Việc sáng tác thơ ca tạo thành một phong cách riêng trước hết ở cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, là sự trau dồi có ý thức về cách biểu đạt bằng ngôn ngữ.. Giá trị khoa học Từ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ thơ ca là lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt quan trọng trong văn học nghệ thuật Thơ ca là hiện tượng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ của nó Việc sáng tác thơ ca tạo thành một phong cách riêng trước hết ở cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, là sự trau dồi có ý thức về cách biểu đạt bằng ngôn ngữ Nguyễn Duy là một cây bút có sự nghiệp sáng tạo khá nổi bật
và được lưu ý trên thi đàn Bởi thế cho nên, chắc chắn rằng ngôn ngữ trong thơ ông
sẽ cũng có được những ấn tượng đặc biệt, xứng đáng để thu hút sự phẩm bình trong
lí luận - phê bình văn học nói chung và nghiên cứu ngôn ngữ thơ nói riêng
Nguyễn Duy là một trong số ít những nhà thơ hiện đại thành danh có tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở phổ thông Nhà phê bình văn học tài ba Hoài Thanh ngay từ đầu đã “phát hiện” ra tài năng và triển vọng của nhà thơ này Cho tới nay, sự đóng góp về cả nội dung lẫn nghệ thuật của thơ Nguyễn Duy đã được không
ít các nhà nghiên cứu khen ngợi Họ đã đánh giá ông “là một trong những gương mặt tiêu biểu đem lại vinh quang cho cả thế hệ thơ trẻ thời kì chống Mĩ”[16, tr 99]
“Thơ Nguyễn Duy mang đậm chất trí tuệ trên cái nền ngôn từ bình dị, ngỡ như không có gì trau chuốt đáng bàn (…) Nghệ thuật đạt đến đỉnh cao thì lại trở nên bình dị” [1, tr 174, 175] Ngôn ngữ thơ ông có vẻ đẹp riêng, khá nổi bật Các nhà nghiên cứu đã đều gặp nhau ở nhận định: Nguyễn Duy đã am tường ngôn ngữ dân tộc và “ tận dụng” được sức hấp dẫn của tiếng mẹ đẻ ở những đặc trưng độc đáo của
nó Ông “rất khéo tay điều khiển từ” Thơ ông “đã đạt tới vẻ đẹp giản dị, trong sáng vốn là chuẩn mực của tiếng Việt” giàu và đẹp (ý của Nguyễn Quang Sáng trong bài
“đi tìm ti ềm lực trong thơ Nguy ễ n Duy”) [24, tr 90,91]
Việc nghiên cứu “ Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy” là một hướng tiếp
cận khám phá thế giới nghệ thuật của thơ ông Đây là một cách giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp thơ Nguyễn Duy; giúp ta có thể đi sâu vào khai thác, hiểu ý, hiểu lời và thẩm thấu những giá trị văn chương trong tứ thơ của ông được thấu đáo Đồng thời, bằng việc đi vào khảo sát, miêu tả và khẳng định trong đề tài, chúng tôi muốn đề
Trang 3cập một cách bình phẩm, nghiên cứu tích cực đối với thơ ca nói riêng, văn học nói
chung Đó là việc tiếp cận, khám phá, giải mã thơ từ ngôn ngữ Bên cạnh đó, do mật
mã ẩn chứa ở ngôn ngữ thơ cũng chính là mã số quan trọng của phong cách thơ, nên
ta cũng sẽ nhận ra được tài năng và phong cách thơ độc đáo của Nguyễn Duy Tài
năng và phong cách ấy đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong bạn đọc nhiều năm
qua Vậy “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy” là đề tài có giá trị đáng quan tâm,
cần phải được thực hiện nghiên cứu một cách say mê và mang tính nghiêm túc,
khoa học Đề tài nhằm đóng góp vào diễn đàn văn học một công trình có ý nghĩa và
giá trị nhất định trong việc khẳng định tiếng thơ Nguyễn Duy
Là một sinh viên Sư phạm chuyên ngành Ngữ văn đang theo học năm cuối,
thì việc thực hiện đề tài là một cơ hội giúp người viết trau dồi kiến thức văn học, rèn
luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học, để phục vụ công tác học tập hiện tại và dạy học
trong tương lai Đây cũng là một cách mà người viết luận văn thể hiện tình cảm,
lòng nhiệt huyết tìm hiểu về nhà thơ của quê hương mà mình yêu mến bấy lâu
2 Lịch sử vấn đề
Ngôn ngữ và đặc điểm ngôn ngữ thơ, văn là một lĩnh vực lớn được các nhà
nghiên cứu đầu ngành quan tâm Chúng tôi xin phép chỉ nhắc tên các tài liệu mang
tính chất lí luận nền tảng mà chúng tôi đã tìm đọc là: tác giả Hữu Đạt với “Ngôn ngữ thơ Vi ệ t Nam”, Nguyễn Phan Cảnh với “Ngôn ng ữ thơ” ; “Giữ gìn sự trong
sáng củ a tiế ng Việ t về mặ t từ ngữ ” của Viện Ngôn ngữ học, “ Lí lu ận văn h ọc” tập
2 do Trần Đình Sử chủ biên, “ Giáo trình t ừ vựng học Tiếng Việ t” của Đỗ Hữu
Châu, “ 99 phương ti ện và biệ n pháp tu từ tiế ng Việ t” của Đinh Trọng Lạc, “Hán Việ t từ đi ể n” của Đào Duy Anh, “Đi ể m nhìn nghiên cứ u văn h ọc” của Lê Đức
Luận, bài giảng “Phong cách h ọc tiếng Việ t” của Bùi Trọng Ngoãn trường Đại học
Sư phạm - Đại học Đà Nẵng (ĐH SP - ĐH Đà Nẵng)
Với những đóng góp nổi bật cho thơ ca hiện đại Việt Nam, thơ Nguyễn Duy
đã trở thành đối tượng nghiên cứu của khá nhiều cây đại thụ trong giới phê bình
Bên cạnh đó, thơ ông cũng được chú ý tìm hiểu, bình phẩm về trình độ nghệ thuật,
về nội dung tư tưởng qua hàng loạt các bài viết cảm nhận, phân tích; các bài phỏng
Trang 4vấn, hội đàm; các tiểu luận lớn nhỏ khác nhau Được biết đến trên văn đàn thơ ca Việt Nam từ đầu những năm 70 thế kỷ trước, Nguyễn Duy đã tạo được ấn tượng cho người đọc và cho thấy sự triển vọng của mình Có thể nói, người có công phát hiện và giới thiệu sự triển vọng ấy ở cây bút thơ Nguyễn Duy là Hoài Thanh Sau khi đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy ông đã chú ý đến tài năng thơ này bằng
việc hạ bút viết bài “Đ ọc một số bài thơ c ủa Nguyễ n Duy”. Hoài Thanh đã nhận định rất tinh tế và chân xác: “Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên (…) Cái điều ở người khác có thể chỉ là chuyện thoáng qua thì ở thơ anh nó lắng sâu và dường như đọng lại (…) Một số bài thơ của anh đậm đà phong cách Việt Nam Giọng thơ chân chất Tình thơ chắc Ý thơ sâu ( ) Thơ anh có thể còn nhiều hứa hẹn” [29, tr 205 - 211] Có thể nói, Hoài Thanh đã chỉ ra đúng những đặc điểm cơ bản trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy Những người nghiên cứu sau này đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của nhận định này Bằng cái nhìn tổng quan, chúng tôi xin trình bày khái quát những nghiên cứu
về về thơ Nguyễn Duy chia theo hai loại bài: loại riêng về bài thơ, tập thơ và loại bài khái quát về thơ Nguyễn Duy Ở đây chúng tôi đề cập thành từng nhóm bài xét theo các phương diện và xin chỉ nhấn mạnh hơn những công trình đề cập tới ngôn ngữ trong thơ ông
Trong loại bài thứ nhất, có các tác giả như: Vũ Quần Phương, Trịnh Thanh Sơn, Giang Khắc Bình, Lê Quang Trang, Từ Sơn, Tế Hanh, Lê Quang Hưng, Bài viết của các tác giả này, mỗi người đứng ở mỗi khía cạnh, góc nhìn khác nhau; và
họ đều đã phát hiện được những nét độc đáo riêng trong thơ Nguyễn Duy Nhưng chúng chủ yếu mới là những ý kiến nhận xét mang tính chất khẳng định tài năng và chỉ ra giá trị nghệ thuật của thơ Nguyễn Duy qua những tác phẩm tiêu biểu của ông
Trong loại bài thứ hai, các tác giả đã bình luận mang tính tổng thể, bao quát
về thơ Nguyễn Duy, khái quát được nét đặc sắc trong thơ ông
Nhìn từ phương diện nội dung của thơ Nguyễn Duy, có bài viết của các tác giả: Nguyễn Quang Sáng, Vũ Văn Sỹ, Nguyễn Đức Thọ, Hà Minh Đức, Chu Văn
Trang 5Sơn Các nhà nghiên cứu này đều đã đi vào tổng thể của thế giới thơ Nguyễn Duy
Họ đã rút ra những nhận định bao quát nhất, những gì mang tính hồn cốt nhất về thơ ông trên các phương diện: đề tài, nội dung phản ánh, về cái tôi trữ tình
Nhìn từ phương diện nghệ thuật, thơ Nguyễn Duy cũng được sự chú ý của nhiều tác giả Bởi đây là phương diện rất quan trọng tạo nên giá trị thơ ca đáng bàn của tác giả này
Về thể loại, Nguyễn Duy được đánh giá cao ở các sáng tác thơ lục bát Các bài viết của Phạm Quốc Ca, Hoàng Nhân, Lê Quang Trang, Lại Nguyên Ân, Phạm Thu Yến, Chu Văn Sơn, Vũ Văn Sỹ đều đã đưa ra những ý kiến nhất quán khen ngợi tài năng sáng tạo, sự nhuần nhị xếp vào “bậc tài tình” của Nguyễn Duy trong
sở trường sáng tác lục bát của ông
Về giọng điệu trong thơ Nguyễn Duy, thì ở những bài bình phẩm, nghiên cứu tổng quan các đặc sắc trong nghệ thuật thơ của tác giả này đều có đề cập tới Chẳng hạn như các bài của các tác giả: Chu Văn Sơn, Lại Nguyên Ân, Vũ Văn Sỹ, Phạm Thu Yến, Lê Quang Trang, Trần Anh Phương ; và một số bài tiểu luận, luận văn khác Các bài này chỉ ra được các chất giọng trong thơ Nguyễn Duy là giọng ngợi
ca trìu mến, tâm tình thiết tha và suy tư trăn trở, triết lí; giọng ghẹo pha chút ngang tàng, bụi bặm
Về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy cũng được khá nhiều người quan tâm, bình phẩm Theo Nguyễn Quang Sáng: “Thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian Lời thơ đơn sơ gần gũi với khẩu ngữ Tư duy thơ thì hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất phong độ cổ điển phương Đông Kỹ thuật trong nghệ thuật ngôn ngữ là ở chỗ này đây, nó xuyên qua, bay qua khoảng nhiễu
xạ rối rấm của hình thức khoa trương, hoa mĩ giả và rỗng, để đạt tới sự giản dị trong sáng vốn là chuẩn mực ” [24, tr 90] Còn Vương Trí Nhàn thì phát hiện thơ Nguyễn Duy có rất nhiều từ lạ, “không rõ tác giả bịa hay nhặt ở đâu” đan hợp thành “bản
hợp xướng của những từ lạ” [23, tr 260] Lê Thiếu Nhơn trong bài “Nguy ễ n Duy -
là “món ngôn ngữ nôm na”; mặt khác thấy được “lối dùng chữ lắt léo và cá tính”,
Trang 6“những tiết điệu uyển chuyển” trong thơ ông [34] Mai Linh trong “Nguy ễ n Duy thi
thơ Nguyễn Duy “là một cuộc hoan lạc chữ nghĩa mà vẫn âm tiết, vẫn thi điệu, vần nhạc, vẫn quê quê tỉnh tỉnh ( ) Đọc mấy câu mới thấy sự “xảo quyệt” ngôn ngữ, uyển chuyển âm thanh” [33] Trên tạp chí sông Hương, tác giả Trần Anh Phương
với bài viết “Nguy ễn Duy - chữ nghĩa h ồn rơm r ạ” nhận định: “đọc thơ Nguyễn
Duy, tôi mới thấy cái tài tình của anh: làm thơ, gieo vần, dùng từ, lựa chọn câu chữ
cứ như chơi mà gợi cảm, chua chát mà sâu lắng, trữ tình mà hay đến thế” “Cách dùng từ láy, điệp âm, điệp ngữ, những từ khó đọc nhưng dễ nhớ, dễ lay động nhất,
là phong cách thơ riêng của anh” Tác giả Lê Văn Mĩ đặc biệt nhấn mạnh nghệ thuật
từ láy của Nguyễn Duy Hồ Văn Hải đã phân tích khá kĩ các đặc điểm về ngữ âm,
ngữ nghĩa với bài viết “Ti ế p cậ n bài thơ “Tre Vi ệ t Nam” t ừ góc đ ộ ngôn ngữ học”
Chu Văn Sơn với tiểu luận “Nguy ễ n Duy thi sĩ th ảo dân” đã thấy được “lắm khía cạnh đến quái quỷ của tiếng Việt đã được đánh thức và truy nhập vào ngôn từ thơ” Nguyễn Duy Ông còn khen “thơ Nguyễn Duy cập nhập rất nhạy những hơi thở hôi hổi của ngôn từ” [38, tr 415]
Như vậy, nhìn một cách tổng quan về các công trình nghiên cứu trên, cho thấy chúng mới chỉ là những nhận xét khái quát, thiên về ấn tượng Và chúng tôi
nhận thấy, chưa thật sự có công trình nào lấy “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy” làm đối tượng khảo sát trực diện Với chúng tôi, tất cả mới chỉ là những gợi
mở quý giá Kế thừa thành tựu của những người đi trước, chúng tôi chọn đề tài nhằm nghiên cứu một cách cơ bản có hệ thống, có căn cứ hơn và toàn diện hơn Hi vọng việc thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ mang lại những đóng góp có giá trị nhất định, được mọi người ghi nhận
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy”
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 7Phạm vi khảo sát chính của đề tài là: “Thơ Nguyễn Duy”, NXB Hội Nhà Văn (2010) và tập “Thơ trữ tình Nguyễn Duy”, NXB Hội Nhà Văn (2004) Trong
quá trình nghiên cứu chúng tôi có sử dụng thêm thơ của một số tác giả khác để so sánh làm nổi bật vấn đề
4 Nội dung và mục đích nghiên cứu
Đề tài triển khai khảo sát, thống kê, phân tích để nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ nổi bật, độc đáo trong thơ Nguyễn Duy mang các giá trị tu từ ở ba phương diện
từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ âm và ngữ pháp Đề tài nhằm làm rõ những đặc sắc về ngôn ngữ trong thế giới nghệ thuật thơ ông; phần nào thấy được những đóng góp trong phong cách nghệ thuật của gương mặt thơ này Đồng thời, qua việc nghiên cứu này, bản thân được tập dượt thêm về kỹ năng nghiên cứu khoa học; có được cái nhìn khái quát hệ thống về ngôn ngữ tiếng Việt trong các thao tác thực hiện đề tài
Từ đó, bản thân cũng hiểu và nắm được vững hơn về kiến thức ngôn ngữ học
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng kết hợp những phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả
- Phương pháp phân tích, chứng minh
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp tổng hợp - khái quát
6 Giá trị khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Giá trị khoa học
Từ việc tìm hiểu “Đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy” luận văn khẳng
định: Nguyễn Duy là một cây bút thơ tài năng và luôn khẳng định mình bằng một phong cách ngôn ngữ thơ với các đặc điểm khá độc đáo trong thơ ca Việt Nam hiện đại Và bằng đề tài này, chúng tôi muốn cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện
và khoa học về những đặc điểm, những giá trị tu từ nổi bật trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy Từ đó, luận văn khẳng định những đóng góp và vị thế của ông trong
Trang 8tiến trình vận động và phát triển của thơ Việt Nam hiện đại Thông qua đây, chúng
ta cũng có thể thấy được các phương diện cần thiết khi nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca
6.2 Giá trị thực tiễn
Thực hiện đề tài này chúng tôi hi vọng đây sẽ là nguồn tư liệu bổ ích cho việc nghiên cứu giảng dạy thơ Nguyễn Duy nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung trong nhà trường hiện nay Đây cũng có thể xem là sự tiếp tục thể nghiệm cho hướng nghiên cứu tác giả tác phẩm từ phương diện ngôn ngữ
7 Cấu trúc đề tài
Đề tài được thực hiện bao gồm: mở đầu, nội dung, kết luận và tài liệu tham khảo Nội dung đề tài triển khai 4 chương như sau:
Chương Một: Cơ sở lí luận của đề tài
Chương Hai: Đặc điểm thẩm mĩ của các phương tiện tu từ từ vựng trong thơ Nguyễn Duy
Chương Ba: Đặc điểm độc đáo về ngữ âm và cấu trúc ngữ pháp trong thơ Nguyễn Duy
Chương Bốn: Đặc điểm tu từ nổi bật trong thơ Nguyễn Duy
Trang 9CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Lí luận chung về ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ thơ
Trong văn học nói chung, thơ ca nói riêng, ngôn ngữ mang tính nghệ thuật đặc thù M Gorki từng nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Quả đúng
là vậy, “ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học Vì vậy, văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ” [39, tr 215] Ngôn ngữ nhân dân là cội nguồn của ngôn ngữ văn học được chọn lọc, rèn giũa qua lao động nghệ thuật của nhà văn, được nâng lên đến trình độ nghệ thuật Ngược lại ngôn ngữ văn học góp phần nâng cao làm phong phú ngôn ngữ nhân dân “Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn” [39, tr 215] Ngôn ngữ văn học có tính hình tượng và tính thẩm
mĩ, tính chính xác, tính hàm xúc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và biểu cảm Đây là những thuộc tính đặc biệt, tạo nên sự phân biệt ngôn ngữ văn học, với các hình thái của hoạt động ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mĩ khác Ngôn ngữ văn học thường sử dụng các phương thức biến đổi và mở rộng để không bị giới hạn ngữ nghĩa khi diễn đạt Do vậy, “ý nghĩa của ngôn ngữ vừa xác định vừa mơ hồ, vừa ổn định vừa biến đổi trong quá trình sử dụng Đó chính là cơ sở tạo ra đặc điểm của ngôn từ văn học” [28, tr 48] Xét riêng về ngôn ngữ của tác phẩm trữ tình thì đây “là ngôn ngữ được
tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, hết sức cô đọng, hàm súc và đặc biệt gợi cảm” [39, tr 215] “Ngôn từ trong văn bản văn học tuy có vô vàn mối quan hệ chằng chịt với đời sống xã hội, nhưng vẫn là một hiện tượng nghệ thuật thẩm mĩ độc đáo, khác hẳn ngôn ngữ khoa học và lời nói đời thường Nó chịu sự chi phối của trí tưởng tượng
và đặc điểm tư duy nghệ thuật của nhà văn, mang dấu ấn thể loại và văn hóa thời
đại” [28, tr 53]
Thơ là một trong những thể loại của văn học biểu hiện rõ nhất, cao nhất về nghệ thuật ngôn từ Ngôn ngữ thơ mang một sứ mệnh vô cùng lớn trong việc làm nên những áng thơ hay Đối với các thể loại khác thì người đọc đôi khi chỉ cần đọc
sơ qua để nắm nội dung Nhưng đối với tác phẩm thơ thì để nắm bắt và hiểu sâu sắc
Trang 10được về nó, chúng ta cần phải men theo từng câu chữ, từng lời thơ Bởi vì, “thơ ca
là hiện tượng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ của nó” [7,
tr 35] Thơ ca là thể loại chỉ dùng một lượng hữu hạn ngôn ngữ để biểu hiện cái vô vàn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng như những điều thầm kín trong tâm linh con người… Đây cũng chính là một vấn đề để đánh giá tài năng, phong cách của người nghệ sĩ Và ngôn ngữ thơ chính là hồn cốt của tác phẩm thơ
Sự sáng tạo trong thi ca là sự sáng tạo dựa trên các quy luật, những tiền đề vật chất của ngôn ngữ dân tộc Tiếng Việt có nhiều đặc điểm chi phối đến vần, luật, nhịp điệu và tiết tấu trong thơ; có những giá trị riêng về khả năng biểu đạt, biểu hiện
tính nhạc và tính gợi hình, gợi cảm trong thơ Cho nên, ở thơ ca ngôn ngữ cần được
xét ở cấp độ văn bản và cả cấp độ ngôn ngữ “siêu văn bản” Thơ là một thể loại của nghệ thuật ngôn từ Vậy, thơ ca bắt buộc phải sử dụng đến một loại phương tiện là ngôn ngữ Mọi hoạt động của thơ ca không tách rời mọi hoạt động của ngôn ngữ trên cả hai phương diện: ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống cấu trúc và với tư cách là sản phẩm của lời nói cá nhân Tất nhiên đó là loại lời nói có tính nghệ thuật Thơ ca được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất Thơ ca có cách tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của ngôn ngữ; để phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất dưới dạng các hình tượng nghệ thuật
“Mỗi nhà thơ khi sáng tạo tác phẩm bao giờ cũng biết lợi dụng những ưu thế của ngôn ngữ dân tộc; nhằm phát huy triệt để chức năng của các đơn vị ngôn ngữ với tư cách là công cụ có giá trị thông báo, tác động và biểu cảm…” [7, tr 22] “Người làm thơ phải có bộ óc hết sức nhạy bén khi nắm bắt các quy luật của ngôn ngữ Trong một khối lượng khổng lồ các đơn vị từ ngữ của dân tộc, thì nhà thơ phải biết lựa chọn những từ ngữ nào có giá trị nhất để đưa vào câu thơ của mình, làm cho nó có hiệu quả cao nhất trong việc thông báo cũng như tác động tới tình cảm của người đọc Chỉ có được những “kết hợp từ” hay, khi nhà thơ làm việc một cách chuyên cần, có sự tính toán cân nhắc kĩ lưỡng những chữ đem ra sử dụng’’ [7, tr 35]
Trang 11Ngôn ngữ thơ ca có tính “tương xứng” Đó là sự “tương xứng về âm thanh, ý
nghĩa” một cách trực tiếp hay gián tiếp trên hai trục: “trục hệ hình và trục cú đoạn”
“Nhà thơ là người biết chuyển hóa yếu tố ngôn ngữ từ “trạng thái tĩnh” sang “trạng
thái động” Nghiên cứu “Ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng,
chúng ta cần hết sức chú ý tới quan hệ giữa ngôn ngữ và cảm xúc, giữa nhân thức
và biểu hiện Giữa nghĩa đã có, đã định hình và nghĩa tiềm năng, tiềm ẩn” [7, tr 148
- 151] Ngôn ngữ thơ phải có sự tổ chức cấu tứ, âm thanh một cách có quy luật hài
hòa, cân đối Ngôn ngữ thơ giàu tính tạo hình và khả năng biểu hiện cao Phát huy
triệt để tính tạo hình, thì thơ ca hiện đại thường nghiêng về cách “tạo hình để biểu hiện” [7, tr 46] “Phương thức tạo hình là một trong những phương thức cơ bản của hoạt động thơ ca” [7, tr 53] Phương thức này không tồn tại một cách bất biến mà tồn tại “rất động”, gắn liền với sự phát triển có tính chất lịch sử trong ngôn ngữ xã hội của dân tộc Thơ là một nghệ thuật biểu hiện Những tác phẩm giàu tính biểu hiện của thơ hiện đại thường để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc Ngôn ngữ thơ thường dùng các phương thức tu từ tạo nghĩa thay thế “Việc dụng các yếu
tố thay thế tạo thông tin mĩ học lại chính là đặc trưng của thơ” [2, tr 62] Hiện thực hóa phương thức biểu hiện bằng biện pháp chuyển nghĩa, nhà thơ sẽ tạo nên những hình tượng nghệ thuật “Việc phân tích hình tượng thơ có thể đứng từ nhiều góc độ khác nhau Sẽ là phiến diện, hời hợt nếu chúng ta không chú ý tới cấu trúc hình tượng được hình thành bằng con đường ngôn ngữ - một trong những khía cạnh quan trọng làm nên cái riêng của hình tượng thơ ca trong các dân tộc khác nhau Tìm hiểu cấu trúc hình tượng thơ, một mặt phải chú ý tới quan hệ kết hợp, mặt khác còn phải chú ý tới các thao tác liên tưởng, so sánh trong tư duy và cơ chế ngôn ngữ của tiếng Việt” [7, tr 110] Ngôn ngữ thơ cần đến “nghệ thuật tạo những mối liên tưởng, liên hệ giữa các yếu tố riêng lẻ làm thành tác phẩm; nhằm sử dụng một cách
mĩ học chiều dày của chất liệu ngôn ngữ Từ lâu cái chiều dày này đã được những nghệ sĩ bậc thầy của từ ngữ xem là một yếu tố quan trọng” [2, tr 92] Như vậy, sẽ làm nên “tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa” “Trước mắt chúng ta chỉ là những câu, những chữ bình dị đến đơn sơ và toàn bộ vấn đề là chiều dày của chất liệu” [2, tr
Trang 1295] Các phương thức chuyển nghĩa trong thơ tạo được“s ự giản nở của hiệ n thực”
[2, tr 123] Ngôn ngữ thơ còn có tính nhảy vọt, gián đoạn tạo thành những khoảng lặng giàu ý nghĩa Ngôn từ thơ không phải là ngôn từ tuyến tính mà là ngôn từ phức hợp “Ngôn từ trong thơ thường phá vỡ logic kết hợp thông thường của ngôn ngữ để tạo thành những kết hợp mới, gây bất ngờ theo “nguyên tắc lạ hóa” Những sự kết hợp lạ hóa đã tạo ra nhiều cảm xúc, cảm giác chỉ có trong thơ” [28, tr 269]
Ngôn ngữ thơ là ngôn từ được cấu tạo đặc biệt Đó là ngôn từ có nhịp điệu,
giàu nhạc tính với những âm thanh luyến láy, sự trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc
và những cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm “Nhạc tính của một thi phẩm càng giàu, tức những tham số thanh học của ngôn ngữ càng có độ tin cậy cao thì hiệu quả lưu giữ truyền đạt của thi phẩm càng lớn, sức sinh tồn của nó càng mạnh” [2, tr 152] Điều làm nên đặc trưng khu biệt của ngôn ngữ thơ so với ngôn ngữ văn xuôi là nhạc tính trong thơ Đây cũng là ưu thế tuyệt đối của thơ so với văn xuôi “Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” (Isokrate’s) [2, tr 133] Nhạc tính tạo nên sự gợi cảm
và hàm súc cho thơ; gợi ra những điều mà từ ngữ không thể nói hết Nó được thể hiện qua sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp Sự cân đối được tạo nên qua sự tương xứng hài hòa của các dòng thơ, đoạn thơ Còn sự thay đổi các âm thanh thấp, cao; bằng, trắc tạo nên sự trầm bổng trong ngôn ngữ thơ Sự trùng điệp được thể hiện qua việc dùng vần, phép luyến láy, phép điệp Qua nhạc tính, người đọc cảm nhận rõ hơn về cảm xúc của tác giả Từ đó, quá trình tiếp nhận tác phẩm thơ sẽ trở nên thuận lợi hơn
Ngoài ra còn có thể thấy, thơ ca là thể loại mang phong cách chức năng ngôn
ngữ riêng biệt bởi “qua nhà thơ người ta có thể nhìn thấy tầm cỡ của thời đại” (Jivi
Wolker) [2, tr 32]
Như vậy, tìm hiểu ngôn ngữ thơ là cách tiếp cận đúng đắn và gần nhất để rút ngắn con đường tiếp nhận văn học, để độc giả tới gần tác giả hơn Thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi dựa trên các đặc điểm ngôn ngữ thơ về ngữ âm, từ vựng
Trang 13ngữ nghĩa, ngữ pháp để tìm ra được những đặc điểm trong nghệ thuật ngôn ngữ của thơ Nguyễn Duy
1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ và lí thuyết các phương tiện, phương thức tu từ
Thơ là loại hình nghệ thuật ngôn ngữ đặc biệt có những đặc trưng cấu tứ riêng Thơ hay thường không bị giới hạn ý nghĩa trong khuôn khổ hữu hạn của ngôn ngữ diễn đạt Vì thế, ngôn ngữ thơ khác với lời nói thường và ngôn ngữ văn xuôi ở cấu trúc tổ chức biểu đạt của nó Đặc điểm ngôn ngữ thơ được hiểu là đặc trưng thể loại, chùm các đặc điểm ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp, đặc điểm tu từ của nó; nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo một cách tổ chức riêng của thơ ca Sau đây là những lí luận khái quát về những đặc điểm ấy trong thơ
a Về mặt ngữ âm:
Hình thức ngữ âm trong thơ là yếu tố hết sức quan trọng Trong thơ, các thuộc tính của ngôn ngữ là cao độ, trường độ, cường độ được lưu giữ truyền đạt trong khi tổ chức quá trình thi ca sẽ làm nên tiết tấu thơ Còn các đơn vị âm thanh là nguyên âm, phụ âm thì được lưu giữ truyền đạt trong khi tổ chức các quá trình loại thể làm nên vần thơ “Chính dưới hiệu quả của tiết tấu và vần này, đã cho phép xuất hiện các hợp thành thi pháp chương trình hóa: mang cơ chế tự điều chỉnh Nhờ thế, thơ ca đã đi vào quỹ đạo của những hệ bền vững Đồng thời cũng dưới hiệu quả này
mà chất liệu ngôn ngữ thơ có nét riêng, rất tiêu biểu Đó là đặc trưng nhạc tính, kiểu như tiết tấu và hòa thanh trong âm nhạc” [2, tr 132]
b Về mặt ngữ pháp:
“Một đặc tính quan trọng của ngôn ngữ thơ là sự phân chia các dòng thơ, khổ thơ” [28, tr 283] Thơ ca cho phép sự tỉnh lược và có thể thiếu vắng những thành phần ngữ pháp, kể cả những thành phần chính của câu như chủ ngữ, vị ngữ Thơ sử dụng các biện pháp tu từ cú pháp, có cả sự kết hợp không bình thường, kể cả cánh ngắt câu lạ mà trong cấu trúc văn xuôi không được phép Sự kết hợp bất thường đó
đã mở ra những giá trị và ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ trong quá trình diễn đạt, cũng như trong quá trình tạo lập những phong cách riêng của mỗi thi sĩ Trong thơ
có sự phân dòng, thể hiện cách tổ chức đặc biệt của ngôn ngữ thơ Dòng là đơn vị
Trang 14nhịp điệu Số chữ ít nhiều tạo sự nhanh chậm khác nhau Các thể thơ truyền thống
có quy định về điều này Thông thường câu thơ trùng với dòng thơ khi dòng thơ thể hiện trọn vẹn một ý
Ngày nay, cùng với sự hiện đại hóa văn học, thơ được làm theo thể tự do, không quy định câu chữ, lối vắt dòng theo phương Tây khá phổ biến, nên có khi hai, ba dòng thơ mới thể hiện một ý, một câu trọn nghĩa Hoặc trong một dòng lại gồm nhiều câu Bài thơ dài, có khi được chia nhiều khổ, nhiều đoạn Một tứ thơ là một chỉnh thể nghệ thuật, mà nghĩa của chỉnh thể “lớn hơn tổng số nghĩa của các yếu tố tạo thành” [2, tr 73]
c Về mặt từ vựng – ngữ nghĩa:
Từ vựng - ngữ nghĩa là yếu tố quan trọng cấu thành tác phẩm thơ ca Ngôn ngữ thơ phải có sự tinh tế, chọn lọc kĩ càng Cho nên, nó giàu hình ảnh, sắc thái biểu cảm và cô đọng, có một sức mạnh biểu đạt cao Như vậy, ngôn ngữ thơ mang những đặc điểm riêng so với ngôn ngữ của các thể loại khác Người làm thơ cần
rung động, cần có xúc cảm, nên ngôn ngữ thơ mang sự “bão hoà của cảm xúc” “Sự
lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể trở nên nổi bật” [27,
tr 193]
Trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc, vốn từ vựng rất phong phú (từ cũ, từ vay mượn, từ nghề nghiệp, tiếng lóng, từ địa phương,…) Đây là những phương tiện hữu hiệu giúp tác giả xây dựng thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Các lớp từ ngữ được vận dụng một cách linh hoạt, uyển chuyển, hài hòa, sẽ góp phần thể hiện ý đồ của tác giả, gây ấn tượng trong lòng người đọc Bên cạnh đó, các biện pháp chuyển nghĩa (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tượng trưng,…) và các phương thức tổ chức từ (điệp từ, song hành, tương phản, chơi chữ) cũng có vai trò quan trọng trong việc tạo nên sắc thái biểu hiện của ngôn ngữ thơ Chính bởi thế nên, ta vẫn thường coi ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ “ý tại ngôn ngoại” Đến với thơ ca chúng ta không thể chỉ tiếp nhận bằng mắt, bằng tai; mà còn cần phải có sự rung cảm của xúc cảm thẩm mĩ, bằng trí tưởng tượng và liên tưởng
Trang 15Thơ hay và đi vào lòng người đọc cần sự lựa chọn từ ngữ phải chính xác, dùng phương thức tu từ phải có tác dụng làm nội dung thơ, thái độ tình cảm của chủ thể trữ tình phải trở nên nổi bật Mỗi chữ trong câu thơ ví như một giọt tâm hồn Và quá trình làm thơ là quá trình khổ luyện tìm tòi tích lũy vốn sống
d Các phương tiện, phương thức tu từ trong thơ:
Trong thi ca thường sử dụng hết sức phong phú các phương tiện, các phương thức tu từ
+ Các nhà Việt ngữ học đã phân chia phương tiện tu từ từ vựng bao gồm: từ
cũ, từ vay mượn, từ địa phương, từ hội thoại (khẩu ngữ), từ thông tục, tiếng lóng, từ nghề nghiệp, từ thi ca, từ láy và thành ngữ Căn cứ theo hệ thống lý thuyết của Đinh
Trọng Lạc trong cuốn “99 phương ti ệ n và biệ n pháp tu từ tiế ng Việ t”, tập bài giảng
ĐH Đà Nẵng và một số tài liệu về lý thuyết ngôn ngữ liên quan khác, chúng tôi xác
định các khái niệm về các phương tiện tu từ trên như sau:
“Từ cũ là từ được dùng từ lâu để chỉ những đối tượng và khái niệm hiện nay vẫn đang tồn tại” [14, tr 14] Trên cơ sở tham khảo các tài liệu liên quan chúng tôi đồng ý với quan niệm: từ cũ “là những từ hiện nay không thông dụng nữa và được coi là dấu vết của quá trình phát triển ngôn ngữ” [22] Từ cũ bao gồm từ cổ và từ lịch sử (từ cổ là những từ có từ đồng nghĩa thay thế làm cho nó lỗi thời; từ lịch sử là những từ đã trở nên lỗi thời do đối tượng biểu thị của chúng trong hiện thực khách quan không còn nữa) Trong sáng tác văn thơ, từ cũ thường được sử dụng như một phương tiện tu từ hữu hiệu để tái tạo những bức tranh hiện thực của quá khứ, tạo không khí của thời đại mà tác phẩm phản ánh
Từ vay mượn là “từ lấy từ tiếng nước ngoài nhưng đã phần nào thích nghi với những chuẩn mực tiếng Việt, cho nên được dùng một cách thông thường, mặc
dù người nói còn cảm thấy rất rõ cái nguồn gốc ngoại lai của nó” [14, tr 18] Trong tiếng Việt có từ vay mượn gốc Hán và gốc Ấn - Âu Trong tác phẩm văn học, sử dụng từ vay mượn đúng chỗ sẽ đảm bảo tính chân thực lịch sử của hiện thực cuộc
Trang 16sống xã hội được phản ánh Đặc biệt là từ Hán Việt được sử dụng cân đối, hài hòa
sẽ tạo được những sắc thái biểu cảm giàu ý nghĩa, màu sắc phong cách độc đáo
Từ địa phương “là những từ chỉ được dùng trong các phương ngữ, thổ ngữ” [14, tr 30] Nước ta có ba phương ngữ lớn theo địa lí là ba miền Bắc - Trung - Nam Trong ngôn ngữ văn chương, sử dụng từ ngữ địa phương thích hợp sẽ tạo ra màu sắc địa phương gợi sự hòa nhã, thân tình, tạo một giá trị biểu cảm, hiệu quả nghệ thuật đặc biệt, làm cho tác phẩm có nét đẹp riêng biệt
Khẩu ngữ (từ hội thoại) “là những từ được dùng đặc biệt trong lời nói miệng, trong sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong đối thoại” [14, tr 22] Khẩu ngữ được coi
là dấu hiệu đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt Nó có năm kiểu cấu tạo: thêm yếu tố, bớt yếu tố, biến âm, biến nghĩa và ngẫu nhiên [22] Trong thi ca nó có đặc điểm tu từ là giàu tính hình ảnh và tính biểu cảm; tái hiện cuộc sống một cách chân thực, sinh động
Từ thông tục “là những từ dùng trong lời nói miệng, có khi thô lỗ, tục tằn” [14, tr 24] Cần tách biệt từ thông tục với khẩu ngữ Mặc dù phạm vi sử dụng của
từ thông tục là ngôn ngữ hội thoại nhưng “từ thông tục không nằm trong vốn từ vựng của ngôn ngữ văn hóa” [22]
Tiếng lóng “là những từ không phải toàn dân sử dụng mà chỉ một tầng lớp xã hội nào đó mà thôi” [14, tr 26] Tiếng lóng là dạng đặc biệt tách ra từ biệt ngữ xã hội Nếu biệt ngữ là những tữ ngữ độc lập trong hệ thống từ vựng thì tiếng lóng “là tên gọi chồng lên, hay là những tên gọi song song của các sự vật hiện tượng” [22] Trong văn học, từ thông tục và tiếng lóng ít được sử dụng Chúng chỉ được dùng khi muốn cá tính hóa nhân vật, dẫn lời trực tiếp hoặc muốn tạo dựng không khí suồng sã
“Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị công cụ lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó, thường được những người trong ngành nghề đó biết và sử dụng” [14, tr 28] Tìm hiểu mở rộng các tài liệu liên quan, chúng tôi đồng ý với quan niệm: “Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động, quá trình sản xuất, quá trình hành nghề nghiệp một nghề nghiệp nào đó” [22]
Trang 17Chúng là những tên gọi duy nhất của hiện tượng trong thực tế Chúng không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Do đó, chúng dễ dàng thành từ toàn dân khi nghề đó trở nên phổ biến trong xã hội Ví dụ như nghề nông Trong văn chương việc dùng lớp từ này có những giá trị biểu đạt riêng Chúng đóng vai trò là phương tiện tu từ để miêu tả nghề nghiệp, phương cách sản xuất và cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật; nhằm khắc họa hình tượng văn học, không nhằm cung cấp vốn từ
“Từ thi ca là những từ được sử dụng chủ yếu trong thơ văn xưa Ngày nay nếu dùng từ thi ca để chỉ con người, sự vật thì thấy kệch cỡm, buồn cười” [14, tr 13] Đặc biệt, lớp từ thi ca nếu dùng trong lời nói thường, hay những văn bản không phải mang tính chất văn chương sẽ trở nên kiểu cách, sáo mòn, thiếu tự nhiên, thậm chí gây cười cho người khác Tuy nhiên nếu sử dụng từ thi ca đúng lúc, đúng chổ sẽ mang lại giá trị biểu cảm lớn Nó mang màu sắc phong cách đặc biệt
Từ láy là một lớp từ phong phú trong vốn từ vựng tiếng Việt đó là “những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, hài hòa với nhau về âm và nghĩa,
có giá trị tượng trưng hóa” [14, tr 33] Từ láy có các kiểu cấu tạo là: láy đôi, láy ba, láy tư Dựa theo giá trị tu từ ta sẽ có các kiểu dạng sắc thái tu từ của từ láy là: khái quát hóa về nghĩa, sắc thái hóa về nghĩa, tính tượng thanh, tính tượng hình Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, vì thế từ láy có vị trí quan trọng trong việc tạo ra ngữ điệu, tiết tấu cho phát ngôn Hơn nữa, láy là một phương thức cấu tạo từ rất uyển chuyển, ngoài thông tin cơ sở, từ láy luôn hàm chứa thông tin giàu sắc thái biểu cảm Trong sáng tác văn chương, nhất là trong ngôn ngữ thơ, việc sử dụng từ láy một cách khéo léo là một thành công lớn, không chỉ mang lại nhạc điệu mà còn góp phần không nhỏ vào việc tăng cường sắc thái trữ tình cho thơ
“Thành ngữ là những đơn vị định danh biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tượng cụ thể” [14, tr 37] Thông qua kết hợp tìm đọc một số tài liệu khác, chúng tôi hiểu “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa vừa có tính gợi cảm được sử dụng như một đơn vị sẵn có” [22] Thành ngữ được xây dựng trên cơ cở của phương thức so sánh, ẩn dụ, hoán
Trang 18dụ Thành ngữ là phương tiện nhằm khắc phục sự hữu hạn của các đơn vị từ và sự thiếu hàm xúc của lời nói Nó phản ánh hiện thực khách quan thông qua hình ảnh sự vật thực, việc thực nên có tính hình tượng và tính cụ thể Mỗi thành ngữ khi nói ra khác với sự diễn đạt bình thường ở chỗ đều kèm một thái độ cảm xúc, một thái độ đánh giá nào đó; đó là tính gợi cảm rõ nét của nó Thành ngữ mang tính biểu trưng cao, nó có tính khái quát hóa cho mọi hành động, mọi tình thế tương tự Thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, đó là “cách nói ví von rất hay, rất có hình ảnh, rất thấm thía” (Hồ Chí Minh) Nó mang màu sắc phong cách rõ nét Các nhà thơ, nhà văn nếu biết cách vận dụng chúng khéo léo vào tác phẩm của mình sẽ tạo được ấn tượng, giá trị tu từ, giá trị biểu đạt lớn
+ Trong thi ca thường có những đặc điểm tu từ nổi bật đó là các phép so
sánh, ẩn dụ, nhân hóa, vật hóa; phép điệp, phép lặng,… để tăng giá trị biểu đạt
“So sánh tu từ hay so sánh nghệ thuật là cách công khai đối chiếu các đối tượng khác loại, có cùng nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả một cách có hình ảnh
và biểu cảm đặc điểm của một đối tượng” [22] Đây là biện pháp rất hiệu quả để
miêu tả các đối tượng sự vật Nhờ các hình ảnh dùng để so sánh mà các ý tưởng, các yếu tố trừu tượng được cụ thể hóa và trở nên gợi cảm Đây là một cách xây dựng hình ảnh trong văn chương Trong cấu trúc của so sánh tu từ, cái được so sánh A là cái chưa biết, cần được thể hiện làm rõ; cái dùng để so sánh B là cái đã biết, cái được dùng làm chuẩn Nguyên tắc của so sánh tu từ là dùng B để sáng tỏ A một cách cụ thể và hấp dẫn Biện pháp này gồm các kiểu A như (như là, tựa, tựa như,…) B; B bao nhiêu, A bấy nhiêu; A là B; So sánh song hành, kiểu A Ø B [22]
“Ẩn dụ tu từ hay ẩn dụ nghệ thuật là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở liên tưởng về những nét tương đồng giữa hai đối tượng” [22] Do vậy nó cũng có hai yếu tố là cái được ẩn dụ và cái dùng để ẩn dụ Nhưng trên bề mặt ngôn bản, cái được ẩn dụ không xuất hiện trực tiếp Do đó, ẩn dụ giống như sự so sánh ngầm Ẩn dụ có các kiểu dạng là: ẩn
dụ chân thực (là những ẩn dụ được cấu tạo bằng sự so sánh ngầm những nét tương đồng giữa các sự vật hiên tượng), ẩn dụ bổ sung (còn gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm
Trang 19giác là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác khi nhận thức và diễn đạt bằng ngôn ngữ), ẩn dụ tượng trưng (là những ẩn dụ có tính chất tượng trưng, mang ý nghĩa biểu tượng) [22] Ẩn dụ mang lại giá trị biểu cảm cao thông qua lối nói hình ảnh, kín đáo Nó gợi ra những điều sâu sắc, đó chính là cách tạo chiều sâu cho ngôn ngữ diễn đạt
“Hoán dụ tu từ là cách lâm thời lấy tên gọi của đối tượng này, gọi tên đối tượng kia dựa vào mối quan hệ logic khách quan giữa hai đối tượng, nhằm nhấn mạnh đặc điểm của đối tượng đang được thể hiện” [22] Về cấu tạo nó cũng gồm hai yếu tố là cái được hoán dụ và cái dùng để hoán dụ Nhưng trên bề mặt ngôn từ thì cái được hoán dụ không xuất hiện trực tiếp Có thể kể ra các loại hoán dụ tu từ chủ yếu là: cải số (quan hệ số lượng với số lượng), cải dung (quan hệ giữa vật chứa
và vật bị chứa), cải danh (quan hệ giữa danh từ riêng và danh từ chung), hoán dụ xây dựng từ quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, vật sở thuộc với chủ thể, nguyên nhân và kết quả Hoán dụ có tính chất hình ảnh nên có khả năng làm tăng giá trị biểu cảm Nó có thể thay thế cho những khái niệm trừu tượng và nói những điều phức tạp sâu xa bằng cái giản đơn, dễ nhận ra Hoán dụ nói bằng đặc điểm của đối tượng và khắc họa đặc điểm đó, khiến cho sự miêu tả gây được ấn tượng sâu sắc cho người đọc, người nghe
“Nhân hóa là cách lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu, hoạt động của con người để biểu thị cho sự vật, làm cho đối tượng trở nên sinh động và gần gũi hơn” [22] Nhân hóa có hai loại: miêu tả đối tượng trong những hoạt động trạng thái, tính chất của con người và coi đối tượng như con người, đối thoại, tâm tình, giãi bày với chúng Nhân hóa vừa có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm, được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong ngôn ngữ sinh hoạt và trong văn chương
“Phép điệp là biện pháp tu từ lặp lại có nghệ thuật một từ, một ngữ hay một kiểu cấu trúc ngữ pháp trong nhiều câu nhằm nhấn mạnh một nội dung, tăng cường nhạc tính và sức biểu cảm” [22] Dựa vào quy mô cấu tạo ta chia phép điệp bao gồm điệp từ ngữ và điệp cú pháp (lặp cú pháp) Phép điệp có vai trò rất lớn trong việc tạo nhạc điệu và sức gợi cảm của thơ
Trang 20“Phép lặng (ẩn ngữ) là phương thức biểu đạt bằng cách bỏ trống để người
đọc người nghe tự hiểu, không cần diễn đạt bằng lời” [22] Đây là hình thức diễn
đạt khá đặc biệt, có chức năng biểu cảm; với những khoảng lặng được thể hiện bằng
dấu chấm lửng, những yếu tố có mặt là cơ sở để hiểu phần để trống Nó như những
cảm xúc lắng đọng hay sự vang ngân, tạo những rung cảm lạ thường
1.2 Tác giả Nguyễn Duy với con đường sáng tạo thơ văn
1.2.1 Nguyễn Duy – Đời sống, quê hương với văn nghiệp thơ ca
a Tiểu sử cuộc đời: Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm
1947 (khai sinh 1948) tại xã Đông Vệ - Đông Sơn - Thanh Hóa (nay là phường
Đông Vệ, Tp Thanh Hóa) