với đổi
mới” (Nguyễn Đăng Mạnh); thêm nữa, còn khẳng định mạnh mẽ ý nghĩa
công cuộc đổi mới đã sinh thành nên nhà văn: ”Phải nói ngay rằng không
có công cuộc đổi mới trong đời sống văn hoá văn nghệ hiện nay thì khôngthể có hiện tượng mới Nguyễn Huy Thiệp Anh gặp thời!” (Diệp MinhTuyền), “Nhưng anh vẫn là một người có hồng phúc, bởi với một ngườikhác, ở hoàn cảnh xuất hiện khác, những trang văn trĩu nặng suy tư như
Trang 14của anh không dễ được xuất hiện, nếu có được xuất hiện cũng không dễđược người ta xúm lại bàn tán” (Đông La); ”Chúng tôi nghĩ, hiện tượngNguyễn huy Thiệp là sản phẩm tất yếu của sự gặp gỡ giữa tài năng với khátvọng dân chủ và đổi mới mà sự vận động ý thức xã hội cũng như văn họcsau 1975 đem lại” (Nguyễn Hải Hà - Nguyễn Thị Bình) Như thế, bêncạnh những tặng thưởng “cây bút vàng”, có thể coi Nguyễn Huy Thiệp là
“nhà văn anh hùng” của thời kỳ Đổi mới!
1.1.2 Nguyễn Huy Thiệp sáng tác với nhiều thể loại khác nhau (truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ)
Kể từ sau khi đất nước hòa bình thống nhất (1975) đến nay, Văn họcViệt Nam ít có nhà văn sáng tác nhiều thể loại và ở các thể loại đó đều cónhững thành tựu nhất định Nguyễn Huy Thiệp là một trong những nhà văn sốít đó Sở trường của Nguyễn Huy Thiệp là truyện ngắn, tiêu biểu có các
truyện: Tướng về hưu, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Mưa
Nhã Nam, Chút thoáng Xuân Hương, Những ngọn gió Hua Tát, Con gái Thủy Thần, Giọt máu, Muối của rừng, Chảy đi sông ơi, Trương Chi, Không có vua, Cún, Sang sông, Tội ac và trừng phạt, Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ Ngoài ra, Nguyễn Huy Thiệp còn viết nhiều
kịch, tiêu biểu là Xuân Hồng, Còn lại tình yêu, Gia đình (hay quỷ ở với người, dựa theo truyện ngắn Không Có Vua), Nhà tiên tri, Hoa Sen nở Ngày 29
Tháng 4 ; Và nhiều thơ (chưa xuất bản tập thơ nào, song thơ xuất hiện khá
nhiều trong các truyện ngắn của ông)
Nguyễn Huy Thiệp là người có khả năng cuốn hút Ông thể hiện sựsâu sắc, quyết đoán và khá ngay thẳng trong khi đối thoại Có thể đằng sau
vẻ ngoài lãnh đạm, khắc khổ của con người từng trải đó là một tâm hồn nhạycảm hơn ta vẫn tưởng Để diễn đạt nỗi buồn hay sự phiền lụy trong đời sống,ông có thói quen dùng từ đau khổ hay khổ Ở diễn đàn, tạp văn, tiểu luận
Trang 15phê bình Nguyễn Huy Thiệp đã có nhiều chiến tích đáng ghi nhận Phần lớnnhững chiến tích này đều có khả năng gây hấn với nhiều vấn đề văn họcđương đại Cũng bằng một thái độ và tư duy truyện ngắn sắc sảo, tạp văn vàtiểu luận phê bình của Nguyễn Huy Thiệp có sức hút riêng, sức công pháriêng so với nhiều tạp văn và tiểu luận phê bình của các tác giả khác cùngthời điểm
1.1.3 Nguyễn Huy Thiệp một hiện tượng trong sáng tác truyện ngắn
Bước vào văn đàn khi tuổi đời không còn quá trẻ, năm 37 tuổi Nguyễn
Huy Thiệp mới xuất bản tác phẩm đầu tay Tướng về hưu (1987) Sau đó ông
tiếp tục giới thiệu một loạt các tác phẩm mà chủ yếu là truyện ngắn Cáctruyện ngắn của ông có thể chia theo các mảng sau:
Về lịch sử và văn học: Kiếm Sắc, Vàng Lửa, Phẩm Tiết, Nguyễn Thị
Lộ, Mưa Nhã Nam, Chút Thoáng Xuân Hương
Truyện ngắn mang hơi hướm huyền thoại hoặc “cổ tích”: Những Ngọn
Gió Hua Tát, Con Gái Thủy Thần, Giọt Máu, Muối Của Rừng, Chảy Ði Sông
ơi, Trương Chi
Về xã hội Việt Nam đương đại: Không Có Vua, Tướng Về Hưu, Cún,
Sang Sông, Tội ác và Trừng Phạt ;
Về đồng quê và những người dân lao động: Thương Nhớ Ðồng Quê,
Những Bài Học Nông Thôn, Những Người Thợ Xẻ
Không chỉ trở thành hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam thời kìĐổi mới Truyện ngắn còn đưa lại ngôi vị “vương triều” cho Nguyễn HuyThiệp Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khuấy động tâm can người đọc, vềnhiều phương diện, đời sống, suy tư, văn học nghệ thuật, triết lý, thân phậncon người Từ một thế giới văn chương ổn định, mang nhiều tính chất hồnnhiên của những câu chuyện, lạc quan và lòng tin chúng ta bước vào một thế
Trang 16giới bất ổn của đời sống thật, hàng ngày, đau khổ, và những day dứt bất tậncủa nhân loại, đầy bi kịch: “Tôi đói như một con hắc tinh tinh Tôi đói nhưmột con lợn rừng Tôi đói như một con vật ở địa ngục Tôi đói đã nửa năm
nay” (Con gái Thủy thần) Có thể nói, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, một
mặt phơi bày đến tận cùng cái hiện thực đang ly tán, phân rã, mất đi tính bảnnguyên thống nhất, vẹn toàn trong đời sống tâm lý của dân tộc vừa trải quachiến tranh Mặt khác, những trang văn của nhà văn độc đáo này lại bàng bạc
và bảng lảng một sắc màu dân gian, dân tộc, mà chìm dưới bề sâu của nhữngthiên truyện ấy là thế giới nghệ thuật tự nhiên
Tự nhiên, trong thế giới nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp, còn là tự nhiênbên trong con người Con người tự nhiên trong truyện ngắn của ông là những
con người “vô sự với tạo hóa, trung thực đến đáy”, những người “dám lặn
sâu xuống đáy cuộc đời”, “trần lực để sống”, trung thực với chính mình.
Những nhân vật như Bường (Những người thợ xẻ), Tổng Cóc (Chút thoáng
Xuân Hương)… thô nhám, xù xì với những ham hố rất đỗi đời thường, nhưng
mặt khác lại mang vẻ đẹp của bản năng nguyên sơ, của một ứng xử nhân sinhbản lĩnh, gai ngạnh và trung thực
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn là những
người mang trong mình triết lý sống hài hòa, bình ổn, “không cố gồng mình
chạy theo những luật lệ cộng đồng” Họ tìm về với chốn đồng quê yên ả để di
dưỡng tính tình, chiêm nghiệm triết lý nhân sinh và đạt tới trạng thái cân bằng
trong tâm hồn (như nhân vật Năng, sư Tịnh trong Chăn trâu cắt cỏ, nhân vật
sư Thiều, Nhâm trong Thương nhớ đồng quê, bố Lâm, anh giáo Triệu trong
Những bài học nông thôn…).
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn hấp dẫn người đọc bởi các thủpháp kỹ thuật kể độc đáo, giàu sáng tạo Trước hết, đó là một lối kể trùngphức thường xuyên được sử dụng như một thủ pháp “mô tả mang tính lập
Trang 17thể” Sự phối hợp nhiều người kể, nhiều giọng kể với sự dịch chuyển đa chiềucác điểm nhìn nghệ thuật khiến đời sống luôn được cắt nghĩa ở những chiềusâu mới Câu chuyện của nhà văn, do thế, luôn diễn ra ở nhiều tầng lớp, thú
vị, nhiều khi lại có thể “tháo dỡ” được Có thể tìm tìm thấy điều này
trong Chút thoáng Xuân Hương, Phẩm tiết, Vàng lửa, Kiếm sắc, Mưa Nhã
Nam Ở đây, tính chỉnh thể trong cấu trúc tự sự của một truyện ngắn truyền
thống thường xuyên bị phá vỡ Tiếp theo, từ một góc nhìn khác có thể nhậnthấy nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp có xu hướng “phì đại” Giớihạn của một truyện ngắn bị đứt gãy Cái được kể tràn ra khỏi chiếc khung thểloại Trong một cốt truyện vốn đã nhiều sự kiện, nhà văn còn sử dụng các
hình thức truyện xen truyện rất độc đáo Chẳng hạn, trong Thương nhớ đồng
quê, ngoài mạch chính là truyện Nhâm, còn có khá nhiều các truyện hoàn
chỉnh khác về sư Thiều, ông giáo Quỳ, chú Phụng Con gái thuỷ thần,
Thương nhớ đồng quê, Chút thoáng Xuân Hương, Những ngọn gió Hua Tát đều là những truyện ngắn mang dáng dấp tiểu thuyết
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn hấp dẫn bởi sự dung hợp nhiềubài thơ, những “câu nói thơ” mà phần lớn do tác giả đặt lời Các bài thơ hoặcthơ văn xuôi này có ý nghĩa lớn trong việc làm nổi bật tiết đoạn cảm xúc, tôđậm chiều sâu tâm lý nhân vật vừa gợi ra được những suy tư lắng đọng chobạn đọc trước khi bị cuốn vào những tình tiết mới
1.1.4 Nguyễn Huy Thiệp - một bản lĩnh, một cá tính sáng tạo độc đáo
Trình làng văn khi tuổi đời không còn quá trẻ (năm 37 tuổi, NguyễnHuy Thiệp mới xuất bản các tác phẩm văn học, tập truyện ngắn đầu tiên là
Tướng về hưu xuất bản năm 1987) Những tác phẩm đầu tay của Nguyễn Huy
Thiệp nhanh chóng khuấy đảo dư luận, tạo nên ở người đọc những ngạc nhiênnày đến ngạc nhiên khác Mỗi lần đọc Nguyễn Huy Thiệp là một lần ta thấy
“cái khối vuông ru bích ấy” chuyển động Gắn với sự chuyển động của nó là
Trang 18những độ mở mới, màu sắc và những ngữ nghĩa nghệ thuật mới được khai lộ.Đến bây giờ, hẳn không cần phải dài dòng giới thiệu về Nguyễn Huy Thiệp.Ông đã quá nổi tiếng, đã được đông đảo độc giả và nhà phê bình xem là mộtnhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Trên con đường tạodựng cho mình một tên tuổi, ông đã vận dụng nhiều kinh nghiệm nghệ thuậtcủa nền văn học truyền thống và nền văn học một số nước phương Tây đểsáng tác.
Đỗ Lai Thúy trong bài tham luận của mình đã không hết lời ngợi khenNguyễn Huy Thiệp, ông viết: “Nguyễn Huy Thiệp là một đỉnh cao của vănhọc Việt Nam thời đổi mới và mở cửa Bởi thế, có thể lấy Thiệp làm một(tượng) đài quan sát, để một mặt ngó về văn học trước Thiệp, hay văn họcthời Thiệp, mặt khác, quan trọng hơn, phóng chiếu một cái nhìn vào văn họcsau Thiệp, tức văn học hôm nay” [57,17] Chẳng hạn trong khi miêu tả ngônngữ nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp đã vận dụng những kinh nghiệm truyềnthống trong miêu tả ngôn ngữ nhân vật Cụ thể, ngoài ngôn ngữ người trầnthuật, ngôn ngữ nhân vật luôn được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng để bóc trầnchân tướng sự vật, hiện tượng Chúng sắc lẻm và cay đắng Chúng phóng rarất nhanh với độ chính xác cao để kịp thời ghim chặt cái bản chất của cuộcđời vào nhận thức của độc giả Bởi vậy, tiếp xúc với ngôn ngữ nhân vật trongcác tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, người đọc dễ có cảm giác hả hê đồnglõa chứ không phải là cảm giác thú vị vì vừa phát hiện ra một điều gì đó củanhân vật, tức là cảm giác của kẻ đứng gián cách với họ Nguyễn Huy Thiệpcòn sử dụng ngôn ngữ giễu nhại rất tinh quái để đạt tới độ bóc mẽ nhân vật,bóc mẽ những ý thức thù địch với tín niệm của nhà văn Càng về sau, cảmhứng bóc mẽ càng trở nên đậm, gắt trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và
ta thấy ông ngày một rời xa kiểu chăm chút làm sao cho ngôn ngữ nhân vậtbiểu lộ được tính cách xã hội của đối tượng mà ông miêu tả Điều đó cũng có
Trang 19nghĩa là ông đang tìm cách vượt qua những bài học tưởng chứa đựng chân lýmuôn đời về lối viết, về cách xây dựng nhân vật thông qua việc cá thể hóa, cátính hóa ngôn ngữ của nó Nguyễn Huy Thiệp dường như không hề ngại việcbiến nhân vật thành cái loa phát ngôn cho tư tưởng của tác giả, sẵn sàng đặtvào miệng họ những lời mà ta cảm nhận rất rõ là xa lạ với thân phận, vị thế xãhội và học vấn của họ Vấn đề là ông quan tâm hơn, tin tưởng hơn vào sự thú
vị của tư tưởng mà ông muốn trình bày, còn tất cả những thứ khác xem ra đềuchỉ có ý nghĩa quan trọng hàng hai Như vậy, với Nguyễn Huy Thiệp, không
có kinh nghiệm viết nào mà nhân loại đã kinh qua là cũ cả Cái tưởng là sảnphẩm của một thời ấu trĩ hoàn toàn có thể được tái sinh để đem lại cái mớicho văn học bây giờ
Bản lĩnh sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp còn được thể hiện ở chỗ, ôngkhông ngại khi dấn ngòi bút chuyên viết truyện ngắn của mình sang các lĩnhvực văn học nghệ thuật khác như tiểu luận phê bình, tạp văn, kịch bản chèo…
Và ở những lĩnh vực “mới” đó ông mạnh dạn nêu lên, viết về những vấn đềnhạy cảm của văn học, của xã hội như: vấn đề tính dục trong văn học, vấn đềthời của tiểu thuyết, bàn về thực trạng thơ và đời sống của thơ, con đường củanhà văn… có thể thấy nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã trở thành một hiệntượng của sáng tạo văn học và đồng thời cũng là hiện tượng của những cuộctrao đổi, tranh luận quyết liệt giữa những người đọc, người phê bình và trongchính giới sáng tác
1.2 Hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp trong viết tạp văn và tiểu luận phê bình văn học
1.2.1 Tạp văn và tiểu luận phê bình trong văn học Việt Nam đương đại
Theo Từ điển văn học, “Tạp văn là những bài văn nghị luận có tính
nghị luận Phạm vi của tạp văn rất rộng, bao gồm cả tạp cảm, tùy bút, tiểuphẩm bình luận ngắn gọn Đặc điểm nổi bật nhất là rất ngắn Tạp văn là một
Trang 20bộ phận rất lớn của nhà văn Trung Quốc, theo thể loại đặc biệt bao gồm
những cảm nghĩ nhỏ, luận văn, tùy bút, thư từ, nhật ký, hồi ký… [82,333] Từ
điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội lại xác định: “Tạp văn
là những áng văn tiểu phẩm có nội dung chính trị, có tác dụng chiến đấumạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén vừa có tính nghệthuật cô đọng, phán ánh và bình luận kịp thời các hiện tượng xã hội Chẳng
hạn như tạp văn của Lỗ Tấn, được ông gọi là dây thần kinh cảm ứng là chân
tay tiến công và phòng thủ là dao găm và mũi lao, có thể cùng bạn đọc mở ra một con đường máu để sinh tồn.
Phần lớn tạp văn mang yếu tố châm biếm, trào lộng, đả kích Có loạinhắm vào kẻ địch với đòn “giễu cợt chết người”, đánh trúng chỗ hiểm, có loạinhằm vào khuyết điểm của người cùng đội ngũ, vạch đúng sai lầm, tràophúng thành khẩn, trị bệnh cứu người” [21,247]
Ở Việt Nam nhiều nhà văn kiêm nhà báo đã viết tạp văn ngay các nhàthơ cũng viết tạp văn Có thể kể đến các tác giả với các tác phẩm tiểu biểu
như: Xuân Diệu với Ngọn quốc kỳ (1945), Một khối hồng (1964), Triều lên (1958); Nguyễn Tuân với các tập tùy bút 1(1941), Một chuyến đi (1941), tùy
bút 2 (1943,) Tùy bút kháng chiến (1955), Tùy bút kháng chiến và hòa bình
(1956) Sông Đà (1960) Và nhiều tác giả với nhiều tác phẩm khác Sau Cách
mạng tháng Tám nhiều bài văn chính luận ngắn hỏm hỉnh trên báo chí ta cũng
là tạp văn Có thể kể đến các bài tạp văn của các nhà văn, nhà thơ như: KimLân, Nam Cao, Chế Lan Viên,… Từ khi hòa bình lập lại trên hai miền đấtnước và nhất là sau thời kỳ Đổi mới, các nhà văn, nhà thơ hầu như ai cũngviết tạp văn như: Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt
Hà, Nguyễn Ngọc Tư,… Do đặc tính “dễ viết”, phóng khoáng về hình thứckhông gò bó về nội dụng, thuận tiện trong việc giải bày cảm xúc, suy nghĩ,
Trang 21tạp văn được các nhà văn nhà thơ, các nhà làm báo sử dụng Đã từng có ýkiến cho rằng kỷ nguyên mới là kỷ nguyên của tạp văn…
Cùng với sự vận động, biến đổi của nền văn học từ sau năm 1975, nhất
là từ 1986, phê bình văn học cũng có sự chuyển biến rõ rệt, tự nhận thức lại
để vượt lên những hạn chế của thời kỳ trước, góp phần hình thành ý thứcnghệ thuật mới và phần nào có thể làm được vai trò đại diện cho ý thức nghệthuật của thời đại, mặc dù vẫn chưa thoát khỏi tình trạng phân tán, chưamạnh
Phê bình văn học là sự phán đoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tácphẩm văn học, đồng thời kèm theo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánhgiá những hiện tượng đời sống mà tác phẩm nói tới
Trong chặng đường mười năm đầu kể từ khi kết thúc cuộc kháng chiếnchống Mỹ, về cơ bản nền văn học vẫn tiếp tục vận động theo quán tính củavăn học sử thi thời chiến tranh, tuy đã có một số tác phẩm của những cây bútmẫn cảm với sự thay đổi trong trạng thái tinh thần và nhu cầu mới của côngchúng, hướng đến đời sống thế sự hằng ngày và những vấn đề đạo đức nhânsinh Phê bình văn học trong chặng đường chuyển tiếp này, về cơ bản vẫn vậnhành trong quỹ đạo chung của những quan niệm và nguyên tắc của nền vănhọc xã hội chủ nghĩa và đường lối văn nghệ của Đảng Nhưng với tư cách là ýthức nghệ thuật của xã hội, phê bình văn học đã sớm cảm nhận và nêu lênnhững đòi hỏi đổi mới văn học - dù còn ở dạng phôi thai và chưa được gọichính xác bằng từ “đổi mới”, mà tiêu biểu có thể kể đến ý kiến của NguyễnMinh Châu về vấn đề viết về chiến tranh, luận điểm của Hoàng Ngọc Hiến về
“văn học phải đạo”, bản báo cáo đề dẫn của Đảng đoàn Hội nhà văn doNguyên Ngọc trình bày trong hội nghị các nhà văn Đảng viên (6/1979)
Bước vào thời kỳ Đổi mới, phê bình văn học đã có sự thay đổi rất đáng
kể, cả ở diện mạo và vai trò của nó trong đời sống văn học và đời sống xã hội
Trang 22Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và khát vọng đổi mới thực sự, phê bìnhvăn học đã tiến hành nhận thức lại nhiều vấn đề cơ bản của lý luận và thựctiễn văn học, tự nhìn lại và chỉ ra những yếu kém, khiếm khuyết của chínhphê bình văn học giai đoạn vừa qua Phê bình văn học trong thời kỳ đầu đổimới thật sự đã có vai trò tích cực trong sự đổi mới ý thức nghệ thuật của nềnvăn học và cũng tác động đáng kể đến sự chuyển biến trong ý thức xã hội.
Như vậy, kể từ thời kỳ Đổi mới đến nay, đặc biệt những năm cuối thế
kỷ XX đầu thế kỷ XXI, tạp văn và tiểu luận phê bình văn học phát triển mạnh.Thu hút được đông đảo đội ngũ sáng tác từ các nhà văn, nhà thơ dày dặn sựtrải nghiệm trong sáng tác đến các nhà báo chuyên và không chuyên, từ cácnhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học đến các nhà viết và soạn nhạc
1.2.2 Con đường đến với tạp văn và tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện khi tinh thần đổi mới trên văn đàn đã bướcqua những giây phút bung vỡ ban đầu, ông đã nhanh chóng trở thành một hiệntượng đột xuất trong sáng tác truyện ngắn và sớm khẳng định cái bản lĩnh, cái
cá tính sáng tạo táo bạo, độc đáo của mình Với tiểu luận phê bình cũng vậy
Cứ mỗi lần một tiểu luận phê bình xuất hiện lại là một lần Nguyễn Huy Thiệp
“gây hấn” với nhiều vấn đề văn học đương đại, nhiều tác giả văn học Khôngnhững thế, tiểu luận phê bình của Nguyễn Huy Thiệp có sức hút riêng kỳ lạ Sovới các cây bút viết phê bình cùng thời thì Nguyễn Huy Thiệp đã tạo cho mìnhmột vị thế ngạo nghễ khi sức công phá của tiểu luận phê bình của ông thực sựđánh đổ cả những thành trì vững vàng nhất những giá trị vẫn được xem làchuẩn mực của lối phê bình chủ quan, cảm tính cũ
Trước đây, các bài tiểu luận phê bình chủ yếu đề cập đến các giá trị đạođức, văn hoá, nhiều lắm thì cũng là quá trình con người cá nhân được xác lậptrong sự tương ứng giữa các giá trị mới và cũ Nhưng sau Đổi mới, nhu cầu
Trang 23của con người thay đổi Điều ấy làm cho bản thân văn học cũng phải thay đổitheo trong cả sáng tác lẫn phê bình văn học Các nhà văn viết phê bình chủyếu hướng tới số đông độc giả nhằm thoả mãn những nhu cầu cần kíp của họ.Tính chất hàn lâm trong các bài tiểu luận phê bình của nhà văn cũ giảm sút,thậm chí là mất hẳn Do đó quá trình tiếp nhận của độc giả diễn ra nhanhchóng hơn và đây mới là điều các nhà văn, nhà viết tiểu luận phê bình quantâm Cảm nhận chủ quan thực chất cũng là quá trình cá nhân hóa Nhưngnhững quan điểm ấy nhiều khi phục vụ cho một mục đích riêng nào đó…
Nguyễn Huy Thiệp không chỉ là cây bút văn xuôi xuất sắc, độc đáo củathời kỳ đầu đổi mới, ông còn có những tiểu luận văn học sắc sảo, những ýkiến mới mẻ, táo bạo và có khi quyết liệt, “gây hấn” với những quan niệm vănchương và thói quen thẩm mỹ cũ Văn phê bình của Nguyễn Huy Thiệp cóngôn ngữ sắc sảo kết hợp chất trí tuệ và sức mạnh trực giác của nhà văn, nênthường rất hấp dẫn lôi cuốn, dù không phải mọi quan niệm kiến giải của ôngđều tìm được sự đồng tình của số đông người đọc
Như vậy, sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp tuy muộn trên văn đànnhưng cũng đủ để lại những dư âm Với cách tưởng tượng và phản ánh hiệnthực đầy ấn tượng, đầy bất ngờ, Nguyễn Huy Thiệp đã “lạ hoá” một cách có ýthức về cách nhìn cuộc sống người Việt vốn dĩ vẫn quen được lý tưởng hoá
Lời nhận xét của Phạm Xuân Nguyên về Nguyễn Huy Thiệp : “Hai lần lạ:
nội dung lạ, nghệ thuật lạ”[52,28] là rất có cơ sở.
