CHƯƠNG 2 TÍNH CHẤT CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI TRONG LỬA THIÊNG
2.3. Thể thơ trong Lửa thiêng
Thơ Huy Cận, ngay từ Lửa thiêng đã có độ chín của trào lưu, đã mang trong mình bầu khí quyển “hòa giải”. Thơ Huy Cận kết hợp hài hòa giữa hai nền văn hóa Đông - Tây, vừa có sức sống mạnh mẽ của truyền thống vừa mang hơi thở và dấu ấn của thời đại mới. Sự kết hợp hài hòa đó được thể hiện khá rõ nét qua phương diện thể loại. Những thể thơ truyền thống của dân tộc, như thể thơ năm chữ, bảy chữ và đặc biệt là thể thơ lục bát được Huy Cận sử dụng thuần thục và có những cách tân quan trọng.
2.3.1. Thể thơ lục bát
Lục bát là thể thơ dân tộc đã nhuần nhuyễn hóa trong ca dao và đạt đến đỉnh cao qua Truyện Kiều. Lúc sinh thời, Huy Cận từng nói: “Lục bát là thể thơ dễ làm mà khó hay. Không hay dễ rơi vào lục bát vè”, và ông không ngần ngại so sánh lục bát của mình với lục bát của Nguyễn Bính, theo Huy Cận: “Thời Thơ mới, lục bát của Nguyễn Bính và lục bát của Huy Cận đều là lục bát thơ. Lục bát của Nguyễn Bính uyển chuyển, mềm mại, tài hoa gần với ca dao, lục bát của Huy Cận cô đọng, đông đặc. So với Nguyễn Bính thì lục bát Huy Cận có phần cô đúc, sâu lắng hơn” [23, tr.494]. Trong 50 bài của Lửa thiêng, lục bát chỉ có 8 bài với: Buồn đêm mưa, Trông lên, Chiều xưa, Đẹp xưa, Thuyền đi, Xuân ý, Thu rừng và Ngậm ngùi. Nhưng nếu không có 8 bài thơ này, Lửa thiêng, dù có nhiều bài thất ngôn hay ví như Tràng giang cũng chưa thể làm nên một hồn thơ tinh tế độc đáo đến như vậy.
Ngay từ buổi đầu tiên bắt đầu đến với làng thơ, gặp gỡ nhóm Tự lực văn đoàn, Huy Cận đã được Nhất Linh hết lời khen tặng và đọc thuộc bài Chiều xưa:
“Chiều xưa của anh hay lắm, rất cổ mà lại rất mới” [27, tr.32]. Nhất Linh còn khẳng định rằng về lục bát: “Huy Cận là hậu duệ của Nguyễn Du”. Có thể nói, Huy Cận xuất hiện trên thi đàn với những câu thơ lục bát thật quen thuộc của thể điệu thơ dân tộc nhưng nó rất mới lạ, tinh diệu khi thể hiện nội tâm con người và ngoại cảnh:
Đêm mưa làm nhớ không gian Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn.
(Buồn đêm mưa)
Thơ lục bát ở Lửa thiêng đạt tới mức tinh vi, bác học, cổ điển mà hiện đại.
Các câu thơ đều gieo vần bằng, chủ yếu ngắt nhịp hai, vốn là nhịp đặc trưng của thơ lục bát, thảng hoặc có nhịp ba. Trong 8 bài thơ lục bát, 8 câu thơ có nhịp ba:
- Gió đưa hơi / gió đưa hơi
- Màu thanh thiên / đã ôm vào / giữa hồn - Gió qua là / ngọn triều lên
(Trông lên) - Phất phơ buồn / tự thời xưa / thổi về
(Chiều xưa) - Mái nghiêng nghiêng / gửi buồn theo / hút người
(Đẹp xưa) - Ngủ đi em / mộng bình thường !
(Ngậm ngùi) - Đêm vừa nhẹ / gió vừa mơn
(Xuân ý) - Nai cao gót / lẫn trong mù
(Thu rừng)
Chính nhịp 2 tạo nên sự nhịp nhàng cân đối cho câu thơ: “Mây bay lũng thấp giăng màn âm u”, “Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng” (Thu rừng), “Hiu hiu đẩy thuyền trên biển trời” (Trông lên), “Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la” (Buồn đêm mưa). Có khi tạo nên tiểu đối 4/4 trong cấu trúc câu thơ: “Nghìn cây mở ngọn / muôn lòng hé phơi” (Xuân ý), “Trăng phơi đầu bãi / nước dồn mênh mang” (Thuyền đi), “Đèo cao quán chật / bến đò lau thưa” (Chiều xưa), “Trời xa sắc biển / lá thon mình thuyền” (Trông lên)... Không đơn thuần là ngôn ngữ, nhịp điệu, tính cân đối là đặc điểm của mỹ học cổ điển và chất cổ điển trong thơ Huy Cận trước hết là ở đây.
Những câu thơ 8 chữ trong lục bát, với thính giác nhịp hai vẫn thích hợp; với ngữ
nghĩa nhịp 4 phân chia thành những thông báo thẩm mỹ. Ngược lại, câu thơ nhịp 3 bớt mềm mại nhưng gấp hơn, nhanh hơn. Đó là nhịp mới, nhịp hiện đại. Tất nhiên tính hiện đại của thơ bộc lộ nổi trội là ở nội dung cảm hứng, ở những liên tưởng phong phú, phóng túng, đậm cá tính sáng tạo.
Nhịp cơ bản của thơ lục bát là nhịp đôi tạo nên một kiến trúc luân phiên đều đặn. Trong ca dao dân ca nhịp đôi bao giờ cũng chiếm vị trí chủ đạo. Huy Cận mang hồn Nguyễn Du để làm nên giọng điệu lục bát rất riêng, rất mới của mình như bài Thu rừng:
Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.
Sắc trời trôi nhạt dưới khe;
Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng....
“Hai cặp lục bát trên đều đi nhịp đôi khe khẽ, rón rén, thi thoảng, theo kiểu cứ một bước sương lại một bước khói, như trời thu theo nai xuống núi, theo “chim đi” vì không nỡ bay sợ làm động vỡ hồn thu. Huy Cận mượn bút Tề Bạch Hạch mà vẽ bức thủy mặc lục bát Thu rừng có một không hai” [22, tr.427]. Trong mấy câu thơ trên, chỉ thấy nai, thấy chim, thấy sắc trời, thấy lá rụng, tuyệt nhiên vắng bóng người, mà không đâu không ám ảnh hồn người. Câu thơ gây cảm giác, ấn tượng mạnh cho người đọc. Đó là những vần lục bát thần diệu.
Lục bát của Huy Cận mang tính chất đối xứng trong nội bộ câu thơ, tạo nên nhiều tiểu đối khiến người đọc phải so sánh, tìm ra các mối quan hệ. Điều đó góp phần tạo nên tính hàm súc, cô đọng, giàu chất suy nghĩ trong thơ lục bát của Huy Cận. Lục bát của Nguyễn Bính đi từ nguồn mạch ca dao dân ca còn lục bát của Huy Cận đi từ nguồn mạch Đường thi và Truyện Kiều. Huy Cận học được rất nhiều lục bát Truyện Kiều và đưa thêm vào đó cái đậm đặc, dồn nén của Đường thi. Vì vậy lục bát của Huy Cận không có cái thiết tha mềm mại như lục bát của Nguyễn Bính
và không triền miên cảm xúc như lục bát của Lưu Trọng Lư.
Trong thơ ca cổ điển Việt Nam thường tìm thấy dạng song hành qua tiểu đối.
Bài Thu rừng của Huy Cận cũng được tìm thấy các cặp thơ song hành theo kiểu đối nhau tương tự:
Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi lá rụng >< cành nghe lạnh lùng Sầu thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh >< với lòng quạnh hiu Non xanh ngây cả buổi chiều ><
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia
(Thu rừng) Hoặc, một kiểu song hành khác khi mô tả tâm lý khá tinh tế:
Tình đi mau, >< sầu ở lại lâu dài
(Bi ca)
Người một thuở (mà) >< chàng sầu vạn kỷ (Mai sau)
Những cố gắng trên đây góp phần đa dạng hóa hình thức thể thơ lục bát, khiến cho nó linh hoạt và uyển chuyển hơn. Thơ lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc, là hơi thở của giống nòi, nó gần gũi thân thuộc với người Việt từ bao đời nay. Nhịp điệu của lục bát uyển chuyển mềm mại thích hợp với trữ tình điệu ngâm, có khả năng biểu hiện tình cảm thiết tha đằm thắm của con người. Vì vậy, Huy Cận khi viết về tình yêu, tình quê hương đất nước ông thường chọn lục bát. Huy Cận đã khẳng định bản sắc riêng của mình ở thể thơ lục bát. Điều đó chứng tỏ thêm một phương diện tài năng nghệ thuật của Huy Cận.
2.3.2. Thể thơ thất ngôn
Trong phong trào Thơ mới và thơ ca Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, thể thơ bảy chữ luôn luôn chiếm số lượng lớn nhất. Dường như độ dài của dòng thơ bảy chữ là vừa phải, dễ tiếp nhận. Nhịp điệu chủ đạo của dòng thơ bảy chữ là 4/3 hoặc 3/4. Nhịp 4/3 trong thơ hiện đại là tiếp thu nhịp điệu của Đường luật còn nhịp 3/4 có nguồn gốc từ ca trù và thơ song thất lục bát đã rất thịnh hành từ các thế
kỷ trước. Huy Cận và các nhà thơ hiện đại đã sử dụng thể thơ bảy chữ nhưng đó không phải là thất ngôn Đường luật gò bó đã tồn tại trong hàng chục thế kỷ ở Trung Quốc và Việt Nam.
