1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc sắc nghệ thuật thơ huy cận qua tập lửa thiêng

73 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 685,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đỗ Lai Thúy trong bài Huy cận, sự khắc khoải không gian đã thấy được ở Lửa thiêng không phải là một không gian khép kín mà đó là một không gian mở nhiều chiều, giữa con người và không g

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Phong Nam, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã truyền đạt những kiến thức làm nền tảng

để tôi có thể thực hiện tốt đề tài của mình

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn

bè, những người đã động viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Thị Loan

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của công trình này là của bản thân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Phong Nam

Việc trích dẫn lại những nhận định, ý kiến của các công trình nghiên cứu đều

đã được chú thích rõ ràng theo yêu cầu khoa học Tôi xin chịu trách nhiệm về tính trung thực của công trình nghiên cứu này

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2012

Sinh viên

Trang 4

Nguyễn Thị Loan

Trang 6

Trước ngưỡng cửa của một thời đại mới, sự hiện diện của Thơ mới trong nửa đầu thế kỉ XX là một thành tựu rực rỡ của nền thi ca Việt Nam Thời đại Thơ mới

đã sản sinh ra hàng loạt nhà thơ nổi tiếng, vĩnh viễn để lại tên tuổi trong lịch sử văn học nước nhà: Thế Lữ, Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, … Như trăm hoa đua nở, mỗi nhà thơ là một loài hoa, và Huy Cận nổi lên như “một bông hoa tươi thắm nhất trong vườn hoa ấy”

Năm 1940, tập thơ đầu tay Lửa thiêng được xuất bản đánh dấu sự có mặt của

Huy Cận Có thể nói, đây là tập thơ xuất sắc nhất, tuyệt tác nhất của đời thơ Huy Cận: “một trong những tập thơ hay nhất của Thơ mới - về thơ, về phong cách - thơ”

Đó là một phong cách nhuần nhị, đằm thắm, có sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ

điển và hiện đại Thơ trong Lửa thiêng là vần thơ có tình, có hồn và có thần Bởi những lẽ đó, Lửa thiêng trở thành viên ngọc quý trong nền văn học Việt Nam mà

mãi mãi còn sáng cùng thời gian

Từ những giá trị đặc sắc mà tập thơ mang lại, cộng với niềm yêu thích và ham muốn được đi sâu hơn vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong thơ Huy Cận, là

những lí do để chúng tôi chọn: “Đặc sắc nghệ thuật thơ Huy Cận qua tập Lửa

thiêng” làm đề tài nghiên cứu của mình Hi vọng qua công trình nghiên cứu này sẽ

giải mã được phần nào những vẻ đẹp về nghệ thuật thơ Huy Cận, bổ sung thêm kiến thức về một tác gia văn học lớn, góp phần cho quá trình giảng dạy sau này được tốt hơn

Trang 7

Đáng chú ý nhất là tập tiểu luận Thế giới thơ Huy Cận của Xuân Diệu Tập

sách được in năm 1987, khi nhà thơ Xuân Diệu đã về nơi yên tịnh nhưng tình cảm, tâm huyết và tài năng của ông sống dậy trên những trang văn Đi theo các tập thơ, các mảng đề tài chính, Xuân Diệu đã cảm nhận tinh tế vẻ đẹp của những ý thơ, của những câu thơ Huy Cận và giúp người đọc đi vào thế giới thơ Huy Cận

Sau Xuân Diệu, hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh - Hoài Chân đã nói lên

khả năng cảm nghe tinh tế của nhà thơ Huy Cận: “Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc

đời rất bình thường, nhưng người luôn luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong”[19, tr.137] Cũng năm 1942, trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra vẻ đẹp riêng của thơ Huy Cận qua Đẹp xưa, Tràng giang, Thu rừng, một vẻ đẹp trong sáng, thanh tao, cổ kính mang đậm

phong vị đường thi

Trần Khánh Thành trong Thi pháp thơ Huy Cận, NXB Văn học, 2001 đã có

hướng khám phá mới mẻ về thế giới thơ Huy Cận bằng con đường thi pháp Ở chuyên luận này, tác giả đã làm rõ được cái “Tôi” trữ tình với nhiều đối cực, quan niệm nghệ thuật và các phương thức thể hiện thơ ca Huy Cận Từ những vấn đề cơ bản đó nhằm xác định phong cách nghệ thuật của nhà thơ với tư cách là một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo

Trong cuốn Chân dung các nhà văn Việt Nam hiện đại, Chu Văn Sơn với bài viết Và ngọn Lửa thiêng trong thơ cho rằng: “Không chỉ tư tưởng, mà cả nghệ thuật

thơ của Huy Cận về căn bản cũng đã định hình ngay từ tập đầu tay này Đó là một tiếng thơ sở trường về hướng nội Không phải hướng vào suy lí mà hướng vào suy cảm Không phải sự sắc sảo của phân tích luận lí để nắm bắt những lí sự trong đầu mình, mà sự tinh tế sâu đằm của tâm cảm để nắm bắt cái tình điệu của hồn mình”

[9, tr.166]

Trinh Đường trong tiểu luận Huy Cận từ Lửa thiêng đã cảm nhận sâu sắc nỗi

buồn thương của Huy Cận về quê hương đất nước, về kiếp người đau khổ và lòng yêu đời thiết tha của thi nhân, và đặc biệt là đặc điểm thi pháp của thơ Huy Cận

Trang 8

Theo nhà thơ Trinh Đường sẽ rất thiếu sót nếu không nói đến thi pháp Huy

Cận: “Như một ông tướng biết thập bát ban võ nghệ, Huy Cận vận dụng một cách

rất chắc tay, rõ nhất là thể thất ngôn trường thiên và đặc biệt là lục bát Về ngữ âm học, không dễ có một ngòi bút tạo ra được một trùng điệp vần - trong: “Mưa giong buồn sợi xuống lơi lơi”, “Gió đưa hơi, gió đưa hơi - Lá thơm như thể da người lá thơm” [12, tr 245 - 246]

Trái với sự ngợi ca của nhiều người dành cho thơ Huy Cận, nhà phê bình Vũ

Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đánh giá Lửa thiêng có phần khắt khe hơn Ông nhận xét thơ tả cảnh của Huy Cận vẫn còn mang nét chung “cái cảm giác của loài

người từ thiên cổ mà thi nhân bao lần ca ngợi”, “… Huy Cận nghệ sĩ ở chỗ đó và cũng thiếu cái đặc sắc của nhà thơ ở chỗ đó: ông đã không đem cái tâm hồn của riêng ông để hòa cũng vũ trụ…” Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng thơ tả tình của Huy

Cận không có những câu “nồng nàn, tha thiết, nóng nảy như thơ Xuân Diệu”,

“không nhớ nhung đắm đuối như thơ Lưu Trọng Lư” Lời tự tình của Huy Cận “rất

đẹp, rất êm đềm, nhưng thật không phải những lời tha thiết tự tâm can …” [17, tr

417 - 419]

Gần đây nhất, nhà nghiên cứu Mã Giang Lân đã trở lại chuyên đề Cấu trúc

câu thơ Lửa thiêng của Huy Cận, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lý luận, phê bình và

lịch sử văn học Qua bài viết, Mã Giang Lân bộc lộ rõ sự chú trọng của ông về ngôn ngữ nghệ thuật thơ Với hướng phân tích này, ông đã phát hiện thêm một số chi tiết

nghệ thuật mới mẻ của câu thơ Lửa thiêng và góp thêm một vệt nghiên cứu mới về

thơ Huy Cận

Cuốn Huy Cận về tác gia và tác phẩm được coi là một trong những công

trình sưu tầm, biên tập các bài viết, nghiên cứu về Huy Cận lớn nhất từ trước đến nay Trần Khánh Thành đã tập hợp được những bài nghiên cứu về thơ và đời Huy Cận của nhiều tác giả như: Xuân Diệu, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Ngô Quân Miện, Vũ Quần Phương, Đỗ Lai Thúy… thành một công trình mang tính chất tổng quan nhất về nhà thơ Huy Cận cũng như các sáng tác của ông Trong đó có nhiều bài viết đề cập đến những đặc sắc nghệ

