Sự nghiệp văn học của Phạm Quỳnh đa dạng và phong phú: Dịchthuật, sáng tác, nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, đợc xem là cây búttham gia, đặt nền móng cho quá trình hiện đại hóa văn
Trang 1Mục lục
Trang
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tợng nghiên cứu 14
4 Phạm vi t liệu khảo sát 15
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 15
6 Phơng pháp nghiên cứu 15
7 Cấu trúc luận văn 15
Chơng 1 Vị trí của Phạm Quỳnh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học dân tộc 16
1.1 Phạm Quỳnh - vài nét về tiểu sử 16
1.2 Sự nghiệp văn học của Phạm Quỳnh 22
1.3 Vị trí của Phạm Quỳnh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học dân tộc 24
Chơng 2 Phạm Quỳnh với các giá trị văn học dân tộc và thế giới 36
2.1 Phạm Quỳnh với các giá trị văn học dân tộc 36
2.2 Phạm Quỳnh với các giá trị văn học thế giới 63
Chơng 3 Quan niệm của Phạm Quỳnh về tiểu thuyết, thơ, kịch 72
3.1 Quan niệm của Phạm Quỳnh về tiểu thuyết 72
3.2 Quan niệm của Phạm Quỳnh về thơ 97
3.3 Quan niệm của Phạm Quỳnh về kịch 106
Kết luận 119
Tài liệu tham khảo 122
Trang 21.2 Trong lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ cận - hiện đại, PhạmQuỳnh có lẽ là một trong những nhân vật nổi bật nhng lại có vẻ gây nên nhiềucuộc tranh luận với những ý kiến đánh giá khác nhau nhất Dù tán thành hayphản đối, hoặc giữ thái độ chiết trung thì hầu nh mọi ngời đều mặc nhiên đãthừa nhận vai trò của ông trong bối cảnh lịch sử - văn hóa cụ thể nhất định Vìthế, cùng với “cuộc tổng rà soát” đó, trên một số sách, báo, tạp chí đã thấyxuất hiện những bài viết về nhiều vấn đề, khía cạnh khác nhau trong cuộc đời,
đặc biệt là trong sự nghiệp của Phạm Quỳnh với một tinh thần thẳng thắn,khách quan, với một thái độ cởi mở, trung thực hơn Những việc làm ấy nhmột nỗ lực nhằm đặt tác giả Phạm Quỳnh vào đúng vị trí, đa những giá trị
đích thực về mặt văn học dù một số chính kiến của ông còn phải bàn bạc đếnvới bạn đọc, giúp cho ngời đơng thời và hậu thế hiểu hơn về Phạm Quỳnh, gópcho di sản văn hóa nớc nhà thêm những khía cạnh khác lạ và giàu có hơn
1.3 Sự nghiệp văn học của Phạm Quỳnh đa dạng và phong phú: Dịchthuật, sáng tác, nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, đợc xem là cây búttham gia, đặt nền móng cho quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc Những ýkiến, quan điểm của Phạm Quỳnh về văn học không chỉ giúp cho chúng tahiểu những giá trị, t tởng nghệ thuật của một số tác phẩm văn học trong cũng
nh ngoài nớc mà còn hiểu hơn về một nền phê bình văn học Việt Nam nửa đầuthế kỷ, đồng thời qua đó góp phần hiểu thêm và có cái nhìn đúng đắn về một
số phơng diện trong con ngời của Phạm Quỳnh: t tởng chính trị - xã hội, nhãnquan văn hóa, quan điểm thẩm mĩ Có thể nói, Phạm Quỳnh thực sự đã cócông trong việc phát triển nền phê bình văn học Việt Nam Đây là một nội
Trang 3dung quan trọng mà chúng tôi muốn làm sáng tỏ qua đề tài: Đóng góp của Phạm Quỳnh trong lĩnh vực lý luận, phê bình văn học.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Theo thống kê của Nguyễn Ngọc Thiện trong bài Thăng trầm trong nhận thức văn nghiệp của học giả Phạm Quỳnh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 4, 2007, từ trớc đến nay đã có trên 30 công trình nghiên cứu, phê
bình của các nhà nghiên cứu, học giả thuộc nhiều thế hệ phát biểu ý kiến nhìnnhận về văn nghiệp Phạm Quỳnh và vị trí của ông trong lịch sử văn học ViệtNam nửa đầu thế kỷ XX Tùy vào từng thời điểm lịch sử, các nhà nghiên cứu
đã có những ý kiến rất khác nhau về con ngời cũng nh di sản Phạm Quỳnh ởcác bài viết ấy, đã có sự phân lập rõ ràng về quan điểm của họ khi đánh giá về
ông
2.1 Khuynh hớng phê phán, phủ nhận
Khi đánh giá về phạm Quỳnh, những ngời ở khuynh hớng này đã đứngtrên nhãn quan chính trị, đã gắn chặt các hoạt động văn hóa với con ngờichính trị của Phạm Quỳnh, đi sâu phanh phui những động cơ không trong sạch
của văn sỹ họ Phạm khi ông hoạt động báo chí chủ bút Nam phong tạp chí
-tờ báo đợc sự bảo trợ của chính quyền thực dân Họ phủ nhận, không thừanhận mảy may hiệu quả khách quan trong hoạt động báo chí, văn chơng củaPhạm Quỳnh, mà đối chiếu với yêu cầu sự nghiệp giải phóng dân tộc, vạch ra
sự làm chệch hớng đấu tranh cách mạng trực tiếp với kẻ thù, dới chiêu bài bảotồn quốc hồn, quốc túy, tiếng Việt mà Phạm Quỳnh cổ xúy Họ cho rằng ônggắn bó với các chủ trơng chính trị của thực dân Pháp Ông bị coi là “ru ngủ”thanh niên tri thức trong cái “hồn nớc” mơ hồ, khiến họ đi chệch khỏi chí h-ớng làm cách mạng chống Pháp Trong một thời gian dài hỏi về Phạm Quỳnh,ngời ta thờng trả lời công khai, ngắn gọn đến tàn nhẫn: Phạm Quỳnh là kẻ bánnớc, là tên tay sai đắc lực của thực dân Pháp Đó là các ý kiến của Ngô Đức
Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Trần Đình Hợu, Lê Chí Dũng,Nguyễn Văn Hoàn, Thiếu Sơn giai đoạn sau này
Ngô Đức Kế có lẽ là ngời lên tiếng sớm nhất thể hiện thái độ này Ông
cho rằng, việc Phạm Quỳnh đề cao Truyện Kiều có nguy cơ đa thanh niên, trí
thức vào con đờng thởng thức văn chơng thuần túy, đánh lạc hớng đấu tranh,
Ngô Đức Kế đã viết bài “Luận về chánh học cùng tà thuyết Kim Vân Kiều Nguyễn Du”, đăng trên báo Hữu Thanh, số 21, ngày 1/9/1924 mở đầu cuộc
Trang 4-tranh luận với Phạm Quỳnh nhân bàn về “Truyện Kiều”, Ngô Đức Kế đã chỉ
trích gay gắt, chê bai, thậm chí là thóa mạ những ngời mà ông gọi là những tríthức Tây học nh Phạm Quỳnh: “Những ngời học thức kiến văn cha đợc mộtnắm, nhân cách chẳng đáng là bao, mới lom lem học những học thuyết ôngMạnh (Montesquieu), ông L (Rousseau), bập bẹ những cách ngôn họ Trang,
họ Liệt thì đã nghiễm nhiên tự lập thành một đấng văn hào, tự xng khai hóaquốc dân mà không ngó lại mình đã khai hóa hay cha; thôi thì diễn văn chất
đống, sách du ký đầy thùng, thôi thì tán xằng tán nhảm, nói bậy nói càn, khôngcòn có nghĩa lí chính đáng chi nữa” [30, 217 - 218]
Trong những năm mà cuộc chiến đấu cho độc lập dân tộc nổi lên hàng
đầu, thì sự phủ nhận đóng góp của Nam phong tạp chí nói chung của Phạm
Quỳnh nói riêng thời kì này rất quyết liệt Đáng kể nhất là ý kiến của ĐặngThai Mai Trong khi dựng lại bức tranh chung của đời sống văn học đầu thế
kỷ, nhà nghiên cứu không dành cho Nam phong tạp chí một ý nghĩa tích cực
nào, kể cả trên lĩnh vực thuần tuý học thuật Cách nhìn nặng nề về Phạm
Quỳnh đợc Đặng Thai Mai thể hiện trong công trình Văn thơ cách mạng Việt nam đầu thế kỷ XX Trong công trình này, Đặng Thai Mai đã gắn Phạm Quỳnh
với những tên gọi hàm ý mỉa mai, khinh bỉ “tiên sinh kính trắng”, “tên Việtgian đội lốt học giả, sản xuất ra học thuyết liếm gót” Những nhận xét chínhcủa Đặng Thai Mai đối với vai trò của Phạm Quỳnh trong việc tiếp nhận vănhoá có thể tóm tắt: Lập trờng t tởng của Phạm Quỳnh đã hỏng, đã là dơ bẩn,thì “ý kiến của y cũng chỉ có thể có hại cho tinh thần” [45, 126] Tác giả tiếptục giễu: “Ngời độc giả báo Nam Phong chỉ thấy rằng Phạm Quỳnh hình nhhọc rộng lắm: biết chữ Hán, biết tiếng Pháp và biết cả tiếng Việt!” Từ đó,
Đặng Thai Mai đánh giá những việc làm của Phạm Quỳnh chỉ để nhằm bịpngời Tây và để lòe ngời An Nam mà thôi: “Y (Phạm Quỳnh) viết đủ mọi thứ:Chính trị, văn học, sử học, triết học, kinh tế học, giáo dục học, đã viết về vănminh Trung Quốc, văn minh nớc Pháp, về ca dao Việt Nam, về văn chơng t t-ởng cổ, kim, Đông, Tây và y cũng đã dịch, dịch văn Tàu, dịch văn Tây, cũng
nh y đã viết báo quốc ngữ, viết báo Pháp nhng không hề có một mặt nào cóthể nói là có hệ thống, và cũng cha hề có một phần nào đã đi sâu vào vấn đề
mà phê phán, mà nghĩ đến việc áp dụng cho thực tế Việt - Nam” [45, 126]
Cũng với một cách nhìn nặng nề nh thế, trong cuốn Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930, Trần Đình Hợu, Lê Chí Dũng cho rằng:
Trang 5Phạm Quỳnh chính là một nhân tố trong việc thay đổi thủ đoạn cai trị của thựcdân Pháp “Phạm Quỳnh đã cổ động cho văn hóa điều hòa tân cựu, thổ nạp á -
Âu” hô hào “xây dựng nền quốc văn”, mơn trớn, lôi kéo cả cựu học lẫn tânhọc, đề cao Pháp, lái thanh niên trí thức vào hoạt động văn hóa, văn học, đánhvào lòng tham danh vọng của họ” [29, 325] Trần Đình Hợu và Lê Chí Dũngkhông tiếc lời đa ra kết luận: “Từ đa ra khẩu hiệu xây đắp nền quốc văn đến
dấy lên phong trào sùng bái Truyện Kiều, Phạm Quỳnh chỉ nhằm một mục
đích: hớng thanh niên tri thức vào lĩnh vực văn hóa, tách họ ra khỏi những vấn
đề sống còn của đất nớc và thời đại Vì vậy, cả những luận điệu dối trá củaPhạm Quỳnh, cả con ngời Phạm Quỳnh đều có sức lừa mị cám dỗ” [29, 325]
Có thể nói rằng, những kết luận quá khắt khe và nặng nề nh thế lúc bấygiờ đã chi phối sâu sắc nhận thức của không ít ngời về một nhân vật vốnkhông đơn giản, và dĩ nhiên cha đợc nghiên cứu kỹ lỡng
Ngay cả Thiếu Sơn, trong Phê bình và cảo luận (1933), công trình mở
đầu lịch sử phê bình văn học Việt Nam hiện đại - ở phần thứ nhất, ông đãdành vị trí mở đầu trang trọng viết về Phạm Quỳnh Trong bối cảnh đất nớc talúc này, tác giả tỏ lòng mến mộ, bênh vực, ghi nhận những cống hiến củaPhạm Quỳnh khi ông đứng trên lập trờng của chủ nghĩa quốc gia nỗ lực xâydựng nền văn hóa dân tộc, có “ích cho quốc dân” có “ảnh hởng đối với nhânchúng cũng thiệt là sâu” Nhng rất tiếc, sau gần 40 năm đầy kinh lịch và từngtrải trên trờng chính trị, Thiếu Sơn đã thay đổi sự đánh giá về Phạm Quỳnh Sựthay đổi trong cách nhìn nhận của Thiếu Sơn trong vòng 40 năm là điển hình,tiêu biểu cho sự vận động hai thái cực nhận thức về học giả Phạm Quỳnh
Trong cuốn tiểu luận Bài học Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn đã nói rõ quá trình
nhận thức lại về ông chủ bút Nam phong trớc công luận Thiếu Sơn nghiêmkhắc khẳng định sự phê phán đối với học giả họ Phạm, nhân vật lừng lẫy mộtthời mà ông đã từng khâm phục, quý trọng Thiếu Sơn đánh giá Phạm Quỳnhtrên hai phơng diện: con ngời chính trị và con ngời nhà văn Về chính trị, ôngphê phán, phủ định nghiêm khắc đối với Phạm Quỳnh, quy cho Phạm Quỳnhlà: “mật thám, tay sai đắc lực của thực dân” nhằm để t lợi, vì danh vọng của cánhân “ham danh lợi, ham địa vị và quyền thế nhng vẫn cố tỏ ra làm màu, làm
mè để mê hoặc dân chúng, và sung sớng đợc làm nô lệ cho thực dân” [62, 90].Trớc tác của Phạm Quỳnh không phải là bất hủ nh có ngời đề cao, mà thựcchất chỉ là để thực hiện âm mu quỷ quyệt của Pháp nhằm “dùng văn hóa để
Trang 6say đắm thanh niên” đã gây lại ảnh hởng xấu trong quần chúng: “Tất cảnhững bài khảo cứu hay bình luận của ông (Phạm Quỳnh) đều có dụng ý làmcho ngời đọc quên thân phận của mình là ngời dân mất nớc và sung sớng đợclàm nô lệ của thực dân không muốn để mắt, để lòng tới những gì xảy đến cho
quê hơng, đất nớc dùng Truyện Kiều để mê hoặc lòng ngời, để dân mất nớc
t-ởng rằng mình vẫn còn nớc, khỏi cần lo nghĩ, khỏi cần đấu tranh gì thêm nữa”[62, 93]
GS Đinh Gia Khánh, trong công trình Văn học dân gian, đã nhận định:
Phạm Quỳnh là “sản phẩm của chính sách văn hoá của thực dân Pháp”, việclàm của tác giả này có ý nghĩa tiêu cực nhiều hơn là tích cực: giới thiệu hoặcdịch sang tiếng Pháp những tác phẩm văn học dân gian trong mục đích xâydựng văn hoá thuộc địa của thực dân Pháp, nhấn mạnh về sự giống nhau giữangời “nông dân An Nam” với “ngời anh em của mình là ngời nông dân Pháp”
“để ca tụng sự hoà hợp giữa hai nớc Pháp - Nam, thực chất là ca tụng sự cai trịcủa thực dân Pháp trên đất nớc ta” [32, 117 - 118]
Gần đây, trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11 - 2008, bài “Góp thêm một ít t liệu chung quanh cái chết của Phạm Quỳnh” của giáo s Nguyễn Văn
Hoàn bàn luận về cái chết của Phạm Quỳnh với một thái độ phê phán vàkhông đồng tình với những việc làm đơng thời của học giả họ Phạm NguyễnVăn Hoàn đã đa ra kết luận cho sự kiện tại sao Phạm Quỳnh bị bắt: “Tóm lại,việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mu liên lạc, cấu kết với nhau là nguyên do
đầu tiên đa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ Sau đó việc quân Pháp tìm cáchtrở lại Huế, thực hiện âm mu tái chiếm Đông Dơng của chính phủ De Gaullelại khẳng định sự đúng đắn và cần thiết của việc bắt giữ đó” [27]
2.2 Khuynh hớng thận trọng, cởi mở, ghi nhận những đóng góp của Phạm Quỳnh
Khuynh hớng này thiên về xem xét ảnh hởng của lập trờng dân tộc, chủnghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh trong thái độ trân trọng di sản văn học dântộc, truyền bá, dịch thuật những tác phẩm văn chơng u tú của nớc ngoài, chămchút ngôn ngữ tiếng Việt, không vội vàng kết luận về động cơ chính trị củaPhạm Quỳnh, khi cha có đầy đủ căn cứ xác thực
Họ cho rằng trong sâu xa, cơ bản Phạm Quỳnh là ngời yêu nớc theocách riêng của ông Ông đã biết khéo xoay xở, lợi dụng kẻ hở trong chínhsách văn hóa của Pháp để làm lợi cho văn hóa nớc nhà Họ đã chứng minh cái
Trang 7chết của Thợng Chi không phải là bị cách mạng Việt Nam xử tử mà do những
kẻ thiếu hiểu biết, ác ý, t thù thủ tiêu bất ngờ Cần nhìn nhận thấy ẩn ý tốt đẹp
về dân tộc trong tác phẩm của Phạm Quỳnh
Họ không chỉ thừa nhận những đóng góp của Phạm Quỳnh về văn học
mà còn thừa nhận ông là một trong những nhà văn đi tiên phong “khai sơn pháthạch” cho một nền phê bình hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX, là một trongnhững ngời sớm có ý thức vận dụng phơng pháp nghiên cứu văn học của ph-
ơng Tây, của Pháp vào nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam, làm cho nềnphê bình đạt đợc những kết quả khả quan Những ý kiến tiêu biểu của: ThiếuSơn thời kỳ đầu, Dơng Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ, NguyễnNgọc Thiện, Nguyễn Công Hoan, Trần Đình Sử, Trần Mạnh Tiến, Vơng TríNhàn, Trần Văn Toàn, Mã Giang Lân, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Đình Chú, TrịnhVĩnh Long, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Táv.v…
Đơn cử ý kiến của tác giả Dơng Quảng Hàm trong công trình Việt Nam văn học sử yếu, đã khẳng định công lao đóng góp của Phạm Quỳnh đối với
văn hóa của nớc nhà: “Đối với nền văn hóa cũ của nớc ta ông Quỳnh thờngnghiên cứu đến chế độ, văn chơng của tiền nhân… có công thành lập quốc vănvậy” [23, 419]
Nhà văn Nguyễn Công Hoan, ngời đơng thời với Phạm Quỳnh, trong
cuốn “Đời viết văn của tôi” đã có một sự liên tởng độc đáo giữa Phạm Quỳnh
với nhân vật của ông Với những lời lẽ khẳng định và đầy cảm xúc, nhà văn đãcông khai minh chứng cho tấm lòng trong sạch của Phạm Quỳnh đối với đất
nớc Ông bày tỏ sự thơng cảm chân thành: “Khi viết truyện Kép T Bền tôi liên
tởng tới bề ngoài cời nụ, bề trong khóc thầm chính là trờng hợp PhạmQuỳnh! Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh Quốcdân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thợng th Nam Triều Mà cũng chẳng vìlợi Đơn cử làm chủ bút Nam phong, ông đợc cấp 600 đồng mỗi tháng Móntiền này to hơn lơng Thợng th Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danhnghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ớc 1884 Vậy là một ngờiyêu nớc nh Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua
là một việc miễn cỡng, trái ý với mình, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làmviệc tốt hơn chứ thực lòng một ngời dân mất nớc ai không đau đớn, ai khôngkhóc thầm” [28, 16]
Trang 8Năm 1942, trong công trình Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan cũng đã có
cái nhìn bao quát về sự nghiệp của Phạm Quỳnh kèm theo những lời bình luận
đầy thiện cảm: “Một điều mà ngời đọc nhận thấy trớc nhất trong những bàibiên tập và trớc thuật của ông (Phạm Quỳnh) là ông không cẩu thả; phầnnhiều các bài của ông đều vững vàng, chắc chắn, làm cho ngời đọc có lòng tincậy Điều thứ hai là ở nhà văn này, ngời ta nhận thấy một khuynh hớng rõràng về học thuyết hay về những thứ mà phần t tởng là phần cốt yếu ít khi ng-
ời ta thấy dới ngòi bút ông những bài phù phiếm có giọng tài hoa, bay bớm vàchỉ có một tính cách đặc văn chơng Ông là ngời chủ trơng cái học thuyết: đọcsách Tây để thâu tóm t tởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nềnquốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lấy cái hay của ngời mà dung hòa với cáihay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc màvẫn có cơ tiến hóa đợc” [54, 80] Nhận xét về lĩnh vực phê bình, Vũ NgọcPhan khẳng định: “Bảo Phạm Quỳnh là một nhà văn có con mắt xét nhận rất
đúng, cũng không có gì là lạ, vì chính ông là một nhà phê bình Lối văn họcbình luận là lối thuộc về địa hạt của ông” [54, 100]
Trong công trình Việt Nam văn học sử giản ớc tân biên, Phạm Thế Ngũ
đã đa ra những nhận định khá đầy đủ các mặt trong văn nghiệp Phạm Quỳnhvới thái độ khách quan, khoa học Phạm Thế Ngũ đánh giá sòng phẳng PhạmQuỳnh ở các hoạt động: dịch thuật, khảo luận, phê bình, viết du kí Đặt PhạmQuỳnh trong bối cảnh văn hóa Việt Nam những năm 20 - 30 của thế kỷ trớc,nhà văn học sử đã chỉ ra những đóng góp của Phạm Quỳnh trên các phơngdiện t tởng, văn học Về t tởng, “Phạm Quỳnh tiêu biểu cho một giai đoạnbán cựu bán tân ở nớc ta trớc 1932 Với một căn bản tham bác á - Âu, ông đã
đa ra các giải pháp dung hòa và bảo tồn làm thỏa mãn đợc nhiều khuynh hớngtrong xã hội lúc bấy giờ” [51, 196] Về văn học, “hiển nhiên ông đã làm việccho nhiều công cuộc xây dựng văn học mới Ông đã tranh đấu cho câu vănquốc ngữ, đã khởi công xây dựng nền văn học mới, đã giúp cho văn nghệ mớitiến bộ” [51, 196 - 197]
Từ góc nhìn văn hóa học, nhà phê bình Vơng Trí Nhàn đã xác định vaitrò của những trí thức nh Phạm Quỳnh trong quá trình tiếp nhận văn hóa ph-
ơng Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Vơng Trí Nhàn thừa nhận: “Nếu đợcphép quan niệm rằng với xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhu cầu canhtân - với t cách là bớc đầu tiên đi đến cứu nớc - là một nhu cầu có thật, thì ng-
Trang 9ời ta sẽ dễ dàng độ lợng và có cái nhìn phải chăng hơn với nhiều ngời, trong
đó có một nhân vật lịch sử mà lâu nay thờng đợc quy là đầu sỏ tội trạng, songthực tế lại đã làm đợc khá nhiều việc có ích trong nghiên cứu, giới thiệu vàdịch thuật văn hóa phơng Tây vào Việt Nam, cũng nh trong việc hớng văn hóaViệt Nam hòa nhập vào văn hóa thế giới nói chung Ngời đó là nhà văn PhạmQuỳnh” [48]
Trong Từ điển văn học (bộ mới), đảm trách mục từ Phạm Quỳnh,
Nguyễn Huệ Chi đã nhìn nhận khá tổng quát về tiểu sử cũng nh sự nghiệp trớctác của Phạm Quỳnh Với một cách nhìn khá khách quan và trân trọng, tác giả
đã thừa nhận hầu hết tất cả mọi công lao đóng góp của Phạm Quỳnh đối vớinền văn hóa nớc nhà, coi ông là ngời có tinh thần dân tộc, ôm ấp một chủnghĩa quốc gia theo xu hớng ôn hòa, lấy việc canh tân văn hóa để làm sống lạihồn nớc, đánh giá một cách khách quan về phẩm chất cũng nh tài năng vănchơng của Thợng Chi: “Phạm Quỳnh là ngời làm việc không cẩu thả,dù dịchthuật hay trớc tác, điều tra cẩn thận, đắn đo câu chữ rất nhiều Hơn nữa, ông
có thiên hớng thích loại văn chơng nghị luận hơn là văn chơng cảm hứng, nênngòi bút điềm đạm mực thớc” [11, 1365] Nhận xét về văn nghiệp PhạmQuỳnh, tác giả viết: “Là ngời biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cấp cho ngời
đọc những khái niệm bớc đầu về mĩ học nói chung cũng nh về thơ, về tiểuthuyết… nói riêng Những kiến giải của ông so với ngày nay phần nào đã tỏ ra
đơn giản, ít còn ai chú ý, nhng đơng thời là những ý kiến mới mẻ” [11, 1365 1366]
Cũng với một thái độ đầy thiện cảm, nhà văn hóa Nam Bộ, Vơng Hồng
Sển trong bài viết “Tôi biết gì về báo Nam phong và về Phạm Quỳnh, đối với
đồng bào trong Nam” đã gọi Phạm Quỳnh là “đáng làm thầy” Theo tôi
(V-ơng Hồng Sến), ông Phạm Quỳnh này, chỉ là một sự hi sinh của thực dânPháp, ông (Phạm Quỳnh) tài lắm có lúc nhóm sinh viên trờng s phạm ở SàiGòn lập ra và làm án Phạm Quỳnh, lên án Nam phong nhng nay Nam phongvẫn có ngời tìm mua và Phạm Quỳnh, riêng tôi thì tôi vô cùng tội nghiệp và vôcùng mến tiếc tài” [59]
Với những lời ngợi ca ngắn gọn nhng chân thành, tác giả cuốn Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 - 1945, Mã Giang Lân, nhận thấy
phơng pháp phê bình hiện đại trong ngòi bút của Phạm Quỳnh Tác giả viết:
“Phạm Quỳnh là ngời viết nhiều bài lý luận, phê bình là ngời có ý thức vận
Trang 10dụng phơng pháp phân tích văn học của phơng Tây vào nghiên cứu văn họcViệt Nam” [36, 347] Ông đã không do dự đặt Phạm Quỳnh ngang hàng cùngvới những tên tuổi nh: Phan Kế Bính, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng,Phan Khôi, Ngô Tất Tố, Hoài Thanh, Dơng Quảng Hàm, Thiếu Sơn, Vũ NgọcPhan, Đào Duy Anh, Nguyễn Đổng Chi xem ông là một trong những “nhànghiên cứu, lí luận, phê bình bằng văn nghị luận sáng giá của văn học ViệtNam” [36, 350]
Cùng quan điểm trên, tác giả Trần Mạnh Tiến trong bài: “Phạm Quỳnh với nền lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX” đăng trên Tạp chí Nhà văn, số 9 - 2009, đã có một cái nhìn khá toàn diện về hoạt động nghiên
cứu lí luận, phê bình văn học của Phạm Quỳnh Tác giả khẳng định: “Đây làcây bút tham gia đặt nền móng cho nền văn học mới là ngời mở đờng và tiếp
đến Thiếu Sơn sau 1930 là những cây bút tiên phong cho phê bình hiện đạiViệt Nam đầu thế kỷ XX” [66]
Nguyễn Đình Chú trong bài viết “Thợng Chi bàn về tiểu thuyết trên tạp chí Nam phong” và Trần Văn Toàn với bài “Cảm quan thế giới trong lý luận, phê bình văn học của Phạm Quỳnh và tác động của nó đến tiến trình văn học”
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, đều thừa nhận lý luận và phê bình văn
học của Phạm Quỳnh nh một sự khởi đầu, một sự kích hoạt đối với tiến trìnhvăn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
Với những lời lẽ vừa có tính chất phân tích, bình luận, vừa ngợi ca, trong các bài viết Phạm Quỳnh: Ngọn gió Nam “ ” và Đọc lại tạp chí Nam“
phong và Phạm Quỳnh , ” Đỗ Lai Thúy khẳng định sự đóng góp của học giảPhạm Quỳnh là không nhỏ cho nền quốc học Việt Nam: “Phạm Quỳnh đã đặtmột cơ sở khoa học cho cách học mới để từ đó dựng xây một nền quốc họcchân chính, một nền văn hóa mới” [76]
Trong bài viết “Cô Kiều với Phạm Quỳnh” đăng trên trang website Cỏ Thơm, tác giả Phạm Thị Nhung đã thể hiện sự đánh giá nhìn nhận Phạm
Quỳnh về sự đóng góp của ông cho nền quốc văn của nớc nhà: “Những bàiluận thuyết của Phạm Quỳnh liên quan đến vấn đề quốc văn, quốc học, quốctúy, ta càng hiểu đợc cái thâm trầm, cái ý nhị của họ Phạm muốn gửi gắm quamấy câu đơn sơ đó Phạm Quỳnh muốn nhắn cho độc giả biết rằng, ông sẽdùng chúng nh một chiến thuật để bẻ gãy, để vô hiệu hoá cái dã tâm của thựcdân muốn truyền bá văn minh t tởng học thuật Pháp, chẳng phải vì lý tởng
Trang 11khai hoá nhân đạo gì, mà thực ra cốt đa dân ta đến chỗ bị đồng hoá để đời đờilàm nô lệ cho họ Không những kêu gọi ngời viết văn, Phạm Quỳnh còn kêugọi cả ngời đọc quốc văn Chữ quốc ngữ chính là cái bè từ để cứu vớt bọn tatrong bể trầm luân Xin đồng bào chớ lãng bỏ, chớ khinh rẻ văn quốc ngữ T -
ơng lai nớc ta chính ở đó Riêng phần mình, Phạm Quỳnh một lòng cung cúc,tận tụy đắp xây cơ sở và vun trồng cho quốc văn Trớc hết bằng những bàibiên dịch thiên về đờng t tởng, nghị luận” [50]
Gần đây, Nhà xuất bản Tri thức cho ra mắt cuốn “Phạm Quỳnh - tiểu luận viết bằng tiếng Pháp 1922 - 1932” Trong lời giới thiệu, Phạm Toàn đã
dành cho Phạm Quỳnh những lời trân trọng: “Đọc Phạm Quỳnh cả bằngtiếng Việt lẫn bằng tiếng Pháp, cái ấn tợng đầu tiên sau đó còn tiếp tục theo
đuổi ta, ấy không chỉ là sự khâm phục chiều sâu bác học và tầm cao ái quốccủa tác giả ấn tợng lớn hơn nữa, còn đáng yêu hơn nhiều, càng quyến rũ tavô cùng, ấy là lòng yêu cái Đẹp của bậc chí sỹ đó” [58, 6] Cũng trong buổi
lễ ra mắt bạn đọc cuốn sách nói trên, nhà văn Nguyên Ngọc - một trongnhững ngời đảm nhận dịch nhiều nhất, khó nhất, khẳng định: “Việt Nam ta
có những con ngời khổng lồ đầu thế kỷ XX, họ trở thành những con ngời đavăn hóa Phạm Quỳnh là một ngời khổng lồ nh vậy Ông uyên thâm cả Đônglẫn Tây Ông bàn về Khổng Tử, Mạnh Tử, Mạc Tử, Phật giáo vô cùng sâusắc Ông hiểu biết văn hóa phơng Tây cũng rất cẩn thận Hai yếu tố ấy soisáng nhau để từ đó, Phạm Quỳnh đặt ra những vấn đề lớn của dân tộc, màquan trọng là vấn đề sự giáp mặt giữa Đông và Tây, số phận dân tộc ViệtNam ở đâu trong cuộc va chạm đó Có thể nói những vấn đề chính trị - xãhội - văn hóa - giáo dục ông đặt ra vẫn thời sự đến tận hôm nay” [12] Giáo
s Nguyễn Đình Chú cũng bộc bạch hết sức chân tình, nh một lời xin lỗi chonhững đánh giá sai lầm trớc đây về học giả Phạm Quỳnh: “Phạm Quỳnh đốivới riêng tôi là một cuộc sửa sai chính mình, một cuộc nhận thức lại những
định kiến Tôi là một ngời đã từng đả Phạm Quỳnh rất quyết liệt Tất nhiên
sự nhận thức ở thời điểm ấy không chỉ riêng tôi nhng tôi vẫn cảm thấy xấu
hổ Sau này tôi tìm hiểu và nhận ra Phạm Quỳnh không phải là một hiện t ợngcá biệt Phạm Quỳnh là một ngời quan trọng nhất trong đạo diễn công cuộchiện đại hóa văn hóa và văn học Việt Nam Ông có cả một lý thuyết hẳn hoi
về độc lập và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa dân tộc (quốc gia) và nhân loại, thếgiới; đó chính là hạt nhân của lý thuyết hội nhập hiện đại Nhờ có lý thuyết
Trang 12đó, Phạm Quỳnh đã không bị văn hoá phơng Tây áp đảo, ông dõng dạc tuyên
bố bằng tiếng Pháp cho ngời Pháp đọc, vào năm 1931: “Ngời An Nam khôngthể coi nớc Pháp là Tổ quốc đợc, vì chúng tôi đã có một Tổ quốc” [12]
Năm 2006, Nhà xuất bản Văn học cho ra mắt cuốn “Thợng Chi văn tập”, cuốn sách tập hợp những bài viết tơng đối quan trọng của Phạm Quỳnh,
thuộc đủ thể loại: văn hóa, giáo dục, triết học Cuốn sách là tài liệu quý hiếm
để cung cấp tài liệu tham khảo gốc cho các độc giả muốn nghiên cứu, tìm hiểu
về một giai đoạn lịch sử đặc thù của văn học Việt Nam (giai đoạn 1917 1932), về văn hóa, cổ học Việt Nam nói chung và về tác giả Phạm Quỳnh nóiriêng Trong lời giới thiệu sách, tác giả Trần Văn Chánh đã có những lời nhậnxét xác đáng và u ái cho Thợng th Phạm Quỳnh: “Ông là một nhà văn - nhàbáo - nhà giáo dục và học giả giỏi cha nghe ai có một lời phê bình ông là một
-kẻ tham quan ô lại hoặc lạm dụng chức quyền cho những mục đích thuần túycá nhân” [57, 12 - 16]
Những vấn đề nghiên cứu Phạm Quỳnh từ trớc đến nay đã đợc tác giả
Nguyễn Ngọc Thiện tổng kết trong bài “Thăng trầm trong nhận thức văn nghiệp học giả Phạm Quỳnh” Tác giả bài báo đã cẩn trọng thống kê lại một
số ý kiến tiêu biểu của các nhà nghiên cứu, các học giả thuộc nhiều thế hệ viết
về văn nghiệp Phạm Quỳnh cũng nh vị trí của ông trong lịch sử văn học ViệtNam nửa đầu thế kỷ XX Trong phần cuối bài báo, tác giả đã nhấn mạnh lạimột lần nữa tính chất phức tạp của một hiện tợng Phạm Quỳnh trong lịch sửvăn học dân tộc Nguyễn Ngọc Thiện đề ra kiến giải: “Không nên nôn nóng đ-
a ra kết luận vội vàng, cần thẳng thắn trao đổi ý kiến làm rõ những điểm cóthể làm đợc trên quan điểm duy vật và lịch sử” Từ quan điểm cá nhân,Nguyễn Ngọc Thiện khẳng định: “Phạm Quỳnh vẫn có một vị trí thích đángtrong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Bộ phận tác phẩm của Phạm Quỳnhtrong phần khả thủ của nó vẫn cần tiếp tục đến với đông đảo độc giả và giớinghiên cứu chuyên ngành cùng với sự đánh giá khách quan, công bằng vănnghiệp mà ông đã lao tâm khổ tứ để lại cho đời” [72]
Những ý kiến mà chúng tôi đã điểm qua trên đây đã cho thấy sự nghiệpsáng tác của Phạm Quỳnh còn nhiều vấn đề cần đợc nghiên cứu lại một cách
kỹ lỡng, nghiêm túc, đầy đủ Tuy nhiên trong khi tìm hiểu sự nghiệp PhạmQuỳnh, ngời ta thờng chỉ đặt trọng tâm vào việc phân tích những điều đạtthành, trong tình hình tiến triển của đất nớc mà ít chú ý đến các nguyên nhân
Trang 13tác thành qua thời gian Các luận văn, bài viết về Phạm Quỳnh thờng trình bày
sự nghiệp của ông theo lối dàn trải trên bình diện rộng mà không cho thấynhững tiến triển trong t tởng của ông, nói cách khác, các nghiên cứu đã mangtính chất tĩnh hơn là động Riêng về lĩnh vực hoạt động nghiên cứu lý luận,phê bình văn học của Phạm Quỳnh dù các ý kiến đã tỏ ra khá đồng thuận, nh-
ng hầu nh mới chỉ dừng lại ở những đánh giá, ghi nhận những đóng góp vềmột số mặt trong lĩnh vực này, cha có một công trình nghiên cứu chuyên sâu,
đầy đủ, toàn diện Thực tế đó đã kích thích chúng tôi đi vào đề tài mà chúngtôi đã chọn
3 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi tìm hiểu Đóng góp của Phạm Quỳnh trong lĩnh vực lý luận, phê bình văn học.
4 Phạm vi t liệu khảo sát
Nguồn dẫn liệu mà chúng tôi khảo sát là toàn bộ những bài nghiên cứu
phê bình văn học của Phạm Quỳnh, chủ yếu đăng trên Tạp chí Nam phong
(1917 - 1934) và đợc tập hợp lại trong các cuốn sách:
- Phạm Quỳnh, luận giải văn học và triết học, Nxb Văn hóa - Thông
tin, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2003
- Thợng Chi văn tập, Nxb Văn học, 2006
- Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932, Nxb Tri
thức, 2007
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định vị trí của Phạm Quỳnh trong bối cảnh hiện đại hóa văn
học dân tộc qua đó, để thấy đợc vai trò hoạt động lý luận, phê bình văn họccủa ông đầu thế kỷ XX
5.2 Tìm hiểu những nhận xét đánh giá của Phạm Quỳnh đối với các giátrị văn học dân tộc và thế giới
5.3 Tìm hiểu quan niệm của Phạm Quỳnh về tiểu thuyết, thơ, kịch
6 Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phơng pháp nghiên cứu sau: Phơng pháp thi pháphọc, phơng pháp khảo sát thống kê, phơng pháp phân tích - tổng hợp, phơngpháp miêu tả, phơng pháp so sánh - đối chiếu
7 Cấu trúc luận văn
Trang 14Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn đợc triển
khai trong 3 chơng:
Chơng 1 Vị trí của Phạm Quỳnh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học
dân tộc.
Chơng 2 Phạm Quỳnh với các giá trị văn học dân tộc và thế giới.
Chơng 3 Quan niệm của Phạm Quỳnh về tiểu thuyết, thơ, kịch.
Trang 15Chơng 1
Vị TRí CủA PHạM QUỳNH TRONG BốI CảNH HIệN ĐạI HóA VĂN HọC DÂN TộC
1.1 Phạm Quỳnh - vài nét về tiểu sử
Phạm Quỳnh sinh 1892, mất 1945, hiệu là Thợng Chi, bút danh là Hoa
Đờng, Hồng Nhân, quê gốc ở làng Lơng Ngọc, phủ Bình Giang, tỉnh Hải
D-ơng (nay là xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải DD-ơng) Ông sinh tại
Hà Nội, số nhà 1 phố Hàng Trống, bên Hồ Hoàn Kiếm, thân phụ là Phạm Hữu
Điển, một nhà nho dạy học Sinh ra trong một gia đình Nho học, Phạm Quỳnh
đã đợc thừa hởng truyền thống hiếu học của gia đình
Cuộc đời của Phạm Quỳnh đã sớm gặp những bất hạnh từ lúc còn tuổithơ, mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha khi lên 9 tuổi, từ đó ông phải sốngcuộc đời cơ cực không có cha mẹ Ông đợc lớn lên trong sự yêu thơng chămsóc, cho ăn học rất chu đáo của bà nội
Phạm Quỳnh vào học Pháp văn ở trờng Thông ngôn Hà Nội Sau đó, ờng này hợp nhất với trờng Thành Chung Nam Định thành trờng Thành Chung(tức trờng Bởi, còn gọi là trờng Thông ngôn)
tr-Năm 1908, Phạm Quỳnh tốt nghiệp thủ khoa khóa đầu tiên của trờngThành Chung Bảo hộ Tuy mới 15, 16 tuổi nhng ông đã chính thức trở thànhcông chức, làm thông ngôn ở trờng Viễn Đông bác cổ Hà Nội Tại đây ông cócơ hội đọc đợc nhiều sách và học thêm chữ Hán
Năm 1909, Trờng Viễn Đông bác cổ cử ông sang Pháp làm chức trợ chogiáo s Deloustal, giảng dạy tại khoa tiếng An Nam Trờng Phơng Bắc Ngữ, nh-
ng vì mới lập gia đình với bà Lê Thị Vân quê ở Bắc Ninh nên ông không đi.Phạm Quỳnh là cha của 16 ngời con, trong đó có những ngời nổi tiếng màchúng ta đã biết nh nhạc sĩ Phạm Tuyên, thầy thuốc nhân dân Phạm Khuê,tiến sĩ văn chơng Phạm Thị Ngoạn
Năm 1913, ông cộng tác viết một số bài dịch thuật văn học và t tởng
cho tờ Đông Dơng tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh
Năm 1917 - 1932, với sự bảo trợ của Louis Marty, Trởng phòng Chính
trị phủ Toàn quyền Pháp, Phạm Quỳnh đứng ra thành lập Nam phong tạp chí
tuyên truyền cho t tởng “Pháp - Việt đề huề”, làm chủ nhiệm kiêm chủ bút,chuyên viết mục luận thuyết và dịch văn chơng Pháp
Trang 16Năm 1922, Phạm Quỳnh còn là ngời tham gia sáng lập và làm Tổng th
kí hội Khai trí tiến đức Mục đích và tôn chỉ của hội là “mở mang trí tuệ”
(Khai trí), “bồi dỡng đạo đức” (Tiến đức) trớc hết là cho các hội viên của
mình, sau đó là cho toàn dân Hình thức sinh hoạt theo kiểu câu lạc bộ ngàynay, chủ yếu là diễn thuyết, nói chuyện, bình văn và một số hình thức giải trí
nh cờ ngời, tổ tôm Do tài năng và đức độ của những ngời sáng lập nh PhạmQuỳnh, Bùi Kỷ cho nên Hội quy tụ đợc nhiều nhân tài, có ảnh hởng lớn trongxã hội, nhất là trong giới trí thức cả cựu học lẫn tân học Đóng góp lớn nhất
của Hội là đã xuất bản đợc Từ điển tiếng Việt đầu tiên, và gây ảnh hởng lớn
đến sinh hoạt văn hóa trong nớc thời ấy Một số tỉnh cũng học theo mà mở các
hội nh Hội Quảng Tri ở Huế, Nhà Xéc (Cercle) ở Quy Nhơn, Vinh Đặc biệt, năm 1924, Phạm Quỳnh đề nghị Hội Khai trí tiến đức tổ chức lễ kỷ niệm
Nguyễn Du vào dịp giỗ mồng mời tháng tám (8/9/1924), đây cũng là lễ kỷniệm trọng thể nhất, đợc đông đảo ngời dân tham dự nhất từ trớc đến nay Đó là
sự kiện vang bóng một thời hoàng kim của Hội Khai trí tiến đức
Trong thời gian này, Phạm Quỳnh đợc cử sang Pháp với t cách đại diện
Hội Khai trí tiến đức dự Hội chợ triển lãm Mareille, lên Paris ở lại ba tháng, diễn thuyết nhiều lần trớc Ban Chính trị và Ban Luân lí của Viện Hàn lâm
Pháp về vấn đề “Dân tộc giáo dục” Năm 1925, Phạm Quỳnh ly khai với Hội,không đăng bài ở Kỷ yếu của Hội và diễn thuyết tại đây nữa
Cũng vào thời kỳ này, năm 1924 - 1932, ông làm giảng viên khoa Vănchơng và Ngôn ngữ Hán - Việt, trờng Cao đẳng Hà Nội
Năm 1925 - 1928, Phạm Quỳnh giữ cơng vị Hội trởng Hội Trí tri Bắc
Kỳ
Năm 1926, ông làm nhân viên Hội đồng t vấn Bắc Kỳ Năm 1929, đợc
cử vào Đại hội Kinh tế Lý tài Đông Dơng, cùng với ông Nguyễn Văn Vĩnh
Năm 1930, trớc phong trào nổi dậy của nhân dân Việt Nam phản đốichính quyền Pháp ở Việt Nam, Phạm Quỳnh đề xớng lập hiến, đòi ngời Phápphải thành lập hiến pháp để quy định rõ ràng quyền căn bản của ngời dânViệt, vua quan Việt và chính quyền Bảo hộ Pháp
Năm 1931, Phạm Quỳnh đợc cử làm Phó Hội trởng, Hội Địa d Hà Nội.