1.2.3 Giăng lưới bắt chim và sự hiện diện của Nguyễn Huy Thiệp trong lĩnh vực tạp văn và tiểu luận phê bình
Bài nói đầu tiên “Một góc sơ suất trong thế giới nội tâm của nhà văn”
của Nguyễn Huy Thiệp trước “công chúng văn học” nhân một buổi họp củangành Giáo dục tại khách sạn Sông Nhuệ (Hà Đông) ngày 23.11.1989, sau
được in trên Tạp chí Đất Quảng số 62/1989 đã thực sự làm “nhiễu” dư luận.
Trang 24Sau đó là sự xuất hiện hàng loạt bài tiểu luận, phê bình, tạp văn trên hàng loạtbáo chí, tạp chí Mỗi bài viết là một sự thu hút kỳ lạ, và rồi được gom lại
trong Giăng lưới bắt chim
So với Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, Phê bình phản
phê bình của Trần Mạnh Hảo, Trang giấy trước đèn của Đỗ Chu, Chỉ tại con chích chòe của Dương Tường…, thì cuốn Giăng lưới bắt chim được đánh giá
là “hiện tượng lạ” khi Nguyễn Huy Thiệp đã động chạm đến những chỗ sâu
kín nhất của những người cầm bút Giăng lưới bắt chim gồm 43 bài viết, đều
đã đăng trên báo chí từ năm 1989 đến thời điểm xuất bản sách
Căn cứ vào đặc điểm nội dung từng bài viết, có thể chia ra: 23 bài tiểuluận, tạp văn; 9 bài giới thiệu; 9 bài phê bình; 1 bài ghi chú; 1 bài phát biểunhân dịp nhận giải thưởng Thực ra phân chia như vậy chỉ mang tính tươngđối, bởi chúng ta cũng dễ dàng nhận ra cách viết của Nguyễn Huy Thiệpkhông rạch ròi về thể loại Phải chăng đó là dụng ý đầy ý thức của ông ChínhNguyễn Huy Thiệp đã chọn cho mình một phong cách viết tiểu luận phê bìnhtheo tư duy của nhà văn, nhà văn viết truyện ngắn
Nhìn chung, trong hầu hết các tiểu luận, Nguyễn Huy Thiệp đã chọncho mình một lối viết rất “bình dân” Người đọc ít tìm thấy ở ông vẻ bác học
hàn lâm giống như những người viết phê bình trước đó và cùng thời: “Mẹ tôi
là nông dân Còn tôi sinh ra ở nông thôn…”, hay cách chọn những câu
chuyện, những câu thơ, câu ca dao trích trong các bài viết cũng rất “quê
mùa”: “Ra đường võng giá nghênh ngang/ Về nhà hỏi vợ cám rang đâu mày/
Cám rang tôi để cối xay/ Hễ chó ăn hết thì mày với ông” [70,10] Thậm chí là
trích dẫn những thứ ngôn từ thiết thực kiểu như “Cu ai nấy đái”, “Mặt nào
ngao nấy”, “Sướng con cu, mù con mắt” [70,11] Cũng có khi ông trích
những câu danh ngôn, lịch sử văn học qua một vài cá nhân, tích lịch sử, tích
Trang 25văn học Trung Hoa, cả tích tôn giáo, tích lịch sử Việt Nam… Nhưng những
nguồn trích dẫn ấy là cả một sự chiêm nghiêm, trải nghiệm của nhà văn vểcuộc sống thực tế Nhà văn không vận dụng lí thuyết, du nhập lí thuyết màvận dụng chính kinh nghiệm thực tiễn của mình Bởi thế, cách viết ấy tưởngchừng như bác học lại hoá ra gần gũi và dễ được người đọc đón nhận Cáikhéo léo của Nguyễn Huy Thiệp là ở chỗ “mượn chuyện xưa để nói chuyện
nay” mà người đọc cũng không dễ nhận ra Ông đã làm mới những chuyện cũ
để người đọc thực sự bất ngờ, thực sự “gây hấn” Và để người đọc dễ hiểu,nhiều khi Nguyễn Huy Thiệp diễn nôm những trích dẫn của mình, nhằm dẫnngười đọc đến gần với hệ thống luận điểm mà mình đã xây dựng từ trước vớimột thái độ bình luận tự do như tư cách người trong cuộc, chứng tỏ nhà vănkhông ngần ngại dịch chuyển các tư tưởng theo suy luận của mình, đưa những
cái xưa về gần với nay, những trích dẫn bác học về với những câu chuyện
bình dân nhất Thực tế, tạp văn và tiểu luận phê bình là những thể loại khá tự
do về mặt tư tưởng, quan điểm Chính cách viết này của Nguyễn Huy Thiệp
đã làm phong phú thêm về mặt thể loại Tạp văn, tiểu luận, phê bình
Cũng giống với các nhà văn, nhà phê bình khác, trong nhiều tiểu luậncủa mình, Nguyễn Huy Thiệp đặt lại và giải quyết một số vấn đề cơ bản của
văn học: Một góc sơ suất trong thế giới nội tâm của nhà văn; Khoảng trống
không ai lấp được trong tư tưởng nhà văn; Con đường của nhà thơ; Con đường văn học; Tthời của tiểu thuyết; Sự nhầm lẫn của nhà văn… Trong các
bài viết này, Nguyễn Huy Thiệp sử dụng một số thuật ngữ nghiên cứu chuyênngành: thực tiễn, lí luận văn học, công việc của nhà văn, thơ là gì, tiểu thuyết
là gì… Những thuật ngữ đưa ra không được lựa chọn là một khái niệm côngcụ, một khái niệm lí luận Nó chỉ tồn tại ở dạng “thô sơ” nhất của khái niệm
Trang 26Chẳng hạn, khi đặt ra vấn đề phê bình văn học, Nguyễn Huy Thiệp nhấnmạnh phẩm chất nhà phê bình ở phương diện “tư cách người”: “Phê bình vănhọc, bình luận văn học là một lĩnh vực khó chơi, khó nhằn vì nó đòi hỏi sựcông bằng, chưa nói gì đến dũng khí nhưng chí ít người làm việc đó phải
“không hèn” Ngoài ra, tính chuyên nghiệp phải được đề cao như một phẩmchất số một Trên văn đàn, số nghiệp dư và tỉnh lẻ thời nào cũng có và “đôngnhư kiến”(!) Thói to mồm, tính chất “bảo hoàng hơn cả vua” và đủ kiểu “vănhay” khác có thể “giết phăng” “giết tươi” những người có ý định tử tế muốnlàm việc này” [70,96] Cách diễn giải nôm na và có phần “bạo lực” này khôngcứu chuộc được sức bền vững của một quan điểm
Hoặc là, khi lí giải về thơ, Nguyễn Huy Thiệp cho rằng: “thơ là kết quảcủa trạng thái sáng tạo trong đó Sự thật biểu hiện Quan niệm ấy na ná nhưmột quan niệm tôn giáo nhưng thật ra không thể hiểu khác được Quan niệm
ấy về khía cạnh nào đó sẽ “dị ứng” với yêu cầu “xã hội hóa” Muốn gì thì gì,thực tại thế giới bên ngoài vẫn tồn tại vô cùng tàn nhẫn giữa ‘thiện một bên và
ác một bên”, hư và thực, tử tế và đểu cáng, “địch” và “ta”… Nhà thơ đứnggiữa hai làn đạn để làm một việc là biểu hiện sự Thật mà thôi”[70,43] Sự mới
mẻ trong quan niệm về thơ, nhà thơ của tác giả không được chính tác giả trình
bày một cách có lí luận Những cụm từ: na ná, về khía cạnh nào đó, gì thì gì
đánh mất hoàn toàn khả năng biểu đạt lí thuyết, đưa lý luận trở về với thựctiễn gần gũi
Trong bài Thời của tiểu thuyết (1), để trả lời câu hỏi “Tiểu thuyết là gì?”, Nguyễn Huy Thiệp viết: “Độ dày và tạp của tiểu thuyết có một cái gì
đấy “hấp dẫn”( có lẽ hấp dẫn người viết hơn là người đọc) Tiểu thuyết vừa
là một sự “tha hoá, xuống cấp” của truyện ngắn, vừa là một “sự phát triển, bứt phá lên” của truyện ngắn (…) Tiểu thuyết như một nồi lẩu nóng của
Trang 27nghệ thuật [70,277] Cách dùng từ như vậy gây ấn tượng mạnh mẽ và mới lạ,
lại gây được sự tò mò của bạn đọc
Thay cho lời tiểu kết, chúng tôi muốn trích một câu nói của Nguyễn