Trang 9

thuật tập thơ Lửa thiêng Đỗ Lai Thúy trong bài Huy cận, sự khắc khoải không gian

đã thấy được ở Lửa thiêng không phải là một không gian khép kín mà đó là một

không gian mở nhiều chiều, giữa con người và không gian luôn luôn có sự tương

giao hòa hợp: “Không gian nghệ thuật của Lửa thiêng là nơi hội tụ của những yếu

tố trái ngược nhau Ở đây chúng hòa hợp với nhau để tạo thành một thể thống nhất

Đó là phong cách đặc sắc của Lửa thiêng” [22, tr.377] Còn Trần Khánh Thành

trong bài viết Huy Cận từ Lửa thiêng đến lời tâm nguyện cùng hai thế kỉ thì đưa ra đánh giá: “Thơ Huy Cận, ngay từ Lửa thiêng đã có độ chín của trào lưu… Thơ Huy

Cận kết hợp hài hòa giữa hai nền văn hóa Đông - Tây, vừa có sức sống mạnh mẽ của truyền thống vừa mang hơi thở và dấu ấn của thời đại mới” [22, tr.44]

Như vậy, dù nhìn nhận ở những góc độ khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao đóng góp của Huy Cận Những công trình nghiên cứu trên rất đáng trân trọng và rất bổ ích đối với những ai quan tâm đến sự nghiệp thơ Huy Cận Nghiên cứu về nghệ thuật thơ Huy Cận là đề tài không hoàn toàn mới Tuy nhiên hầu như các nhà nghiên cứu chưa khám phá hết và khám phá sâu những kết tinh

nghệ thuật trong tập Lửa thiêng Dựa trên những ý kiến đã tìm hiểu được, kết hợp

với kiến thức của bản thân, hi vọng qua công trình này sẽ góp thêm một tiếng nói

bên cạnh các công trình nghiên cứu của các tác giả về tập thơ Lửa thiêng của Huy

Cận, để một lần nữa khẳng định phong cách thơ Huy Cận như một trong những phong cách nghệ thuật đặc sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là những nét đặc sắc về nghệ thuật thơ Huy Cận trong

tập Lửa thiêng

Phạm vi nghiên cứu: chúng tôi tập trung nghiên cứu những đặc sắc nghệ

thuật trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận, NXB Hội Nhà văn, 1995

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 10

Phương pháp thống kê: tính toán những số liệu, tỉ lệ trong tập Lửa thiêng của

Huy Cận để làm dẫn chứng cho bài viết

Phương pháp phân tích, tổng hợp: trên cơ sở những dẫn chứng đã tìm được,

chúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp để rút ra kết luận

Phương pháp so sánh, đối chiếu: sử dụng phương pháp này để tìm ra những

điểm tương đồng và những nét độc đáo trong thơ Huy Cận

5 Bố cục của khóa luận

Đề tài của chúng tôi, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận gồm có hai chương:

Chương 1 Lửa thiêng - đỉnh cao nghệ thuật thơ Huy Cận

Chương 2 Tính chất cổ điển và hiện đại trong Lửa thiêng

Trang 11

CHƯƠNG 1

LỬA THIÊNG - ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT THƠ HUY CẬN

1.1 Huy Cận - cây đại thụ của phong trào Thơ mới

1.1.1 Con người và sự nghiệp thơ Huy Cận

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Huy Cận có một vị trí quan trọng Là một nhà thơ lớn, Huy Cận đồng thời còn là một nhà chính trị, nhà văn hóa, có nhiều

đóng góp cho sự nghiệp văn học, văn hóa và sự nghiệp cách mạng của dân tộc

Huy Cận (1919 - 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn (nay là xã Đức Ân, huyện Vũ Quang), tỉnh Hà Tĩnh Thuở nhỏ, Huy Cận học ở quê, rồi vào Huế học hết bậc trung học Năm 1939, ông ra Hà Nội học ở Trường Cao đẳng Canh nông Từ năm 1942 Huy Cận tích cực hoạt động trong Mặt trận Việt Minh Ông tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, được bầu vào

Ủy ban Dân tộc giải phóng toàn quốc Sau Cách mạng tháng Tám, ông liên tục tham gia chính quyền cách mạng, giữ nhiều trọng trách khác nhau: Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ trưởng đặc trách công tác văn hóa - Nghệ thuật tại Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch ủy ban Trung ương Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam.,…

Huy Cận yêu thích thơ ca Việt Nam, thơ Đường và chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp Ông là một trong những tác giả xuất sắc của phong trào Thơ mới

Tác phẩm đáng chú ý nhất của Huy Cận trước Cách mạng là Lửa thiêng (tập thơ

đầu tay, sáng tác khoảng 1937 -1940); ngoài ra, ông còn một số tác phẩm khác như

Kinh cầu tự (văn xuôi - 1942), Vũ trụ ca (thơ, sáng tác khoảng 1940 -1942) Hơn

mười năm sau Cách mạng, Huy Cận ít có thơ in Nhưng từ năm 1958, ông sáng tác dồi dào và có nhiều đổi mới, tìm thấy sự hòa điệu giữa con người và xã hội, tiêu

biểu là các tập thơ: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc

đời (1963), Những năm sáu mươi (1968), Chiến trường gần đến chiến trường xa

(1973), Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975), Hạt lại gieo (1984), Ta về với biển

(1997)

Trang 12

Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lý Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại và đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)

1.1.2 Vài nét về tập thơ Lửa thiêng

Tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận ra mắt bạn đọc vào tháng 11, năm 1940

(nhà xuất bản Đời nay của nhóm Tự lực văn đoàn in ấn và phát hành, khoảng 3.000 cuốn) Tập thơ do họa sĩ Tô Ngọc Vân trình bày bìa với lời đề tựa của Xuân Diệu Huy Cận - nhà thi sĩ đến muộn trên văn đàn lại nhanh chóng trở thành ngôi sao sáng chói nhất của phong trào Thơ mới Huy Cận bước tới thi đàn bằng một tâm hồn đa cảm, đa sầu Trong lịch sử thơ ca dân tộc chưa có tập thơ nào nỗi buồn được nói lên

một cách đa dạng, lắm cung bậc và nhiều sắc thái như Lửa thiêng

Trong lời tựa của tập Lửa thiêng, nhà thơ Xuân Diệu cũng viết: “Trong thơ

Việt Nam, nghe bay dậy một tiếng địch buồn Không phải tiếng sáo thiên thai, không phải điệu ái tình, không phải lời ly tao kể chuyện một cái “tôi”; mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: Có phải tiếng đìu hiu của khóm trúc, b ông lau, có phải niềm than vãn của bờ sông, bãi cát; có phải mặt trăng một mình đang cảm thương cùng các vì sao? Tiếng rền rĩ, dịu êm sẽ vấn lấy ta như một dải lụa ôm ấp một vết đau; tiếng len như thấm thía vào hồn ta như khí hậu của núi đèo; tiếng làm thành sương, đọng lệ trên mắt ta…” [22, tr.54]

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng nỗi buồn của Lửa thiêng không mang tính

riêng tư, không gắn với dục vọng, đam mê để rồi chán chường tuyệt vọng Vẫn có một mạch tình cảm trong trẻo, thiết tha, gắn bó ân cần với cuộc sống và nói như cách nói của tác giả sau này “yêu đời nên đau đời”

Với Lửa thiêng, Huy Cận đã mang đến cho thi đàn một nỗi buồn đẹp như quê

hương, như nước mắt trời xanh Hình như sự vĩnh cửu từng níu lấy áo Huy Cận mà

kéo ông về bất tử thi ca ngay từ thuở vừa ngoài tuổi đôi mươi Lửa thiêng có lẽ là

tập thơ toàn bích nhất trong các tập thơ ra đời từ 1932 - 1945 trong phong trào Thơ mới? Cây cổ thụ Huy Cận sẽ còn xanh tươi mãi trong vườn thơ dân tộc như câu thơ

ông từng viết trong bài thơ Họa điệu: “Cây không đi mà tình cũng nghiêng

Trang 13

nghiêng” Nhà thơ Xuân Diệu cũng từng nhận xét về hồn thơ Huy Cận trong tập Lửa thiêng là một hồn thơ có nhiều hương vị, hương vị là đặc tính của thơ Huy Cận:

“Thơ ông không lộng lẫy, không kiều diễm, không chú nơi thanh sắc, không nở ra

như những đóa hoa rực rỡ; thơ ông không khoe tươi Thơ ông như nụ mùa xuân, như trái mùa hè, gói gắm lại, nhưng đầy căng nhựa thơm và mật ngọt Ông không làm mê ta bằng màu sắc và âm điệu; ông có một sức quyến rũ lạ lùng hơn, khó hiểu hơn: là mùi thơm Thơ ông phô bày một cái gì thầm kín, rạo rực; thơ ông không phải rượu đã rót vào chén, thơ ông là men đương lên; thơ ông không phải là hoa sẵn trên cành, thơ ông là dòng nhựa đương chuyển (…) Huy Cận! Một tâm hồn đặc biệt quá, nồng cháy bên trong, e lệ bên ngoài, hay nói nhỏ và hay làm thinh, để cho men lòng càng rạo rực hơn nữa; một tâm hồn hay lặng yên để nước mắt chảy, không biết khóc vì cái gì; vừa mạnh, vừa yếu, rất mới và rất xưa, rất Âu Tây và rất

