Ngôn ngữ và giọng điệu trong Lửa thiêng

Một phần của tài liệu Đặc sắc nghệ thuật thơ huy cận qua tập lửa thiêng (Trang 62 - 69)

CHƯƠNG 2 TÍNH CHẤT CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI TRONG LỬA THIÊNG

2.4. Ngôn ngữ và giọng điệu trong Lửa thiêng

Văn học là nghệ thuật ngôn từ, tức là sự thể hiện, thực hiện ngôn ngữ của cá nhân trong giao tiếp xã hội, nên phong cách cá nhân thường thể hiện ở ngôn ngữ, ở phong cách ngôn từ. Một điều đáng chú ý khi bàn về ngôn ngữ thơ Huy Cận: ông là người rất quan tâm đến tiếng Việt. Dù được đào tạo theo chương trình giáo dục của Pháp, học tiếng Pháp là chính, nhưng Huy Cận luôn bộc lộ tinh thần yêu tiếng Việt, yêu tiếng nói Việt Nam thật nồng nàn:

Nằm trong tiếng nói yêu thương, Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời

(Nằm trong tiếng nói)

Thuộc thế hệ nhà thơ trẻ theo tân học nhưng chính từ sự tiếp nhận tri thức của tân học và nhìn lại ngôn ngữ dân tộc, khám phá lại nền ngôn ngữ của cha ông.

Huy Cận càng thấm thía với cái đẹp, cái hay của dân tộc Việt Nam. Cho nên nghiên cứu ngôn ngữ thơ Lửa thiêng cũng là tìm hiểu thêm một khía cạnh thể hiện phong cách thơ Huy Cận.

Trước đây, Vũ Ngọc Phan trong phần phê bình tập Lửa thiêng đã cho rằng thơ Huy Cận thiếu nét tự nhiên, thiếu sự nhiệt thành của tâm hồn so với thơ Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu. Nhưng, nhận xét về cách chọn chữ của nhà thơ trẻ này, ông hết mực khen ngợi [17, tr.416 - 419]: “... Huy Cận hơn Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu ở sự lựa chọn chữ, lựa câu, ở sự hiểu cái ma lực của mỗi chữ”, như:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

(Tràng giang) Nai cao gót lẫn trong mù,

Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.

(Thu rừng)

Phần tìm hiểu ngôn ngữ thơ, người viết chọn bài Tràng giang tiêu biểu cho thao tác lựa chọn từ của nhà thơ. Sự lựa chọn từ ngữ tùy thuộc rất lớn vào năng lực liên tưởng ngôn từ và tài năng sử dụng ngôn từ khá tinh tế của nhà thơ. Huy Cận cho biết ông từng viết đi, viết lại bài Tràng giang 17 lần. Đối chiếu với bản thảo ban đầu là một cách tìm hiểu quá trình lao động nghệ thuật của nhà thơ. Nói một cách khác, là chứng minh quá trình sáng tác đầy sáng tạo “tay nghề” của nghệ sĩ.

Khảo sát văn bản Tràng giang 1, cho thấy bài thơ ban đầu có tên Chiều trên sông. Văn bản đầu tiên chỉ là một dạng “phác thảo thơ” và phác thảo một bức tranh phong cảnh qua các từ ngữ mô tả không gian, vật thể: sóng, thuyền, cánh bèo, cồn hoang, đất, nước, chiếc cò... Ngoài hai câu thơ đầu khá ổn định (Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song), văn bản cho thấy có bốn trường hợp nhà thơ chọn lựa từ qua các câu thơ ban đầu: về, trôi, sương man mác, cánh bèo trôi, cánh bèo đơn, đã lạc dòng, lạc giữa dòng

(1) Thuyền về, nước lại, sương man mác.

(2) Thuyền trôi, nước lại sương man mác.

(3) Một cánh bèo trôi đã lạc dòng (4) Một cánh bèo đơn lạc giữa dòng

Khảo sát sang văn bản 2, cho thấy nhà thơ đã chọn câu Thuyền về, nước lại sầu trăm ngả thay thế hai câu trường hợp (1), (2) của văn bản số 1. Câu thơ được chọn lựa này gợi hình ảnh và âm thanh xôn xao không những ở ngoại cảnh trên sông (thuyền về, nước lại) mà còn xôn xao cả trong tâm tư con người (sầu trăm ngả). Đó cũng là giọng điệu sầu não được tìm thấy trong nghệ thuật ngôn từ của Huy Cận.