Huy Thiệp trong một bài trả lời phỏng vấn VnExpress, khi được hỏi: Ông
nghĩ sao về việc trở thành nhà phê bình chuyên nghiệp trong một tương laigần? Nguyễn Huy Thiệp đã nói rõ: “Không Nhất định là không Tôi là ngườisáng tác chứ không phải nhà phê bình Tôi cũng biết thân biết phận Lý luận
là vũ khí của người khác, không phải vũ khí của tôi”
Trang 28Chương 2 QUAN ĐIỂM CỦA NGUYỄN HUY THIỆP THỂ HIỆN
TRONG TẠP VĂN VÀ TIỂU LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC
2.1 Về nhà văn và con đường của văn học
2.1.1 Thế giới nội tâm và tư tưởng của nhà văn
Bách khoa toàn thư Wikipedia có định nghĩa: Nhà văn là người chuyên
sáng tác ra các tác phẩm văn học, đã có tác phẩm được công bố và ít nhiềuđược độc giả thừa nhận giá trị của một số tác phẩm
Kỹ năng của các nhà văn thể hiện qua kỹ năng sử dụng ngôn ngữ để mô
tả một ý tưởng, một phong cảnh, dù đó là sự hư cấu hay thực tế Nhà văn, tuythường được hiểu là người sáng tác ra các tác phẩm văn xuôi, tuy nhiên kháiniệm nhà văn vẫn có độ mở nhất định khi bao gồm cả những thể loại văn họcnhư thơ, văn xuôi, tiểu thuyết, kịch bản văn học
Dựa trên khuynh hướng sáng tác, loại thể chuyên sáng tác của từng tácgiả văn học, nhà văn có thể được xếp vào các vị trí khác nhau như nhà thơ, tiểuthuyết gia, nhà soạn nhạc kịch, sử gia, ký giả, nhà báo, nhà viết kịch bản phim,
… Các thông tin của nhà văn thường đóng góp vào để tạo ra nền văn hóa củamột xã hội và xã hội đó có thể được thể hiện ra từ giá trị của các tác phẩm đượcviết, hay là các tác phẩm văn chương, cũng giống như nghệ thuật, v.v
Ý kiến khác cho rằng: Nhà văn là một nhà tư tưởng Điều đó đồngnghĩa với việc nhà văn lúc nào cũng phải đối diện với chính mình Họ luônđặt những câu hỏi cho mình, về mình Xuân Diệu, một trong những nhà thơ
tiểu biểu cho phong trào Thơ Mới tự nhận mình: Ta là một, là riêng, là thứ
nhất, Chế Lan Viên thì lúc nào cũng day dứt về sự tồn tại của bản thân: Ta là ai? Ta vì ai?, còn với nhà thơ Hoàng Hưng thì nhà văn lúc nào cũng là: người
đi tìm mặt… Họ luôn luôn đặt ra những câu hỏi trong tư tưởng và phơi bày
Trang 29chúng, giải quyết chúng (tất nhiên phải thông qua thế giới hình tượng nghệthuật hoặc thông qua những phát biểu, những tuyên ngôn nghệ thuật củamình) Khi giải quyết những vấn đề tư tưởng ấy, thực ra nhà văn đã xác địnhchỗ đứng của mình Từ đâu, từ địa vị nào mà nhà văn nhìn thấy con người, xãhội để mô tả và đưa vào trong tác phẩm của mình.
Nam Cao (1915-1951) là một trong những nhà văn luôn luôn ý thức về
trách nhiệm của người cầm bút, luôn đặt ra yêu cầu cho người nghệ sỹ: phải
đứng trong lao khổ mở hồn ra đón lấy những vang động của cuộc đời Nhưng
nếu người nghệ sĩ trong tác phẩm Nam Cao là người thánh thiện, biết vượt lêntrên những tầm thường xung quanh, không bao giờ hoà lẫn với xung quanh, làngười luôn luôn ý thức rằng mình không bao giờ tha hoá dù đến tận đáy bầncùng, thì người nghệ sĩ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp lại trộn lẫnvới xung quanh, thậm chí nhiều lúc còn nhếch nhác, vô tích sự, vi phạm chính
lý tưởng mình rêu rao một cách có ý thức Lý giải điều này trong tiểu luận
Một góc sơ suất trong thế giới nội tâm nhà văn Nguyễn Huy Thiệp viết: “Tôi
không hiểu tại sao xã hội lại đi đòi hỏi nhà văn nhiều sứ mệnh lớn lao đến nỗitrừ phi phải thế nào đấy thì mới tải nổi, chứ là người bình thường thì tôi chắckhông sao chịu được Tôi đã suy nghĩ nhiều điều đó…”
Nguyễn Huy Thiệp không “đao to búa lớn” đòi hỏi nhà văn phải “bất
chấp hết Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa” (Giọt máu,
Tân Dân) hay “phải đứng trong lao khổ mở hồn ra đón lấy những vang động
của cuộc đời” (Giăng sáng, Nam Cao) Nguyễn Huy Thiệp luôn đặt các nhà
văn trong mối quan hệ với xung quanh Họ ngụp lặn trong cuộc sống bùngnhùng và cũng phồn tạp như cuộc sống Dù rằng, lúc nào họ cũng ý thức về
bản thân Khi xem xét thế giới nội tâm của mình đa số nhà văn có lương tri
đều ngượng các sự kiện thảy đều vụn vặt, chắp vá, nhem nhuốc, những suy luận duy tâm duy vật đan xen kẽ nhau thậm chí bỉ ổi, còn điều chúng ta gọi là
Trang 30“tri thức” thì được ủ bọc trong trạng thái giống như phôi, thai, đúng hơn là trạng thái khả năng [70,9].
Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù Với tư cách là chủ thểthẩm mĩ, nhà văn, do đó cũng phải có tư chất nghệ sỹ đặc biệt Phan Huy Chúcho rằng: các nhà trước thuật thì “cô đọng, sâu suốt, bao quát, xa rộng, cốt ởtính chất mực thước và hệ thống” nhưng “phần lớn kém ở lời văn hoa mĩ”.Còn nhà văn, nhà thơ thì “diễn đạt tình cảm đến tột mức và thu lượm đượcmọi cảnh hay việc lạ…mà nhà học giả điển chương không rối đầu để tâm đến,cũng không có tài làm ra” Nếu nhà trước thuật “có đủ cái học uyên bác” thìnhà văn, nhà thơ “có nguồn cảm hứng bay bổng” [58,300]
Tư chất nghệ sỹ rõ nhất ở nhà văn, là giàu tình cảm, dễ xúc động vànhạy cảm Trong khoa học, tình cảm chỉ nằm trong tiền đề sáng tạo, còn trongvăn học, tình cảm nằm ngay trong thành phần sáng tạo Chính vì thế mà nhàvăn, chủ thể sáng tạo, không thể chỉ có lý trí lạnh lùng đã đành, mà cũngkhông phải chỉ có tình cảm thông thường hời hợt Yêu, ghét, vui, buồn,thương mến hay căm giận,… đều đến độ mãnh liệt ở nhà văn Lỗ Tấn nói:
“Gặp những cái gì hay và đáng yêu thì họ ôm choàng lấy, nếu gặp điều tráiđáng giận thì họ sẽ bác bỏ… Phải kịch liệt công kích cái sai như đã từng nhiệtliệt chủ trương cái đúng Ôm chặt người yêu như thế nào thì phải nghiến chặt
kẻ thù như thế, như Héc quyn nghiến chặt người khổng lồ Ăng tê, anh ta nhấtđịnh làm đứt xương gân kẻ thù mới thôi”
Các tác giả giáo trình Lý luận văn học đưa ra một loạt các yếu tố làm nên
tư chất nghệ sỹ ở nhà văn Nhà văn là một con người giàu tình cảm, dễ xúc động
và nhạy cảm; trí tưởng tượng phong phú cũng là tư chất nghệ sỹ nổi bật ở nhàvăn; Nhà văn là người có trí nhớ tốt và cũng thường bộc lộ cá tính rõ nét nhấttrong lĩnh vực của mình Nếu cá tính nhà văn mờ nhạt, không tạo ra được tiếng
Trang 31nói riêng, giọng điệu riêng thì đó là một sự tự sát trong văn học - một lĩnh vựctối kỵ sự nhai lại ngay cả với những chân lý quan trọng [58,300].
Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có dồi dào những tư chất nghệ sĩnói trên, mặc dù những mặt đó cũng chưa phải là tất cả Những tư chất đócũng không tồn tại cô lập mà xuyên thấm và bổ sung cho nhau và dựa vàonhau mà phát huy tác dụng Tâm hồn nhạy cảm của nhà văn nếu không dựavào trí tưởng tượng phong phú thì không thể nào tạo ra được “thiên nhiên thứhai” trong tác phẩm Trí tưởng tượng nếu không dựa trên cơ sở quan sát và tựquan sát thì cũng dễ mông lung huyễn hoặc Khiến quan sát tinh tường nếukhông được trí nhớ ghi dấu lại thì cũng phí hoài
Nguyễn Huy Thiệp trình bày về thế giới nội tâm và tư tưởng của nhà vănkhông theo một hệ thống lý luận giống như các nhà nghiên cứu phê bình Ôngquan niệm “Một nhà văn, một người sáng tác phải coi lý luận phê bình như sự
tự ý thức của anh ta Tính khoa học trong công việc của nhà văn là ở chỗ này.Chỉ có những “nhà văn - nhà khoa học - nhà bác học” mới hòng xây dựngđược những tác phẩm thiên tài” Còn việc “xây dựng hệ thống lý luận chocông việc sáng tạo ở nhà văn có ba, bảy đường: Lý luận gì? Lý luận thế nào?Tất cả những điều này là thước đo thực sự của nhà văn”
Nhà văn cũng như trăm triệu con người khác bị lún sâu trong cái xã hộinhư món nộm Họ có trăn trở bao nhiêu, có kiếm tìm bao nhiêu rốt cục cũngchẳng tác động ăn thua gì tới hiện thực Và dù tác phẩm văn học của họ có giátrị bao nhiêu thì cũng chẳng thể kéo dài cuộc đời của nhà văn viết ra nó thêmngày nào Ấy vậy mà xã hội vẫn luôn luôn đòi hỏi ở anh ta rất nhiều thứ Bắtnhà văn phải là người khai sáng, là người dẫn lối mở đường Và nếu như có
sơ suất điều gì thì lại đổ hết lên nhà văn Đây là điều hết sức chua xót Bởi
vậy mà “nội tâm của anh xét cho cùng cần cho ai nếu như nó không giúp cho
anh sống ráo riết trong từng giây phút một Tôi nghĩ có lẽ sức truyền cảm cô
Trang 32đúc trong các con chữ ở các nhà văn lương thiện chính là sự ráo riết ở từng con chữ ấy” [70,19] Đây chính là cái đẹp trong cảm nhận về nhà văn của
Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp nhìn thấy được cả những sự trăn trở dồn nén, để chắtchiu từng con chữ của nhà văn Từ lâu người ta đã coi cái Đẹp là sự sống và
sự giản dị là điều kiện thiết yếu của nó Nhưng cũng có lẽ bởi tâm lý quá yên
tâm về văn học nên “chưa có một nhà văn nào đủ một nội tâm mạnh mẽ để có
thể khinh bỉ văn học rồi từ đó làm lại từ đầu” [70,20] Và khi văn học chưa
đạt tới được ngưỡng của tri thức văn hoá của thời đại nhà văn đang sống thìvăn học không thể có sức mạnh được Muốn gì thì gì, cuối cùng trên trangviết của nhà văn phải dần dần tạo cho mình một quan niệm nhân sinh cao đẹp,hướng thiện con người
Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, là sản phẩm kết
tinh, là sự thăng hoa của thế giới nội tâm nhà văn khi đạt đến sự trọn vẹntrong tư tưởng Và nó có đời sống độc lập nhất định của nó, thế nhưng “nhânđây tôi cũng nói thẳng ra rằng hầu hết các tác phẩm văn học ở ta đều rất duytâm Những áp đặt ý chí của tác giả lên số phận các nhân vật chẳng là duy tâm
thì duy vật ở chỗ nào? Mối quan hệ giữa chính trị với văn nghệ, suy cho cùng
là mối quan hệ giữa cộng đồng xã hội với cá nhân nghệ sĩ” Chính vì vậy,
Nguyễn Huy Thiệp nhận thấy những nghệ sĩ lớn, những nhà văn thiên tài
luôn luôn bận rộn với thiên mệnh lớn lao, họ làm mọi việc lấy lệ cho xong chuyện bởi họ còn bận tâm ở đâu đấy Từ đó Nguyễn Huy Thiệp nhận thấy Trong thế giới nội tâm nhà văn đã từng xảy ra không ít hơn ba điều ngộ nhận quái gở: sự ngộ nhận chính trị có ý nghĩa con người xã hội là sự ngộ nhạn khủng khiếp, sự ngộ nhận giới tính có ý nghĩa con người tự nhiên là sự ngộ nhận đau đớn, sự ngộ nhận về cái chết có ý nghĩa chung cho cả con người xã hội lẫn con người tự nhiên là sự ngộ nhận tàn nhẫn Khủng khiếp, đau đớn,
Trang 33tàn nhẫn đó là ba điều mà nhà văn nào cũng phải tự rút ra cho mình trong quá trình sống và sáng tác.
Về mối quan hệ giữa nhà văn và độc giả, Nguyễn Huy Thiệp nói: “Ởnhà văn sức mạnh không ở bản thân nhà văn mà ở độc giả của họ… Côngviệc của nhà văn bắt đầu từ đâu? Tôi nghĩ rằng phải bắt đầu từ việc nghiêncứu bạn đọc, đúng hơn là việc phải nghiên cứu tâm lý dân tộc trong cả mộtkhoảng thời gian dài Trên cơ sở đó nhà văn dọn ra món ăn tinh thần cho cảthời đại mình Lúc ấy tác phẩm của anh mới là một tác phẩm xứng đáng Tínhchất hợp thời của nhà văn đáng kể ở chỗ này” Đề cập tới tính dân tộc trong
sáng tác của nhà văn, Nguyễn Huy Thiệp muốn nói tới Một khoảng trống ai
lấp được trong tư tưởng nhà văn Ông nói “ có lẽ chưa bao giờ lại cần đến
những nhà văn có tư tưởng sáng suốt như trong thời đại hiện nay… Chúng tacần phải tỉnh táo nhận ra rằng tình trạng hiện nay của dân tộc là thê thảm Tôikhông muốn nói đến tình trạng thiếu thốn vật chất mà muốn nói đến thế giớitinh thần của họ Những ràng buộc nặng nề của các tư tưởng lạc hậu cũ kỹkhiến cho hàng triệu số phận con người đau khổ Họ mê man trong các công
sở và trong các tổ quỷ gia đình, trong các lũy tre xanh và các khu tập thể đông
hộ Tôi đã thấy sự nghèo đói nhưng tôi không sợ Tôi đã thấy những sự sailầm trong những công việc ở nhiều nơi nhưng tôi không sợ Tôi chỉ sợ khi conngười không còn lòng tôn trọng lẫn nhau, không còn lòng dũng cảm, khôngcòn đức tính trung thực và như thế sẽ không đào đâu ra được tình yêu vớinhũng giá trị tuyệt đối” [70,34]
2.1.2 Con đường của văn học
Trong tiểu luận Con đường văn học, Nguyễn Huy Thiệp viết: “Khi tôi
nhận ra rằng văn học là một thế giới hoang tưởng của người viết thì không
có nghĩa là tôi hạ thấp giá trị văn học Tôi chỉ vạch ra những giá trị vô bổ, vô nghĩa của văn học mà thôi Tôi cũng đã cảnh tỉnh để người viết dè chừng khả
Trang 34năng bị tha hoá về mặt tinh thần, đạo đức khi cầm bút viết” [70,47] Nói như
vậy có nghĩa là Nguyễn Huy Thiệp đã ý thức được rằng nghề văn là nghề rấtkhó khăn và để đi xa được thì lòng ham mê, những ước mơ, khao khát về
nghề nghiệp rất lớn, “thành ra khi đọc những tác giả trẻ tôi chú ý đến trí
tưởng tượng của người viết, đọc sáng tác của người nghèo trí tưởng tượng tôi luôn luôn có cảm giác nhói tim và biết rằng họ chọn nhầm nghề hoặc là họ đi không đúng hướng” [70,30] Trí tưởng tượng với những cây bút trẻ rất quan
trọng, nó có thể đẩy con người ta đi xa thêm trong nghiệp văn học, chứ khôngchỉ là quằn quại, giữ riết lấy cái hiện thực của cuộc sống trần trụi
Trang Lý luận phê bình văn học, ngày 16.03.2011 có trích dẫn bài viết của Trương Tửu (trích nguồn: Ích hữu, Nxb Tân Dân, số 94, ngày 8.12.1937), nhà phê bình Trương Tửu viết: “Văn chương phải lấy sự sống làm nguồn,
phải tắm gội trong hào quang rực rỡ của nó, phải giúp nó chiếu thẳng đến tim óc mọi người, phải phụng sự nó không rụt rè, không nhu nhược Tóm lại, văn chương phải mô tả sự sống để đánh dấu nó trên con đường phát triển vô cùng tận, qua các biến thiên của thế kỷ” Quan điểm của Trương Tửu rất hợp
với quan điểm của của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Huy Thiệp cũng luôn trăn
trở “công việc của nhà văn bắt đầu từ đâu? [70,31] Nói một cách rộng ra là
để có một tác phẩm xứng đáng thì nhà văn phải nghiên cứu tâm lý của cả mộtdân tộc trong một thời gian dài, từ đó nắm bắt tâm lý công chúng thời đại anh
ta đang sống Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, mỗi tác phẩm ra đời phải làmột sự nâng niu cuộc sống vì chỉ có sự sống là đáng yêu, đáng quý, đáng vunxới, đáng khuếch xung, đáng tôn thờ
Cũng bởi vì những trăn trở thường nhật ấy mà khi mô tả cuộc sống,Nguyễn Huy Thiệp không mô tả sự sống vụn vặt như mọi nghệ sĩ thiển cận
thường nhìn và sao chép, “văn chương phải bất chấp hết Ngập trong bùn,
sục tung lên, thoát thành bướm và hoa, đấy là chí thánh” [70,256] Không có
Trang 35gì giúp người cầm bút đủ tự hào để phấn đấu, đủ can đảm để thắng, đủ an ủi
để ngã, bằng nhận thấy rằng bao giờ nhà văn cũng mạnh dạn đứng vào hàngngũ tiên phong Bao giờ nhà văn cũng vui vẻ, hăng hái giữ nhiệm vụ tên línhcảm tử phất cao ngọn cờ tranh đấu, dắt xã hội chạy tìm những chân trời mới
và đẹp trên con đường kiếm tìm của hạnh phúc
Phận sự của nhà văn thiêng liêng như vậy, nên không thể coi văn chương
là một món trò giải trí lúc trà dư tửu hậu Văn chương phải là khí cụ phát biểu
và lưu hành tư tưởng, tình cảm mạnh và đẹp Văn chương, phải có tinh thầntranh đấu và lý tưởng Không đủ những tính cách ấy, văn chương tự truất địa
vị mình, tự hoại giá trị mình và trở nên một sức phản tiến bộ đáng bài trừ Mà
nhà văn nào phụ họa vào nó sẽ bị coi như kẻ thù của xã hội “Văn học ở ta
mới hình thành chưa được 100 năm Đã đến lúc văn học phải bước những bước chính xác trong cuộc hành trình gian khổ của nó Chính xác cũng là một điều kiện thiết yếu của cái Đẹp” [70,37]
Vì tương lai của văn chương Việt Nam, Nguyễn Huy Thiệp đã tìnhnguyện lĩnh cái nhiệm vụ gai góc ấy, không ngại ngùng những lời chê bai của
kẻ hèn, không ngừng bước trước sự mai mỉa của kẻ yếu, không nản chí trướcsức phản công của giới phê bình Văn chương của ông không uỷ mị, cũng
chẳng xu nịnh ai Mặc dù đôi khi cũng buồn khi nhìn thấy “giá trị văn học
thường chỉ được người ta nhắc đến khi người viết ra nó không còn nữa, nó lơ lững, vô hình như một làn khói vô định” [70,37], nhưng những nhà văn dũng
cảm sẽ chẳng bao giờ trông chờ vào sự hào hiệp của người đời
Cuộc sống càng khắc nghiệt, hiện thực càng ghê gớm, miếng ăn manh áotrở thành vấn đề riết róng thì văn học càng phải nâng đỡ con người ta, nó đòi
hỏi trí tưởng tượng, đòi hỏi con người phải bứt phá Đấy là điều mà “văn
chương khác với chính trị Nó cứu cuộc đời theo cách riêng của nó” [70,52].
Nghề văn là một nghề luôn đặt người viết trong tình trạng để tình cảm của
Trang 36mình ở trong hoàn cảnh hiểm nghèo Nguyên liệu chính của người viết vănkhông phải là anh hiểu cái này, biết cái kia, nhưng sự rung động của anh trongnhững tình huống hiểm nghèo như thế nào thì nó quan trọng hơn cả Sứ mệnhcủa văn chương là phải nhào nặn những thứ nguyên liệu quý báu đó Một nhàvăn có lương tâm không phải là người chỉ biết mơ mộng, ca hát những bàiphù phiếm, tán tụng những cái xa xỉ, mà anh phải cho ra lò những tác phẩm
văn học “có khả năng sản xuất ra những người cao thượng và những tình
cảm cao thượng” [70,53].
Văn là người Văn chương bởi con người, cho con người và vì conngười Quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp về sứ mệnh của văn chương là thế.Cái khó là ở chỗ văn chương không phải là con người bằng xương bằng thịt
mà văn chương là ý nghĩa, là hình ảnh về con người Tuy vậy văn chươngkhông chỉ là hình ảnh giống như chiếc bóng của con người đổ xuống mặtđường, đổ lên tường vách, lên cuộc đời, mà văn là con người ở mức cao hơn,một con người đang phóng về phía trước với dự phóng cao cả siêu việt của nó
bằng một ý chí làm người mỗi ngày một người hơn Trong Nhà văn và bốn
trùm mafia, Nguyễn Huy Thiệp viết “Sự thức tỉnh con người ở văn chương có
ba bảy đường” [70,61] Nói như vậy cũng có nghĩa là văn chương có khả
năng làm thay đổi con người bằng nhiều hình thức khác nhau Khi con người
đã tiến bộ về tâm thức, tình bác ái và lối sống thì con người được xem như làđang bước vào con đường nhân văn, nhân đạo Văn là con người, nhưng conngười của chữ nghĩa và giáo dục và con người đó hành động vì chữ nghĩa và
giáo dục “Nhân dân đã chán ngấy những cuốn sách thuyết giảng thứ đạo đức
giả Họ cũng chán ngấy các sách mua vui rẻ tiền và những sách gợi cảm giác mạnh Thậm chí đến cả những sách ca ngợi tinh thần dân tộc trong các cuộc chiến tranh vệ quốc nữa, bây giờ cũng trở nên lạc lõng Nhân dân đang cần
Trang 37những cuốn sách tự vấn, những cuốn sách giúp họ tự nhận thức lại mình Làm được điều đó là một công lao to lớn của nhà văn hiện đại” [70,36].
Trong Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn (1), Nguyễn Huy Thiệp có viết: “Văn học (với tính chất xã hội rõ ràng) không còn
là một “nghệ thuật chữ nghĩa” mà hiển nhiên là “nghệ thuật sống”, nó là cái cần câu cơm, là tay thước, là cây gậy, là cái bẫy chim, thậm chí còn là cây súng”[70,301] Như vậy, văn học không phải là một thứ rêu rao làm hàng
suông cho cuộc đời hoặc đọc véo von để phỉnh nịnh đôi tai thích nghe vầnđiệu, âm thanh, hoặc kích động tâm trí thích giật gân kỳ quái của những tâmhồn nông nổi Sứ mệnh của nó là tự thân phải hướng đến nhiệm vụ hướngThiện con người, nhiệm vụ của nó là phải đền trả những bó lượm ngôn từgiao phó, kiến thức mà nó gặt hái trên cánh đồng giáo dục bằng cách gieotrồng lại chính chữ Nghĩa cho cánh đồng đó, bổn phận của chữ nghĩa phảihướng đến làm người, nghĩa là làm cuộc sống của con người Đẹp hơn Quanniệm của Nguyễn Huy Thiệp là thiết yếu sát cánh với đời sống tinh thần Mộtcuốn sách không ăn được, nhưng nó là thức ăn để bổ dưỡng tinh thần Tuynhiên văn chương không phải là thứ mây ngũ sắc phiêu lãng bồng bềnh trôitrên tận tầng trời bỏ mặc trần gian lam lũ trong những thân xác nặng nề Đócũng là lẽ sống toàn diện của văn chương
2.1.3 Vấn đề tính dục trong văn học
Có thể nói bàn về tính dục trong văn học cũng giống như bàn về “hiệntượng Nguyễn Huy Thiệp” trên văn đàn Việt Nam thời kỳ Đổi mới, “nó vừaquen vừa lạ” Tính dục có phải là một khuynh hướng (hay trào lưu) sáng tácvăn học hiện nay Tác giả, tác phẩm nào đại diện cho khuynh hướng này? Vìsao lại xuất hiện khuynh hướng này? Nếu đã coi đây là một khuynh hướngsáng tác thì nên nhìn nhận nó như thế nào?
Trang 38Trước hết, nếu coi Sex vừa là đối tượng đề cập, vừa là phương tiệnchuyển tải các ý đồ nghệ thuật, thì có thể khẳng định trong dòng chảy chungcủa văn học hiện nay, đã và đang xuất hiện khuynh hướng tính dục trong sángtác văn học Sex trong những sáng tác thuộc khuynh hướng này đã được mởrộng biên độ và được các tác giả đặt trong nhiều tương quan khác nhau, vừatạo bề nổi của góc độ phản ảnh, vừa gửi gắm những bề chìm của thông điệpnhư là những ẩn ức nghệ thuật Nếu trước đây sex trong văn học thường chỉđặt ra trong tương quan với tình yêu đôi lứa, sự sa đọa về nhân cách, những
ẩn ức do di chứng của chiến tranh, những lệch lạc giới tính… thì sex trongvăn học ngày nay đã được mở rộng chiều kích như một phương tiện chuyểntải những ẩn ức khác nhau của đời sống nhân sinh
Trước khi đi vào vấn đề cụ thể, Nguyễn Huy Thiệp dẫn lại định nghĩa
văn học của nhà văn Nga nổi tiếng Marxim Gorki: “Văn học là nhân học”.
Ông giải thích: Đây là một định nghĩa được nhiều nhà văn ưa thích vì nó cótính chất hướng đạo cho công việc viết văn của họ Muốn viết văn, nhà văndứt khoát phải biết cách nghiên cứu con người Bước đầu của việc nghiên cứuđấy là ngay từ đầu anh ta phải biết cách nhìn, biết cách quan sát bản thân, sau
đó mới mở rộng ra quan sát “ngoài thiên hạ” Cũng theo Nguyễn Huy Thiệp,trong việc tự quan sát, “chỗ kín” chính là chỗ người ta hay bỏ quên nhất Vănhọc Việt Nam trong nhiều năm gần đây gần như bỏ qua đề tài tính dục
Thực ra viết về Sex là rất khó Khi các trường phái như phê bình mới haychủ nghĩa cấu trúc xuất hiện người ta cho rằng có thể giải quyết những vấn đềcủa văn học chỉ thuần túy dựa trên những yếu tố nội tại của văn bản mà khôngcần đến bất kỳ một sự tham chiếu nào khác từ những nhân tố bên ngoài Tuynhiên sự phát triển mạnh mẽ của xã hội học văn học mà một nhánh quan trọngcủa nó là nghiên cứu tiếp nhận cũng như sự ra đời của các trường phái: chúgiải học/ thông diễn học, nữ quyền luận/phái tính) đã cho thấy sự cần thiết
Trang 39phải đặt văn học trong một bối cảnh rộng lớn hơn của những vấn đề văn hóa
và xã hội
Đặt vấn đề nghiên cứu tình dục trong văn học, như thế, nảy sinh từ sựvận động và biến đổi nói trên của thực tiễn nghiên cứu và lý luận văn học Từgóc nhìn này thì tình dục không chỉ là một đề tài phản ánh trong tác phẩm màcòn là một hệ quy chiếu đề giải mã, tạo nghĩa cho tác phẩm văn học Là nơiđan bện của cái sinh vật và cái xã hội với những tương tác cực kỳ phức tạp,tình dục, vì thế là một điểm nhìn gợi dẫn những suy tư về tồn tại người trongnhững chiều kích vốn không dễ nắm bắt của nó
Lý giải tính dục là gì? Dựa theo triết lý của nhà Phật Nguyễn Huy Thiệp
cho rằng: Dục tính là nhân tính Ông nói: Để hiểu rõ điều này chẳng phải là
dễ hầu hết các nhà văn đáng kể trong thâm tâm đều muốn viết ra được mộtcuốn “dâm thư” có ý nghĩa giáo dục như “Truyện Kiều”, như “Nghìn lẻ mộtđêm”, “Hồng lâu mộng” hay “Kim Bình Mai”… Người xưa từng cho rằngsex, cái hiểm địa ấy chính là “cánh cửa sinh ra ta mà cũng là nấm mồ chônta” Ở người đời, tư tưởng - với sự hỗ trợ của bản năng - bao giờ cũng muốnphóng khoáng phong lưu nhưng lại thường không dám nhìn thẳng vào mình,không muốn (như nhiều người nói) “đối diện với mình”, không dám “đối diệnvới tha nhân” Con người ngượng ngập tìm cách che giấu dục vọng, kìm nén
nó, không dám bước ra các biên giới lằn ranh luân lý [70,241,242].
Sex - về phương diện nào đấy không chỉ đơn thuần là chuyện phòng theduy trì nòi giống Luân lý khoác lên Sex cái áo giáp nghĩa vụ cao thượng rồitrả công rẻ mạt cho nó bằng chút ít khoái cảm không làm thoả mãn thật sựcho cả người nam, người nữ Luân lý làm nghèo tính dục Nhiều nhà văn cảmthấy bó tay trước bức tường vô minh luân lý dựng lên trước đề tài tính dục
Đề tài này khó đến nỗi trong văn chương thực sự nó gần như một miếng đấthoang Đúng là hiểm địa! [70,243]
Trang 40Trong bài viết Bao giờ văn học tìm lại chính mình trên trang điện tử của
báo Đại đoàn kết (ngày 11/08/2012), Thảo Miên cho rằng: “Khát vọng “mới”trong văn chương là rất lớn Một nền văn học mà quá nhiều năm không cóthành tựu đỉnh cao thì phải gọi đó là “nền văn học ngủ quên” hoặc là “nền vănhọc bàng bạc” Các giải thưởng văn học vẫn được trao nhưng cũng không đủđánh thức bạn đọc, trong khi đó lại có không ít tác phẩm, tác giả bỗng dưngnổi đình nổi đám vì một vài nguyên cớ, nhưng không hẳn là nguyên do từ cáihay, cái đẹp của văn chương”
Tình dục với tư cách là đối tượng thưởng ngoạn trong văn học Việtthường được sàng lọc qua các thang bậc giá trị đạo lý hoặc triết lý Trong lịch
sử, nếu như đạo lý học thuyết hướng con người tới những khuôn mẫu đạo lýcủa một trật tự tôn ti tuyệt đối thì đạo lý hồn nhiên dân gian là một sự điềuchỉnh, nhấn mạnh tính tương đối của các hệ giá trị, trong đó có đạo lý Vì thếđạo lý hồn nhiên dân gian thường đóng vai trò đối trọng với vị trí độc tôn củađạo lý học thuyết như mầm mống đa nguyên sơ khai trong chế độ quân chủhoặc các chế độ độc tài hiện đại Đề tài tình dục cũng không nằm ngoài quyluật chung giản dị này
Chính vì thế, đề tài tình dục trong văn chương mọi dân tộc trong quá khứthường không còn là tình dục thuần tuý Nó là vấn đề văn hoá xã hội, là triết
lý sống, là hệ giá trị hoặc chuẩn mực Xu hướng ca ngợi quá trình xã hội hoátình dục trong văn học thường nhấn mạnh tính hợp lý, hài hoà của sở hữutuyệt đối trong quan hệ tình dục Có thể nói từ văn học cổ trung đại Việt Nam,tình dục trong văn chương là vấn đề Trinh hay không Trinh, là sở hữu tuyệtđối hay loạn luân
Đã một thời những giá trị văn hoá này khá bền vững Nền tảng gia đìnhgắn với các mối quan hệ huyết thống đã quy định đặc tính tôn nghiêm củaquan hệ tình dục dưới chế độ phong kiến Theo đạo lý học thuyết, loại tình