Và đáng chú ý nhất trong đó là sự trưởng thành của lực lượng sáng tác văn học Nam Bộ, có thể kể đến các tác giả nổi bật của văn đàn văn học Nam Bộ như là Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bíc
Trang 2Người thực hiện:
NGUYỄN NHẬT LINH (Khóa 2011 -2015)
Đà Nẵng, tháng 05/2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Phong Nam Ngoại trừ những nội dung đã được tham khảo có kèm theo nguồn trích dẫn, luận văn này không bao gồm một phần hoặc toàn bộ nội dung của bất kỳ một công trình nào đã được công bố để nhận một văn bằng hay học vị ở bất kỳ một cơ sở đào tạo nào khác
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này
Đà Nẵng, ngày tháng 05 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Nhật Linh
Trang 4Trong thời gian vừa qua nhờ sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, những người thân trong gia đình và bạn bè tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Bằng tấm lòng tri ân sâu sắc tôi xin gửi lời cám ơn đến các Thầy Cô trong khoa Ngữ văn – Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, đặc biệt là thầy giáo Nguyễn Phong Nam – người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Thư viện trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp cho tôi những tư liệu cần thiết và quý giá để chúng tôi có cơ sở nghiên cứu đề tài
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Đà Nẵng, ngày tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Nhật Linh
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của khóa luận 4
6 Bố cục của khóa luận 4
CHƯƠNG 1 CHÂN DUNG NGUYỄN THÔNG - NHÀ VĂN NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX 5
1.1 Vài nét về thời đại và con người Nguyễn Thông 5
1.1.1 Thời đại Nguyễn Thông 5
1.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ văn Nguyễn Thông 11
1.2 Nguyễn Thông trong lịch sử phát triển văn hóa, văn học Việt Nam 13
1.2.1 Nguyễn Thông – nhà văn đặc sắc trên văn đàn văn học Việt Nam 13
1.2.2 Dấu ấn văn hóa - văn học Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Thông 15
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VĂN NGUYỄN THÔNG 24
2.1 Hình tượng tác giả 24
2.1.1 Về khái niệm hình tượng tác giả trong văn học trung đại 24
2.1.2 Nguyễn Thông – một nhà nho đau đáu vì dân tình, thế cuộc 26
2.1.3 Sự tự thể hiện của Nguyễn Thông trong thơ văn 35
2.2 Hình tượng người anh hùng trong thơ văn Nguyễn Thông 45
2.2.1 Người anh hùng trong các tiểu truyện văn xuôi 45
2.2.2 Nét bi tráng của người nghĩa binh chống Pháp trong thơ – văn 47
2.3 Hình tượng không gian – thời gian trong thơ văn Nguyễn Thông 49
2.3.1 Không gian nghệ thuật 49
2.3.2 Thời gian nghệ thuật 55
Trang 63.1 Đặc điểm thể loại trong sáng tác của Nguyễn Thông 61
3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu trong thơ văn Nguyễn Thông 63
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam thời trung đại, do được tiếp thu những tinh hoa của văn chương Trung Quốc, cộng với những sáng tạo độc đáo của riêng mình nên đã tạo dựng được một hệ thống thể loại văn học rất đa dạng, phong phú Trong tiến trình
đó, văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX được xem là thời kì khởi sắc của toàn bộ nền văn học trung đại Văn học giai đoạn này đã kế thừa truyền thống văn học dân tộc giai đoạn trước, lại ra đời trong một bối cảnh rất đặc biệt của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, cho nên nó đã có những nét độc đáo rất đáng chú ý Và đáng chú
ý nhất trong đó là sự trưởng thành của lực lượng sáng tác văn học Nam Bộ, có thể
kể đến các tác giả nổi bật của văn đàn văn học Nam Bộ như là Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Đình Chiểu, Tú Xương…, tiêu biểu trong đó không thể không kể đến tác giả Nguyễn Thông – một nhà thơ, nhà văn tài hoa của văn học miền Nam, không những thế ông còn là nhà sử học, nhà giáo dục học rất lỗi lạc Những sáng tác thơ văn của ông từng gây cảm xúc mạnh mẽ trong hàng ngũ trí thức thời ông và có tiếng vang khá rộng qua nhiều thế hệ Thơ văn ông thể hiện một tinh thần yêu nước sâu sắc, lấy chủ đề thương nhớ quê hương bao trùm toàn bộ tất cả Toàn bộ sáng tác của ông là bộ phận hợp thành của toàn bộ sự nghiệp trước tác của ông, mang tính tổng hợp nhất Thơ văn của Nguyễn Thông khác hoàn toàn so với thơ văn của các tác giả cùng thời, nó đã tạo ra một sắc thái, một phong cách rất riêng của ông, và để làm được điều đó, thì các yếu tố nghệ thuật đã được Nguyễn Thông vận dụng một cách rất linh hoạt, tài tình đầy tài hoa Đối với người thưởng thức có khám phá ra thế giới riêng biệt của nhà thơ mới hiểu được giá trị thẩm mỹ sáng tác của họ Cùng với niềm yêu thích đối với thơ văn Nguyễn Thông, cũng như
thấy được tầm quan trọng của đề tài, tôi đã chọn “ Đặc điểm nghệ thuật thơ văn
Nguyễn Thông” làm đề tài luận văn cho mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Thông là một nhà thơ, nhà văn yêu nước Đánh giá con người và tác phẩm của Nguyễn Thông, các nhà nghiên cứu đều cho rằng ông có nhiều đóng
Trang 8góp trên nhiều lĩnh vực Việc nghiên cứu và giới thiệu con người và tác phẩm thơ văn Nguyễn Thông, nhất là những đóng góp của ông về kinh tế và lịch sử, chưa làm được nhiều
Năm 1962, cuốn Thơ văn Nguyễn Thông được xuất bản, do các Lê Thước
và Phạm Khắc Khoan trích dịch, Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang giới thiệu
Trong cuốn này chủ yếu là những trước tác rút ra từ Ngọa du sào tập (thi tập và văn tập), một số bài thơ trong Kỳ Xuyên thi sao, một số bài văn trong Độn Am văn tập
và một số tác phẩm khác… Ngoài ra còn có giới thiệu một số tài liệu liên quan đến Nguyễn Thông để giúp người đọc tham khảo, tra cứu [42]
Năm 1884, kỉ niệm 100 năm ngày mất của Nguyễn Thông, cuốn Tác phẩm
Nguyễn Thông của Cao Tự Thanh và Đoàn Lê Giang đã được xuất bản để tưởng
nhớ ông Cuốn sách này là nối tiếp của cuốn Thơ văn Nguyễn Thông nhưng được bổ sung thêm những bài thơ trong Ngọa du sào tập và nhiều bài văn trước nay của ông
mà chưa được công bố, để người đọc có cái nhìn cụ thể và đầy đủ hơn những tác phẩm mà Nguyễn Thông đã sáng tác [40]
Cũng trong năm 1884, Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang cũng đã biên soạn
và cho xuất bản cuốn Nguyễn Thông, con người và tác phẩm Đây là tập sách biên
khảo về cuộc đời và sự nghiệp văn học của một nhà văn lớn của Nam bộ nửa cuối thế kỷ 19 Nghiên cứu, giới thiệu con người và tác phẩm thơ văn Nguyễn Thông Bối cảnh xã hội và thân thế tác giả Những đóng góp của ông về kinh tế, lịch sử Bên cạnh đó, còn đề cập đến những tư tưởng của ông, và giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu mà Nguyễn Thông đã sáng tác [11]
Tác giả Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết
thế kỷ XIX đã tiếp cận với hình ảnh Nguyễn Thông qua thơ văn của ông Trong bài
viết, Nguyễn Lộc đã nói Nguyễn Thông là một nhà thơ, nhà văn yêu nước nhưng lại không thấy được hết trách nhiệm của mình khi đất nước lâm nguy, không tin tưởng vào cuộc chiến đấu của nhân dân, của dân tộc đó cũng là hạn chế của thơ văn của ông: Một nhà thơ yêu nước nhưng sống xa cuộc chiến đấu Ngoài Nguyễn Lộc,
trong cuốn Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XX
Trang 9của Bảo Định Giang cũng có đề cập đến Nguyễn Thông, đến những tư tưởng và một
số nét về thơ văn của ông [23]
Nghệ thuật thơ văn Nguyễn Thông cho đến hiện tại vẫn còn rất ít người đề cập đến, việc nghiên cứu tìm hiểu về nó vẫn chưa nhiều Nói đến nghệ thuật thơ văn
của ông, có thể kể đến một số công trình luận văn: luận văn Thế giới nghệ thuật thơ
Nguyễn Thông của Phạm Cẩm Tú (Trường Đại học Cần Thơ – 2010), luận văn Nguyễn Thông, nhà thơ đặc sắc trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19 của
Đoàn Lê Giang (trường đại học tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 1983), luận văn Cảm
hứng bi tráng trong thơ văn Nguyễn Thông của Đinh Thị Toàn (trường Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng, 2013)…