Ở văn bản Tràng giang 15, bố cục bài thơ tương đối đã được cấu trúc hoàn chỉnh. Cảm xúc ưu tư tràn qua từng câu thơ và giọng điệu sầu não lan tỏa toàn không gian bài thơ. Lời đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài, cũng chính là Huy Cận đã lấy cảm hứng từ bài Nhớ hờ của ông. Văn bản này cho thấy nhà thơ Huy Cận có khuynh hướng chọn lựa, cân nhắc từng chữ, từng âm trong từng câu thơ.

Câu thơ “Củi một cành khô lạc mấy dòng” phải đến bản thảo thứ 14 mới bật ra được. Chính nhà thơ Huy Cận cũng đã giải thích rằng câu thơ “Củi một cành khô lạc mấy dòng”, vừa tự nhiên, vừa hàm ý sâu (đã chết khô rồi mà còn lạc mấy dòng).

Chữ khô hơn hẳn chữ đơn, vì cái ý cô đơn sẽ toát lên từ toàn bài.

Như vậy, dùng phương pháp loại suy khi đối chiếu lại những bản thảo nháp với văn bản chính thức bài Tràng giang đăng trong tập Lửa thiêng, cho thấy nghệ thuật chọn lựa ngôn từ trong câu thơ Huy Cận hết sức cẩn trọng, tài hoa để đi dần đến sự hoàn chỉnh của một bài thơ hay.

Từ láy cũng là một trong những thành tố tạo nên âm điệu khá đắc dụng trong câu thơ Huy Cận. Từ láy là công cụ tạo hình rất đắc lực cho nghệ thuật thơ mà chỉ riêng tiếng Việt mới có. Khi trường độ câu thơ được nới rộng, từ láy có đất dung thân. Mấy bài lục bát, phần nhiều từ láy thanh bằng: vu vơ, hững hờ, lạnh lùng, tiêu điều, hiu hiu, ngập ngừng, héo hon, chơ vơ, buồn buồn... đến câu thơ 7 chữ, 8 chữ, từ láy được cấu tạo và biểu hiện với nhiều sắc thái. Nhà thơ chủ động bày tỏ thái độ của mình trước cuộc sống quẩn quanh, đìu hiu, chán chường, ảo não...Có câu thơ ôm chứa đến hai từ láy:

- Gió hương đưa mùi, dìu dịu phất phơ...

(Đi giữa đường thơm) - Trời mênh mông nên rất đỗi nhớ nhung

(Họa điệu) - Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

(Tràng giang)

- Với gió xa xôi lạnh lẽo ngàn (Mưa)

Có bài thơ đậm đặc từ láy. Bài Tràng giang, 16 câu thơ có 9 từ láy, bài Mưa, 16 câu thơ có 8 từ láy... Cũng như các nhà thơ lãng mạn thời kỳ Thơ mới, Huy Cận dùng nhiều từ láy tạo cho câu thơ mượt mà, uyển chuyển, từ ngữ như bay lượn, lôi cuốn. Từ láy ngoài chức năng miêu tả, nó còn biểu cảm. Các từ láy toàn bộ làm giảm nhẹ tính chất nhưng làm tăng thêm sự lan tỏa của tính chất: nhỏ nhỏ, run run, nhẹ nhẹ, nghiêng nghiêng, xiêu xiêu, buồn buồn, rưng rưng, lâng lâng:

- Tim run run trăm tình cảm rụt rè (Tựu trường) - Hồn mới lim dim, bước dùm nhẹ nhẹ

(Lời dịu) - Chiều hiu hiu khơi gợi nhớ nhung hờ

(Trò chuyện)