Thơ bảy chữ của Huy Cận tiếp thu những thành tựu của Đường luật, của song thất lục bát và ca trù. Nhà thơ đã phá bỏ những niêm luật gò bó để tạo nên những câu Thơ mới, uyển chuyển, nhuần nhị mà vẫn hàm súc, phảng phất phong vị Đường thi.
Trong tập thơ Lửa thiêng, có 19 bài thơ bảy chữ, phần lớn các câu được ngắt theo nhịp 4/3 (74%).
Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong Hôm xưa em đến, mắt như lòng Nở bừng ánh sáng. Em đi đến
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.
(Áo trắng)
Các câu thơ còn lại được ngắt nhịp theo kiểu 2/2/3, 2/5, 5/2, 1/2/4, 1/3/3, 4/2/1.
Sự thay đổi cách ngắt nhịp trong câu thơ bảy chữ một phần xuất phát từ quan hệ ngữ nghĩa, một phần xuất phát từ ngữ âm để bài thơ khỏi đơn điệu.
Nhịp thơ bảy chữ của Huy Cận khá đa dạng nhưng trong Lửa thiêng chỉ có hai câu được ngắt theo nhịp 3/4. Hướng cải biến nhịp thất ngôn mà Huy Cận thường làm là tách vế trước của câu thơ thành hai nhịp để kiến tạo nên nhịp mới: 2/2/3. ở những nhịp 2/2 thường mang tính chất đối:
Nắng xuống / , trời lên/ sâu chót vót Sông dài / , trời rộng / bến cô liêu.
(Tràng giang) Ấn tượng hơn cả là cách ngắt nhịp 2/5 hoặc 5/2:
Thức dậy, / nắng vàng ngang mái nhạt, Buồn gieo theo bóng lá / đung đưa Bên thềm / - Ai nấn lòng tôi rộng,
Cho trải mênh mông / buồn xế trưa.
(Giấc ngủ chiều)
Trong thơ Đường luật phải có đối ý đối thanh giữa các câu trong cùng một liên. Thơ bảy chữ của Huy Cận ít có kiểu đối như vậy mà chuyển vào tiểu đối trong một dòng thơ hoặc đối âm thanh ở phần cuối của các cặp câu. Huy Cận có ý thức về sự hòa âm qua phép đối nhưng đã giản lược theo cách của mình:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng.
(Tràng giang)
Các bộ phận đối là: Buồn điệp điệp - nước song song, sầu trăm ngả - lạc mấy dòng. Rất nhiều bài thơ bảy chữ của Huy Cận có đối thanh bộ phận như trên. Chính tiểu đối và đối thanh bộ phận theo từng cặp câu mà thơ bảy chữ của Huy Cận vẫn có vẻ đẹp hài hòa và mang đậm dấu ấn Đường thi.
Đối với thể thơ 7 chữ, Huy Cận sử dụng tối đa lợi thế về mặt thanh điệu tạo nên âm hưởng cân bằng ở vần thơ. Trong 19 bài thơ thất ngôn, tỷ lệ thanh điệu rất phong phú có lúc êm ái, nhẹ nhàng với 5 thanh bằng - 2 thanh trắc; có lúc mạnh mẽ, dứt khoát với 4 thanh trắc - 3 thanh bằng; có lúc lại cân đối hài hòa với 4 thanh bằng - 3 thanh trắc. Trong số những bài thơ 7 chữ, Tràng giang được xem là bài đạt đến chuẩn mực của ngôn ngữ thơ ca.
Về mặt vần điệu, tất cả các bài thơ bảy chữ của Huy Cận đều dùng vần bằng.
Nếu câu mở đầu có âm tiết cuối là thanh bằng thì vần được gieo ở âm tiết đó, tuân thủ theo cách gieo vần của tứ tuyệt (vị trí gieo vần ở cuối câu 1, câu 2, câu 4 của khổ thơ). Nếu câu mở đầu có âm tiết cuối cùng là trắc thì vị trí gieo vần chuyển xuống âm tiết cuối của câu thơ thứ hai (âm tiết cuối câu hai vần với âm tiết cuối của câu bốn). Cứ một khổ thơ có một vần, trong trường hợp bài thơ ngắn có thể dùng độc vận. Như vậy cách gieo vần của Huy Cận và của các nhà Thơ mới khác với cách gieo vần ở thất ngôn bát cú Đường luật, nó đa dạng hơn, thoải mái hơn.
Có thể nói rằng, thơ bảy chữ là thể thơ chiếm tỉ lệ khá lớn trong thơ ca Việt Nam. Thể thơ này được hình thành từ hai nguồn cơ bản: thất ngôn Đường luật và ca trù. Đây là thể thơ có khả năng gợi lên không khí cổ kính trang nghiêm và trầm lắng, thích hợp với tư duy chiều sâu. Phải chăng tâm hồn trầm lắng của Huy Cận phù hợp với tiếng thơ ấy và ông đã gặt hái được nhiều thành tựu.