Từ năm 1931- 1932, ông còn làm Tổng Th ký, ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ
Tháng 11 năm 1932, Phạm Quỳnh đợc mời vào Huế nhận chức Đổng lýNgự tiền văn phòng cho vua Bảo Đại theo ý đồ cải cách chính trị của Pháp,
Trang 17sau đó giữ chức Thợng th Bộ Học và cuối cùng giữ chức Thợng th Bộ Lại(1944 - 1945)
Năm 1939, ông cùng với vua Bảo Đại sang Pháp yêu cầu chính phủPháp trả lại Bắc Kỳ cho triều đình Huế (theo đúng Hiệp ớc 1884 Pháp - Việt
tập Hoa Đờng tùy bút - Kiến văn, cảm tởng I, và bài Cô Kiều với tôi…
Nh vậy, sau gần 30 năm lăn lộn trên trờng văn học và chính trị (1917 1945), chắc chắn Phạm Quỳnh đã phải đối đầu với nhiều sự tình éo le, gâycấn, cho nên trong những trang viết cuối cùng dang dở này cho thấy những
-điều ông nói đến nh Thế thái nhân tình, Văn học và Chính trị, Muốn sống, Con ngời hiểm độc, Anh chàng khoác lác, Lão Hoa Đờng, Thiếu Hoa Đờng
đều gần nh là những lời tâm sự ông rút từ ruột gan mình muốn thổ lộ, nhắn gửi
với ngời đời sau Hoa Đờng tùy bút - Kiến văn, cảm tởng I, và bài Cô Kiều với tôi, là bản thảo đầu tiên ông viết chỉ để mình đọc, cha phải để đa đi in Tên
bản thảo có ghi rõ số I, tức ý ông sẽ còn viết nhiều tập nh thế nữa Nhng chẳngmay, ngay tập I cũng cha hoàn thành, vẻn vẹn chỉ có 47 trang giấy
Thợng Chi ôm ấp hoài bão trở lại với văn chơng đã bị gián đoạn một thờivì thế cuộc nhng đã dở dang không thành
Một sáng vào ngày 32 tháng 8 năm 1945, ông bị Việt Minh bắt đi vàgiam ở lao Thừa Phủ, Huế Đó là cuộc ra đi mãi mãi, Phạm Quỳnh đã khôngbao giờ trở về đợc nữa… Cho đến 11 năm sau, năm 1956 gia đình mới tìmthấy di hài của Phạm Quỳnh trong khu rừng Hắc Thú thuộc tỉnh Quảng Trị.Sau đó, di hài của ông đợc gia đình đa về cải táng vào ngày 9 tháng 2 năm
1956 tại Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phớc - ngôi chùa mà lúc sinhtiền, khi đang ở cơng vị là Đổng lý Ngự tiền và Thợng th Bộ Học, nhà chùa đãdành cho ông một căn phòng riêng để mỗi khi có việc căng thẳng, PhạmQuỳnh thờng lui tới đây di dỡng, đọc sách, nghỉ ngơi hoặc suy ngẫm về vănchơng, về cuộc đời và thế sự Trên bia mộ chí của Thợng th Bộ Học - Phạm
Trang 18Quỳnh ghi chú bằng Hán tự thật đơn giản: “Nam phong chủ bút Phạm Quỳnh Thợng Chi di thể ”
Đến nay, đã có rất nhiều giả thuyết đa ra để nhằm xác minh lại cái chết
của học giả họ Phạm: Cuốn “Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội từ thế kỷ XI
đến giữa thế kỷ XX”, mục về Phạm Quỳnh cho rằng: Cách mạng tháng Tám
-1945 chính quyền nhân dân đã khép ông án tử hình Nhng lại có ý kiến kháccho rằng: Khi đợc lệnh của Cách mạng cấp tốc di dời Phạm Quỳnh ra khỏi Cố
đô để đề phòng những chuyện bất trắc không hay sau này, một nhóm du kíchtrong quá trình áp tải ông, sợ biệt kích của Pháp giải thoát, họ sợ không hoànthành trách nhiệm di dời nên đã vội tìm cách thủ tiêu ông mà không kịp chờlệnh cấp trên Hoặc trong số những ngời đi áp tải Phạm Quỳnh, vốn đã có mốihiềm thù cá nhân với ông từ lâu nên lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán.Lại có nguồn tin cho rằng, vì Pháp cho biệt kích tìm Phạm Quỳnh nhng nhómnày bị bắt và đã để lộ thông tin, và Phạm Quỳnh bị dân quân địa phơng giết
Dù đã có rất nhiều ý kiến đa ra để nhằm xác minh lại sự thật về cái chết
đầy bí ẩn của một con ngời từng đợc gây ra nhiều cuộc tranh cãi này, nhng
đến nay vẫn cha có một tài liệu nào công khai một cách đầy đủ, rõ ràng, có cơ
sở khoa học chính xác để minh chứng cho cái chết của học giả Phạm Quỳnh.Vì thế, cái chết của ông vẫn còn để lại một dấu hỏi lớn cho lịch sử nớc nhà
Đó hẳn là “nỗi uẩn khúc” cuối cùng của ông chủ báo Nam phong
Có thể nói, cuộc đời của Phạm Quỳnh đã trải qua những bớc thăngtrầm, éo le, uẩn khúc Ngời ta nói rằng, bi kịch của Phạm Quỳnh là ở chỗ, ông
đã đem cái hồn nhiên của một ngời làm công tác văn học vào sân khấu chínhtrị, ôm cái ảo tởng chân lí sẽ thắng cờng quyền, tin vào việc đấu tranh bằngnghị trờng, bất bạo động sẽ giành đợc chủ quyền cho Tổ quốc Bi kịch ấy làhậu hoạ của một thứ ảo tởng! Chính trị không giản dị nh thế! Thực ra ông chỉ
là một nhà văn - nhà báo - nhà giáo dục và học giả giỏi chứ không có cái năngkhiếu, sở trờng lẫn sở thích của một ngời hoạt động chính trị dù theo chủ
nghĩa cải lơng hay cách mạng Khi viết bài “Trả lời lại bài Cảnh cáo các nhà học phiệt của Phan Khôi tiên sanh ” (đăng trên báo Phụ nữ tân văn số 62, ra
ngày 24/7/1930) chính Phạm Quỳnh đã xác định lại thái độ chính trị củamình, là chỉ làm văn hóa chứ không làm chính trị: “Tôi vốn là nhà làm văn,nhà học vấn Cái chủ nghĩa tôi phụng sự bấy lâu nay - kể có trên dới mời lămnăm trời thật là dốc một lòng, chuyên một dạ - chính là chủ nghĩa quốc gia,
Trang 19nhng chỉ mới phụng sự về phơng diện văn hóa, cha hề chuyển sang phơng diệnchính trị Vì tôi chỉ chuyên chủ về một việc tài bồi quốc văn nh vậy, cho nênthật không để chí vào việc chính trị Ai bình phẩm tôi về chính trị là bìnhphẩm sai cả Tôi cho là bất túc kính trọng, nên không hề đối đáp, không hề cảichính bao giờ” [56]
Ngay cả những ngời lúc bấy giờ đợc coi là bên kia giới tuyến, ôngthống sứ Trung Kỳ Healewyn trong báo cáo ngày 8 tháng Giêng năm 1945 gửicho đô đốc Decoux và cho Tổng đại diện Modant ở Đông Dơng, đã nói vềPhạm Quỳnh nh sau: “Vị thợng th này (Phạm Quỳnh) vốn đã chiến đấu suốt
đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói cho việc ngời Việt Nam nắm trong tayvận mệnh của chính mình dới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con ngời đó
là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừnghòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nớc chân thành và kiên định của ông
ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cơng vị danh dự hoặc trả lơng một cáchhậu hĩ Cho tới nay, đó là một địch thủ thận trọng nhng cơng quyết chống lại
sự đô hộ của nớc Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoannhợng” [4]
Nhng sự thất bại chính trị đã không làm hại đến uy tín của con ngời vănhóa Phạm Quỳnh, gây nên nhiều cách đánh giá khác nhau của hậu thế về nhâncách cùng sự nghiệp của ông Bỏ qua tất cả mọi vấn đề thuộc về quan điểmlập trờng cùng thái độ, phơng châm dấn thân, ai cũng dễ dàng nhận thấy vềphơng diện cá nhân, Phạm Quỳnh là một con ngời suốt đời làm việc siêngnăng tận tụy, con ngời có kiến thức uyên thâm, có vốn văn hóa rộng rãi, conngời có phong cách sống giản dị, không nặng nề phô trơng hình thức Tơngtruyền, mỗi lần đọc sách Phạm tiên sinh đều ngồi ngay ngắn ở bàn trớc một lòtrầm và mặc khăn đen áo dài nh đang cử hành một nghi lễ Quốc phục khăn
đen áo dài luôn luôn đợc ông mặc nhắc chúng ta đến tấm lòng yêu bản sắc
n-ớc nhà của cụ Phạm Cũng với bộ quốc phục đó trên đất Paris ông đã từng làmcho trí thức Pháp phải trầm trồ khen ngợi Khi khăn đen áo dài diễn thuyết tr-
ớc Quốc hội Pháp để đòi hỏi cho nền độc lập văn hoá của Việt Nam, PhạmQuỳnh chỉ là một ký giả quèn, tốt nghiệp trung học nhng đã làm trí thức Phápkính nể với ngôn ngữ khúc chiết, lí luận đanh thép và lòng yêu nớc Có ngờicho rằng đó là tính bảo thủ cố chấp nhng nhìn nhận ở một góc độ khác, nhất làvới một thanh niên Tây học, ta mới thấy quí một nếp nhà còn đợc gìn giữ và tự
Trang 20hào Đúng nh Phạm Thế Ngũ đã từng nhận xét: “Con ngời đã đóng một vai tròtơng đối tiến bộ trong một giai đoạn lịch sử chính trị và nhất là đã dày côngxây đắp cho một nền văn học mới” [51, 170]
Xét về phơng diện đó, nếu có ai muốn xếp Thơng Chi vào hạng chínhnhân quân tử thì cũng không phải là điều quá đáng!
1.2 Sự nghiệp văn học của Phạm Quỳnh
Phạm Quỳnh đã để lại một sự nghiệp văn hóa đồ sộ Ông là tác giả vàdịch giả của nhiều bài viết, sách văn học, triết học và tùy bút Gần nh toàn bộ
các tác phẩm của Phạm Quỳnh đều đăng trên Nam phong tạp chí.
Năm 1942, trong thời gian đang làm quan ở Huế, Phạm Quỳnh đã thu
thập một số bài viết có giá trị của mình và in thành hai bộ sách: Th“ ợng Chi văn tập” và Nam phong tùng th“ ” Nhng phần lớn các bài viết chính yếu của
ông còn rất nhiều trong 210 tập báo Nam phong Cả cái văn nghiệp của Phạm
Quỳnh đều xuất hiện trên Nam phong tạp chí Tạp chí ấy trong một thời kỳ đã
thành đợc một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đíchvới Phạm Quỳnh
Nam phong tạp chí, trong 17 năm tồn tại (1917 - 1934) ra đợc 210 số,
mỗi số hơn 400 trang Nó đợc xem nh là một bách khoa toàn th (Vũ ngọc
Phan trong Nhà văn hiện đại”) Mục đích của Nam phong là thể hiện chủ
nghĩa khai hóa của nhà nớc, biên tập những bài Quốc văn, Hán văn, Pháp văn,
để giúp mở mang tri thức, giữ gìn đạo đức, bảo tồn quốc hồn, quốc túy trongquốc dân Việt Nam và truyền bá các môn khoa học phơng Tây, nhất là họcthuật t tởng Đại Pháp, cùng bênh vực quyền lợi của ngời Pháp và ngời AnNam trong trờng kinh tế Đặc biệt chú ý đến sự luyện tập, trau dồi văn quốcngữ để ngời Việt sớm có một nền quốc văn riêng biệt Phạm Quỳnh là ngời
viết nhiều nhất trong Nam phong tạp chí, với con số lên tới hàng chục ngàn
trang Phạm Quỳnh đã trở thành một nhà ngôn luận có khả năng bàn một cáchrành mạch và có sức thuyết phục về nhiều lĩnh vực nh: Chính trị, kinh tế, triếthọc, giáo dục, trong đó nhiều nhất phải kể đến lĩnh vực văn hóa, văn học Có
thể khẳng định rằng, ngời có công đóng góp nhiều nhất cho Nam phong tạp chí chính là Phạm Quỳnh: “Nam phong tạp chí đợc rực rỡ nh thế cũng vì đợc
ngời chủ trơng là một nhà văn, học vấn đã uyên bác, lại có biệt tài, có lịchduyệt Thật thế, Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận một cách vữngvàng và sáng suốt bất cứ một vấn đề gì, từ thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo,
Trang 21cho đến chính trị, xã hội, không một vấn đề nào là ông không tham khảo tờngtận trớc khi đem bàn trên mặt giấy Phạm Quỳnh là hồn của tạp chí Namphong thuở xa” [54, 111].
Ngày nay, muốn khảo sát những tác phẩm Phạm Quỳnh đã viết, ngời tacần phải liệt kê phân loại khá phức tạp Vũ Ngọc Phan đã chia thành bốn loại,bên cạnh những bài biên tập có tính cách chính trị xã hội, lịch sử, triết học,những bài có tính cách văn học là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp trớc táccủa Phạm Quỳnh bao gồm:
Khảo cứu: Văn học nớc Pháp và khảo về tiểu thuyết (Nam Phong
tùng th, 1929); Pháp văn thi thoại: Baudelaire tiên sinh (N.P số 6 tháng 12
1917); Một nhà danh sỹ nớc Pháp: ông Pierre Loti (N.P số 72 tháng 6
-1929); Một nhà văn hào nớc Pháp: ông Antole France (N.P số161 - tháng 4
- 1931)
Dịch thuật: Ôi thiếu niên (truyện ngắn của G.Courteline), ái tình
(truyện ngắn của Guy de Maupassant), Cái buồn của một tên tù già, Thơng hảo (truyện ngắn của Loti - Nam phong tùng th, 1929); Chuyện trên xe lửa (Dịch trong thuyết bộ của Guy de Maupassant - Nam phong số 158 - tháng 1
- 1931); Chàng ngốc hóa khôn vì tình (Hài kịch dịch trong kịch bộ của Maurivaux - Nam phong số 45 - tháng 3 - 1921); Tuồng Lôi Xích (Le cid của Pierre Corenille N.P số 38 và 39 - tháng Tám - Chín 1920); Tuồng Hòa Lạc
(Horace của P Corneille N.P số 73, 74 và 75 - tháng 7, 8, 9 năm 1923)
Trớc thuật: Ba tháng ở Paris (Du ký, Nam Phong tùng th, 1927); Tục
ngữ ca dao (Soạn và biên tập, N.P.T.T, 1932).
Bình luận: Bàn về quốc học (N.P số 163 - tháng Sáu 1931); Bàn về sự
dùng chữ Nho trong văn quốc ngữ (N.P số 20 tháng Hai 1919); Bình phẩm Một tấm lòng của Đoàn Nh Khuê (Nam Phong số 2 - tháng Tám 1917); Mộng hay Mỵ? (Phê bình Giấc mộng con của Nguyễn Khắc Hiếu; N.P số 7 -tháng Giêng 1918); Hoàn cảnh (N.P số 90 tháng 12 - 1924); Trả lời bài: Cảnh cáo các nhà học phiệt trong Phụ nữ tân văn (N.P số 152 - tháng Bảy 1930); Lịch
sử nghề diễn kịch ở Pháp; Bàn về hí kịch của ông Moliere (N.P số 35 - tháng Năm 1920); Pháp văn tiểu thuyết bình luận (Phục thù cho cha) (N.P số 9 -
tháng Ba 1918)…
Có thể khẳng định rằng, sự nghiệp trớc tác của Phạm Quỳnh quả thậtphong phú với nhiều thể loại trên nhiều lĩnh vực khác nhau Một điều dễ nhận
Trang 22thấy là những bài viết của ông không cẩu thả, vững vàng, chắc chắn, làm chongời đọc có lòng tin cậy, vì thế nó đã vợt qua sự ràng lọc của thời gian, củanhững định kiến để trờng tồn cho đến hôm nay và mai sau.
1.3 Vị trí của Phạm Quỳnh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học dân tộc
1.3.1 Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX trớc sự xâm lợc của thực dân
Pháp, cơ cấu xã hội Việt Nam đã có sự biến đổi sâu sắc trên tất cả các mặt vềvăn hóa, kinh tế, chính trị Đặc biệt, đối với văn học, nhà văn và công chúng
có quan hệ gắn bó hơn Phê bình văn học ra đời và phát triển trên báo chí Cácquan điểm, các thị hiếu văn học có điều kiện cọ xát với nhau Đời sống vănhọc trở nên sôi nổi hơn, khẩn trơng hơn Nhân vật trung tâm trong đời sốngvăn hóa thời kỳ này chủ yếu là tầng lớp trí thức Tây học Chủ yếu thông quatầng lớp này, ảnh hởng của các trào lu t tởng, văn hóa, văn học của thế giớiphơng Tây hiện đại (đặc biệt là của Pháp) ngày càng thấm sâu vào ý thức ngờilàm văn, đọc sách Tất cả những điều kiện trên giải thích vì sao nền văn họcViệt Nam phải nhanh chóng hiện đại hóa Đấy là một đòi hỏi tất yếu, kháchquan của lịch sử văn học dân tộc ta trong thời đại mới Vậy hiện đại hóa vănhọc là gì? Từ trớc đến nay, đã có khá nhiều định nghĩa về khái niệm này Giáo
s Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định: “Theo nghĩa phân biệt với khái niệm vănhọc trung đại Văn học hiện đại có nghĩa là thoát khỏi hệ thống thi pháp củavăn học trung đại để xác định một hệ thống thi pháp mới, thi pháp văn học
hiện đại” [16, 4] Tác giả Vơng Trí Nhàn trong Tạp chí Văn học (số 1/2001)
cho rằng: “Khái niệm văn học hiện đại trong nghiên cứu văn học, theo chúngtôi nên dành để chỉ văn học Việt Nam thế kỷ XX” [16, 5]
Nh vậy, định nghĩa hiện đại hóa đợc hiểu theo những nội hàm rộng hẹpnhiều khi khác nhau Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự không thốngnhất trong việc xác định mốc khởi đầu của văn học hiện đại Nhng có thể xem,giai đoạn đầu thế kỷ XX với cái mốc cụ thể tính từ năm 1900 trở đi, là giao
điểm của sự chuyển đổi những giá trị vật chất cũng nh tinh thần trong đờisống Đặc biệt, có thể xem đó là giai đoạn có sự chuyển biến về mặt t duy nhàvăn Lịch sử văn học gọi đây là giai đoạn giao thời Thực ra, năm 1900 khôngphải là cái mốc thời gian bất biến, chính xác mà nó chỉ mang ý nghĩa tợng tr-
ng, xác định cho một giai đoạn mới của xã hội Việt Nam nói chung và vănhọc Việt Nam nói riêng Vì đó không phải là một lát cắt rạch ròi cho nên, giai
Trang 23đoạn văn học đó đợc gọi là giao thời, tức là nó có sự tồn tại song song của hainền văn học cũ và mới, với hai kiểu lực lợng sáng tác, công chúng, hai kiểuquan niệm văn học, không có những nhân tố của giai đoạn giao thời, khôngthể có những thành tựu rực rỡ trong giai đoạn 1930 - 1945 ở giai đoạn giaothời này, yêu cầu cách tân trên mọi phơng diện của nền văn học đợc đặt ra gaygắt, trong đó nổi lên hàng đầu là yêu cầu cách tân thể loại Bên cạnh nhữngthể loại mới mẻ du nhập từ văn học phơng Tây, có những thể loại đã tự biến
đổi phơng thức thể hiện để thích ứng với nền văn học hiện đại và đáp ứng đợcthị hiếu của độc giả đơng thời Thể văn xuôi nghị luận (gồm lý luận, phê bình,nghiên cứu văn học) cũng nằm trong số đó
Lý luận phê bình văn học Việt Nam thực sự có dấu hiệu hiện đại khi cóquá trình tiếp xúc và mở rộng giao lu văn hóa với phơng Tây Đây đợc xem làbớc đệm chuẩn bị tiền đề quan trọng cho sự phát triển của phê bình văn học ởcác thời kỳ tiếp sau theo hớng hiện đại hóa
Hiện đại hóa lý luận, phê bình văn học dần dần hiện rõ trên tờ Đông
D-ơng tạp chí (1913) và Nam phong tạp chí (1917) với những bài giới thiệu sách
mới, phân tích, đánh giá văn học Pháp, khảo cứu về văn minh học thuật ĐôngTây của Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Tản Đà… Nửa
đầu thế kỷ XX khuynh hớng phê bình hiện đại ban đầu chỉ là bớc khởi động.Dần dần dấu hiệu phân hóa thành các khuynh hớng khác nhau trong phê bìnhvăn học tơng đối rõ ở thời kỳ này, đặc biệt là vào khoảng mời năm cuốinhững dấu hiệu của một nền phê bình mới đã xuất hiện ngày càng rõ nét bêncạnh lối phê bình cũ Từ năm 1932 trở đi, nghiên cứu, lý luận, phê bình vănhọc thực sự đã có đóng góp một vai trò quan trọng trong đời sống văn học
Đội ngũ các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học cũng đông dần lên.Khuynh hớng phê bình hiện đại dần dần khẳng định vị trí vững chắc của nótrong đời sống văn học trên cả hai phơng diện tác giả và tác phẩm, là bớc tiếnkhi các tác giả ý thức đợc những công cụ và phơng pháp phê bình cũ, vốn đợc
sử dụng, đã tỏ ra kém hiệu quả, cần đợc thay thế Vì thế, các nhà phê bình đãmạnh dạn đề xớng lối t duy và những phơng pháp phê bình hiện đại để phêbình văn học qua các biểu hiện: Lối phê bình khoa học xuất hiện đợc xem nh
là một hiện tợng mới, phi truyền thống, tức là cha hề có trong văn học cổtruyền của ta Tăng cờng t duy phân tích lí luận, sử dụng một số khái niệmmang tính chất công cụ để tiếp cận đối tợng Văn học với t cách là một đối t-ợng nghiên cứu của khoa học văn học đợc soi ngắm từ nhiều góc độ: xã hội,văn hóa, thẩm mỹ Nền văn học Việt Nam phát triển nhanh, liên tục theo hớng
Trang 24hiện đại hóa đòi hỏi phê bình văn học cũng phải trở thành một hoạt độngchuyên sâu Những hoạt động nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học trở nênsôi động Cùng với lĩnh vực phê bình văn học, các bài viết có tính chất lý luậnvới chức năng hớng dẫn, định hớng d luận ngày càng bộc lộ rõ trong nhiều bàiviết Nhiều tác phẩm tiêu biểu gắn với những tên tuổi phê bình có tiếng nh:Thiếu Sơn, sau Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn đợc coi là một trong những ngời mở
đầu cho phê bình văn học hiện đại bằng chữ quốc ngữ ở Việt Nam, DơngQuảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh… Nghiên cứu, lý luận, phê bình vănhọc đã tạo ra một môi trờng văn học cần thiết để tự đổi mới mình, hơn nữa nócòn có ý nghĩa tác động mạnh mẽ vào việc đổi mới các thể loại khác nh tiểuthuyết, kịch, thơ Là giai đoạn mang tính bản lề, những bớc khởi động, phêbình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX có ý nghĩa “mở đờng, khai phá”cho một nền phê bình hiện đại Việt Nam sau này Khép lại sau lng mình cả 9thế kỷ văn học để mở ra phía trớc một thời kỳ mới với những thành tựu vàkinh nghiệm sẽ còn ảnh hởng lâu dài trong tơng lai: thời kỳ văn học hiện đạitrong quan hệ rộng rãi với nhiều nền văn hóa trên thế giới Trên hành trình ấy
có sự đóng góp không nhỏ của giới sáng tác, phê bình, trong đó học giả PhạmQuỳnh đợc xem là một nhà nghiên cứu lý luận, phê bình tiêu biểu Sự nghiệptrớc tác của học giả Phạm Quỳnh là một cột mốc trên hành trình đó
1.3.2 Bằng sự đóng góp của mình, Phạm Quỳnh đợc xem là một trong
những cây bút “khai sơn phá thạch” cho nền văn học mới Các hoạt động nhphê bình văn học, khảo cứu, dịch thuật, và truyền bá những tri thức nền vănhóa phơng Tây vào Việt Nam của học giả họ Phạm với phong trào chữ Quốc
ngữ đợc cổ động trên Nam phong tạp chí đợc xem nh một luồng gió mới, khi
nền văn học nớc ta còn non trẻ
Khi đánh giá chung về vị trí của Phạm Quỳnh đối với nền văn học dân
tộc, Dơng Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu đã đặt ông bên cạnh Nguyễn Văn Vĩnh (nhóm Đông Dơng tạp chí) để đa ra những kết luận
cho chơng sách của mình: “Ông Quỳnh thì có công dịch thuật các học thuyết
t tởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt đợc các ý tởngmới Đối với nền văn hóa cũ của nớc ta thì ông Vĩnh hay khảo cứu nhữngphong tục tín ngỡng của dân chúng, mà ông Quỳnh thờng nghiên cứu chế độ,văn chơng của tiền nhân Văn ông Vĩnh có tính cách giản dị của một nhà vănbình dân, văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả Tuy văn
Trang 25nghiệp của mỗi ngời có tính cách riêng, nhng cả hai ông đều có công với việcthành lập quốc văn vậy” [23, 419]
Sự nghiệp trớc tác của Phạm Quỳnh đã để lại giá trị lớn đối văn chơngViệt Nam Trớc Dơng Quảng Hàm, Phạm Quỳnh đã viết về nhiều vấn đề cụthể cho văn học nớc nhà Hồi đợc giao cho việc giảng dạy ở trờng Cao đẳng
Đông Dơng (1924), Phạm Quỳnh đã đề ra một chơng trình “Ngôn ngữ và văn chơng Hán Việt” khá chi tiết trong đó bao gồm việc nghiên cứu từ chữ Nôm
chữ Hán tới văn học sử Tàu, Tống nho, Minh nho, ảnh hởng của tâm t, rồi cáclối tản văn mới các báo chí viết bằng quốc ngữ Theo nhận định của nhà vănhọc sử Phạm Thế Ngũ, Phạm Quỳnh đã có ảnh hởng rất lớn đối với tác giảcùng thời, đặc biệt với nhà nghiên cứu Dơng Quảng Hàm khi viết tác phẩm
Việt Nam văn học sử yếu Dơng Quảng Hàm đã đem cái chơng trình trên (của Phạm Quỳnh) tỉa rút bớt chỉ nêu ra những điểm yếu lợc để làm nên Việt Nam văn học sử yếu Trong quyển văn học sử có thể coi là quy mô đầu tiên này của Dơng Quảng Hàm, hơn một nửa số tài liệu đã đợc tham khảo sử dụng từ Nam phong tạp chí, còn về bố cục và nội dung thì phảng phất gần đúng với bản ch-
ơng trình Ngôn ngữ và văn Hán Việt“ ” do Phạm Quỳnh vạch ra năm 1924 đểdùng cho việc giảng dạy của ông ở trờng Cao đẳng Đông Dơng, mà ngời ta coi
là mầm mống của những môn thuộc văn khoa Việt Nam sau này Năm 1942,
khi xuất bản bộ sách Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã dành cho Phạm
Quỳnh nhà văn đến hơn ba mơi trang sách với những lời ca ngợi liên quan đếncông trình khảo cứu, dịch thuật, du ký và bình luận: “Nếu chỉ tính riêng cáicông việc thành lập quốc văn thôi thì cũng đã là một công lao đóng góp khôngnhỏ” [54, 109] Vũ Ngọc Phan nhận định: “Một cây bút sắc sảo mà phê bìnhtheo lối ấy, tất nhiên có ích cho những ngời hiếu học, có thể hớng dẫn cho ng-
ời ta khỏi lầm đờng Lối phê bình của Phạm Quỳnh ai cũng nhận thấy là mộtlối thật trang nhã, trang nhã cả ở những chỗ chê bai lời của ngời có học thâmthúy đem so với lời ngời ít học chẳng khác nào đem sợi tơ mà so với sợi gai.Lời phê bình của Phạm Quỳnh chính là sợi tơ đó” [54 104] Với ngòi bút phêbình nhạy bén, ông có công khuấy động thêm không khí sáng tác và thởngthức văn chơng nớc ta những năm đầu thế kỷ XX
Phạm Quỳnh thuộc vào thế hệ những nhà phê bình mở đầu, thế hệ khai
phá, mở đờng cho nền phê bình hiện đại Ngày từ năm 1933, trong Phê bình
và cảo luận, Thiếu Sơn đã ghi công cho Phạm Quỳnh: “Những công trình về
Trang 26văn học, triết học của Âu châu và nhất là của nớc Pháp, ông diễn dịch ra quốcvăn rất nhiều, mà dịch thật đúng thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý củatác giả, lại vừa lựa theo cái giọng điệu của quốc văn” [60, 19] Xét phần họcthuật, nếu chúng ta thực sự sòng phẳng, công bằng trong cảm nhận, chúng ta
sẽ thấy phải ghi công cho ông Vào khoảng những năm hai mơi, khi PhạmQuỳnh đang viết nhiều viết khoẻ, nền học thuật ở ta còn ở tình trạng rất phôithai Đứng trớc ngổn ngang công việc và mọi khó khăn bày ra phía trớc, ông
có vai trò thật sự của một ngời mở đờng Sự thao túng của ông đối với đờisống văn học công khai là điều ai cũng phải công nhận kể cả ngời cho là haylẫn ngời cho là dở Sở dĩ đây đó một hai ngời còn gọi ông là một thứ đạo s củanền văn nghệ đơng thời, là bởi lẽ đó Phạm Quỳnh không để lại những côngtrình “dài hơi” (chữ của Phạm Thế Ngũ) Nhng đặt ông vào hoàn cảnh nớcViệt Nam đầu thế kỷ, ngời ta thấy ông khá nhạy bén và thực sự là đã giớithiệu có phân tích có chọn lọc những tri thức phổ thông trong sách vở phơngTây đơng thời
Trong sự nghiệp trớc tác, học giả Phạm Quỳnh bàn luận về nhiều lĩnhvực văn hóa, khoa học của cả phơng Đông và phơng Tây, là ngời viết nhiềubài lý luận, phê bình, giới thiệu Baudelaire, Pierre Loti, Antone - France,Voltaire, Rousseau cho công chúng Việt Nam, đồng thời giới thiệu văn học
Việt Nam cho công chúng Pháp Ông phê bình Một tấm lòng của Đoàn Nh Khuê (Nam phong, số 2, năm 1917), Khối tình con (1915), Giấc mộng con (1918) của Nguyễn Khắc Hiếu, Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn (1918), phê bình Truyện Kiều của Nguyễn Du (1919) Đồng thời, Phạm Quỳnh còn
khảo cứu, bình luận về lịch sử văn chơng Pháp, về nghề văn, về cách viết tiểuthuyết, về thơ, kịch Phê bình, khảo cứu tuy không dài, nhng sáng suốt, lờinghị luận của ông dồi dào, mạch lạc và chặt chẽ, có tính gợi ý, định hớng chobớc hình thành và phát triển văn mới ở nớc ta theo mẫu hình văn học phơngTây Đầu thế kỷ XX, lối phê bình văn học của Phạm Quỳnh là một lối phêbình văn học mới lạ Chính Phạm Quỳnh cũng tự nhận mình là thuộc “độiquân phá đờng mở lối, là quân tiên phong của đội binh những nhà làm văn vềsau này” Phạm Quỳnh đã vận dụng phơng pháp phân tích văn học của phơngTây vào nghiên cứu văn học Việt Nam Ông đã vận dụng những thao tác, ph-
ơng pháp phân tích văn học của phơng Tây một cách sáng rõ, mạch lạc, trêntinh thần duy lý, tuy vẫn còn mang tính chất thô sơ, đơn giản của buổi ban đầunhng có ý nghĩa khai phá, mở đờng cho nền phê bình hiện đại ở nớc ta Trong
Trang 27bài Truyện Kiều, Phạm Quỳnh đã nói rõ chủ trơng học tập cái hay của tri thức,
phơng pháp, kỹ thuật phơng Tây để làm giàu thêm cho mình: “Phải dùng phépphê bình khảo cứu văn học Thái Tây mới mong phát triển đợc cái đặc sắc, bày
tỏ đợc giá trị của một nền tuyệt tác trong quốc văn Việt Nam ta” [55, 551].Chủ trơng này đợc ông thực thi bằng sự chuyển đổi về phơng pháp phê bình,
từ lối điểm bình phơng Đông truyền thống thờng bám sát các sáng tác cụ thể,tập trung vào một vài phơng diện nghệ thuật để điểm bình cái hay, cái đẹp củangôn từ, hình ảnh, tìm từ hay, chữ đắt, “nhãn tự”, “nhãn cú” của văn bản nghệthuật sang lối t duy phân tích của phơng Tây Tiếp thu t tởng phơng Tây,
Phạm Quỳnh đã thực hành phơng pháp phê bình mới trong bài viết về Truyện Kiều (1919), có thể xem là cột mốc của phơng pháp phê bình hiện đại Việt Nam Ông đã tiếp cận tác phẩm từ nhiều góc độ: Cội rễ Truyện Kiều (nhìn tác phẩm trong mối quan hệ với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân), Lịch sử tác giả (xem xét tác phẩm trong mối tơng tác với nhà văn - chủ thể sáng tạo), Văn chơng Truyện Kiều, Tâm lý Kiều (xem xét các yếu tố nội tại
của tác phẩm) Ngời phê bình đã mở ra trờng quan sát mới cho ngời đọc từnhiều góc nhìn nghệ thuật, mang tính chất quy mô và hệ thống, tác giả vừabộc lộ những năng lực cảm thụ văn học linh hoạt vừa trình bày những thao tácphê bình mới, bài phê bình này đã trở thành sự kiện lớn trên văn đàn lúc bấy giờ
Trớc khi bài phê bình Truyện Kiều của Nguyễn Du (1919) đánh dấu lối
phê bình mới ra đời, thực hiện theo phơng pháp mới, hiện đại, Phạm Quỳnh đã
từng phê bình Giấc mộng con của Nguyễn Khắc Hiếu (1917), Một tấm lòng của Đoàn Nh Khuê (1918), Tể tớng sĩ văn của Nguyễn Văn Thành (1918), Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn (1918), nhng đấy vẫn là phê bình theo
lối cũ Cả nội dung phê bình đến ngôn ngữ phê bình đều là cách cảm thụ vănhọc theo kiểu nhà Nho Lối phê bình còn mang tính ớc lệ và bóng dáng củavăn biền ngẫu Nh vậy, phơng pháp phê bình Phạm Quỳnh, ta có thể khẳng
định, đã đánh dấu quá trình chuyển đổi từ phơng thức t duy đánh giá văn họctheo cách bình tán, bình điểm của phơng Đông sang phơng thức t duy phântích mang tính chất phơng Tây là một điểm đáng quan trọng Khi phê bình cáctác phẩm văn học phơng Tây, nhất là văn học Pháp, tác giả thể hiện rõ chủ tr-
ơng: Trớc hết giới thiệu cho độc giả Việt Nam nội dung tác phẩm bằng cáchvừa lợc thuật vừa bình luận; mặt khác giới thiệu với độc giả trong nớc lối viếtvăn của phơng Tây; sau nữa là rút ra những bài học nhân sinh từ các tác phẩm
Trang 28văn học Pháp, liên hệ vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam Bình luận tiểu
thuyết Nghĩa gia tộc (1917) của Henry Bordeaux, phần đầu Phạm Quỳnh nêu
ra quan niệm sống, tiếp đó tác giả giới thiệu vắn tắt tiểu sử và sự nghiệp củanhà văn, vừa tiến hành lợc thuật kèm dịch thuật về tác phẩm; vừa trình bày vềnội dung lại vừa chỉ dẫn về văn phong của tiểu thuyết để độc giả Việt Namlàm quen với thể thức văn chơng Pháp Hình nh các hình thức bài phê bìnhtiểu thuyết phơng Tây đều đợc trình bày tuần tự nh trên, nhng tùy theo nộidung của mỗi tiểu thuyết để có những lời bàn và rút ra bài học cho tác phẩm Với t cách là chủ bút và là học giả có tên tuổi, công việc dịch thuật, phêbình văn học của ông có ý nghĩa rất lớn đối với sự thúc đẩy tinh thần tập viết
văn theo lối mới Không phải ngẫu nhiên trên Nam phong tạp chí những năm
này xuất hiện khá đều những truyện ngắn viết theo lối mới nh các truyện ngắncủa Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách Sau những bài phê bình văn học ph-
ơng Tây năm 1917 của Phạm Quỳnh, từ 1918 trở đi lần lợt xuất hiện nhữngbài viết về ca dao, về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Trần Tế Xơng của PhanKhôi, Hoàng Ngọc Phách đã thể hiện lối tiếp nhận văn học phóng khoáng
hơn Năm 1923 trên Nam phong tạp chí cũng lần lợt xuất hiện các bài phê bình mới về Truyện Kiều của tác giả Vũ Đình Long, Nguyễn Tờng Tam,
Nguyễn Triệu Luật Phơng pháp phê bình của các tác giả trên đều có những
điểm tơng đồng với thao tác phê bình Truyện Kiều của học giả Phạm Quỳnh
từ năm 1919
Gắn với hoạt động lí luận, phê bình, đáng chú ý trong sự nghiệp văn ch
-ơng của Phạm Quỳnh phải kể đến hoạt động dịch thuật Có thể nói, dịch thuật
đóng một vai trò quan trọng trong một nền văn hóa Dịch thuật ở Việt Namgiai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 có vai trò đặc biệt quan trọng tronglịch sử văn hóa Việt Nam, nhất là trong ba mơi năm đầu thế kỷ XX, phản ánh
đặc điểm chung của nhiều nền văn hóa phơng Đông trong buổi đầu tiếp xúcvới văn hóa phơng Tây, trong đó vai trò của dịch thuật trong việc chuyển tảinhững yếu tố ngoại sinh (ở đây là văn hóa, văn minh phơng Tây), góp phầntạo nên bớc chuyển về chất, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn hóa từ phạmtrù văn hóa trung đại sang phạm trù văn hóa hiện đại Vai trò của dịch thuậtvăn chơng, nhất là về vai trò của tri thức dân tộc trong hoạt động dịch thuậtvăn chơng gắn với ý thức xây dựng mô hình văn hóa mới nói chung, mô hìnhvăn học mới nói riêng vô cùng quan trọng
Trang 29Bên cạnh xu hớng dịch thuật gắn với ý thức bảo tồn, bắc nhịp cầu giữatruyền thống với hiện đại, đáng chú ý có mảng dịch thuật văn chơng gắn liềnvới ý thức giới thiệu những yếu tố mới mẻ, những mô hình gợi ý cho giới sángtác văn học Việt Nam noi theo Điều này phải đến Phạm Quỳnh mới thật sự rõnét Phạm Quỳnh dịch văn chơng với t cách là một học giả hơn là nhà văn.Với ba bút hiệu khác nhau (Phạm Quỳnh, Thợng Chi, Hồng Nhân), ông đã
“thi công” ngòi bút ở đủ các thể loại: viết có, dịch có, lợc thuật có, khảo cứu
có Chỉ trừ thơ là ông không dịch (hoặc không định dịch nh một nhà thơ),ngoài ra, thấy cái gì hay, cái gì cần kíp với đời sống văn hóa trong nớc PhạmQuỳnh lập tức tìm cách chuyển nó sang tiếng Việt nghĩa là khoác cho nó bộ yphục dân tộc Trong dịch thuật Phạm Quỳnh cố gắng tôn trọng nguyên tắc cả
về nội dung và hình thức diễn tả; đồng thời làm sao thích nghi nguyên tắc vớilối diễn tả của dân tộc
Vừa bao quát lịch sử, ông vừa chú ý các vấn đề đơng đại của văn học.Vừa làm các việc tơng đối lâu dài theo hệ thống đã định, ông vừa có sự phảnứng linh hoạt, năng nổ thu vén nhặt nhạnh, không chịu bỏ rơi bỏ sót cái gì Cóthể là ngòi bút dịch thuật của Phạm Quỳnh không thật tài hoa, nhng theo mộtngời thạo tiếng Pháp nh Vũ Ngọc Phan, thì các đoản thiên tiểu thuyết đợc ôngchuyển từ tiếng Pháp sang tiếng Việt một cách vừa có duyên vừa sát nghĩa,còn văn khảo cứu của ông chứng tỏ tác giả là “một ngời có cái học vừa sâu sắcvừa quảng bác” Cùng với việc dịch một số tác phẩm văn học cổ Trung Quốc(bút danh Hồng Nhân) để khẳng định việc cần giới thiệu tinh hoa văn học á
Đông, từ năm 1917 trở đi, Phạm Quỳnh vừa dịch vừa giới thiệu nhiều tác
phẩm của phơng Tây từ tiếng Pháp sang tiếng Việt nh Chúa Bể, Thơ Baudelaire, Cái nghĩa chết, Nghĩa gia tộc, Phục thù cho cha, Lỡ độ đờng…
vừa truyền bá vừa bình luận, vừa so sánh sự tơng đồng và khác biệt giữa nềnvăn học Tây Âu với Việt Nam, từ đó rút ra những quan niệm nhân sinh vànghệ thuật Ông đặc biệt chú ý đến việc dịch những truyện ngắn Pháp, ông gọi
là tiểu thuyết hoặc đoản thiên tiểu thuyết, để làm mẫu học theo Trong số hai
mơi t truyện ngắn phơng Tây đợc dịch trên Nam phong tạp chí, hầu hết là của
Pháp (hai mơi hai truyện), Phạm Quỳnh đã dịch đến 16 truyện với tinh thần
nh ông viết khi giới thiệu bản dịch đầu tiên - Truyện ngời lính chì bằng tuyết của Georges D’Esparbes - in trên Nam phong tạp chí từ số 2 (8/1917):
“Truyện dịch sau này thuộc về lối “đoản thiên tiểu thuyết” Lối ấy là một lối
Trang 30hay trong văn chơng Tây, các nhà sỹ văn ta có thể bắt chớc mà làm bằng tiếngNôm Vì lối tiểu thuyết dài thì hiện nay ngời nớc ta còn cha đủ t cách mà khởihành đợc” Nếu so với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh không có giọng tàihoa bằng, nhng nếu căn cứ vào sự dịch đúng, dịch sát ý thì Phạm Quỳnh hơnhẳn Nguyễn Văn Vĩnh Phạm Quỳnh dịch vừa có duyên vừa sát nghĩa, đánglàm khuôn mẫu cho những nhà dịch truyện Tây.
Nếu nh phê bình để đổi mới t duy tiếp nhận, thì lý luận là con đờng đểkhám phá và cách tân nghệ thuật của Phạm Quỳnh Một mặt, tác giả truyền bá
lý luận của phơng Tây, mặt khác tiến hành so sánh mối tơng đồng và khác biệtgiữa các thể loại truyền thống tiêu biểu trong nớc với các thể loại phơng Tây
nh thơ, kịch, tiểu thuyết từ đó đề ra hớng cách tân Thời kỳ này nhu cầu cáchtân văn học nh là một nhu cầu tất yếu, đổi mới văn học là đổi mới về thể loạivăn học Có thể nói bằng lý luận của mình, Phạm Quỳnh đã là một trongnhững cây bút đi đầu trong việc đề ra hớng đi cho các thể loại nh thơ, tiểuthuyết, kịch
Tóm lại, lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XX, phát triển từ nền văn họcviết bằng chữ Quốc ngữ Trong thế hệ những ngời đi trớc, Phạm Quỳnh với
Nam phong tạp chí đã có nhiều đóng góp trong việc khai thác các di sản văn
nghệ dân tộc, truyền bá các tri thức phơng Tây cùng với chủ trơng bảo tồn và
đổi mới, góp phần hiện đại hóa nền văn học nớc nhà Những cống hiến đó của
ông làm tiền đề cho cuộc canh tân văn học diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn
1930 - 1945 cũng nh giai đoạn văn học sau này
Trang 31Chơng 2 PHạM QUỳNH VớI CáC GIá TRị VĂN HọC DÂN TộC Và THế GIớI
2.1 Phạm Quỳnh với các giá trị văn học dân tộc
Vào đầu thế kỷ XX, trên tờ Nam Phong tạp chí ngời ta thấy xuất hiện
một cây bút vững vàng, sắc sảo, nhạy bén với những vấn đề về văn hóa, vănhọc đó là Phạm Quỳnh Vốn thuộc số những trí thức trởng thành khi chế độthực dân phong kiến khá ổn định ở Việt Nam Con ngời ấy hiện ra đầy đủ tcách một nhà tân học, “có cái vốn Pháp học vững vàng, uyên bác, óc phán
đoán sáng suốt của một ngời từng thú nhận bị chinh phục bởi bao nhiêu vẻ đẹp
mĩ miều, tân tiến của nền văn minh Tây phơng” Tuy nhiên, Phạm Quỳnh vẫngiữ đợc lập trờng riêng, khác hẳn một số ngời Nghiên cứu văn nghiệp PhạmQuỳnh, Phạm Thế Ngũ lu ý một cách đúng mực hành trạng của tác giả: “Giữamột xã hội náo nức duy tân, ông vẫn tự coi nh di lu của một gia đình Nho họcquê mùa muốn giữ lấy nền nếp đạo đức của ông cha, cùng những đức tínhchân thật, cần cù của anh đồ quê, trung thành với linh hồn đồng quê, với tiếnggọi của xứ sở” Nhờ đó, học giả Phạm Quỳnh đã có đợc thái độ, cách nhìn, lốihành xử cao đẹp đối với văn học truyền thống của nớc nhà: đề cao, trân trọng,
giữ gìn, phát huy những tinh hoa ngàn đời của dân tộc (mà ông gọi là quốc túy, quốc văn) Thái độ đó đợc ông bộc lộ nhiệt thành trong những trang diễn
thuyết, bình luận về ca dao, tục ngữ, về thơ của nớc Nam, về một số tác phẩm
văn học dân tộc nh Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Tản Đà,
Đoàn Nh Khuê Trong các bài viết của Phạm Quỳnh kể và tả thì ít mà bìnhluận, suy ngẫm thì nhiều Ông đã đến với văn chơng dân tộc với một tâm thếcủa một nhà văn hóa, nặng trĩu những suy t xen lẫn tự hào
2.1.1 Phạm Quỳnh với văn học dân gian
Việc su tầm và nghiên cứu văn học dân gian ở Việt Nam đã diễn ra trongsuốt chiều dài lịch sử phát triển của dân tộc Tuy nhiên, trớc thế kỷ XX, cácsáng tác dân gian ít đợc các nhà Nho coi trọng, công việc đó diễn ra của cácnhà Nho Việt Nam chủ yếu mang tính tự phát, họ cha có đợc nhận thức đầy đủ
và toàn diện về dòng văn học này Vào đầu thế kỷ XX, cùng với Trơng Vĩnh
Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh đợc xem là một câybút sớm quan tâm đến nền văn học dân gian với t cách là một nhà phê bình
Trang 32mới Những bài nghiên cứu của ông không những cung cấp một số t liệu choviệc nghiên cứu văn học dân gian, mà ông còn su tập, giới thiệu hoặc dịchsang tiếng Pháp những tác phẩm văn học dân gian nhằm mục đích tự hào nềnvăn hóa dân tộc
Phạm Quỳnh đã thầm lặng, say mê để “lặn mò từng hạt ngọc trai” dângian dân tộc Càng ngợc về ngọn nguồn dân gian, ông càng phát hiện ra cái
đẹp long lanh của sự sáng tạo kỳ diệu Là một trong những ngời tiên phong,
mở đờng cho nền phê bình hiện đại Việt Nam, ông tự mày mò thu lợm, mày
mò sắp xếp, để tạo ra những cái ô tri thức nh những ô thuốc Bắc (chữ của NinhViết Giao), ô nào cũng đầy ắp hơng vị bổ ích Từ tình yêu cụ thể, PhạmQuỳnh phát hiện ra cái trữ lợng văn hóa dồi dào còn ẩn tàng ngay ở trong vănhọc bình dân Và ông bắt tay vào công việc khai thác Để hỗ trợ cho việcnghiên cứu văn học dân gian và để có vốn trờng sức trên con đờng học thuật,Phạm Quỳnh đã tự bổ trợ thêm nhiều môn Khoa học xã hội khác nh: Dân tộchọc, tôn giáo học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, lịch sử, địa lý, triết học Chínhvì thế trên những trang bình văn của ông không kém phần sâu sắc, khoa học,
đáng tin cậy, có thể làm cơ sở cho các nhà học thuật sau này tiếp thu, học tập
Dù những bài bình luận về văn học dân gian của ông không nhiều, khảosát chủ yếu trên hai thể loại ca dao, tục ngữ, nhng ở những bài đó cho thấy sựkhảo sát công phu, kỹ càng, nghiêm túc Từ việc khẳng định sự phong phú, đadạng của văn chơng bình dân, học giả Phạm Quỳnh đã tiến hành nghiên cứutiến trình phát triển của nền văn học này trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời cácthể loại văn học dân gian; tiến hành việc phân loại và nhận diện các thể loại,xem xét đặc trng và tính chất, nội dung và hình thức của chúng; tìm hiểu mốiquan hệ, ảnh hởng giữa văn học dân gian và văn học thành văn; tìm hiểu mốiquan hệ giữa văn học dân gian với văn hoá dân gian, đồng thời tỏ thái độ tựhào trớc nền văn học dân tộc Tiêu biểu cho công trình nghiên cứu văn học
bình dân phải kể đến bài Tục ngữ ca dao, đợc học giả Phạm Quỳnh diễn
thuyết tại Hội Trí tri Hà Nội ngày 21/4/1921
Bằng những lời lẽ đầy sức thuyết phục, học giả Phạm Quỳnh, mở đầu bàidiễn thuyết đã khẳng định sự phong phú, đa dạng của nền văn chơng bình dân
“cái văn chơng truyền khẩu ấy, tuy không có sách nào biên chép, mà tôi giámquyết là một thứ văn chơng rất phong phú, tởng không có nớc nào có một cáivăn chơng truyền khẩu giàu nh nớc ta” [57, 889] Với Phạm Quỳnh, văn học
Trang 33dân gian là sản phẩm kết tinh những nét đẹp tinh túy nhất của tâm hồn dântộc, đặc biệt ca dao, tục ngữ là kết tinh những tinh hoa “quốc hồn, quốc túy”của quê hơng, đất nớc ta, đó là vốn văn hóa quý giá nhất, đáng đợc trân trọng,gìn giữ nhất: “Phong tục nớc ta phản chiếu ra cả đấy, quốc túy của chúng tachung đúc cả vào đấy” [57, 914]
Khám phá kho tàng văn gian, bằng năng lực cảm nhận sâu sắc, PhạmQuỳnh đã nêu lên định nghĩa rất rõ ràng thế nào là ca dao, tục ngữ, phơngngôn Về tục ngữ, ông viết: “Tục ngữ hay là ngạn ngữ là những câu nói thờng,hoặc vì cái thể nó gọn ghẽ, dễ nhớ, hoặc vì cái ý nó phổ biến dễ hiểu, mà ngờitrong một nớc ai ai cũng nói đến, truyền ở cửa miệng ngời ta, nhất là ở nhữngnơi lý hạn, chốn dân gian Vì ở miệng ngời bình thờng ít học mà nói ra, thật
là sỗ sàng, không có bóng bảy chải chuốt, nên gọi là tục, chứ không phải tấtnhiên là thô bỉ tục tằn Phơng ngôn là những câu tục ngữ riêng của từng địaphơng; phơng này thông dụng mà phơng ngôn kia ít dùng hoặc không biết”[57, 892]
Còn ca dao là gì, tác giả định nghĩa: “Ca dao là những bài hát nhỏ, từhai câu trở lên, mà không bao giờ dài lắm, giọng điệu tự nhiên, cũng do truyềnkhẩu mà thành ra phổ thông, trong dân gian thờng hát” [57, 894] Nói tóm lại,thời tục ngữ, ca dao là những câu truyền khẩu rất tự nhiên trong sinh hoạt đờithờng của dân chúng, hoặc chỉ những sự lý công nhiên dẫu ngời dân nớc nàocũng cho là phải, hoặc chỉ những phong tục riêng của một đất nớc Cách địnhnghĩa trên của ông rất gần với định nghĩa tục ngữ ca dao của các nhà nghiêncứu sau này, điều đó cho thấy sự đúng đắn trong phơng pháp luận giải của họcgiả họ Phạm
Xem xét về phơng pháp phân loại ca dao, tục ngữ của Phạm Quỳnh, Vũ
Ngọc Phan đã có cơ sở khi cho rằng: “Quyển Tục ngữ ca dao của Phạm
Quỳnh là một quyển sách viết có phơng pháp và xét nhận rất đúng” [54, 100].Cơ sở để Phạm Quỳnh phân loại tục ngữ, ca dao chủ yếu dựa vào yếu tố vần
và nghĩa trong câu Đối với tục ngữ, tác giả đã phân ra ba cách trong phép kếtcấu các câu Một là “thanh âm hởng ứng”, nghĩa là lấy cho trong một câu cómấy tiếng đọc tơng tự nhau Hai là “đối tự đối ý”, nghĩa là trong câu có haichữ hay là hai ý đối nhau Ba là “hội ý suy thoại”, tức là hoặc lấy ý, hoặc suynghĩa mà đặt thành câu Theo ý ông, nên xếp các câu phải xếp theo vần chữ
Trang 34chính trong câu, câu nào có hai ba chữ nghĩa quan trọng nh nhau thời xếp rahai ba vần thuộc về những chữ đó.
Về ca dao, Phạm Quỳnh chia thành ba loại: Phú, tỉ, hứng Đặc điểm của
ca dao về phần hình thức là vần, vừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lạigiản dị, và tơi tắn Nghe có vẻ nh lời nói thờng mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng,chải chuốt, miêu tả đợc những tình cảm sâu sắc Phạm Quỳnh thừa nhận, vềmặt tả cảnh, tả tình không có một hình thức văn chơng nào bằng đợc hình thứcdiễn tả của ca dao: “Bao nhiêu nhân tình thế thái là diễn ra câu hát đợc cả, câu
êm ái, câu chua cay, câu chơi đùa bỡn cợt, câu nào cũng có cái giọng thanhthoát tự nhiên, hình nh không có tay ngời chải chuốt ấy ca dao khác nhữnglối vận văn là khác thế” [57, 928] Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái
đẹp, những cái tốt, nhng cũng có khi để nói về những cái xấu, mà không nóithẳng Nhờ phơng pháp hình tợng hoá, ví von, ẩn dụ nên lời của ca dao tuygiản dị, mà rất hàm súc Với mỗi cách phân loại ca dao tục ngữ, Phạm Quỳnh
đã luận giải và dùng dẫn chứng để minh họa rất cụ thể, rõ ràng Từ đó, ông đi
đến phân biệt sự khác nhau giữa tục ngữ, ca dao: “Một đằng là nói, một đằng
là hát không thể lẫn đợc” Tuy nhiên, theo ông, cách phân biệt ấy cũng có tínhtơng đối, bởi ở một số câu có sự giao thoa giữa các yếu tố của ca dao, tục ngữnên khó phân định Vũ Ngọc Phan đã đánh giá cách phân loại, biên tập nh thế
là “có phơng pháp nhất” xem ra tiện hơn cả cho các nhà nghiên cứu sau nàyhọc tập: “Lối biên tập của ông là một lối để riêng cho ngời học thức, để riêngcho ngời xét đoán, biết phân biệt” [54, 99], giúp cho việc ghi nhớ dễ dàng,giúp cho tiếng Việt giàu thêm lên, làm cho tiếng Việt mới lạ và hấp dẫn hơn Qua việc khảo sát trên từng thể loại, Phạm Quỳnh nhận thấy rằng vănhọc dân gian là văn hóa của quần chúng lao động và do quần chúng sáng tạo,
lu truyền Là văn hóa của quần chúng, do vậy, văn học dân gian chứa đựngcác giá trị phổ quát của bản sắc văn hóa dân tộc, phản ánh thế giới tinh thầnphong phú của dân gian nh: những giá trị về đạo lí con ngời, tình yêu thơng
đồng loại, tính cộng đồng, tinh thần cần cù và sáng tạo trong lao động Ca daotục ngữ là kết tinh phẩm chất trí tuệ, tâm hồn dân tộc, làm nên gơng mặt tinhthần của dân tộc Việt Nam Ông đã lí giải những vấn đề đó qua những dẫnchứng tiêu biểu nhằm minh định cho ý kiến của mình Đây cũng là thế mạnhtrong ngòi bút lí luận của Phạm Quỳnh, chứng tỏ ông có một vốn kiến thức
Trang 35sâu rộng, uyên bác, chứng tỏ niềm đam mê với văn hóa, văn chơng và họcthuật
Về nội dung, Phạm Quỳnh khẳng định, tục ngữ là “túi khôn” của dântộc ta Tục ngữ phản ánh phong tục tập quán, tín ngỡng, kho tàng tri thức vềkinh nghiệm lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình của ngời ViệtNam: “Tục ngữ phơng ngôn không những là một cái kho luân lý, mà lại là mộtcái kho tri thức của ngời dân nữa” [57, 910] Theo ông, nội dung ấy vừa phongphú, vừa vững chắc, vì nó đã đợc chng đúc qua nhiều thế hệ: “Cái văn chơngtruyền khẩu ấy, tuy không khỏi nôm na mách qué, song thật có ý vị vô cùng,
có thể nói bao nhiêu luân lý, học thức, mĩ thuật, văn từ phổ thông dân gian làbao gồm chung đúc cả ở đấy” [57, 891] Tục ngữ đợc cấu tạo trên cơ sở thực
tế, do lý trí nhiều hơn là do xúc cảm T tởng biểu hiện trong tục ngữ là t tởng
đanh thép, sắc bén, rút ở cuộc đời, là “kim chỉ nam” về đạo xử thế, đạo lí củacon cái với ông bà, cha mẹ
Nói về kinh nghiệm xử thế ở đời Phạm Quỳnh đã dẫn rất nhiều câu tụcngữ, ông thờng có những lời bình ngắn gọn nhng ý nghĩa: Với ông, ở đời thiếugì những kẻ hiểm độc:
- Miệng nam mô bụng bồ dao găm.“
- Ăn tham một miếng tiếng để đời.
- Sống đục sao bằng thác trong.
- Gửi lời thì nói gửi gói thì mở”… [57, 907 - 908]
ở đời con ngời nên cẩn thận để tránh hiểm nguy, nhng cũng phải cần lotính, phải lao động, phải biết chắt chiu, cần kiệm:
- “Buôn thuyền buôn bè chẳng bằng dè miệng.
Buôn thủy buôn vã chẳng bằng hà tiện ” [57, 908]
Con ngời cần phải biết cầu lấy cái tiếng thơm trên đời vì theo ông, quantrọng nhất của đời ngời là danh tiếng:
- Trăm năm bia đá cũng mòn,
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” [57, 909].
Trang 36Nói về cách giáo dục, Phạm Quỳnh cho rằng ở đời con ngời cần phải dạy
có dạy mới có hay, đặc biệt với con cái phải dạy từ thở nhỏ, ông dẫn câu:
- Dạy con từ th“ ở còn thơ
- Bé không uốn cả gẫy ngành” [57, 906]…
Nói về kinh nghiệm trong sản xuất, ông dẫn nhiều câu đã đợc ngời xa
đúc rút từ trong lao động Phản ánh về quy luật của thiên nhiên, thời tiết ng ời
xa có câu:
- Trời nắng tốt d“ a, trời ma tốt lúa.
- Chớp đông nhay nháy gà gáy thì ma
- Gió may hiu hiu riền kêu thì rét.
- Ma chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi.
- Sáng ngày gió may, tối quay gió nồm” [57, 910 - 911].
Nói về kinh nghiệm trong việc sản xuất, canh nông:
- Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng rau.“
-Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa.
- Tháng năm kêu bầu, tháng mời rầu rơm
Con vua thì lại làm vua,
“
Con nhà thày chùa lại nhặt lá đa ” [57, 920]
Thể hiện tình yêu quê hơng, đất nớc, Phạm Quỳnh đã dẫn những câu ca vịnh cảnh thiên nhiên thanh tú mà ý tứ, thi vị:
Đố ai mà đ
Chung quanh cánh đỏ giữa chen nhị vàng.
Nhị vàng ngó trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” [57, 915].
Trang 37Ca dao là nơi thể hiện nỗi niềm sâu kín của con ngời, có khi đó là tiếng than thân, trách phận vì gia cảnh bần hàn, túng bấn:
“Ngời thì mớ bảy mớ ba,
Ngời thì áo rách nh là áo tơi,
Cha đời cái áo rách này,
Mất chúng mất bạn vì mày áo ơi!” [57, 916].
Có lúc lại là tiếng lòng xót xa cay đắng, oán thán những kẻ bạc tình:
Có trăng nên mới phụ đèn,“
Có nơi trang trọng phụ phàng nghĩa xa” [57, 922].
Tiếng than thân của ngời phụ nữ bị lệ thuộc trong xã hội phong kiến xa:
“Thân gái nh hạt ma sa,
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày” [57, 924].
Đề tài về tình yêu lứa đôi, đạo nghĩa vợ chồng là bộ phận phong phúnhất trong kho tàng ca dao Phạm Quỳnh nhận thấy, tính chất phong phú của
ca dao về tình yêu nam nữ trớc hết thể hiện ở số lợng câu ca Ông đã dànhnhiều trang để trích dẫn các câu ca dao ca ngợi tình yêu, lòng chung thủy của
đôi trai gái:
- Vợ chồng là nghĩa già đời“
Ai ơi! Chớ nghĩ những lời thiệt hơn” [57, 920]…
- Thuyền bàu trở lại về đông,“
Con đi theo chồng để mẹ cho ai!”
- Đi đâu cho thiếp đi cùng“
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam ”
- Chồng giận thì vợ làm lành“
Miệng cời hớn hở rằng anh hỏi gì” [57, 920]…
Hầu hết ca dao, dân ca về tình yêu nam nữ đợc sáng tác trong hoàn cảnhlao động, hội hè, vui xuân Một trong những hình thức thể hiện của sự giaoduyên đó là những cuộc đối đáp nam nữ, lời tỏ tình vì thế mà tế nhị, kín đáo
nhng không kém phần mãnh liệt, đằm thắm, chân thành:
- Tiện đây đ“ a một miếng trầu,
Chẳng ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng” [57, 929].
- Gặp nhau ăn một miếng trầu, “
Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào …” [57, 930].
Trang 38Nh vậy, văn học dân gian bao giờ cũng là tấm gơng phản chiếu trungthành đời sống của mỗi dân tộc Kho tàng văn học dân gian đi vào đời sống,gắn với những sinh hoạt thờng ngày quen thuộc của nhân dân: “Cái văn chơngtruyền khẩu kia, mẹ dạy con từ khi bú mớm, chồng nói với vợ những lúc đêmkhuya, trai gái ngâm vịnh với nhau những ngày hội hè vui vẻ hay là dới bóngnguyệt tờ mờ” [57, 891], nhờ đó đã tạo nên những nét sinh hoạt dân gian đậmbản sắc vùng miền: “Nhiều khi trai gái đố nhau nh thế thành ra một cuộc hátthi, bên nam bên nữ đối đáp nhau, ứng khẩu thành chơng, dùng toàn bằngnhững lời ca dao tục ngữ mà kết liền lại khóe lắm, thành từng bài hát trờngthiên Gặp khi giai tiết hay là lúc hội hè, các làng thờng đặt cuộc thi, treo giảithởng, gọi là hát trống quân hay là hát quan họ, tài tử giai nhân các nơi đến thilấy giải, khác nào nh một hội hàn lâm của công chúng đặt ở nơi cửa đìnhngoài hàng quán vậy” [57, 935]
Vừa su tầm vừa khám phá và truyền bá di sản văn nghệ dân tộc, PhạmQuỳnh đã đi sâu vào kho tàng thơ ca dân gian và nhận thấy tầm quan trọngcủa ca dao, tục ngữ trong đời sống văn hóa Việt Nam Ông ngợi ca hết mựcnhững giá trị mà nền văn học bình dân đem lại: “Tôi thiết tởng nhiều bài ca
dao của ta lại còn hay hơn những bài trong Kinh thi nhiều: chỉ vì không có
lòng mê tín sùng thợng nên coi là bỉ lý nôm na Nhng ngày nay ngời mình đãbiết quý chuộng tiếng quốc âm, thời những tục ngữ ca dao chính là kinh điểncho các nhà làm văn đó, hà tất phải đi vay mợn những điển tích cũ ở đâu xa!”
[57, 914] Kinh thi là bộ sách đứng đầu Ngũ Kinh của đạo Nho, là kinh điển,
là mẫu mực mà các nhà Nho sùng bái Khi đem so sánh ca dao với Kinh Thi
thì điều đó đã khẳng định giá trị to lớn mà văn học dân gian đem lại cho đờisống, đồng thời biểu hiện một niềm tự hào dân tộc sâu sắc
Trong quá trình khảo sát, Phạm Quỳnh nhận ra tục ngữ, ca dao chính lànơi lu giữ tiếng Việt, giúp cho tiếng ta đợc giàu có, mới lạ thêm lên Ông đãgửi gắm niềm tự hào về ngôn ngữ tiếng Việt qua lời nhận xét: “Ngời nào haychê tiếng Việt Nam là nghèo hãy về nơi dân thôn hay ra chợ búa Nghe mớibiết rằng tiếng quốc âm ta phong phú là dờng nào: thợng vàng hạ cám, khônggì là không đặt thành câu sẵn, nói ra trơn tuột, có ý tứ mà có tiết diệu, khácnào nh một bộ vận phủ, vị thành văn truyền ở cửa miệng các bà các cô nhàquê vậy, thời tôi xin hiến một mớ chữ (tục ngữ ca dao) nh sau này, đủ chứngrằng tiếng Việt Nam ta giàu biết bao nhiêu” [57, 901] Tác giả đã khám phá ra
Trang 39rằng, kho tàng ngôn ngữ của dân tộc phong phú và đa dạng, không ai khácnhờ sự cố gắng vô danh của những ngời làm thơ trữ tình, họ là những con ngờisáng tạo đích thực ra ngôn ngữ của chúng ta, ngôn ngữ này sở hữu một tài sảnbình dân cực kỳ phong phú “chúng ta đã quá coi thờng, đã không nhận ra, vàkhông biết trau dồi và khai thác đúng mức để từ đó làm nảy sinh ra một nềnvăn học đích thực” [57, 68] Đối với bản thân nhân dân lao động, văn học dângian từng có một ý nghĩa hết sức to lớn: vừa là cuốn bách khoa của đời sống,vừa là phơng tiện giáo dục những phẩm chất tốt đẹp nhất của con ngời Đốivới các bộ môn khoa học xã hội, nh một dòng chảy ngầm lặng lẽ, các giá trịvăn học dân gian truyền thống vẫn tiếp tục chắt lọc tinh hoa nuôi dỡng mạchnguồn văn hóa dân tộc, nuôi dỡng văn học viết, là nguồn tài liệu vô giá choviệc nghiên cứu đời sống và thế giới quan nhân dân trong thời kì lịch sử,không ngẫu nhiên Phạm Quỳnh nhấn mạnh nhiều lần điều đó trong một số cácbài viết của mình “cái mỏ không vơi cạn những điều chỉ dẫn quý báu cho cảnhững ngời nghiên cứu ngữ học và những nhà văn hóa dân gian” [58, 437],
“kho quặng mỏ không thể cạn kiệt cho nhà ngữ văn và nhà nghiên cứu vănhóa dân gian những chỉ dẫn quý báu và cả với những chuyên gia hay nhànghiên cứu tài tử về địa lý nhân văn” [57, 67 - 68] Những đúc kết ấy khôngphải là không có căn cứ Thực tiễn hàng thế kỷ qua đã minh chứng đúng đắn
điều Phạm Quỳnh nhận định Quan điểm của Phạm Quỳnh rất gần gũi vớiquan điểm của các nhà nghiên cứu lý luận, phê bình văn học sau này, khi chorằng cho rằng văn học dân gian có ảnh hởng lớn đến văn học viết, là nền tảngvững chắc để xây dựng nền văn chơng bác học Nó xuất hiện càng tơi mới,càng có tính tự nhiên thì các thời đại tiếp theo sau nó phát triển càng thuận lợihơn Nh vậy, Phạm Quỳnh đã khám phá kho tàng văn học dân gian chính lànơi lu giữ toàn bộ thế giới tinh thần Việt Nam, cũng nh nhận thấy lịch sử nềnvăn hóa dân tộc nằm ngay trong đời sống sinh hoạt của ngời lao động, vai tròcủa văn học dân gian trong đời sống dân tộc Đó là bớc tiến quan trọng nhất
về quan niệm văn học dân gian của Phạm Quỳnh so với các nhà Nho ở thế kỷtrớc
Vậy, động cơ nào thôi thúc Phạm Quỳnh dày công su tập, nghiên cứunền văn học dân gian Việt Nam? Công việc su tập, nghiên cứu tục ngữ, ca daocủa Phạm Quỳnh xuất phát từ lòng từ lòng tự hào và tự tôn dân tộc Bằng sựtrải nghiệm, quan sát, nghiên cứu, một mặt ông nhận thấy thực trạng của nền
Trang 40văn hóa nớc nhà trớc nguy cơ đồng hóa khi thực dân Pháp vào xâm lợc, nhữnggiá trị to lớn của văn học bình dân cần phải đợc bảo tồn, gìn giữ, mặt khác,
ông đã nhận ra rằng, các nhà Nho nớc ta trớc và bây giờ chỉ ít chú trọng đếnvăn học dân gian, thậm chí xem nhẹ, coi thờng: “Họ tự giam mình trong thápngà và vui thích soạn những câu thơ Trung Hoa giống nh những câu thơ tiếngLatinh, hoặc để bình những tác phẩm cổ điển, ca ngợi những con ngời vànhững sự vật của Trung Hoa” mà dờng nh quên đi giá trị văn hóa đẹp đẽ trongnền văn học bình dân này Từ nhận thức đó, Phạm Quỳnh và một số đồng
nghiệp của ông trên Nam phong tạp chí chú ý su tập, nghiên cứu kho tàng văn
học dân gian nhằm bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc: “Giờ đây, chúng tôi
đang lo gom góp tất cả vốn liếng nền tảng bình dân này lại, và cuốn su tậpmới xuất bản gồm không dới tám nghìn câu mục, từ những thành ngữ và tụcngữ chỉ nói bằng vài từ đến những bài thơ nhỏ, từ 20 đến 30 câu thơ và hơnnữa, cha kể vô số những khúc ca dao dới hình thức bốn câu và hai câu Và thếcũng cha phải tất cả” [58, 69] Với những cố gắng của mình, Phạm Quỳnh hivọng sẽ giúp ích cho văn chơng nớc nhà, đặc biệt giúp thay đổi cách nhìnnhận về nền văn học bình dân của một số nhà Nho lúc bấy giờ
Dù cha thật đầy đủ, nhng công trình khảo cứu của học giả Phạm Quỳnhrất đáng quý Nếu không có một điểm tựa văn hóa vững vàng, uyên thâm, sâusắc, nếu không có một niềm yêu, sự say mê văn học dân gian làm sao nhà vănhóa Phạm Quỳnh có thể có đợc sự khảo sát công phu, với những lời bình sâusắc đến thế! ý thức tôn trọng biết giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa
đích thực của cha ông đã minh chứng cho tấm lòng của Phạm Quỳnh đối với
đất nớc Nhờ tinh thần dân tộc mà Phạm Quỳnh nhận thức đúng về văn họcdân gian Những thành tựu và kinh nghiệm của học giả họ Phạm, cùng với một
số tác giả khác tạo nên truyền thống tốt đẹp cho việc nghiên cứu văn nghệ dângian ở nớc ta sau này Vì vậy, cần phải thúc đẩy việc tìm hiểu sâu hơn nữanhững công trình nghiên cứu văn học dân gian của các nhà văn hóa tiền bối
“Ôn cố tri tân”, những kinh nghiệm của quá khứ chắc chắn sẽ giúp ích cho
b-ớc đờng tiến lên phía trb-ớc
2.1.2 Phạm Quỳnh với văn học trung đại và hiện đại
2.1.2.1 Phạm Quỳnh với Truyện Kiều của Nguyễn Du
Nghiên cứu về Truyện Kiều đã đạt đợc nhiều thành tựu lớn Suốt hơn hai
trăm năm, trên đất nớc ta, hầu nh cha bao giờ vắng lời bình phẩm, nghiên cứu,