Những bài viết trên đây đều đã tìm cách lý giải những phần đóng góp riêng của Nguyễn Thông so với các nhà văn yêu nước cùng thời ông Tuy vẫn còn rất nhiều hạn chế, nhưng cũng đã phần nào làm cho người đọc hiểu được về tác giả Nguyễn Thông cũng những sáng tác mà ông để lại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Đặc điểm nghệ thuật thơ văn Nguyễn
Thông”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Thông sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau như: thơ, truyện ký, tùy bút, phú, văn tế,…Với đề tài này, luận văn tập trung nghiên cứu thơ và văn của ông
để làm rõ những đặc điểm nghệ thuật trong thơ văn ông Cụ thể là ở các tập: Ngọa
du sào thi tập, Ngọa du sào văn tập, Kỳ Xuyên văn sao, Kỳ Xuyên thi sao, Độn Am văn tập, Dưỡng chính lục…
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp
Đây là phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học nói chung Chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp này để phân tích những tác phẩm có tính chất tiêu biểu, điển hình để minh họa cho các luận điểm của luận văn
Trang 104.4 Phương pháp phân loại, thống kê
Đối với từng thành tố trong chỉnh thể, đối với các yếu tố thuộc phương thức, phương tiện trữ tình trong thơ văn Nguyễn Thông, khi cần thiết luận văn thực hiện phân loại và thống kê qua các con số cụ thể
5 Đóng góp của khóa luận
Luận văn tập trung nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ, văn Nguyễn Thông với cái nhìn hệ thống, qua đây góp phần khẳng định vai trò và vị trí của Nguyễn Thông trong văn học nửa sau thế kỷ XIX nói riêng và trong lịch sử văn học dân tộc nói chung Kết quả của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những ai yêu thích Nguyễn Thông cũng như những sáng tác của ông
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai trong 3 chương
Chương 1 Chân dung Nguyễn Thông - nhà văn Nam Bộ cuối thế kỉ XIX
Chương 2 Đặc điểm hình tượng nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Thông
Chương 3 Một số thủ pháp nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Thông
Trang 11CHƯƠNG 1 CHÂN DUNG NGUYỄN THÔNG - NHÀ VĂN NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX 1.1 Vài nét về thời đại và con người Nguyễn Thông
1.1.1 Thời đại Nguyễn Thông
Mỗi cá nhân sinh ra đều gắn với một thời đại nhất định Chính thời đại đó
đã ảnh hưởng đến phẩm chất, tài năng cũng như hệ tư tưởng, ý thức của cá nhân Nguyễn Thông cũng như vậy Nét chủ yếu về thời đại Nguyễn Thông mà chúng ta
có thể nhận ra đó là một giai đoạn lịch sử sôi động với những biến cố có tầm vóc lớn Ngược dòng thời gian, quay trở về với lịch sử cuối thế kỷ XIX, chúng ta sẽ
thấy rõ điều đó
Nguyễn Thông sinh năm 1827, mất năm 1884 Đó là thời gian xã hội phong kiến Việt Nam có nhiều biến cố, mà biến cố lớn nhất là cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc ta và chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược Chưa nói tới hành động “cõng rắn cắn gà nhà” của bản thân Nguyễn Ánh, sự ngóc đầu dậy của một triều đại phong kiến thối nát, già nua, không còn sinh lực, mất hết lòng tin đối với dân chúng như triều đại nhà Nguyễn, khách quan đã tạo chỗ đứng cho đoàn quân viễn chinh xâm lược trên đất nước ta Triều đại Nguyễn hèn nhát, đã đi từ nhân nhượng này đến nhân nhượng khác để rồi cuối cùng, đã đầu hàng, dâng trọn nước ta cho bọn “quỷ trắng” gần suốt trăm năm
Như chúng ta đều rõ, từ đầu thế kỷ XVII, chủ nghĩa tư bản Pháp đã dòm ngó Việt Nam Công ty Đông Ấn và Hội truyền giáo nước ngoài đã bắt đầu hoạt động để chuẩn bị cơ hội xâm lược nước ta Đến thế kỷ XIX nhất là sau cuộc chiến tranh Nga phiến ở Trung Quốc (1840 – 1842) do đế quốc Anh gây hấn, chủ nghĩa tư bản phương Tây đang phát triển, ngày càng đua nhau đi chiếm thị trường còn lại khắp thế giới
Trong lúc đó thì ở trong nước, do chính sách bảo thủ và phản động của nhà Nguyễn, nền kinh tế ngày càng tồi tệ hơn, tình hình xã hội ngày càng rối ren hơn, phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc hơn Mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến phản động với nông dân và các tầng lớp lao động nghèo nàn ngày càng quyết liệt, dẫn
Trang 12đến sự bùng nổ những cuộc khởi nghĩa liên tiếp của nhân dân bị áp bức, chủ yếu là nông dân, lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của nông dân do Tây Sơn lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Tây Sơn mở ra một bước ngoặt lịch sử Qua thiên tài Nguyễn Huệ, dân tộc Thái ta đã tạo nên những kỳ công bất hủ, đánh đuổi giặc ngoại xâm Trung Quốc và Thái Lan ở hai đầu tổ quốc
Nguyễn Ánh coi ngai vàng của một dòng họ trọng hơn sự tồn vong của dân tộc, đã nhờ sự giúp đỡ có dụng tâm xâm lược của thực dân Pháp, để đánh đổ Tây Sơn, khôi phục triều đại nhà Nguyễn Một chế độ phản động được phục hồi, cuộc khủng hoảng xã hội ngày càng trầm trọng, không lối thoát Cha truyền con nối, dòng họ nhà Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức càng ra sức bóc lột đàn áp nhân dân, càng vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ Trong mười bảy năm dưới thời Gia Long,
có 73 cuộc khởi nghĩa của nông dân, trong hai mươi năm dưới thời Minh Mạng, có
234 cuộc, trong bảy năm dưới thời Thiệu Trị cũng có đến 68 cuộc Trong non tám mươi năm thống trị của triều Nguyễn, đã có hơn 500 cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống lại triều đình, trong đó có các cuộc khởi nghĩa lớn như khởi nghĩa của Phan
Bá Vành, Nùng Văn Vân, Cao Bá Quát…
Minh Mạng vừa lên ngôi năm 1820 thì năm sau đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành (1821 – 1827) ở Nam Định Quân tại chỗ không đối phó nổi, triều đình phải điều quân từ nơi khác đến, mấy năm mới dẹp xong Đáng chú ý trong cuộc khởi nghĩa này, có những trí thức phong kiến, chịu tác động của phong trào nông dân, tham gia và trở thành nòng cốt của cuộc khởi nghĩa như Vũ Đức Cát
và Chiêu Liễn
Cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Lương (1831 – 1833) với danh nghĩa phù Lê liên kết với các tù trưởng Mường ở Hòa Bình, nổi lên chống triều đình Khi Lê Duy Lương bị bắt, đem xử ở kinh đô (1833), người Mường lại tôn Lê Duy Hiến lên cầm đầu, cuộc khởi nghĩa tiếp tục tới 1837 mới tạm lắng
Trong Nam, cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi (1833 – 1835), có nhiều quân đội chính quy của triều đình tham gia, chống chính sách hà khắc, nghi kỵ của
Trang 13dòng họ nhà Nguyễn Triều đình đàn áp dã man, giết hại rất nhiều người, để lại một bãi hoang tàn giữa lòng Sài Gòn - Chợ Lớn, gọi là “mã ngụy”
Chưa kể những cuộc nổi dậy khác của Nùng Văn Vân ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên; của Nguyễn Văn Bạt, Nguyễn Văn Nhàn ở Sơn Tây; của người Thái ở sông Đà; của người Chăm ở Bình Thuận; của người Khơ – me ở Trà Vinh… Thời Tự Đức, trước khi giặc Pháp tiến công Đà Nẵng, cuộc khởi nghĩa của Cao Bá Quát ở Sơn Tây được coi là cuộc khởi nghĩa lớn nhất thời ấy Cao Bá Quát chết trận
mà cuộc khởi nghĩa còn tiếp tục mấy năm
Cuộc sống bần hàn cơ cực của nông dân, đặc biệt là nạn đói làm chết hàng trăm ngàn người, do lụt lội, sâu bọ, phá hại mùa màng gây ra, cộng thêm nạn tham quan ô lại, cường hào ác bá đầy rẫy từ trên xuống dưới làm cho xã hội luôn căng thẳng Triều Nguyễn biết rất rõ thảm cảnh và nỗi bất mãn của nhân dân: những tờ
sớ do người tôi trung thực, sống gần dân, đưa lên đến nay đọc lại, ta còn thấy xúc động, nhưng không đủ sức làm lay chuyển các ông vua phản động, thích vơ vét để
đi “chơi xa”, và “xây lăng tẩm” như Tự Đức Xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân, một số quan đang làm việc tại triều, ở các địa phương hay ngoài miền quan tái
tỏ ra cương trực bao nhiêu trong việc can gián triều đình thì càng chịu hậu quả cay đắng cho họ bấy nhiêu
Bộ máy đàn áp của nhà Nguyễn rất đồ sộ, tàn khốc Những công thần bậc nhất của triều Nguyễn như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Lê Văn Duyệt cũng bị nghi ngờ, bị bắt, bị bức hại cho đến chết Gia Long đặt ra lệ “bốn không”: không đặt trạng nguyên, không đặt tể tướng, không lập hoàng hậu, không phong vương tước cho người ngoài hoàng tộc để đề phòng hậu họa Riêng điều đó đủ cho thấy nhà Nguyễn bị cô lập và mất lòng dân như thế nào
Số phận của hàng loạt trí thức đương thời cũng lâm vào cảnh khốn quẫn, bi đát Một vị thủ khoa tài đức như Bùi Hữu Nghĩa suýt bị rơi đầu, nếu không có một người vợ rất mực yêu chồng, lăn lội từ Nam ra Huế đội sớ xin tội cho chồng Vì một lời vu cáo không đâu mà một ông quan liêm khiết, tận tụy, văn hay chữ tốt như
Trang 14Nguyễn Thông cũng bị lột mũ áo, tống giam, phạt trượng đến nỗi phải lâm bệnh thổ huyết, rút ngắn tuổi đời
Trí thức ở Nam Kỳ, trừ Nguyễn Đình Chiểu mang tật mù lòa, không ra làm việc, đã đành một lẽ, còn các vị khoa bảng, đỗ đạt cao như Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Đạt, Phan Văn Trị, Nguyễn Văn Lạc (Học Lạc) cũng không ra làm quan với triều đình mà ít lâu sau đã trở thành người cầm đầu nghĩa quân chống Pháp đến hơi thở cuối cùng hoặc trở thành những tác giả có tầm vóc lớn, gắn liền tên tuổi với những áng thơ văn đầy nhiệt huyết trong công cuộc cứu nước sôi nổi
Năm 1859, năm lịch sử bi thảm của dân tộc, đánh dấu thời kì tối tăm của đất nước, do thực dân Pháp và vua tôi nhà Nguyễn gây ra Lần lượt ba tỉnh miền Đông đến ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ rơi vào tay quân cướp nước Những giai đoạn khác nhau đánh dấu sự gặm nhấm của bầy thú dữ diễn ra trên giang sơn gấm vóc do cha ông ta dày công xây dựng: Nam kỳ (1862 – 1867), Hà Nội (1872 – 1873), kinh thành Huế (1885)
“Một lý do của lòng tham lam, của sự xâm lược của Pháp ở giữa thế kỷ XIX đối với xứ ta, chính là sự suy tàn của chế độ phong kiến nhà Nguyễn dưới thời
Tự Đức Dưới thời Tự Đức, những yếu tố tiền tư bản trong kinh tế mà lịch sử đã ghi thấy hồi Lê mạt và Tây sơn đã giảm sút đi nhiều; thị trấn bớt hoạt động, bớt dân số, công thương tàn tạ, bế quan, tỏa cảng mù quáng, nông nghiệp sút kém, dân tình khổ
sở quá mức, loạn lạc luôn luôn, học vấn cũ kỹ, quân sự cổ hủ, kẻ cầm quyền cận thị không chịu duy tân và càng ngày càng bị nhân dân phản kháng kịch liệt Đụng chạm với nhà chủ nghĩa tư bản phương Tây thì phong kiến nhà Nguyễn như cái nhà xiêu mọt; xiêu mọt nhưng không nhất thiết đổ ngay; bao kẻ sĩ, người hiền kêu gọi tu chữa, nó cứ bịt tai trâu Toàn thể nhân dân sẽ đứng lên chống đỡ những đòn nặng của chủ nghĩa thực dân thì nó lại bỏ rơi, xô đuổi, tàn sát” [48, 66]
Lịch sử chống ngoại xâm nước ta thời kỳ này khác với những giai đoạn lịch
sử hồi thế kỉ XI nhà Lý, thế kỉ XIII nhà Trần, thế kỉ XV đầu nhà Lê Trong những giai đoạn trước, nhân dân tập họp xung quanh chính quyền, tạo nên bức tường thành
Trang 15chống ngoại xâm vững chắc Quân xâm lược Trung Quốc lúc bấy giờ, dù đông đến đâu, tàn bạo đến đâu rốt cuộc cũng ôm đầu máu chạy về nước trước sức mạnh đoàn kết toàn dân Trái lại, dưới thời nhà Nguyễn, mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến thối nát và giai cấp nông dân - lực lượng quyết định trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm - đối kháng rất sâu sắc Ngoài ra, mâu thuẫn giữa tập quyền thống trị trung ương – triều đình – với các địa phương; giữa phe cánh này với phe cánh khác nơi triều nội; giữa đám xênh xang áo mão dùng hoan lộ để vinh thân phì gia với những trí thức chân chính, có lòng yêu nước, thương dân nồng nhiệt… đều dẫn đến hậu quả làm xói mòn khả năng và tiềm lực của một đất nước vốn có truyền thống chống giặc vẻ vang, qua nhiều cuộc đọ sức với quân thù đến từ phương Bắc Tội này thuộc về triều Nguyễn, bọn chịu trách nhiệm cao nhất của quốc gia lúc đó
Cuộc bão tố chống thực dân Pháp xâm lược diễn ra trước hết ở phần phía Nam của Tổ quốc Kế thừa truyền thống oanh liệt ngàn đời của ông cha, nhân dân Nam Kỳ đã đứng mũi chịu sào trước phong ba bão táp suốt hàng chục năm dài Nhiều sĩ phu xuất thân từ tầng lớp dưới của giai cấp phong kiến, không được triều đình trọng dụng, đều đứng về phía nhân dân chiến đấu ngoan cường, bảo vệ quê hương xứ sở Hiện tượng cực kỳ đẹp đẽ và đầy ý nghĩa này trước sau đều thấy xuất hiện trên các miền của đất nước Những Trương Định, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám… vĩnh viễn đi vào lịch sử kháng chiến của dân tộc như những vì sao sáng
Riêng ở Nam Kỳ, qua cuộc chiến đấu không cân sức, đã xuất hiện những tên tuổi mà trước đây ít được biết hoặc không được biết Những nhân vật lịch sử đầy phẩm chất anh hùng này, có người cầm gươm, có người cầm bút, có người vừa cầm gươm vừa cầm bút đã chung thủy đi với nhân dân, không ngừng động viên, cổ
vũ nhân dân trong cuộc chiến đấu thiêng liêng vì độc lập, tự do của Tổ quốc Dưới ngọn cờ “tựu nghĩa” vẻ vang, ngoài Trương Định, người được nhân dân Gò Công suy tôn làm chủ soái, còn có những chí sĩ anh hùng từng làm vẻ vang quê cha đất tổ như: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Huân, Đỗ Trình Thoại, Phan Văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, Trịnh Quang Nghị, Nguyễn Thông, Trà Bình Quý, Phan Tòng, Phan
Trang 16Tôn, Phan Liêm… Xuất thân từ nông dân lao động, chuyên nghề chài cá, Nguyễn Trung Trực đã dành cho Tổ quốc hai chiến công oanh liệt, một ở sông Nhật Tảo, một ở đồn Kiên Giang và đã để lại cho đời một câu bất hủ, trước máy chém của
giặc: “Bao giờ hết cỏ đất này thì dân Nam mới hết người chống Tây”
Sau hiệp ước nhục nhã của triều đình năm 1862, ba tỉnh miền Đông Nam
Kỳ bị đặt dưới ách thống trị của giặc Pháp Căm thù quân cướp nước cao độ, bất chấp lệnh bãi binh của triều đình, nhiều nơi dân chúng vùng lên đánh trả kẻ thù chung một cách quyết liệt Từ lâu, sống giữa lòng dân, gắn bó mật thiết với dân, trong buổi “quốc phá, gia vong”, những sĩ phu yêu nước càng khăng khít với dân hơn bao giờ hết Chẳng những thế, họ còn coi trọng ý dân hơn mệnh lệnh triều đình, chiếu chỉ nhà vua Việc Trương Định không đi nhận chức ở An Giang, ở lại Gò Công lãnh đạo nghĩa binh chống Pháp, không phải là trường hợp cá biệt
Bằng những chiến công vang dội và sự hi sinh cao cả, chỉ đạo bởi tinh thần
“trọng nghĩa lớn”, “hơn, thua không luận với anh hùng”, một số sĩ phu đã để lại trong lòng quần chúng một sự kính trọng to lớn Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, Hồ Huân Nghiệp là những nhân vật tiêu biểu trong những sĩ phu, có mặt từ đầu trong cuộc kháng chiến thần thành của dân tộc Có những cái chết trở thành bất tử, gây niềm xúc động, tiếc thương vô hạn trong cả nước, ngay đến vua chúa đầu hàng và phải cầu hòa ở triều đình cũng phải khâm phục
Giặc hành quân càn quét và chiếm đóng nhiều nơi ở miền Đông Nam Kỳ, dưới mắt của nhân dân, nhiều vùng tự do trước đây, nay bị giặc chiếm đã trở thành vùng “ô uế” Một bộ phận khá đông nhân dân, trong đó có một số sĩ phu, rời miền Đông xuống miền Tây và ra Bình Thuận Ra vùng rừng núi Bình Thuận, những người “tị địa” còn ôm ấp một ý đồ”: xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài, giải phóng quê hương
Người ra đi càng nhiều, vấn đề trở nên phức tạp, đòi hỏi có người đứng ra cáng đáng Người có uy tín nhất để đảm đương công việc này không ai khác, chính
là Nguyễn Thông Chẳng những ông có khả năng tập hợp, đoàn kết người Nam Kỳ lại với nhau mà còn tạo ra công ăn, việc làm, định cư nhiều gia đình, tổ chức khai
Trang 17hoang, lập ấp… Một “ Đồng Châu Xa”, nơi sinh hoạt tinh thần của dân lưu ngụ Nam Kỳ, được thành lập từ đó
Nguyễn Thông là một sĩ phu đứng trong hàng ngũ ấy Ông có lòng thương dân, yêu nước nồng nàn, thể hiện trong mọi hoạt động và sự nghiệp trước tác của ông Nhưng vì điều kiện này, điều hiện khác, ông không được quần chúng rộng rãi đặc biệt chú ý như những nhân vật khác, dù từng thời gian và trên nhiều địa phương – nơi ông đến làm việc - nhân dân đều quý trọng ông, đánh giá cao những cống hiến của ông trên nhiều mặt
1.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ văn Nguyễn Thông
Nguyễn Thông tự là Hy Phần, hiệu là Kỳ Xuyên Lão Nhân, biệt hiệu là Độn
Am, sinh năm 1827 ở huyện Tân Thịnh, tỉnh Gia Định (nay thuộc tỉnh Long An) Lúc bé thông minh, giàu trí nhớ, năm mười tám tuổi ra học Phú Xuân, năm hai mươi ba tuổi đậu cử nhân, vào thi hội, vì quyển thi lấm mực nên bị đánh hỏng Nhà nghèo không tiếp tục học nữa, Nguyễn Thông nhận chức Huấn đạo ở Phong Phú,
tỉnh An Giang, sau đổi về làm nội các Huế, tham gia vào việc biên soạn quyển Nhân
sự kim giám (Gương vàng soi việc người)
Năm 1859 Pháp đánh thành Gia Định, Nguyễn Thông bỏ quan xin đi tòng quân và giúp việc đắc lực cho Thống đốc quân vụ Tôn Thất Hiệp Trong bài thơ
Tống Nguyễn Thiện Quang trì tiết Gia Định kiêm lãnh sự (Đưa ông Nguyễn Thiện
Quang vâng mệnh vua sai vào Gia Định kiêm chức lãnh sự), ông có nhắc đến việc này:
“Ức tích tái bút Định quân doanh,
Dữ quân liên tháp ngọa đàm binh
Thung dung tôn trở khước lỗ kỵ, Khuynh đảo ý khí tầm thi minh…”
(Tưởng lại năm trước, tôi làm việc văn thư trong dinh Định quân, Cùng ông liền giường nằm bàn việc quân
Ngồi ung dung bên mâm rượu mà đuổi được tón kỵ binh của giặc,
Ý chí khâm phục nhân kết bạn làm thơ…)
Trang 18Sau đó quân ta liên tiêp thua trận, triều đình ký hòa ước cắt ba tỉnh Đông Nam Kỳ dâng cho Pháp, Nguyễn Thông rời quân đội, cùng một số sĩ phu yêu nước
bỏ miền Đông, lánh sang miền Tây Năm 1862 ở miền Tây ông được Phan Thanh Giảng cử làm Đốc học Vĩnh Long Thấy người sống tỵ nạn, không nỡ bỏ người chết nằm lại trong vùng giặc chiếm, ông cùng với Phan Thanh Giảng tổ chức dời mộ Võ Trường Toản là một nhà giáo có đạo đức lớn ở Nam Bộ thời ấy, từ Chí Hòa về cải táng ở Bảo Thạnh, tình Bến Tre Nhưng mộ vừa xây xong thì năm 1867 ba tỉnh miền Tây bị giặc chiếm nốt Nguyễn Thông lại bỏ miền Tây lánh ra Bình Thuận Mùa đông năm ấy ở Bình Thuận, Nguyễn Thông được chiếu chỉ bổ làm Án sát tỉnh Khánh Hòa, rồi tháng giêng năm sau ông đổi về kinh làm Biện lý bộ hình, sau đó làm Bố chánh Quảng Ngãi Thời gian ở Quảng Ngãi, Nguyễn Thông vận động nông dân khơi ngòi đắp đập dẫn nước tưới cho hơn tám trăm mẫu ruộng và tăng gia sản xuất Thấy ông làm được nhiều việc có ích, bọn quan lại địa phương có kẻ dèm pha,
vu cáo nên ông bị cách chức, bị giam và bị xử đòn Nhân dân địa phương thương mến, đứng ra kêu oan cho ông Về sau vụ án phân rõ trắng đen, ông được thả Năm quý Dậu (1873), Nguyễn Thông bị bệnh xin về nghỉ ở một trại núi thuộc tỉnh Bình Thuận Ở đây nhà thơ lập thi xã cùng bạn bè ngâm vịnh Năm Bính tý (1876), Nguyễn Thông trở lại triều đình làm Tư nghiệp Quốc tử giám Ông cùng mấy viên
quan nữa được giao trách nhiệm khảo duyệt bộ Khâm định Việt sử thông giám
cương mục Nhân đây, ông soạn quyển Việt sử cương giám khảo lược Nguyễn
Thông lúc nào cũng băn khoăn về những vấn đề của đất nước Thời gian làm Tư nghiệp Quốc tử giám, nhân kỳ khảo hạch học trò, ông ra đề bài kín đáo bày tỏ ý kiến của mình về thời cuộc Trước kia làm quan trong Nam, Nguyễn Thông đã từng chú ý đến các miền rừng núi của những tỉnh Biên Hòa, Bình Thuận, Khánh Hòa Thấy địa thế những nơi này mênh mông, đất đai màu mỡ, mà chưa được khai phá, nay có dịp ông dâng sớ lên triều đình xin lập đồn điền khẩn hoang Việc này triều đình chấp thuận, và năm 1877 ông được cử làm Dinh điền sứ tỉnh Bình Thuận Nhưng công việc không tiến hành được vì giặc Pháp ngăn trở Mùa đông năm ấy triều đình lại cử ông giữ chức Bố chánh Bình Thuận Tại đây, ông tập hợp những
Trang 19người Nam Kỳ chạy nạn sống rải rác trong các tỉnh cực nam Trung Kỳ lại một nơi,
để họ giúp nhau làm ăn sinh sống Có người tậu ruộng xây nhà, tính chuyện dài lâu, giàu nghèo giúp nhau, hoạn nạn cứu nhau Tuy phiêu bạt ở chốn tha hương mà vẫn
có cái vui cùng nhau đoàn tụ Tháng hai năm Tân tỵ (1881), Nguyễn Thông được cử giữ chức Phó sứ điền nông kiêm Đốc học Bình Thuận Tuổi già, sức yếu, trước kia mấy lần thổ huyết suýt chết, bây giờ ông vừa làm quan, vừa dưỡng già Nguyễn Thông dựng một ngôi nhà nhỏ trên bờ sông Phan Thiết, đặt tên là Ngọa du sào (Tổ nằm chơi) Những ngày cuối cùng của cuộc đời ông đã trôi qua ở đó Ông mất năm Giáp ngọ (1884), thọ 58 tuổi
Nguyễn Thông kết hôn cùng vợ là Ngô Thị Thùy A, cháu tằng tôn của Ngô Nhân Tĩnh, một trong tam thi gia ở Gia Định Bà sinh được hai trai là Trọng Lỗi và Quý Anh, ba gái là A San, A Chuyên và A Lúa Vợ thứ ông sinh một trai, một gái
Nguyễn Thông sáng tác và trước tác khá nhiều Ông không những là một
nhà thơ, mà còn là một nhà sử học, nhà giáo dục học Tác phẩm của ông có Ngọa du
sào thi tập, Ngọa du sào văn tập, Kỳ Xuyên văn sao, Kỳ Xuyên công độc, Việt sử cương giám khảo lược, Nhân sự kim giám, Dưỡng chính lục Trong bài mộ chí tự
viết cho mình, “chép rõ lịch bình sinh về khoa hoạn, văn học, nói đúng sự thực” [44] nhà thơ ghi lại
“Tiên sinh hai lần làm quan, làm đến chức Bố chánh, những lời tâu bàn thường là những việc lớn trong triều đình, danh tiếng được người đương thời tôn trọng Văn chương cũng nổi tiếng không thua kém người xưa, học trò đất Nam trung đều coi là bậc thầy, ví với Âu Dương Tu, Tô Lão Tuyền thời trước Thơ của tiên sinh học được cái tinh túy của các danh gia đời Ngũ triều và đời Hán Ngụy…” [44]
1.2 Nguyễn Thông trong lịch sử phát triển văn hóa, văn học Việt Nam
1.2.1 Nguyễn Thông – nhà văn đặc sắc trên văn đàn văn học Việt Nam
Thơ văn Nguyễn Thông là một bộ phận hợp thành của toàn bộ sự nghiệp trước tác của ông, nhưng lại là một bộ phận rất mực quan trọng, mang nhiều tính tổng hợp nhất trên các mặt: chỗ đứng và cách nhìn, tư tưởng và tình cảm, cuộc đời
Trang 20chung, riêng của tác giả - vừa là người trong cuộc, vừa là nhân chứng lịch sử nửa sau thế kỷ XIX, một thời kỳ đầy rẫy sự cố
Thơ văn Nguyễn Thông có thời làm chấn động kinh kỳ, được sự đánh giá cao của nhiều ngòi bút nổi tiếng khắp Bắc, Trung, Nam, từng gây cảm xúc mạnh mẽ trong hàng ngũ trí thức thời ông và có tiếng vang khá rộng qua nhiều thế hệ Chỉ tiếc các tác phẩm của ông đều viết bằng chữ Hán, chỉ có ai tinh thông chữ Hán mới đọc được, hiểu được
Thơ văn Nguyễn Thông rất đa dạng về thể loại Về thơ, có cổ thể và cận thể Văn, có những ghi chép, truyện ký, tùy bút, ngụ ngôn, phú, văn tế Khái quát đặc điểm thơ văn của Nguyễn Thông, chúng tôi thấy tính chất và phong cách sáng tác của ông mang những đặc điểm:
Thơ hướng về tả thực, có màu sắc lãng mạn, mang tính trữ tình cao, vừa chân thật, vừa phóng khoáng, không bị gò bó bởi những ý niệm và công thức có sẵn nào Hình thức thư cổ, với niêm luật được quy định chặt chẽ, cũng không thể khuôn những rung động của ông thành những thứ rỗng, nhạt
Sôi nổi mà tinh tế, tâm sự cay đắng của ông về triều đình lúc ông ra làm quan, lòng khinh ghét của ông về triều đình lúc ông ra làm quan, lòng khinh ghét của ông đối với bọn ô trọc, tiểu nhân đang giữ quyền vị, đều đi vào tác phẩm ông bằng những hình tượng văn học độc đáo, có chiều sâu
Trong thơ Nguyễn Thông, cảnh, tình và việc, ở nhiều bài, quyện vào nhau một cách chặt chẽ Vốn yêu thiên nhiên, nói nhiều về cảnh thiên nhiên, nhưng không dừng lại ở chổ tả cảnh Thường thường đằng sau, bên trong một cảnh đều có việc, có tình
Nguyễn Thông hay sử dụng thơ dưới dạng “thù ứng”, nhưng không phải vì sính thơ hay thích khoe chữ, trái lại, ông muốn nói lên một điều gì đó qua mối quan
hệ riêng hoặc từ mối quan hệ riêng dẫn đến những ý đề xuất trên một phạm vi rộng lớn Từ nhà đến nước, từ riêng đến chung, từ mối quan hệ cá biệt đến nhiều người, thơ “thù ứng” của Nguyễn Thông ít khi mang dáng dấp lối chơi thơ của nhà nho ra
vẻ cao đạo Một loạt thơ “thù ứng” của Nguyễn Thông mang tính thời sự rõ nét và
Trang 21tính nghệ thuật cao, xuất hiện ngày càng nhiều từ khi ba tỉnh miền Đông, rồi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ lọt vào tay giặc Pháp trở về sau
Nguyễn Thông có sử dụng một số điển cố Trung Quốc trong thơ (lẫn văn), nhưng ông không vay mượn ý và tứ của người xưa , xét về cấu trúc của từng bài
Nguyễn Thông rất quan tâm chăm sóc, gột rứa văn từ, có khi từng chữ một, nhưng ông không để hình thức lấn át nội dung, tạo ra cái vẻ đẹp hào nhoáng bên ngoài
Ngoài tính cách đã nói, văn xuôi của Nguyễn Thông còn có một vài biểu hiện đáng lưu ý Dù viết tự sự hay phản ánh con người anh hùng, kỳ tích anh hùng trong lịch sử chống Pháp, gương đẹp của nhân dân trong mối quan hệ giữa người với người, những bài ký, truyện ngụ ngôn, phú và văn tế của ông, khi tả ngoại hình hay tâm trạng nhân vật, ngòi bút của tác giả bao giờ cũng đi trên giấy rất trôi chảy, không bị ràng buộc, câu thúc khi mượn ngôn giữ nước ngoài
Văn của Nguyễn Thông nói chung rất mới, tiến sát ranh giới của cách viết hiện đại Vừa trong trắng, vừa mạch lạc, văn của ông miêu tả hiện thực khách quan mang tính nhiều hình, nhiều vẻ rất khúc chiết, góc cạnh mà “ngôn văn” Trung Quốc hạn chế
Đến nay, đọc văn Nguyễn Thông , chúng ta không thấy khoảng cách giữa ông và thế hệ ngày nay, dù thời gian có trải qua trên một thế kỷ Văn chính luận của Nguyễn Thông cũng diễn đạt một cách gẫy gọn, sáng sủa như thế, chứng tỏ bút pháp và bản lĩnh của ông đã đạt đến một trình độ cao, có sự sáng tạo mới Riêng các truyện ký về lịch sử anh hùng, tính chân thật và tính văn học của tác phẩm này đến nay vẫn còn nguyên vẹn giá trị, đủ nói lên tài năng lớn và bút lực mạnh mẽ của Nguyễn Thông
1.2.2 Dấu ấn văn hóa - văn học Nam Bộ trong thơ văn Nguyễn Thông
Nguyễn Thông là một nhà thơ yêu nước Dư luận Nam Bộ đều thống nhất nhận định như vậy về con người cũng như về sáng tác của ông Nhưng thơ văn yêu nước của Nguyễn Thông, so với thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, hay Phan Văn Trị cùng thời, thì sắc thái của nó có khác Bởi vì nó thuộc một dòng khác
Trang 22Những năm giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp tấn công Gia Định, rồi đánh lan ra các tỉnh xung quanh, thì trong hàng ngũ sĩ phu Nam Kỳ, những tình cảm yêu nước được khơi dậy mạnh mẽ Một bộ phận tích cực nhất đứng ra tổ chức lãnh đạo nhân dân kiên quyết chống giặc, một bộ phận khác ít dung khí hơn, không trực tiếp đương đầu với giặc, nhưng cũng không chung sống với kẻ thù Hễ Pháp chiếm nơi nào thì họ bỏ nơi ấy, dọn đến chỗ khác để ở Phong trào “tỵ địa” lúc bấy giờ không kém phần sôi nổi là biểu hiện lòng yêu nước của họ Nguyễn Thông là trong số những người này Thơ văn của ông là tâm trạng của những người yêu nước phải lìa
bỏ quê hương vì giặc chiếm, da diết nhớ về nơi chôn rau cắt rốn của mình Tình thương nhớ quê hương là nét đặc sắc nhất trong sáng tác của ông
Hầu hết sáng tác của Nguyễn Thông nói lên lòng thương nhớ quê hương miền Nam bị giặc chiếm Dường như không có nhà thơ Nam Bộ nào trước đây nói
về tình cảm này cảm xúc như ông Trong những sáng tác đầu tiên, khi đất nước chưa có bóng giặc, chủ đề thương nhớ quê hương đã có mặt trong thơ của Nguyễn Thông Nhà thơ từ lúc lớn lên, đi học rồi đi làm, thường sống xa nhà Một buổi chiều dạo chơi trên sông Long Hồ, phía tây thành Huế, lúc Nguyễn Thông làm ở Nội các, nhìn những xóm làng khói bay nghi ngút trên ngọn tre, những con đường như lẫn trong mây núi xa tít, nhà thơ sực nhớ đến quê nhà: “cảnh tượng quạnh hiu
cũng giống như cảnh chỗ nhà ta” (“Liêu lạc tự ngô lư” – Long Hồ vãn phiếm)
Trong một bài khác cũng làm vào dịp ấy, nhân có người về Gia Định, ông tâm sự:
“Đã mấy năm nay chưa nghĩ đến việc về quê thăm nhà” (“Tần niên vị nghĩa quy”), rồi ông nhờ bạn về quê, “Hỏi thăm tin tức ra sao Được yên ủi lúc cuối năm mà tôi
còn ở xa chưa về được” (“Ân cần tấn tiêu tức, Tuế yến ủy khuê vi” – Tống nhân chi
Gia Định)
Mấy năm sau chiến tranh bùng nổ ngay trên xứ sở quê ông, nhà thơ trở về trong hàng ngũ quân đội triều đình để chiến đấu chống giặc Cuộc chiến đấu thất bại, quê ông bị giặc chiếm, và nhà thơ lại ra đi lần nữa, không hẹn có ngày về, bỏ lại đằng sau mình mảnh đất thân yêu từ tấm bé với biết bao nhiêu kỷ niệm buồn vui
Lòng nhà thơ trào lên tái tê, chua xót Bài Thuận cảm là tâm trạng của ông lúc từ
Trang 23giả quê hương Những suy nghĩ về đất nước, về tình người về tương lai và hiện tại, tất cả đều mịt mờ, mông lung:
“Cảm thử cốt nhục thân, Trung lộ hốt như di
Ấu tiểu hội tương tồn, Lão giả thành vĩnh tỳ (từ)
Thái tức đăng biển chu, Dương phàm tố thủy nhi (nhai)
Lương tiêu khơi thiên mạt, Lạc diệp từ cựu chi
Nhân sinh vô căn đế, Yên đắc trường tương y
Kích tiếp độ trung lưu, Hoài cựu phát mã y (ai)
Ỷ bồng nhất hoài miện, Phù vân mê giang ly’’
(… Tình cốt nhục nào ai chẳng có, Mới nửa đường nỡ bỏ rời nhau
Trẻ trung gặp gỡ có ngày, Còn như già cả bằng nay giã từ
Chiếc thuyền nhở ngẩn ngơ dời bước, Giương buồm theo dòng nước thẳng xuôi
Lạnh lùng gió nổi chân trời, Buồn trông chiếc lá phải rời cảnh xưa
Không gốc rễ sống nhờ đây đó, Khó tìm nơi nương tựa dài lâu
Gõ chèo ra chốn dòng sâu, Nhớ quê hương cũ chạnh đau khúc lòng
Dựa mui thuyền ngoảnh lại trông, Rặng cây bến cũ rêu phong mịt mù…)
Trang 24Bài Biệt vong đệ lữ phần (Từ biệt mộ em chôn ở nơi đất khách), cũng là
một bài thơ hết sức xúc động Trước khi từ miền Đông giặc chiếm, nhà thơ “tỵ địa” lên miền Tây cùng với gia đình của em Bây giờ miền Tây giặc chiếm nốt, ông bỏ ra Bình Thuận có một mình Đứa em trai đã chết Công việc trong Nam chưa biết đến bao giờ mới yên Nhà thơ ra đi để lại một bầy cháu dại, không người chăm sóc Việc chung và việc riêng, nghĩa nước và tình nhà, tất cả đều dở dang Nhà thơ cảm thấy có gì đó không phải trong việc ra đi, nhưng vẫn phải ra đi Bài thơ buồn buồn lặng lẽ Một chút cảnh bên ngoài càng làm tăng thêm cái buồn sâu lắng bên trong của một tâm hồn thi sĩ:
“Nam sự kỷ thời định?
Lữ phần kim cánh vi
Nhất bôi loại phương thảo, Song lệ lạc tà huy!
Chư điệt bằng thùy thác ?
Cô tung dữ chúng vi
Mân giang di trạo xứ, Hàn vũ dạ phi phi”
(Việc phương Nam bao giờ mới định ?
Mồ chôn nhờ hiu quạnh từ nay
Cỏ thơm chén rượu vơi đầy, Chứa chan trong buổi tối trời lệ rơi!
Đàn cháu bé nhờ ai cho gửi?
Một mình đi trái với mọi người
Đến sông Mân thuyền vội dời, Đêm khuya lạnh lẽo bên trời mưa sa…)
Có thể nói, từ đây trong thơ của Nguyễn Thông chủ đề thương nhớ quê hương thực sự bao trùm tất cả Ông sẽ nhắc nhiều đến Đỗ Phủ, một nhà thơ nổi tiếng đời Đường vì giặc giã phải bỏ về Ba Thục; đến Vương Xán, một nhà thời khác đời Đông Hán, cũng vì giặc giã phải bỏ về Kinh Châu Nghe một tiếng chim đêm,
Trang 25ông liên tưởng đến tổ cũ, đất quê Được một người nông dân biếu mấy con chim đa
đa (xưa gọi là loài chim nam), ông cũng bồi hồi xúc động Trong bài Phóng giá cô
(Thả chim đa đa) ông viết:
“ Phóng nhĩ nam chi phản cố sào, Sơn kê cựu lữ cộng chiêu yêu
Khê biên ẩm trác tu căng thận, Mạc khiển vi khu trụy lão thao”
(… Cành nam nay trả mày về lại, Bạn cũ gà rừng mặc sức chơi
Bên suối uống ăn nên cẩn thận, Chút thân đừng để lọt tay ai) Thời gian làm quan ở Quảng Ngãi, Nguyễn Thông trồng ở cạnh nhà nhiều hoa và cây cảnh, lúc bị bệnh về an dưỡng ở Bình Thuận, ông làm thơ từ biệt chúng Tâm sự với hoa phù dung, ông nói:
“Bạng trì thừa vũ tiếp chi tài, Chiếu thủy nùng hoa lưỡng độ khai
Ngã khứ mạc hiềm phong vị giảm, Thế nhân hoàn thị tự Nam lai”
(Phù dung)
(Bờ ao mưa tạnh cắt cành trồng, Hai độ hoa xuân đáy nước lồng
Đừng ngại ta đi phong vị giảm, Người thay ta cũng ở Nam Trung) Hoa đừng giảm phong vị vì người thay ta cũng ở trong Nam! Nhà thơ nói đến người trong Nam nghe mới thân thiết chừng nào
Trước kia nhà thơ xa quê còn hẹn có ngày trở về, cho nên ý muốn trở về chưa bức thiết lắm Bây giờ xa quê, không biết bao giờ mới về lại được, khao khát
được về đến trở thành ám ảnh trong thơ ông Trong bài Hàm Thuận cảm hoài (ở
Hàm Thuận cảm nhớ) ông viết:
Trang 26“Cô đĩnh phát Long Châu, Phong yên bạng tiêu lâu
Trường niên thương viễn biệt,
Đa nạn tích yêm lưu
Địa trách y sơn chuyển, Thiên không nhập hải hưu
Đồ Nam tri hữu lộ, Nan tá đầu sa phù”
(Thuyền con rời khỏi Long Thành, Nom theo ngọn gió chòi canh la đà
Lâu năm xót nỗi xa nhà, Loạn ly nương náu lòng ta bời bời
Non cao đường hẹp chơi vơi, Mênh mông biển rộng với trời ngoài kia
Miền Nam vẫn thuộc đường về, Tiếc thay khó mượn được bè lên sao!)
Bài Thôn cư (Ở Thôn quê) và bài Giang đình đề bích (Đề trên vách đình bên sông) cũng cùng một tâm trạng ấy Trong bài Thôn cư, nhà thơ nói, sống ở nông
thôn không có gì phiền toái, nhưng không làm sao yên được Uống rượu cho quên ngày tháng thì dễ, chứ “Mộng thấy làng cũ mà về thì không được” (Hương mộng
đáo gia nan) Còn bài Giang đình để bích thì:
“Lịch tận nguy cơ toái phách tô, Hải thiên hà xứ nhận quy đồ?
Bán song thủy nguyệt Nam Trung cảnh,
Tứ bích vân sơn vật ngoại đồ”
(Trải qua nguy cơ, thể phách tưởng tan nát rồi mà còn sống được, Trời bể mênh mang tìm đường về lối nào?
Nhớ cảnh Nam Trung, trước cửa trăng thanh nước lặng, Xem bản địa đồ bốn bề núi dựng mây lồng)
Trang 27Thế rồi một hôm “Đưa ông Bùi Tịch đi Gia Định” (Tống Bùi lang chi Gia
Định), nhà thơ ao ước: “Tôi cũng muốn đổi cho ông cái chức quan nhỏ ấy, để mỗi
khi nhận việc công được về thăm quê hương” (“Ngã dục hoán quân quan chức tiểu, Mỗi nhân công cán đắc hoàn hương”) Và một hôm khác, đến lược “Đưa bà vợ là
Ngô Vũ Khanh về Nam” (Tống nội tử Ngô Vũ Khanh Nam quy), thì nhà thơ rạo rực
xao xuyến, vừa lo cho bà đường về hiểm trở:
“Pha kiến đào hoa xuân lãng khoát, Nhị thiên minh nguyệt nhất chu hoàn”
(Ngại ngùng cho cánh hoa đào trên sóng xuân lai láng, Mảnh trăng sáng chia đôi, một chiếc thuyền lênh đênh trở về Lại vừa có cái sung sướng tưởng tượng thấy mình cũng được về nhà với vợ:
“Tạc dạ thuần tô giang thượng mộng, Tiên tùy hoàn bội đáo gia san”
(Đêm qua nằm mơ về trên sông hưởng cái thú canh rau cần, chả cá vược,
Giấc mơ ấy đã theo vòng xuyến của bà về nhà trước) Trong tâm trí nhà thơ bấy giờ, quê hương không còn êm đềm với cái cảnh
“Cỏ dại không trồng, cứ mọc quanh nhà,/ Hoa rụng vừa quét lại rơi đầy thềm”, và
“Ở nơi hẻo lánh về cuối năm, bạn có hỏi thăm,/ Buổi chiều bên ngàn liễu, nghe đọc sách là tôi ở đó” (“Loạn thảo bất tài tiên nhiễu xá, Lạc hoa tài tảo cánh xâm trừ,
Cùng giao tuế yến năng tương phỏng, Liễu ngạn tà dương thính độc thư” – Ký hữu),
mà là cảnh máu chảy đầu rơi, xương tan nát thịt, và mỗi lần nhắc đến, nhà thơ thấy
xót xa ngậm ngùi vô hạn Trong bài Đinh mão tân tuế tác (Thơ làm nhân ngày tết
năm Đinh Mão (1867)), ông viết:
“Cố hương nhung mã tại, Cốt nhục chính bi tân”
(Ở làng cũ hiện nay đang giặc giã,
Bà con đang chịu cảnh đâu thương cay đắng)
Trang 28Trong bài Bình Hòa phùng đồng quận Hà lang (Ở Bình Hòa gặp ông họ Hà
là người cùng quận), ông lại nói:
“Vọng tận Nam thiên chiến huyết tính”
(Trông về tận trời Nam, nghe máu tanh của chiến tranh)
Rồi trong bài Thư hoài thị Dinh điền phó sứ Bùi bá Xương (Tả nỗi lòng, đưa cho ông Dinh điền phó sứ Bùi Bá Xương) và bài Phụng họa Nguyễn Phạm nhị
hiền “Gia Định có thành” thử ký chi tác (Kinh họa bài thơ Gia Đinh cố thành của
hai ông họ Nguyễn và họ Phạm) ông cũng nhắc lại, khi thì “ Bến Nghé không dưng hóa thành chiến trường” (“Ngưu chử vô đoan tác chiến trường”); khi thì:
“Vũ hám phong chàng chiến huyết đôi
…Thụ đái tàn chi kinh kiếp hỏa, Trúc trừu tân duẩn đãi xuân lôi”
(Gió dập mưa dồn nơi đám đất đầy máu chiến tranh
… Cây bị giặc thiêu đất, chỉ còn những cành tàn, Trúc nảy mầm non, đang đợi sấm mùa xuân dậy) Tình thương nhớ quê hương của nhà thơ thật vô hạn, vô hồi Nhưng nhớ thương để rồi làm gì, không nhìn thấy rõ Nguyễn Thông có phần giống với Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản hơn là giống với Trương Định, Nguyễn Đình Chiểu Nhà thơ yêu nước, nhưng không lấy hết trách nhiệm của mình khi đất nước lâm nguy, không tin tưởng vào cuộc chiến đấu của nhân dân, của dân tộc Yêu nước mà chỉ thể hiện bằng “tỵ địa”, bằng không sống chung với giặc, thì đâu phải là hành động tích cực! Trong thơ ông những hạn chế về mặt này được thể hiển khá rõ
Trong bài Phụng họa Vân Lộc Lại bộ thương thư tống hành nguyên vận (Phụng họa
nguyên vận bài thơ của ông Vân Lộc (tức Nguyễn Tư Giản), thượng thư bộ Lại tiễn tôi khi trở về trại núi), nhà thơ khuyên bạn đang làm quan “Chưa cần bàn đến mối lợi muối và mỏ sắt, chỉ nên làm thế nào để dân sự trong cơn loạn ly được chỗ ở yên” (“Quan sơn phủ hải hà túc luận, Yếu sử kinh hồng điện tư vũ”), chứ còn bản thân ông thì “Tôi nay gặp bước đường cùng không thể tránh được sự cười chê của núi khe, Nên trở về trong trại núi nằm nghe hạc kêu vượn hót” (“Ngã cùng ná tỵ lâm hác tiếu, Sơn trung quy lai ngọa thính viên hạc khiếu”) Sống giữa một thời
Trang 29buổi chiến tranh mà nhiều lúc nhà thơ như một ẩn sĩ, sống thung dung, cô quạnh, và
một mình nhấm nháp cái cô quạnh, thung dung của mình Trong bài Châu Giang dạ
bạc (Ban đêm đậu thuyền trên sông Châu), nhà thơ với một con thuyền trên sông,
trăng sáng, gió mát, tức cảnh sinh tình:
“Châu thủy thu phong dạ bạc thuyền
Trong bài Điếu kỵ (Tảng đá ngồi câu) tứ thơ cũng thanh thản như vậy:
“Loạn như phi hoa độ điếu kỵ,
Tọa lai thiên ái vãn phong vi)
Sa âu bạc mộ quy hà xứ, Lược ngạn xâm yên bồi khách phi”
(Hoa bay bông rụng dập dìu, Ngồi câu hứng ngọn gió chiều thảnh thơi
Chim âu về sắp tối rồi, Băng bờ lướt khói bóng người bay xa) Những bài thơ này có cái buồn man mác, nhiều bài khác cái buồn đậm nét hơn, nhưng nói chung vẫn nhẹ nhàng, chứ không quặn thắt, da diết, như cái buồn của những con người chiến đấu thất bại
Hạn chế trong thơ Nguyễn Thông có phần nhiều hơn những nhà thơ yêu nước khác, mặc dù nó không che lấp được phần giá trị là chính trong sáng tác của ông Nguyễn Thông được đánh giá cao trong văn học yêu nước Nam Bộ, không phải chỉ vì khối lượng sáng tác của ông nhiều, mà còn vì nhà thơ quả có đóng góp vào phong trào chung một tiếng nói của riêng mình
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG
THƠ VĂN NGUYỄN THÔNG 2.1 Hình tượng tác giả
2.1.1 Về khái niệm hình tượng tác giả trong văn học trung đại
Theo Trần Đình Sử, tương ứng với một kiểu văn học thì có một kiểu tác giả sáng tạo ra nó Có thể phân chia hoặc khái quát thành những kiểu tác giả khác nhau tuỳ vào những tiêu chí cụ thể như tiêu chí trào phúng, phương pháp sáng tác, tiêu chí thể loại, ý thức hệ tư tưởng, văn hoá
Loại hình tác giả văn học trung đại là một loại hình độc đáo Các tác giả trung đại xem việc sáng tác là việc trang trọng, thành kính Họ là những người gắn chặt văn với đạo, đặt thơ trong “cầm, kỳ, thi, họa” họ cũng đặt “văn” trong quan hệ với “đức” với con người Likhachôp đã có ý kiến “ý thức công dân khuôn sáo làm cho kiểu tác giả ngày rất khó sử dụng các chi tiết đời sống mới và các chi tiết nghệ thuật bất ngờ” Họ ít sáng tạo ra những cốt truyện mới, họ có thể tiếp thu truyền thống một cách tự do vì “tập cổ” là một đặc trưng của văn học trung đại Tác giả văn học trung đại Việt Nam mang những nét đặc điểm riêng biệt so với nền văn học trung đại chung của toàn thế giới Nhìn từ góc độ loại hình – thể loại sáng tác, thấy
có hai kiểu tác giả cơ bản trong văn học trung đại Việt Nam: Kiểu tác giả thơ và kiểu tác giả văn
Trên thực tế có thể thấy được trong văn học trung đại Việt Nam thơ vốn là thể loại giữ vị trí chủ đạo Dường như bất cứ ai học hành, đậu đạt hoặc qua chế độ khoa cử cũng đều có thi tập để lại Và khi sáng tác thì hầu hết tác giả nào cũng làm
đủ mọi loại thơ “Ngôn chí”, “Cảm hoài”,… Tuy nhiên, nổi bật nhất vẫn là mạch thơ ngôn chí [12; 69] Thơ nói chí, bộc lộ lý tưởng làm trai, tỏ lòng thần tử đối với bậc
quân vương Chí đặt trong vận mệnh đất nước, với vũ trụ càn khôn Trong bài Đi thi
tự vịnh của Nguyễn Công Trứ ông đã viết:
Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông
Trang 31Người nam tử sống phải có chí lớn, phải đậu khoa bảng, lập được công danh sự nghiệp Nam nhi là người phải ngang dọc trời đất có một tầm hoạt động rộng rãi ở trong trời đất cho nên phải có tiếng tốt đối với núi sông Danh mà tác giả
đề cập ở đây là công danh, là tiếng thơm, tiếng tốt, tên tuổi của một con người gắn liền với thời đại Có lần ông nói: Không công danh thà nát với cỏ cây Trong một bài thơ nói về quan niệm sống của người con trai, tác giả từng khẳng định: Con người sinh ra sau cùng ai cũng phải chết nhưng phải được lưu tiếng thơm trong
ưu tư tâm sự “Cảm hoài”, “Hoài cổ”,… Những vần thơ mang nặng nỗi niềm ấy đã góp phần tạo dấu ấn đặc trưng cho thơ ca trung đại Việt Nam
Kiểu tác giả trên đã được nhìn từ góc độ loại hình, nhưng khi nhìn từ góc độ
ý thức hệ tư tưởng thì lại có hai kiểu tác giả khác: kiểu tác giả Thiền gia và kiểu tác giả Nho gia
Hai kiểu loại tác giả này cùng tồn tại và tạo ra nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau trong các sáng tác của các tác giả văn học trung đại Thiền gia kết hợp với Phật gia đã tạo được nhưng thành tựu nổi bật nhưng về sau thì phai mờ dần Ở thời
Lý – Trần, phật giáo được coi là tôn giáo chính đóng vai trò Quốc giáo, sự thăng hoa của Phật giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học, giữa thơ và Thiền lại có nhiều điểm gặp gỡ, Cả hai đều có sự hướng nội sâu sắc, thể hiện nội tâm, trầm tư tĩnh lặng, coi trọng sự diệu ngộ Cả hai đều sử dụng ngôn ngữ “ý tại ngôn ngoại” Thiền gia thời bấy giờ đã đạt đến sự thông tuệ, sâu lắng, tinh tế,…
Sau sự xuất hiện của Thiền gia thì phải kể đến kiểu tác giả Nho gia Kiểu tác giả này xuất hiện khi Nho giáo bắt đầu xuất hiện từ thời Bắc thuộc và giữ vai trò độc tôn trong thời gian khá dài Theo Trần Đình Hựu “ Nho giáo ảnh hưởng trực
Trang 32tiếp đến văn học qua thế giới quan của người viết Cách Nho giáo hiểu quan hệ giữa thiên đạo và nhân sự, sự tồn tại của trời, sự chi phối của Đạo, lý của Mệnh Cách Nho giáo hình dung thực tế, vạn sự, vạn vật, và lẽ biến dịch; cách Nho giáo hiểu cổ kim (lịch sử), cách Nho giáo hình dung xã hội, sự quan trọng đặc biệt của cương thường, đòi hỏi con người có trách nhiệm, có tình nghĩa, cảm xúc, cách suy nghĩ làm cho con người quan tâm hàng đầu đến đạo đức, lo lắng cho thế đạo, nhân tâm, băn khoăn nhiều về lẽ xuất xử” [25; 51 – 52] Nho giáo đã chi phối một cách sâu rộng không chỉ trong văn chương mà cả đời sống của dân tộc Việt nhưng không có nghĩa Nho giáo chiếm lĩnh được toàn bộ đời sống tâm hồn, tư tưởng của các nhà Nho Việt Nam và dân tộc Việt Nam
Từ kiểu tác giả Nho gia một số quan niệm nghiên cứu tiêu biểu như Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương đã phân thành ba loại: nhà Nho hành đạo, nhà Nho
ẩn dật và nhà Nho tài tử Còn có nhiều cách phân loại khác nhưng xem ra cách phân loại này được nhiều người chấp nhận vì nó sát với thực tiễn sáng tác của các nhà nho Việt Nam và giúp người nghiên cứu có điều kiện hơn trong nhìn nhận, khái quát những biểu hiện đa dạng, độc đáo của nhà nho Việt Nam Tuy vậy, sự phân loại này cũng chỉ là tương đối vì không có loại nào thuần thành mà thường có sự đan xen tồn tại giữa hành đạo, ẩn dật, tài tử trong một tác giả
Như vậy, có thể thấy loại hình của hình tượng tác giả trong thơ văn trung đại đã có những sự độc đáo nhất định, cả về các kiểu loại hình tượng cho đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân chia các loại hình tượng tác giả đó Cùng trong thời gian này, đặc trưng loại hình tác giả trong thơ văn Nguyễn Thông cũng chịu những ảnh hưởng nhất định và định hình một cách rất riêng mang bản sắc của chính ông
2.1.2 Nguyễn Thông – một nhà nho đau đáu vì dân tình, thế cuộc
Sinh ra và lớn lên ở Gia Định (nay thuộc tỉnh Long An), từ nhỏ Nguyễn Thông đã thể hiện mình là một con người thông minh, giàu trí nhớ Ông theo học chữ thánh hiền và ôm ấp lý tưởng giúp đời thông qua con đường khoa cử, đậu đạt làm quan, 23 tuổi đậu cử nhân, nhưng lại bị đánh hỏng vào kì thi hội chỉ vì quyển thi lấm mực, Nguyễn Thông đã phải dừng sự nghiệp học hành của mình ở đây Mặc
Trang 33dù vậy ông vẫn hăng say trong công việc và kinh qua nhiều chức vụ: Làm Huấn đạo
ở An Giang, làm ở nội các Huế, tham gia biên soạn quyển Nhân sự kim giám
(Gương vàng soi việc người), Đốc học Vĩnh Long, Án sát tỉnh Khánh Hòa, Biện lý
bộ Hình, Bố chánh Quảng Ngãi, Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Dinh điền sứ tỉnh Bình Thuận, Bố chánh Bình Thuận, Phó sứ điển nông kiêm Đốc học Bình Thuận Suốt thời gian làm quan ông luôn trăn trở suy nghĩ làm sao giúp nhân dân tạo dựng cuộc sống yên bình, tìm mọi cách chống lại giặc Pháp Ông dành cả cuộc đời để chăm lo
và bảo vệ cuộc sống của muôn dân
Thực dân Pháp xuất hiện, đất nước biến động, triều đình rối ren, mọi giá trị bắt đầu bị đảo lộn Lúc bấy giờ triều đình tồn tại hai phe đối lập nhau: phe chủ chiến
và phe chủ hoà Nhà Nguyễn áp dụng chiến lược ngoại giao hoà hảo để giữ vững hoà bình nhưng dần dần bị thực dân Pháp khống chế và mất quyền tự chủ ngay trên mảnh đất của dân tộc mình Vì quyền lợi gia tộc dòng họ mà nhà Nguyễn và bè lũ tay sai cam tâm dâng nước ta cho giặc Không những vậy triều đình còn đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân chống giặc, khống chế hoạt động của các nghĩa quân Lúc bấy giờ vua không ra vua thì thử hỏi bề tôi phải thờ ai? Bế tắc, khủng hoảng giới văn thân trí thức - những kẻ từ nhỏ được dạy “dân dĩ quân vi tâm, quân dĩ dân
vi thể Quân thần phụ tử, tử vị phụ vong” (Dân lấy vua làm lòng, vua lấy dân làm thân thể Nghĩa vua tôi, nghĩa cha con, tôi phải chết vì vua, con phải chết vì cha), buộc phải đứng trước những sự lựa chọn Một số người trút bỏ mọi vướng bận ở chốn cung đình trở về quê sống cuộc sống “lánh đục về trong” bảo toàn danh tiết nhưng lại thấy mình đang còn mắc nợ với nhân dân Một số kẻ cơ hội mưu cầu vinh hoa phú quý mà quay lưng lại với nhân dân mình:
Ở đời chưa dễ quên đời đặng Tính thiệt so hơn cũng gọi là
(Tôn Thọ Tường) Lớp người này cho rằng tình thế đã đến lúc như cờ túng nước, chống lại người Pháp chỉ như “chim lấp biển” mà thôi, chi bằng ra cộng tác với giặc hoạ chăng vãn hồi thế cục được phần nào Vì quyền lợi cá nhân mà họ bán rẻ lương tâm,
Trang 34nhân phẩm, bán rẻ dân tộc để làm tay sai cho giặc Lớp người này chiếm một số lượng không nhỏ trong triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ Nhưng yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta, tinh thần tự hào, tự cường dân tộc đã ăn sâu vào máu thịt của nhân dân Việt Nam vì thế dù có phải đánh đổi cả mạng sống họ cũng quyết giữ cho được chủ quyền đất nước Tinh thần ấy là điểm tựa cho mỗi người trong lúc quốc biến Vua không còn là đấng minh quân nhưng mỗi tấc đất ngọn cỏ trên mảnh đất này là của cha ông để lại cháu con phải giữ gìn, ý thức dân tộc đã tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân và lớp sỹ phu giương cao cờ nghĩa:
Vì nước tấm thân đã gửi, còn mất cũng cam Giúp đời cái nghĩa đáng làm, nên hư nào ngại
ở nước phải lo giữ nước, không nên giương mắt ngồi nhìn
Có thân thì quyết hiến thân, đâu nỡ co vòi chịu nhát
(Lãnh Cổ) “Vì cái nghĩa đáng làm” mà một Nguyễn Duy Cung “thà làm vua có hồn trung nghĩa vía còn hơn sống mà đầu tây”; một Nguyễn Cao “thà chết cùng trời đất
đi về”; một Hồ Huân Nghiệp “việc nghĩa nên làm không kể đến thành bại”… rồi còn bao nhiêu con người vô danh khác nữa đã ngã xuống vì mảnh đất này
Là một nhà Nho ý thức rất rõ đạo vua tôi, nghĩa quân thần, Nguyễn Thông
đã giương cao ngọn cờ nghĩa cùng anh em binh sĩ và nhân dân chiến đấu Khi Pháp đánh thành Gia Định, Nguyễn Thông bỏ quan xin đi tòng quân và giúp việc đắc lực cho Thống đốc quân vụ Tôn Thất Hiệp Con người ấy trước sau vẫn giữ trong tấm lòng vì nghĩa lớn, vì mảnh đất dân tộc Hiện lên trong những vần thơ ông để lại là hình ảnh một con người nhập thế đã hết mình vì cuộc kháng chiến Dẫu có những lúc khó khăn, tình thế của kháng chiến rơi vào bi thảm nhất, dẫu có những tháng ngày niềm tin hy vọng bị lung lay thì ông vẫn sát cánh cùng anh em không hề rời bỏ
vị trí và luôn nhắc nhở mình cùng mọi người
Trang 35Đọc thơ văn của Nguyễn Thông ta có thể thấy được tinh thần yêu nước của
ông, cũng như sự châm biếm của ông đối với bọn xu nịnh, đê hèn Trong bài Gửi
bạn, sáng tác năm 1852, thời gian Nguyễn Thông mới ra làm quan, có những câu:
Cỏ dại không trồng cứ mọc quanh nhà Hoa rụng vừa quét lại rơi đầy thềm
là tác giả nhằm tả bọn xu nịnh, đê hèn đắc thời, đắc thế như cỏ dại không trồng mà cứ mọc Nỗi lo âu vì việc đời cứ hết chuyện này đến chuyện khác, khác nào hoa rụng vừa quét vẫn rơi
Viết về tiền đồ bấp bênh, nhiều lần gian nan của mình, trong bài Buổi chiều
dạo thuyền ở sông Long Hồ, tác giả đã viết:
Bóng nắng chiếu giọi lên nghìn quả núi Mưa nhỏ tạnh rồi khí trời hơi lạnh
Khói xóm chơi vơi qua làn tre Dọc bờ sông, bóng tùng thưa thớt, la đà trên mặt sông Con đường nhỏ cùng với núi mây xa tít
Chiếc thuyền con ở trên sông vào lúc cuối năm
Dưới chân rừng có mấy nhà lác đác Cảnh quạnh hiu tương tự như nhà ta
Bài thơ gồm tám câu, mỗi câu đều vẽ lên một cảnh đượm buồm và toàn bài toát ra không khí hắt hiu, quạnh quẽ Hai câu năm và sáu, tác giả tả cảnh có ngụ tình
về tiền đồ bấp bênh, đã nhiều lần gian nan lại xa vời như con đường nhỏ vừa lối chim đi, cùng với mây núi xa tít Cảnh cô đơn lại gặp lúc cuối năm, chạnh nỗi nhớ nhà như chiếc thuyền côi trên sông vắng Hoạn lộ mà Nguyễn Thông đang đi quả thật là rất gập ghềnh
Trong thơ tả thiên nhiên, Nguyễn Thông phân biệt hai loài hoa: Hoa rừng
và hoa dại Trong thơ viết chữ Hán, Nguyễn Thông gọi hoa rừng là “lâm dạ hoa”,
hoa dại là “dã hoa”, ông yêu “hoa rừng”, khinh “hoa dại” Bài Hoa dại bằng Hán
văn chỉ vẻn vẹn có hai mươi chữ, Nguyễn Thông khái quát được mặt mũi củ đám tiểu nhân hạ đẳng đương thời
Trang 36Hoa dại sinh dưới bụi trúc Trúc rậm hoa cũng nhiều ra
Trúc tượng trưng cho hình ảnh người quân tử, hạng cao thượng, hoa dại chỉ
là kẻ tiểu nhân Hoa nhiều trở lại cười trúc, xuân tới chẳng biết nói gì, ngụ ý người quân tử sống thanh cao, thường bị bọn tiểu nhân ngạo mạn Bài thơ tả hoa dại cốt vẽ
ra bộ mặt vênh váo của bọn tiểu nhân Trúc được tả dưới bộ mặt lạnh lùng, chẳng nói năng chi trước cái lố bịch Đó cũng là một thái độ
Xuất phát từ tư tưởng chống bọn cướp nước và bán nước, nhớ thương quê hương Nam Kỳ đang bị tù hãm trong vòng vây của giặc, chống bọn quan tham, ô
lại, bọn phi nghĩa, phi nhân, thương người cô thế hoạn nạn, bài thơ Thả chim đa đa
của Nguyễn Thông là một trong những bài thơ giàu chất trữ tình, chứa đựng tình đẹp, ý hay và cái cao cả Việc thả chim chẳng qua là cái cớ để nhà thơ giải bày những ấp ủ thầm kín bấy lâu Chim đa đa là giống chim đi trên mặt đất, hoặc bay thấp, “không có ý theo đuổi chim uyên, chim hồng bay cao trong tầng mây”, vì bọn tham mồi mà hệ lụy Không nỡ như chim mòn mỏi trong lồng, mới thả chim trở về
tổ cũ cành Nam và dặn chim khi đã được tự do rồi thì hãy nhớ”
Bên suối uống ăn nên cẩn thận Chút thân đừng để lọt tay ai!
Dặn những người bản chất thiệt thà, chịu số phận hẩm hiu – và cũng tự dặn mình – về nguy cơ bị uy hiếp do bọn trục lợi, hám danh, bài thơ hàm súc, chứa chan tình cảm của Nguyễn Thông, chứa đựng trong lòng nó tình hình thời cuộc rất rõ, đồng thời biểu hiện chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc
Đến với đặc trưng loại hình tác giả trong văn Nguyễn Thông, có thể kể đến phần nổi bật chính là văn tế Văn tế người thân trong gia đình thời đó chẳng phải
không có, nhiều nữa là khác, nhưng bài Văn tế Quý Hòa của Nguyễn Thông thuộc
bài hay Ông tả thực một cách chân phương, không cầu kỳ, không chuộng từ hoa
mỹ, những rất chân tình và trước cái chết của em, không quên gợi lại cảnh địch chiếm Gia Định trước đó
Trang 37Bài Phú nghĩa địa làm phúc là áng văn tập trung tư tưởng, và tình cảm yêu
dân, yêu người cùng khổ, chống tham quan ô lại của Nguyễn Thông Hướng về nông dân “côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó”, “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung”, Nguyễn Đình Chiểu đưa vào tác phẩm của ông hình ảnh người anh hùng vô danh trong cuốc đấu tranh một mất một còn với quân thù Xuất phát từ lập trường yêu dân và có cái nhìn đúng đắn đối với quần chúng cần lao “tay dệt vải, chân đi cày”, áng văn đầy nước mắt Nguyễn Thông, gây xúc động mãnh liệt trong lòng người đọc về một thời kỳ quê hương Nam Kỳ đứng trước cơn bão táp Nhìn tha ma những nghĩa quân và nhân dân chống Pháp hy sinh mà xương trắng còn vươn vãi, ông viết:
Lên tầng thành xa ngắm Cùng lũ trẻ tới chơi Qua núi đồng liên tiếp Bỗng lòng tôi bùi ngùi
Mới trải bao tháng ngày thay đổi
Mồ mả lớp lớp chôn đầy!
Cùng các cháu nhi đồng đứng trên điểm cao nhìn bao quát bãi tha ma, gồm
mồ hoang mả lạnh – mà triều đình bao năm không đoái hoài, chiếu cố - lòng nhà thơ cảm thấy đau xót Nhưng ông không dừng ở đó Ông dành cho dân nghèo tấm lòng thương không bờ bến của ông Những người dân nghèo, còn sống mà ông tả trong bài phú, riêng đoạn ấy – theo lời chú giải của ông – “mỗi chữ là một giọt nước mắt”:
Kìa xương khô còn nhặt lại Sao người sống nỡ bỏ rơi?
Trách quan lại sao tàn bạo,
Lo béo mình bằng của người!
Ngoài bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thời đó, chưa có bài văn nào xúc động như thế, nhân đạo như thế, chứa đựng một tình cảm lớn, đẹp như thế
Trang 38Với văn xuôi của Nguyễn thông chủ yếu đều là truyện ký hay tùy bút Chưa
kể phần mất mát, văn xuôi của Nguyễn Thông không nhiều, nhưng cũng không phải quá ít Sống giữa khói lửa chiến tranh và phải làm nhiều việc khác trong thời chiến, thân thế - do hậu quả đánh đập, giam cầm của triều đình – lại mang bịnh hoạn, thế
mà, Nguyễn Thông dành thì giờ làm thơ, viết văn, để lại một số lượng đáng kể tác phẩm văn học, hay mang dáng dấp văn học, như thế cũng là sự đóng góp đầy ý nghĩa Văn xuôi (không kể phú, văn tế) thời ông hầu như vắng vẻ
Các truyện ký của Nguyễn Thông làm cho chúng ta ngày nay thấm thía nhiều mặt về một thời kỳ đen tối của lịch sử, qua đó, bộ mặt “ma quỷ” của quân xâm lược và bán nước vẻ ra một cách đậm nét
Qua Chuyện ếm quỷ, Nguyễn Thông đã vén màn lên cho ta thấy sân khấu
triều đình nhà Nguyễn – dưới thời Tự Đức có lắm mặt quỷ Chính chúng đã đưa xã hội ta đến tình thế khốn quẫn, lụn bại, làm cho công cuộc đánh địch của dân tộc ta
từ chỗ suy yếu, rơi dần vào cảnh mất nước Luận điểm của Nam Nông tiên sinh – người phát ngôn của Nguyễn Thông – đã bài bác mọi luận điểm của những phần tử
tự xưng là “Bồng lại võ khách”, “Đã quỷ tử” về chủ trương tiểu trừ nạn quỷ của chúng Quỷ trong chuyện này, không ai khác hơn là giặc Pháp, từ ngoài vào xâm lược đất nước ta Muốn dẹp nạn quỷ đó – theo Nam Nông tiên sinh – trước hết phải trừ nạn quỷ bên trong đang lũng đoạn công việc hành chính, công việc các bộ ở triều đình, ở học đường, ở nơi giáp tuyến với giặc, ở chốn tập trung cao độ danh vọng và quyền uy Triều đình còn để những con quỷ ấy hoành hành, thì không thể nào đánh lùi được nạn quỷ bên ngoài Nam Nông tiên sinh cho rằng: “chớ nên nghe lời người dùng quỷ trừ quỷ”
Lấy “tự chánh tâm” làm phương sách cứu vãn tình thế quốc gia, Nam Nông tiên sinh đã đi vào luận điểm “Chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Khổng giáo Đứng trước tình hình nguy vong của đất nước, vấn đề không phải
là xếp đặt lại trật tự của một triều đình hủ bại, rệu rã mà căn bản là phải thay đổi chế
độ và đường lối, chính sách, lập lại trật tự mới Nhưng hoàn cảnh xã hội ta lúc bấy giờ - không có điều kiện cho những tri thức tiên tiến, thức thời, giàu tinh thần yêu
Trang 39nước, yêu dân như Nguyễn Thông và các chí sĩ khác thi thố chí nguyện bình sinh của mình
Dù có cách nhìn hạn chế, Chuyện ếm quỷ của Nguyễn Thông là bản cáo
trạng đanh thép, vạch rõ được những gì xấu xa, đồi bại của một triều đình được che giấu dưỡi cái mã vàng son lộng lẫy của chúng Hơn lúc nào và ở đâu, ngòi bút của Nguyễn Thông, qua bài văn này, đã giáng cho triều đình những đòn chí tử
Chuyện ếm quỷ là cả một giàn đại bác cấp tập, mà Nguyễn Thông nã vào
triều đình Chúng là bọn “múa điều lệ, giỡn pháp luật”, bọn vì “vàng ròng phá tan tư cách, của hậu bác cả lẽ thường”, “bọn buôn bút mực, bán văn chương”, bọn che lấp thất bại, nêu cao thành công, làm ít cố xít ra nhiều”, “bọn khéo gian dối được chút phẩm hàm, còn liếc mắt vào hàng tể tướng” Chúng là những “con nhặng xanh làm rối loạn tai người, con diều hâu bay lượn trên đường vinh hiển, con khỉ độc ôm múa trụ cột quốc gia”
Trút lên đầu ngọn bút sự phẫn nộ ngút trời xanh, nhằm vào vua quan đường
bệ Sau Nguyễn Thông hàng thế kỷ, ta còn nghe rõ tiếng nổ dữ dội của khí phách nhà thơ
Truyện ngụ ngôn bài Hạch Anh Võ nhằm đả kích mạnh mẽ vào bọn xu
nịnh, ton hót, dèm xiểu ở triều đình “Trước kia vì có người thợ săn dâng lên, nó mới được nhà vua thấy mặt Lúc ban đầu nó được nuôi trong lòng, sau lần lần đem vào nơi cấm dịch Thân nó được nương nơi hoa các, được quý hơn loài chim hạc nước Vệ, miệng nó được ăn miếng ngon, báu hơn chim diên nước Lỗ Vậy nên nó mới được tỉa lông, sửa cánh bay khắp chốn triều, được uốn lưỡi khoe mồm, dùng lời dịu ngọt vua nghe không biết mệt Nói cho đã miệng nó mà không sợ ai chê cười, lại được vua yêu mà khinh lờn người hiền triết Ôn Phi Khanh là người tài cao mà phải lụy mình vì nó, Nễ Chánh Bình là người học giỏi mà cũng bị họa vì nó ”
Sau bài Chuyện ếm quỷ, Nguyễn Thông tập trung mũi nhọn chỉa thẳng vào
bọn bất chính triều nội
Trang 40Dưới ngai vàng Tự Đức, với phẩm hàm tam cấp, Nguyễn Thông không thể đương đầu với cả một lũ ma quỷ lố nhố làm nhiễu loạn triều đình, chỉ có Nguyễn Thông – nhà văn mới tạo ra tiếng sấm sét ngang trời làm vỡ đầu những tên sâu dân, mọt nước đầy tội lỗi
Với tư cách là người tổ chức, Nguyễn Thông chẳng những có công trong việc đem lại lợi ích cho quần chúng về kinh tế, xã hội mà còn với tư cách là nhà văn, ông cũng có công ghi chép những gương tốt xuất hiện trong lao động; trong việc tổ chức lại cuộc sống ở xóm làng, trong việc xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa người với người
Từ Truyện bốn người đến Bài ký về đền Ngụ Hiền, Bài ký về đập Đinh Gia,
Bài ký về kinh Vĩnh Lợi, qua những con người chân chính lương thiện, ta bắt gặp
tấm lòng Nguyễn Thông, một tấm lòng cao đẹp, luôn luôn hướng về phía dân và từ dân đem về cho mình chất tươi mát của cuộc sống, cái lõi đẹp nhất của cuộc đời “ Người thường không thân nhau mà cũng không quen nhau mật thiết lắm, thế mà một mai gặp tai biến, quên mình bỏ nhà đi cứu giúp nhau, thì cái tiết tháo kỳ lạ vẻ vang, nào kém các bậc liệt sĩ ngày xưa”
“ Những lời bàn tán im dần và người Nam Kỳ thì vui mừng yên ổn làm ăn như cũ Có người tậu ruộng, xây nhà, tính bài ở lâu, giàu nghèo giúp nhau, hoạn nạn cứu nhau Tuy xiêu tán ở chốn tha hương mà lại có cái vui cùng nhau đoàn tụ Gà chó làng Tân Phonh như thấy nhà cũ, sĩ phu qua Giang Nam lâu dần thành qqueen hương, thật là may mắn cho Đông Châu chúng ta”
“ Năm ấy trời lâu không mưa, suốt mấy dặm dọc kinh tiếng xe nước dội lên khắp nơi, dân cày vác cày mà hát, đàn bà con nít gánh thùng mà hò Những người trước kia tranh chiếm cửa sông không cho đào thì nay hối hận kinh đào quá muộn”