Một số trường hợp, từ láy toàn bộ gốc động từ cũng làm giảm nhẹ cường độ của tác động (buồn điệp điệp), dù cho động tác được tăng lên, lặp đi lặp lại. Và từ láy toàn bộ gốc danh từ diễn tả hiện tượng, sự vật… tiếp nối dâng cao hay tỏa rộng, kéo dài như hiện ra trước mắt người đọc (lớp lớp mây cao, bàn tay ngón ngón thon…). Từ láy âm cũng tạo hình ảnh ấn tượng, rõ nét hơn (Nắng xuống, trời lên, sâu chót vót). Sử dụng từ láy toàn bộ hay bộ phận đều góp phần làm cho câu thơ Lửa thiêng du dương, giàu nhạc điệu, có hình khối cụ thể, gây ấn tượng tới thị giác, thính giác, xúc giác… của chủ thể sáng tạo và cả với đối tượng tiếp nhận.

Tóm lại, chọn lựa và kết hợp từ láy trong Lửa thiêng tạo cho câu thơ mượt mà, uyển chuyển, lôi cuốn và giàu nhạc điệu. Sự chọn lựa, kết hợp từ cũng chính là thể hiện yếu tố giọng điệu Huy Cận sầu hay tươi vui, liên quan đến việc hình thành phong cách thơ của Huy Cận.

2.4.2. Giọng điệu

Giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên nét đặc trưng của mỗi loại hình lời văn nghệ thuật, thể hiện đặc điểm của trào lưu và bộc lộ phong

cách sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Giọng điệu cũng là một hình thức bộc lộ chủ quan của nhà văn trong tác phẩm văn học, phản ánh lập trường xã hội, thái độ, tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của nhà văn. Vì vậy nghiên cứu giọng điệu cũng là một trong những hình thức nghiên cứu phong cách nghệ thuật của nhà văn.

Đứng trước thế giới xuân sắc, xuân tình, Xuân Diệu thể hiện một tâm hồn say mê, rạo rực, sôi nổi và táo báo trong niềm khát khao vô biên. Nhà thơ muốn ôm ghì, báu cắn, hút, thâu, uống vào tận đáy mình hạnh phúc chốn trần gian. Tiếng thơ Xuân Diệu là tiếng nói của một tâm hồn sôi nổi, trẻ trung và đầy nhiệt huyết. Còn Huy Cận thì trầm lắng, suy tư, e dè kín đáo. Nhà thơ thường mang trong mình tâm trạng cô đơn, thương nhớ, tủi sầu hay bâng khuâng, ngậm ngùi, bợ ngợ, ngại ngùng, ngẩn ngơ, ngơ ngác. Có lẽ vì thế mà Huy Cận không dùng những động từ mạnh như Xuân Diệu. Tất cả các động từ chỉ hành động của con người đều có sắc thái nhẹ nhàng, chừng mực, hướng về hành động nội tâm: kêu than, cầu khẩn, trình bày, trò chuyện, tâm sự, kể lể, cúi đầu, trông lên, nằm nghe, trông vời, ngồi thương, ngồi khóc, tình tự, vỗ về, ra đi, bước nhẹ... Thế giới của Lửa thiêng là thế giới trầm mặc, thâm u, cổ kính của xứ sở nước non lặng lẽ êm đềm. Con người vì thế mà kín đáo, thâm trầm, nặng về suy tư, giãi bày hơn là hành động quyết liệt. Tiếng thơ của Lửa thiêng là tiếng thơ trầm lắng suy tư, đằm thắm, ân tình, thiết tha giao cảm buồn tủi, ngậm ngùi. Có lẽ vì thế mà Xuân Diệu coi Lửa thiêng là “bản ngậm ngùi dài”.

Bản ngậm ngùi dài trong Lửa thiêng chính là tiếng cảm thương cho số phận con người và số phận non sông đất nước. Giọng điệu đó phần nào tiếp nối tiếng nói cảm thương từ Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn và từ Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhưng ở Lửa thiêng của Huy Cận tiếng nói cảm thương không chỉ hướng tới số phận khổ đau của con người mà còn hướng tới số phận của non sông đất nước:

Hay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưa Cùng đất nước mà nặng buồn sông núi.

(Mai sau)

Như vậy, Huy Cận không có giọng điệu sôi nổi, mãnh liệt như Xuân Diệu, cũng không có giọng thơ bay bổng, tràn đầy nhiệt huyết như Tố Hữu, ông đến với đời bằng tiếng thơ trầm lắng, ân tình, thấm thía tình người, tình đời và tình yêu cuộc sống.

Giọng điệu trữ tình ảo não và đầy tính triết lý sâu lắng có lẽ sẽ dễ nhận ra qua những câu điệp và câu hỏi trong Lửa thiêng.

Ôi ! nắng vàng sao mà nhớ nhung ! Có ai đàn lẻ để tơ chùng ?

Có ai tiễn biệt nơi xa ấy

Xui bước chân đây cũng ngại ngùng...

(Nhớ hờ)

Đây là khổ thơ được khá nhiều người, nhiều thế hệ yêu thích và thuộc lòng từ khi Lửa thiêng ra đời. Câu cảm thán và câu hỏi ở đây chỉ là câu hỏi tu từ, tưởng rất bâng quơ, mà thấm đẫm chất nhân tình. Người đọc thơ, nghe thơ có cảm giác chính bản thân mình đang chìm vào không gian nắng vàng mơ màng và nghe khẽ khàng những âm điệu u trầm, nhè nhẹ len sâu vào tâm hồn. Trong Thơ mới, khó tìm được một không gian nắng vàng nào đậm, đẹp, buồn và thật lạ lùng khi cả không gian, thời gian, tâm hồn,... lẫn bước chân con người đều như ngập ngừng, rơi vào một khoảng lặng dài của nhịp tơ... chùng !

Chủ thể trữ tình hiện diện trực tiếp trong các bài thơ và dùng tiếng nói của mình để bộc lộ, giãi bày cảm xúc, suy nghĩ. Nhà thơ không chỉ giãi bày với đất trời sông núi mà còn giao tiếp tư tưởng tình cảm với con người, cuộc đời, nói với mọi người bằng tiếng thơ chân thành sâu lắng :

- Ai chết đó ? Nhạc buồn chi lắm thế Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường.

(Nhạc sầu) - Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ...

(Ngậm ngùi)

Nhiều thi phẩm trong Lửa thiêng như : Tràng giang, Đẹp xưa, Chiều xưa, Thu rừng, cái tôi trữ tình lẩn khuất đằng sau bức tranh thiên nhiên, điểm nhìn thiếu tính xác định, lời thơ mang sắc thái trung hòa cảm xúc, kết cấu của bài thơ dựa trên kết cấu không gian. Tràng giang là những mảnh không gian nối ghép theo chiều dọc, chiều ngang và chiều cao. Qua mối liên hệ của không gian, tâm trạng của chủ thể trữ tình được bộc lộ kín đáo. Chiều xưaĐẹp xưa là cảnh thơ trong ý niệm về quá khứ. Toát lên từ bài thơ là không gian mang màu sắc cổ kính, tĩnh tại. Trong bức tranh ấy thấp thoáng hình ảnh Người lữ thứ cô đơn. Còn ở Thu rừng thì dường như là cảnh được nhìn từ trên cao, cái nhìn từ ngoài vũ trụ :

Nai cao gót lẫn trong mù

Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về

Trong bài thơ này lời thơ nghiêng về sắc thái tạo hình, không có ngữ điệu của lời nói. Tuy cái tôi không xuất hiện trực tiếp nhưng tâm trạng của nhà thơ vẫn được bộc lộ khá rõ ràng.

Có thể kết luận rằng, điểm nổi bật dễ dàng nhận ra là giọng điệu ảo não, đầy tính triết lý - trữ tình sâu lắng gần như được Huy Cận thể hiện xuyên suốt tập thơ.

Hồn thơ Huy Cận gắn bó với tâm hồn dân tộc. Đời sống tinh thần dân tộc thấm vào nếp nghĩ, cách cảm thụ và cất thành lời thơ. Điều đó giúp chúng ta lý giải vì sao Huy Cận cảm nhận cuộc đời qua sự sống cỏ cây, vì sao ông đạt được nhiều thành tựu trong thể thơ truyền thống, vì sao Huy Cận lại kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây.

Một phần của tài liệu Đặc sắc nghệ thuật thơ huy cận qua tập lửa thiêng (Trang 62 - 69)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(73 trang)