Á Đông” [22, tr.49 - 53]

Hơn 70 năm, kể từ lúc ra đời trong phong trào Thơ mới 1930-1945 đến nay,

Lửa thiêng đã cháy và đã tỏa sáng trong nền văn học Việt Nam, không chỉ ở thế kỷ

XX mà chắc chắn sẽ còn tỏa sáng và âm hưởng đến thế kỷ sau

1.1.3 Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua Lửa thiêng

Lửa thiêng là thi phẩm đầu tay của Huy Cận nhưng đã thể hiện độ chín trong

nghệ thuật, khẳng định vị trí của ông trong làng Thơ mới 1930 - 1945, đồng thời thể hiện một tài năng thơ độc đáo, một tâm hồn đa sầu, đa cảm với những cảm xúc hết sức tinh tế, sâu sắc của nhà thơ khi tuổi đời còn rất trẻ

Phong cách thơ Huy Cận hình thành trong phong trào Thơ mới, một thời kỳ phát triển khá đặc biệt và đặc sắc của thơ ca Việt Nam đầu thế kỷ XX Cùng với nhiều xu hướng sáng tác khác nhau, bày tỏ tình yêu mộng tưởng, tình yêu thiên nhiên, nỗi chán chường, muốn chốn tránh thực tại xã hội của các nhà thơ cùng thời đại như Thế Lữ, Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Xuân Sanh, Tế Hanh, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê…, và gần gũi nhất là giọng điệu trữ tình sôi nổi, nồng nhiệt của người bạn thân - Xuân Diệu, Huy Cận đã thể hiện một giọng điệu

Trang 14

riêng độc đáo, góp phần hình thành “một thời đại trong thi ca”, giai đoạn

Qua Lửa thiêng, nhà thơ không hề ra “tuyên ngôn” về quan niệm làm thơ

nhưng giọng điệu tình cảm dào dạt, đắm say tình yêu, yêu quý thiên nhiên, yêu cái đẹp, yêu cuộc sống luôn quyện trong triết lý nhân sinh, đầy khát vọng sống, khát vọng tìm kiếm lý tưởng của một nhà thơ - trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX … Sự hài hòa giữa truyền thống thơ ca, văn hóa dân tộc với những tri thức nắm bắt từ Tây học, từ sự nghiền ngẫm, thẩm thấu tư tưởng triết học các nền văn hóa nhân loại bộc

lộ trong thơ Huy Cận Cho nên, đi tìm hồn thơ của Huy Cận, là khám phá một vũ trụ thơ mênh mông: bên cạnh cảm hứng thơ về không gian vũ trụ bao la với nỗi cô đơn của con người đầy tính triết lý, là những cảm hứng thơ đầy tính ẩn dụ qua Đất, Nước, Lửa, song hành cùng “chất Đời” trong cuộc sống Đó là ẩn dụ Lửa - sự hoài

niệm về sứ mệnh của nhà thơ, một quan niệm rất mới trong thơ ca Việt Nam (Trình

bày, Trò chuyện); là ẩn dụ về Nước - nỗi buồn và tình yêu (Tràng giang, Buồn đêm mưa, Xuân); ẩn dụ về Đất sự suy tưởng về ý nghĩa sống, chết (Chết, Nhạc sầu)…

Những ý nghĩa ẩn dụ này không hề lấn át cảm xúc, cảm hứng sáng tác, mặc dù âm hưởng triết học phương Đông, phương Tây luôn bàng bạc qua một số ý thơ, tứ thơ của Huy Cận

Thơ Huy Cận có sự kết hợp hài hòa giữa hai nền văn hóa Đông - Tây, vừa có sức sống mạnh mẽ của truyền thống vừa mang hơi thở và dấu ấn của thời đại mới

Sự kết hợp hài hòa đó được thể hiện khá rõ nét qua phương diện thể loại Từ phương diện thể loại, chúng ta thấy suốt cuộc đời cầm bút, Huy cận đã mở rộng sáng tạo ra nhiều loại Huy Cận đã hành bút trên khắp các thể loại quen thuộc: thất ngôn, ngũ ngôn, lục bát, thơ 8 chữ, thơ tự do Trong đó các thể thơ truyền thống như

Trang 15

ngũ ngôn, thất ngôn và đặc biệt là lục bát đã được Huy Cận sử dụng thuần thục và

có những cách tân quan trọng

Lửa thiêng là tác phẩm đầu tay và xuất sắc của Huy Cận, ra đời mang lại

vinh quang cho nhà thơ và khởi đầu cho toàn bộ thơ Huy Cận đồng thời cho toàn bộ phong cách thơ Huy Cận, cho dù ông cũng như thơ ông có chia làm hai giai đoạn rõ rệt: trước và sau Cách mạng tháng Tám Toàn bộ thơ Huy Cận đều mang dấu ấn của

Lửa thiêng, như một ngọn lửa có lúc mờ đi rồi lại sáng

Và cũng trên dặm dài lịch sử đi tới của thơ ca, lời nhận xét của nhà văn Pháp,

Yveline Feray (tác giả quyển Vạn Xuân) không khỏi làm chúng ta phải suy nghĩ làm sao cho đúng hơn, cảm nhận sâu sắc hơn về tâm hồn thơ Huy Cận: “Đọc thơ anh,

tôi có cảm tưởng được uống vào nguồn thơ của Việt Nam Chính bằng nghệ thuật

kỳ ảo vừa thông thái vừa giản dị, vừa vũ trụ vừa ngày thường, mà anh đạt tới tính phổ biến của nhân loại” (trích Lời tựa tập thơ Nước triều Đông của Paul Scheider)

[22, tr.516]

Việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua tập Lửa thiêng,

một lần nữa càng khẳng định vị trí Huy Cận - nhà thơ - nhà văn hóa lớn của nền thơ

ca Việt Nam thế kỷ XX, với ngôn ngữ nghệ thuật thơ ca đặc sắc và những âm hưởng tình cảm dạt dào, tư tưởng triết lý sâu sắc

1.2 Lửa thiêng - một thế giới hình tượng nghệ thuật đặc sắc

1.2.1 Không - thời gian nghệ thuật trong Lửa thiêng

Trong thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám, thời gian và không gian nghệ thuật luôn gắn bó với nhau như là hai mặt của một vấn đề, vừa thống nhất vừa đối lập và luôn chuyển hóa lẫn nhau Khi thời gian được không gian hóa nó trở nên sinh động hữu hình, khi không gian được thời gian hóa nó càng mênh mông vời vợi

1.2.1.1 Không gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật là một yếu tố tạo nên tính chỉnh thể của tác phẩm văn học Không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, một cách nhìn độc đáo của tác giả; là hình thức tồn tại của hình tượng Và mỗi nhà văn, nhà thơ thường tạo cho mình một không gian nghệ thuật riêng

Trang 16

Với Lửa thiêng, Huy Cận đã tạo cho mình một không gian nghệ thuật đặc

sắc, trở thành cảm giác trội nhất, thường trực trong nguồn cảm hứng giãi bày của chủ thể trữ tình Điều kỳ lạ là ở vào tuổi thanh niên nhưng cảm hứng sáng tạo của Huy Cận đã tạo nên một không gian thoáng rộng dài để nói lên cái cô liêu, chơi vơi của cuộc đời, và để cho tứ thơ đi về giữa quá khứ và hiện tại, giữa cuộc đời thực và

chốn vời vợi cao xa Nói về thơ không gian thì Huy Cận là số một: “Không gian

trong thơ Huy Cận gây ấn tượng nghệ thuật đặc biệt là rất chín và đằm thắm ân tình” [22, tr.73]

Mỗi nhà thơ thường tìm về cho mình một vùng thẩm mỹ riêng trong khi thể hiện tư tưởng nghệ thuật của mình Nếu như Xuân Diệu thường trực nỗi ám ảnh thời gian thì Huy Cận thường trực nỗi khắc khoải không gian Nếu Xuân Diệu quan tâm nhiều đến sự hữu hạn của thời trẻ nhân gian giữa dòng thời gian trôi chảy thì Huy Cận ý thức sâu sắc sự hữu hạn của cá thể con người trong không gian rộng lớn mênh mông Trong lúc Xuân Diệu muốn níu giữ thời gian để kéo dài tuổi trẻ thì Huy Cận có khát vọng chiếm lĩnh, hòa nhập vào không gian vô tận, để cùng không gian tồn tại vĩnh hằng Vì lẽ đó, sống trong không gian mà Huy Cận vẫn nhớ không gian, vẫn đưa tay hứng, vớt không gian:

Tôi luồn tay nhỏ hứng không gian Vớt gió xa xôi lạnh lẽo ngàn Tôi để cho hồn theo với lá Xiêu xiêu cúi nhẹ trút buồn tràn

(Mưa)

Nỗi nhớ không gian trong thơ Huy Cận là nỗi nhớ về không gian vũ trụ trên cao, nơi xa, cõi biếc Nỗi nhớ ấy da diết, thường trực ở mọi lúc, mọi nơi Không

gian trong Lửa thiêng là một hình tượng nghệ thuật đặc sắc, được khai thác ở những

chiều kích khác nhau, từ không gian hẹp đến không gian rộng lớn, từ không gian trần thế đến không gian cõi âm

Không gian địa ngục là chốn hư vô, nơi giam cầm những linh hồn đau khổ đang nhớ tiếc cõi trần Nơi ấy thật tối tăm, lạnh lẽo, câm lặng và chật chội:

Trang 17

Thân bay nhảy giam trong mồ nhỏ tí

Một dáng điệu suốt trăm ngàn thế kỷ

… Nhưng mắt đóng trong đêm câm dằng dặc Còn biết gì trời đất ở trên kia

(Chết)

Nhà thơ Huy Cận viết về địa ngục để nói lên cảnh sống tội nghiệp của người chết và rộng lớn hơn nữa là bi kịch của loài người khi bị đầy ải xuống âm ti Tình thương người của Huy Cận trải dài theo thời gian và man mác mọi không gian Phải chăng vì thế mà lòng thi nhân đã mang nặng mối sầu lớn của loài người, của hồn người muôn kiếp

Sống ở cõi đời đầy chông gai con người không thôi nuối tiếc cái “Thiên

đường đã mất” Trái tim đau luôn luôn có nhu cầu Trình bày, nhu cầu dâng hiến cho

đời thứ ngọc đau buồn kết tinh từ nước mắt, mơ mộng và tình yêu cho vơi bớt cô đơn Không gian Lửa thiêng là sự hóa thân của thiên đường, của sự hòa đồng

nguyên thủy thuở xưa Đó là không gian mang tính chất vĩnh viễn và là đối tượng

để con người chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng Là trời xưa như một quá khứ, là cõi

biếc mênh mông, là trên cao chơi vơi, là nơi xa biếc tượng trưng cho Chân, Thiện,

Mỹ tồn tại ở trên cao đối lập với tất cả những cái giả dối, mong manh ở dưới thấp Như vậy là ở đây, huyền thoại thiên đường còn mang một chức năng khác : yếu tố

tổ chức không gian theo trục dọc: trên - dưới, cao - thấp, đẹp - xấu, vô biên - hữu

hạn… Trong thang bậc giá trị này con người sống ở dưới thấp, trong cô đơn (Hiu

hắt đầy tôi ở xứ hờ) và không nguôi quên sự ám ảnh của không gian ở trên cao

Bởi thế, Trông lên, với Huy Cận, không chỉ là một động tác trữ tình thuần

túy thủ pháp, mà là một thái độ nghệ thuật nhằm chiêm ngưỡng không gian như là

một lý tưởng thẩm mỹ Tâm trạng nhớ không gian, buồn bã không gian, sầu không

gian … tràn ngập khắp Lửa thiêng Thậm trí con người còn hứng không gian, mang

không gian vào trong bản thân mình để rồi trải mình ra với không gian

Trang 18

Trong ba tầng không gian: thiên đường, trần thế, địa ngục thì không gian trần

thế chiếm địa vị ưu tiên trong thế giới nghệ thuật Lửa thiêng Không gian trần thế trong Lửa thiêng được khắc họa bằng sự chiếm lĩnh không gian tự nhiên Đó là không gian nông thôn với cảnh sông, hồ, đường, vườn tược… phong cảnh khoáng

dã của đồng nội mang lại cho nhà thơ sự thư thái, trấn an được tâm hồn cô đơn của con người

Hoạt động của con người nơi thôn dã gắn với không gian vườn cây tràn trề nhựa sống Ở đó cây cối đang trong độ viên mãn nhất, tỏa hương thơm dâng đời như mời gọi con người hãy đến và tận hưởng:

- Thơm tho quá, lòng ơi, vườn mới xới

Vẩn vơ thơm như mùi của tơ duyên

(Vỗ về)

- Vườn hân hoan muôn vạn nỗi dàn bày Của nhựa mạnh thành tơ trong lá mới

(Họa điệu)

Nhưng không gian trần thế trong Lửa thiêng là không gian chưa trọn vẹn,

vẫn có những giới hạn nhất định nào đó Con người cá nhân lãng mạn nhỏ nhoi không ôm trùm nổi không gian vũ trụ, chỉ biết nhìn nó bằng cái nhìn đo đếm kiểu

phương Tây, nên không gian cắt lát, vỡ vụn “Nét độc đáo của hình tượng con

đường và dòng sông trong Lửa thiêng là chúng không phát triển tuyến tính, mà dường như bị giới hạn bởi một biên giới vô hình nào đó, để trở thành một không gian tĩnh Con đường ở đây chỉ là một khúc “đường thơm”, nơi con người đến để thả hồn mơ Dòng sông ở đây chỉ là một khúc sông, một đoạn sông phẳng lặng được nhìn ra từ một bến đò, một bãi bờ nào đó” [22, tr.368]

Không gian đầy hương thơm nhiều lần xuất hiện trong thơ Huy Cận Hương thơm trở thành một đặc điểm nổi bật của không gian trần thế: Hương thơm vẩn vơ trong vườn mới xới, hương thơm phảng phất trong không gian đường làng mà lứa đôi đang dạo bước:

Cả không gian hồn hậu rất thơm thơ

Trang 19

Gió hương đưa mùi dìu dịu phất phơ

(Đi giữa đường thơm)

Hương thơm còn tỏa ra từ luống đất mùa xuân, từ cây xanh, sông nước, từ thân thể trai tơ đang bước bên đường Ấy là hương của mùa xuân, của sự sống:

Luống đất thơm hương mùa mới dậy Bên đường chân rộn bước trai tơ Cây xanh cành đẹp xui tay với Sông mát tràn xuân nước đậm bờ

(Xuân)

Huy Cận không quan tâm nhiều đến đường nét, sắc màu của cảnh, nghĩa là

bề ngoài của sự vật Điều mà nhà thơ quan tâm hơn là mạch sống bên trong, là linh hồn của tạo vật Đối với Huy Cận cảnh là sự hiện hữu của không gian, một không gian đan đầy tâm trạng, có khi đó là không gian đã chuyển vào thế giới nội tâm, một không gian đã được ảo hóa Từ một cảnh thực:

Nắng chia nửa bãi chiều rồi Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu

Nhưng thoáng chốc cảnh đã được ảo hóa để chuyển vào cõi mộng:

Sợi buồn con nhện giăng mau

Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây

Lòng anh mở với quạt này Trăm con chim mộng về bay đầu giường

Trang 20

nên sự hòa quyện giữa thực và ảo, đến cả những sự vật gần gũi nhất cũng được ảo hóa:

Hồn nhớ thương em dệt áo dâng anh

Và tai rền thu cất nhạc không gian;

(Thân thể)

Quan niệm về không gian vũ trụ, về khát vọng lên cao với con mắt bao quát thế giới hơn từ dưới vọng tưởng, ngưỡng mộ, ngẩng lên cao đã có trong suy nghĩ bao đời của con người Chủ thể trữ tình khao khát chiếm lĩnh không gian theo nhiều chiều của vũ trụ Không gian giãn nở, dàn trải mênh mông không ngờ Sự bao quát hình ảnh tạo vật là một biệt tài trong thơ Huy Cận Không gian vì thế là sự mở đầu

và không bao giờ khép lại trong cái nhìn tạo vật, đó là không gian vô biên, không gian của vũ trụ:

Da chiều mới tỏ sao hôm, Màu thanh thiên đã vào ôm giữa hồn

Giữa trời hình lá con con, Trời xa sắc biển, lá thon mình thuyền

Gió qua là ngọn triều lên Hiu hiu gió đẩy thuyền trên biển trời

(Trông lên)

Tinh thần chiếm lĩnh không gian trên cao, không gian vũ trụ được thể hiện

tập trung trong bài thơ Tràng giang Cảm hứng của bài thơ là cảm hứng không

Trang 21

gian : Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài Không gian được mở ra từ một dòng

sông rộng lớn với muôn vàn đợt sóng và triền miên nỗi buồn:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Từ dòng sông, không gian được mở rộng theo chiều dọc (con thuyền xuôi), chiều ngang (lơ thơ cồn nhỏ), mà chiều nào dường như cũng không có giới hạn Một điểm nhìn tương đối hiện đại, mới mẻ so với thời điểm bấy giờ, khi nhà thơ mô

tả một bức tranh vũ trụ ở ca ba chiều : cao, dài, và rộng thật mênh mông, tuyệt đẹp :

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót : Sông dài, trời rộng - bến cô liêu

(Tràng giang)

Những tia nắng vàng rọi xuống càng nâng bầu trời lên cao Cái nhìn của nhà thơ như bị hút vào khoảng không gian sâu chót vót, rồi vượt lên, xuyên thủng cả

tầng không gian bầu trời để đến cõi vô biên Không gian nghệ thuật của Tràng

giang thấm đẫm chất Đường thi : khoáng đạt và cổ kính, tĩnh tại và thanh vắng

Nhưng Tràng giang là thi phẩm của một nhà Thơ mới, một nhà thơ lãng mạn trong thời kỳ hiện đại, nó mang đậm dấu ấn của một thời đại trong thi ca Cũng là chiếm

lĩnh không gian, khát khao hòa nhập vào vũ trụ nhưng Huy Cận không tìm được sự

an nhiên tự tại ung dung của thi sĩ đời Đường Huy Cận càng lên cao càng thấy lạnh, càng cảm thấy cô đơn giữa đất trời Vì vậy, thoáng chốc không gian vũ trụ bỗng nhạt nhòa nhường lại cho không gian tâm trạng :

Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Đối nghịch lại cái không gian mênh mông, rộng lớn, con người bé nhỏ, cô đơn biết bao :

Một chiếc linh hồn nhỏ : Mang mang thiên cổ sầu

(Ê chề) Thâu qua cái ngáp dài vô hạn, Hình ảnh lung linh vũ trụ tàn

Trang 22

(Giấc ngủ chiều)

Cái tôi cô đơn của nhà thơ luôn bị ám ảnh bởi một không gian rộng, một điều nhà thơ từng giải thích là ấn tượng từ tuổi thơ về trời rộng mênh mông, sông dài bát

ngát của quê nhà, về đàn ong trại bay xa : “ những cảm giác đầu tiên, những cái

nhìn ngó đầu tiên vào ý nghĩa của cuộc đời và vũ trụ Và, ý thơ cuộc đời, ý thơ vũ trụ, cái xa xôi vắng vẻ sau này ám ảnh tôi ”, “Nơi xa xôi nào đó đã nhận một phần cốt tủy của linh hồn tôi với bầy ong trại ? ” [2, tr.10]

Không gian ôi, xin hẹp bớt mênh mông,

Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt !

Sầu chi lắm trời ơi ! chiều tận thế !

(Nhạc sầu) Trời mênh mông nên rất đỗi nhớ nhung

(Họa điệu)

Tóm lại, Lửa thiêng là khát vọng không nguôi của con người trong sự chiếm

lĩnh không gian Con người với tư cách là một thực thể hữu hạn về mặt thời gian lại luôn có ước mơ trở thành bất tử Chiếm lĩnh được không gian, trở nên trường tồn như không gian có nghĩa là con người khắc phục được thời gian để đi vào bất tử

Không gian nghệ thuật của Lửa thiêng là nơi hội tụ của những yếu tố trái ngược

nhau Ở đây chúng hòa hợp với nhau để tạo thành một thực thể thống nhất Đó là

phong cách đặc sắc của Lửa thiêng

1.2.1.2 Thời gian nghệ thuật

Hình tượng thời gian nghệ thuật trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận là

một trong những nét đặc sắc cùng với không gian nghệ thuật thể hiện thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận Một điểm độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận: thời gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận được chuyển hóa vào không gian, trở thành một thứ không - thời gian hòa quyện

Huy Cận luôn nhìn nhận thời gian trong sự tuần hoàn của vũ trụ, trong không gian bốn mùa lưu chuyển, trong đất nở muôn xuân, trong nhịp đời chậm rãi, trong

Trang 23

trời xưa, cõi biếc xa xăm Vì vậy, trong cảm nhận của Huy Cận, quá khứ hay hiện tại, hôm nay hay ngày mai, xuân cũ hay xuân nay đều đồng dạng, đồng nhịp trong vòng tuần hoàn vũ trụ :

Bắt gặp mùa tươi lên rún rẩy Trong cành hoa trẻ, cổ chim non

- Có ai gởi ý trong xuân cũ Đất nở muôn xuân vẫn chẳng mòn

Một tình yêu vừa mới nhóm lên, mà nhà thơ ngỡ như đã hẹn từ vạn kỷ:

Lòng em nhớ lòng anh từ vạn kỷ, Gặp hôm nay nhưng hẹn đã ngàn xưa

Yêu giữa đời mà hồn để trong mơ, Tình rộng quá, đời không biên giới nữa

(Tình tự)

Một nỗi buồn trong hiện tại mà nhà thơ tưởng đã có tự ngày xưa:

Người một thuở mà chàng sầu vạn kỷ Sống một đời chàng tưởng vọng muôn năm

(Mai sau)

Trong Lửa thiêng “đời”, “dòng đời” hay được nhắc đến nhiều lần Dòng đời

chính là dòng thời gian nhân thế, một kiểu thời gian đa tuyến, đa chiều và mang đậm dấu ấn chủ quan Thời gian nhân thế có thể trôi xuôi thuận chiều theo thời gian

tự nhiên và cũng có thể trở lại, lặp lại theo vòng luân hồi của những kiếp người Huy Cận cũng có ý thức về sự hữu hạn của đời người trên trần thế nhưng nhà thơ tin vào sự bất tử của những linh hồn Cái chết đối với con người chỉ là sự chuyển dịch từ không gian trần thế sang không gian thiên đường hoặc địa ngục; chết cũng

có nghĩa là hòa vào dòng thời gian vô tận, tồn tại cùng thời gian Vì thế người nay

có thể giao tiếp với người xưa, trò chuyện với người xưa Khi con người hòa vào dòng thời gian nhân thế thì thời gian tự nhiên như ngừng trôi, như thoát khỏi thời

Trang 24

gian tự nhiên Huy Cận trò chuyện với thi sĩ chết từ ngàn xưa trong một buổi chiều chỉ có sắc màu tâm trạng:

…Chiều không nắng, không mưa, Không sương gió, chỉ có sầu vạn thuở

Đời hiu quạnh, thời gian nghiêng bóng nhớ, Phố không cây thôi sầu biết bao chừng!

thuật trong Lửa thiêng là dòng thời gian quay về quá khứ trong cái nhìn tâm tưởng

của nhà thơ

Trở về quá khứ, nhà thơ mong muốn lưu giữ kỉ niệm, tìm thấy một khoảng trời đẹp nhất của một quãng đời Vì thế, miền hoài niệm là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng cảm xúc thơ Quay về nhìn lại những gì đã qua, Huy Cận nhớ tới tuổi

niên thiếu của buổi “Tựu trường” thời “Học sinh” khoác trên mình màu “Áo trắng”

ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng:

Gió thổi sân trường chiều chủ nhật;

- Ôi! thời thơ bé tuổi mười lăm

(Học sinh) Giờ nao nức của một thời trẻ dại!

Hỡi ngói nâu, hỡi tường trắng, cửa gương!

Những chàng trai mười lăm tuổi vào trường, Rương nho nhỏ với linh hồn bằng ngọc

Trang 25

đó con người sống trong sự hòa đồng với thiên nhiên và đồng loại Lúc ấy con người luôn cảm thấy bình ổn nội tâm trong thế giới bình yên, hạnh phúc:

Thời khắc đang đi nhịp thái bình Dịu dàng gió nhạt thổi mây xanh Hàng cây mở ngọn kêu chim đến Hạnh phúc xem như chuyện đã đành

(Bình yên)

Trong Chiều xưa, Đẹp xưa, Huy Cận dựng lên một không gian êm đềm man

mác thời gian, thời gian thấm vào cảnh, luồn vào gió để tạo nên hồn xưa trong cảnh:

Đêm mơ lay ánh trăng tàn Hồn xưa gửi tiếng thời gian, trống dồn

(Chiều xưa)

Trong không - thời gian của thuở xa xưa ấy có hình ảnh kẻ lữ thứ đang mải miết đi về quá khứ để tìm vẻ đẹp xưa, tìm về cội nguồn loài người, tìm về nôi ấm thiên nhiên, nhưng càng đi càng cảm thấy heo hút:

Đi rồi, khuất ngựa sau non;

Nhỏ thưa tràng đạc, tiếng còn tịch liêu

Trơ vơ buồn lọt quán chiều, Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người

(Đẹp xưa)

Nỗi buồn bã và cô đơn của con người trong Lửa thiêng mang nỗi sầu thiên cổ

vì nó đơn độc suốt trục thời gian

Trang 26

Ở Lửa thiêng không chỉ có thời gian quá khứ mà còn có thời gian hiện tại

Hiện tại là vị trí xuất phát của nhà thơ trên hành trình trở về quá khứ Đi về quá khứ còn có chút niềm hi vọng còn dừng lại ở hiện tại chỉ có nỗi buồn, nỗi buồn ấy hội tụ

ở thời gian buổi chiều Nhà nghiên cứu Trần Khánh Thành trong bài viết của mình

đã thống kê được : “Chỉ riêng trong 50 bài thơ Lửa thiêng mà Huy Cận đã có 40

lần nhắc đến buổi chiều : Chiều tê cúi đầu, Chiều mồ côi, Chiều quạnh quẽ, Chiều vĩnh biệt, Chiều tân thế ” [21, tr.107] Hầu như hoạt động của chủ thể trữ tình đều

diễn ra trong buổi chiều Nhà thơ trò chuyện với thi sĩ ngày xưa trong buổi chiều, nhớ hờ trong chiều nhẹ, xem xiếc trong buổi chiều, nhìn thuyền đi trong lúc đang chiều, tựu trường cũng vào buổi chiều, ngắm tràng giang trong lúc chiều sa, ru

người yêu ngủ trong buổi chiều “Thơ ca nói chung, Thơ mới nói riêng, đặc biệt

nhạy cảm với buổi chiều Nhưng nhắc đến Chiều một cách thường xuyên như thế,

có lẽ chỉ có Huy Cận Chiều đã trở thành đối tượng tâm sự, trở thành “cặp bài trùng” của Huy Cận, trở thành mảnh hồn của riêng ông.” [7, tr.40] Buổi chiều về

không gian càng trống trải, lặng lẽ, khi hoàng hôn buông xuống thế giới như trở về thời hỗn độn sơ khai Nhạy cảm trước buổi chiều cũng là nhạy cảm trước nỗi buồn

bã cô đơn của con người Thời gian nghệ thuật trong Lửa thiêng đã góp phần bộc lộ

niềm khát vọng lớn của nhà thơ Đó là khát vọng bất tử cùng thời gian, khát vọng tìm kiếm hạnh phúc trong thời quá khứ, trong sự hòa đồng với thiên nhiên và nhân loại Nhưng càng xuôi về quá khứ nhà thơ càng cô đơn để cuối cùng chợt nhận ra tình trạng bơ vơ của mình trên con đường thời gian vô tận :

Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu

(Ê chề)

Tương ứng với không gian vũ trụ, thời gian trong Lửa thiêng cũng dài dằng

dặc với ngôn từ biểu hiện “số lượng khổng lồ” : vạn kỷ, muôn năm, vĩnh viễn, nghìn năm, vạn thuở Nỗi buồn sầu, cô đơn cũng được đo bằng “tỉ lệ kích thước ” tương tự như vậy :

Người một thuở mà chàng sầu vạn kỷ,

Trang 27

Sống một đời chàng tưởng vọng muôn năm;

Gió trăng ơi ! chắc nơi chỗ chàng nằm Chăn chiếu mục đã nở màu vĩnh viễn

1.2.2 Hình tượng cái tôi trữ tình trong Lửa thiêng

Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ là một yếu tố quan trọng, bộc lộ bản sắc tâm hồn, tiềm năng sáng tạo và khả năng đồng hóa hiện thực của mỗi nhà thơ Những nhà thơ lớn đều có cái tôi trữ tình đa dạng, phong phú độc đáo, in đậm dấu

ấn riêng trong nền thơ dân tộc

1.2.2.1 Cái tôi cô đơn, sầu não

Con người cá nhân và cái tôi riêng đã được Thơ mới chú ý ngay từ khi nó mới ra đời Hầu hết các nhà Thơ mới đều đề cao cái tôi, coi đó là điểm hội tụ, và cũng có thể là điểm sáng của thế giới tinh thần con người Một thế hệ thi sĩ mới xuất hiện cùng với một hệ thống các quan niệm thẩm mỹ mới: Cái tôi trữ tình mang nhiều màu sắc đã làm nên những sáng tạo mới, những phong cách mới tạo nên

‘‘Một thời đại trong thi ca” Sự thức tỉnh ý thức cá nhân đòi hỏi thơ cái tôi, cái cá nhân làm đề tài, thậm chí làm trung tâm Cái gọi là ‘‘khát vọng được thành thực’’ là khát vọng được nói về mình, về cá nhân mình :

“Tôi chỉ là một khách tình si”, “Tôi chỉ là một kiếp đi hoang”, “Tôi là một cô hồn”, “Tôi là con chim đến từ núi lạ”, “Tôi là kẻ lạc loài”, “Tôi là chiếc thuyền say”, Toàn bộ Thơ mới hầu như là câu trả lời cho vấn đề không chút siêu hình

Trang 28

này : “Ta là ai ?” Có thể nói rằng : Thơ mới đã tích tụ lại trong mình tất cả nỗi đau nhân thế và nỗi buồn thời thế để viết nên bản đại hòa tấu mà tất cả các cung bậc đều ngậm ngùi, đau xót, ảo não, tê tái

Nỗi sầu vũ trụ và nỗi sầu nhân thế luôn chất chứa trong tâm hồn nhà thơ Huy Cận Bởi ở thời kì này, Huy Cận trong phong trào Thơ mới cũng chỉ là một cái tôi

cá nhân tồn tại ở vị thế côi cút, lạc lõng, bơ vơ Sự tuyệt đối hóa cái tôi cá nhân dần dần dẫn đến cô đơn, hiu quạnh, đau buồn Thơ của Huy Cận thấm đẫm cảm giác

lênh đênh, vô định : “Củi một cành khô lạc mấy dòng ”

Lửa thiêng là một cõi buồn Một cái tôi buồn trong một vũ trụ buồn Ấy là

cái tôi lữ thứ và một vũ trụ cô liêu Cái nhìn nghệ thuật về cuộc đời của Huy Cận là

cái nhìn buồn “Bước vào Lửa thiêng, lập tức ta thấy mình bơ vơ trước không gian

vô cùng vô tận và lạc loài trong thời gian vô thủy vô chung Ta thấy lạnh lòng, nhưng không phải cái lạnh của thời khí đưa đến, mà cái lạnh từ vô biên ngấm vào

Ta thấy phận người thật là phù du, cứ nhỏ nhoi trôi dạt trong thăm thẳm, trong vô cùng” [22, tr.452] Càng đi sâu vào thế giới đó càng cảm thấy cô đơn, đau khổ Vì

thế mới có cái buồn “thảm đạm và nặng nề” Trông đâu cũng “Bâng khuâng trời

rộng nhớ sông dài”, nhìn đâu cũng gặp “Nắng xuống trời lên sâu chót vót - Sông dài trời rộng bến cô liêu” (Tràng giang) Đó là thế giới của trống vắng hoang sơ

Đó cũng là thế giới chảy trôi vô định Chưa có ở đâu nhịp chuyển di của tạo vật đang đi dần về phía hư vô lại in vào trực quan của thi nhân thường xuyên đến thế

Ta gặp cái buồn từ đâu rớt mình vào gió, gieo xuống lòng hồ “Buồn gieo theo gió

veo hồ ” Dòng suối xưa đã xuôi về dĩ vãng “Đã chảy về đâu những suối xưa ” (Buồn) Âm vang tắt dần vào cô tịch hoang liêu : “Rừng cương nghỉ ngựa non cao - Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon - Đi rồi khuất ngựa sau non - Nhỏ thư tràng đạc tiếng còn tịch liêu ” (Đẹp xưa) Mà ớn lạnh nhất vẫn là nhịp thuyền miên viễn trên

sông nước “thuyền trôi”, “thuyền xuôi mái” Rồi cành củi trôi, đám bèo dạt, bóng chim nghiêng, thoáng ngựa khuất, dáng buồm xa Tất cả như trong cái hành trình lạnh lùng lặng lẽ xuôi về hư vô Ấy là hình ảnh của sự sống đi xuống

Trang 29

Trước cái buồn mang mang khắp cả cõi thơ Lửa thiêng như thế, Trần Khánh Thành đã thống kê : “Trong tập Lửa thiêng có 50 bài thì đã có hơn 35 bài trực tiếp

bộc lộ tâm trạng buồn bã, cô đơn Cũng trong chừng ấy bài thơ mà có đến 46 lần chữ buồn hiện diện và 31 lần chữ sầu giăng mắc khắp các câu thơ [21, tr.45] Trong Lửa thiêng, nếu cái tôi thi sĩ hiện ra như “Một chiếc linh hồn nhỏ - Mang mang

thiên cổ sầu”, thì vũ trụ cũng hiện ra như một cõi đất mà linh hồn của nó là một điệu

buồn ảo não với “Vạn lý sầu lên núi tiếp mây”

Nỗi buồn của Huy Cận là nỗi sầu nhân thế, nỗi buồn của một người dân mất nước ý thức sâu sắc về cảnh ngộ của con người và cảnh ngộ của non sông đất nước Nỗi sầu ấy dễ dàng xâm chiếm và cư ngụ trong tâm hồn Huy Cận bởi, tâm hồn của chàng trai này vốn đã sẵn nhuốm cái sầu thuở thiếu thời Quan niệm có ý thức của Huy Cận dường như cũng đã hướng hồn ông tìm tới cái sầu

Ở Huy Cận mối sầu nhân thế ấy in đậm một nét riêng : ấy là mặc cảm lạc điệu, lạc loài của một cá thể cô đơn Khát khao hòa điệu mà chỉ thấy bất hòa Mang trong mình một lòng yêu đời “âm âm mà mãnh liệt”, vậy mà chẳng được hòa điệu với cuộc đời lớn Chỉ thấy dạt trôi lạc lõng vô định giữa tạo vật và nhân gian

Cũng như nhiều nhà thơ lãng mạn khác, ý thức về cá nhân làm cho Huy Cận chú ý quan sát dòng ý thức, tâm tình, tình cảm trôi chảy trong tâm não mình :

Đêm mưa làm nhớ không gian, Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

Tai nương nước giọt mái nhà, Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong hồn Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi…

Rơi rơi…dìu dịu rơi rơi…

Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ…

(Buồn đêm mưa)

Rõ ràng đây là một phát ngôn cho cái tôi tự ý thức Nó nhỏ bé, cô đơn, nó

đối lập với cái vô hạn, vô cùng Đó là niềm giao cảm của con người bé nhỏ với đất

Trang 30

trời rộng lớn hay nói một cách khác là cái tương quan giữa ngoại giới và tâm tư,

giữa người và cảnh vật Dòng nội cảm còn thấy rất rõ trong các bài thơ Trông lên,

Đi giữa đường thơm

Ý thức số kiếp con người là cô đơn vò võ Lên tiếng sầu vạn kỷ với bao nhiêu chất chứa phiền lụy, thương mến nhân gian trong vòng sinh tử triền miên, lên

tiếng cô độc như núi rừng riêng tây đó Nhà thơ Huy Cận mang cho hồn thơ Việt

Nam một dòng suy niệm về hư vô mịt mùng thăm thẳm biết bao nhiêu Xuân Diệu

đã gọi Huy Cận là linh hồn trời đất Đọc thơ người như một dòng nước, không, một

đại dương yêu thương, tràn lan, thấm tận trong căn đế của tâm hồn nhân gian, nhất

Trong Lửa thiêng , Huy Cận đã thể hiện được cái ngột ngạt tù túng, chán nản

của những cảnh đời Sự sống đã mất đi tính chất hấp dẫn và phần thiêng liêng của

nó, trở thành nhạt nhẽo, nhàm chán, bế tắc :

Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người Đời nhạt tẻ như tàu không đổi chuyến!

Đời nghèo thế không dành tôi chút lạ Đến ái ân cũng hết cả đợi chờ

(Quẩn quanh)

Trang 31

Quan niệm về con người cá nhân trong thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận qua

tập Lửa thiêng là con người bị mất thiên đường, bị cắt rốn khỏi vũ trụ, bị đày xuống

“xứ hờ” và từ đó bơ vơ lạc lõng giữa chốn trần gian:

Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh

(Trình bày) Lòng chàng xưa chốn nọ với nơi này,

Đây hay đó chỉ dựng chòi cô độc

(Mai sau)

Tình trạng cô đơn của con người trong xã hội cũ được Huy Cận cắt nghĩa từ

sự tuyệt giao của những tấm lòng Nhà thơ với tư cách là một cá thể trong xã hội luôn mở rộng lòng mình đón đợi sự cảm thông chia sẻ Nhưng càng khát khao giao tiếp tình cảm, nhà thơ càng đau đớn tuyệt vọng vì sự hờ hững, thờ ơ của bao tấm lòng khác:

Mong trốn tránh bơ vơ Tôi đem tình bán rẻ Cho vạn khách thờ ơ

Và lòng tôi đã ế

(Ê chề)

Vì vậy nhà thơ thường hay nói đến những tấm lòng đau thương, buồn tủi, xót

xa: lòng hoảng hốt, lòng lạnh, lòng run, lòng sầu, lòng buồn, lòng quạnh hiu, lòng

đau xé… Nỗi đau lòng của nhà thơ Huy Cận là một mặt biểu hiện của lòng yêu đời,

niềm khát khao tình yêu hạnh phúc nhưng không được đền đáp Nhà thơ không trách đời, trách người mà tự trách mình, cắt nghĩa nỗi buồn đau từ bản chất tâm hồn mình:

Vì ta đợi cho nên người chẳng đến Người ta xa, xa từ buổi sơ sinh

(Bi ca) Chàng yêu lắm nên bị người hắt hủi,

Trang 32

Chàng yêu lâu nên thiên hạ lìa xa

(Mai sau)

Thực chất đó chỉ là “cách giải thích theo cách nói nghịch lý” để làm nổi bật

tình trạng bế tắc của con người trong hành trình đi tìm bầu bạn, tìm niềm giao cảm tâm hồn Vì mỗi người là một ốc đảo cô đơn nên những tấm lòng không tìm đến được với nhau, ngay cả khi khoảng cách không gian được rút ngắn thì khoảng cách

giữa những tấm lòng vẫn cứ vời xa: “Gần gũi song le vẫn biệt rào” (Song song)

Tình yêu, hạnh phúc trong đời chỉ là một cuộc đuổi bắt vô vọng trên con đường song song không có điểm giao nhau Dù vô vọng nhưng Huy Cận vẫn không thôi

Cầu khẩn tấm lòng người khác:

Đứng lại dùm, tôi đã mỏi theo sau

Ôi ! Nỡ nào suốt đời đuổi bắt nhau

Và không thôi an ủi lòng mình:

Tỉnh dậy lòng ơi, ê chề hãy tỉnh

Gà gáy mai đem sức lại cho đời Quên chua cay, hãy tỉnh dậy lòng ơi ! Chớ ảo não, chán chường không phải lẽ

(Vỗ về)

Tương lai thì mù mịt, hiện tại thì bơ vơ, cái tôi cô đơn chỉ còn biết giải thoát tinh thần bằng cách lộn ngược quá khứ làm tương lai Cũng nằm trong quy luật

chung về tâm lý như Chế Lan Viên nói: “Khi đã buồn hiện tại, thì quay về tháp

xưa” Huy Cận cũng có lúc nghĩ đến quá khứ xa xưa như một miền đất hứa Ở nơi

ấy mọi sự trên đời đều ổn thỏa, tốt đẹp, người và thiên nhiên hòa hợp, và con người quyến luyến yêu thương nhau:

Trời buổi ấy ở trong thời tình tự Xuân muôn năm tơ mởn cỏ bên đường Người thì đẹp mà lòng ta mới nở Gió mơn ru và mây giục yêu đương

(Bi ca)

Trang 33

Khi thế giới bên này đầy những đắng cay buồn tủi thì nhà thơ muốn linh hồn mình sang thế giới bên kia:

Hỡi thượng đế ! tôi cúi đầu trả lại Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang Sầu đã chín, xin Người thôi hãy hái ! Nhận tôi đi, dẫu địa ngục, thiên đường

cõi mộng Cõi mộng trong Lửa thiêng không hoàn toàn xa lạ với cõi thực, là thế

giới “thực hư tương giao” Đó là thế giới có những phần đời được mộng hóa, là thế giới được tạo nên bằng mộng mơ, tưởng tượng Chỉ trong cõi mộng, con người mới tìm được tình cảm trong lành, ấm áp, những tấm lòng mới được giao thân

Đẹp nhất trong thế giới tấm lòng mà Huy Cận trân trọng nâng niu là tấm lòng trong trắng của tuổi học trò hồn nhiên thơ mộng Đó là lúc “Lòng mới nở giữa tay

đời ấm áp” (Tựu trường) Nhờ chấp cánh bằng mộng đẹp mà con người có được

những giây phút hạnh phúc ngọt ngào:

Đôi lứa thần tiên suốt một ngày,

Em ban hạnh phúc chứa đầy tay

Dịu dàng áo trắng trong như suối Tỏa phất đôi hồn cánh mộng bay

(Áo trắng)

Trong tập thơ Lửa thiêng, bên cạnh thế giới tấm lòng còn có một thế giới

linh hồn thật phong phú sống động Tác giả đã có 46 lần nhắc đến “hồn”, “linh hồn”

mà lần nào cũng mang một sắc thái, một ý nghĩa riêng độc đáo: hồn tôi, hồn em,

hồn xa, hồn xưa, hồn quen, hồn lạ, hồn bơ vơ, hồn lưu lạc, hồn ly tán, hồn đơn

Trang 34

chiếc, hồn góa bụa, hồn nhớ thương Trong Lửa thiêng phần hồn là lương tri, là sự

tự ý thức của nhà thơ Đó chính là phẩm chất có ý nghĩa thiêng liêng như một mặt

gương soi chiếu, soi rọi với cuộc đời Thế giới linh hồn trong Lửa thiêng được Huy

Cận đặt ở ba tọa độ không gian - thời gian: thiên đường - quá khứ, trần gian - hiện tại, địa ngục - tương lai Từ những tọa độ, nhà thơ đã nói lên cảnh ngộ và thân phận của linh hồn

Cũng như nhiều nhà thơ lãng mạn khác, Huy Cận ít nói đến tương lai Nếu nói đến tương lai thì đó là một thế giới mù mịt, tối tăm, lạnh lẽo của chốn địa ngục, của chốn hư vô

Địa ngục là chốn đầy ải linh hồn nhưng trần gian cũng không phải là nơi yên lành cho linh hồn trú ngụ Huy Cận đã nhiều lần nói đến tình trạng “hồn bơ vơ”,

“hồn lưu lạc” “hồn góa bụa” giữa cõi trần:

Hồn bơ vơ tôi đi dạo giữa đời

(Cầu khẩn) Hồn bơ vơ không biết tựa vào đâu

(Trò chuyện) Hồn tôi đây thiên hạ bỏ lìa xa

(Trình bày) Linh hồn tôi góa bụa

Đơn chiếc giữa đau thương

(Ê chề)

Tình trạng bơ vơ lạc lõng của những linh hồn giữa chốn trần gian chính là tình trạng bi đát của con người, kẻ mất thiên đường, cô đơn nơi trần thế Đó là sự cô đơn gần như tuyệt đối trên cả hai trục không - thời gian:

Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển Suốt một đời như núi đứng riêng tây

(Mai sau) Một chiếc linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu

Trang 35

(Ê chề)

Cùng với tình trạng cô đơn là nguy cơ tha hóa linh hồn, làm mất phần đời cao đẹp:

Có lẽ hồn ta không đẹp nữa, Nét thần thôi họa bức thiên duyên

(Hồn xa)

Tình trạng cô đơn và nguy cơ tha hóa linh hồn được nhà thơ Huy Cận cắt nghĩa qua mối quan hệ giữa phần hồn và phần xác Trong lúc phần hồn muốn vươn tới sự hòa đồng thì thể xác lại là hàng rào ngăn cách, phân chia:

Tôi đâu biết thịt xương là sông núi Chia biệt người ra từng xứ cô đơn

(Trình bày)

Trong lúc phần hồn là thế giới thiêng liêng, thanh cao, đẹp đẽ thì phần xác lại

là thế giới bùn nhơ, tội lỗi:

A ! Thân thể, một cái bình tội lỗi Đất sơ sinh đã hóa lại bùn lầy

Vì vậy ở chốn trần gian linh hồn luôn bị thân xác níu kéo bởi những đam mê, ham muốn tầm thường:

Thân quá nặng nên hồn sa xuống thấp Chớ giận chi những kẻ mất thiên đường

(Thân thể)

Cái tôi vốn nhỏ bé và bị gò bó trong cuộc sống hằng ngày, nên luôn cảm thấy thiếu một tầm vóc, thiếu một tiềm lực Ít nhiều các nhà Thơ mới đều có những tứ thơ nói lên sự khao khát được giải phóng khỏi sự ngột ngạt, bế tắc của xã hội Cái tôi trong Thơ mới là cái tôi bộc lộ, cái tôi cảm xúc đang mở hết các giác quan để nhận biết thế giới xung quanh Vũ trụ bao la, trời cao, biển rộng vẫn là những đối

tượng mà cảm hứng thi ca muốn vươn tới để hòa nhập Phải chăng vì thế, trong Lửa

thiêng, Huy Cận đã tìm đến vũ trụ bao la để tạo ra sự cảm hóa, để giải tỏa tâm tình,

bộc lộ cái tôi riêng biệt của thi nhân ? Trong hành trình tìm kiếm, chiếm lĩnh không

Trang 36

gian, tâm hồn Huy Cận chứa chất đầy mâu thuẫn Nhà thơ vừa khao khát cái xa xôi lại vừa sợ cái xa xôi, muốn vượt thoát khỏi cái nhỏ hẹp nhưng khi đối diện với cái rộng lớn vô hạn lại cảm thấy cô đơn, bé nhỏ Lúc ấy nhà thơ tự nhận ra cái tôi cô đơn của mình trước vũ trụ bao la

Trong sâu thẳm của hồn thơ Huy Cận là nỗi khao khát được giải thoát khỏi

sự tù túng của cuộc đời, của thực tại Tuy nhiên mọi trạng thái thoát li chỉ là tạm thời Cho dù các nhà Thơ mới có tìm đến với cõi mộng, hoặc quay về quá khứ vàng son một thuở thì rồi cũng trở về với hiện tại, với cuộc đời Không tìm thấy mối liên

hệ với thời đại là bi kịch của người trí thức, người sáng tạo tinh thần, dẫn đến cô đơn, sầu não trước cuộc đời

1.2.2.2 Cái tôi khao khát hòa điệu với cuộc đời

Khi nói đến cô đơn, đến sầu, chính là Huy Cận biểu hiện lòng vương vấn với con người Cái tôi ấy vẫn thích “tâm sự”, vẫn muốn “trò chuyện”, vẫn than thở sự khó cảm thương Cái tôi trữ tình luôn mong mỏi được chia sẻ, được đối thoại với nhiều đối tượng : Thượng đế, thế hệ nhà thơ muôn xưa, thế hệ trẻ mai sau…Đối với Huy Cận, trạng thái kỳ diệu nhất của sự sống là hòa điệu Mà đẹp nhất, hạnh phúc

nhất là khi cái tôi được hòa điệu với cuộc đời cùng tạo vật Cái tôi - cuộc đời - tạo

vật mối tương quan bộ ba này cũng chính là cốt lõi tạo nên thế giới hòa điệu lý

tưởng của Huy Cận

Nỗi buồn của Huy Cận là do bế tắc về tư tưởng, do cảm thấm không khí của thời đại hơn là do sự thăng trầm được mất của cá nhân Nếu đẩy tới tột độ, thì sẽ có tình trạng cô đơn tuyệt đối, không ai đến cứu ai cả:

Thuyền không giao nối dây qua đó, Vạn thuở chờ mong một cánh buồm

Vì quá buồn và cô đơn nên nhà thơ mời gọi những thi sĩ chết từ ngàn xưa để trò chuyện, giãi bày như người tri kỷ :

Em chiêu niệm các anh, hồn rạng lửa, Đuốc muôn sao đã thắp ở mặt trời

Hãy về đây hỡi thi sĩ muôn đời

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w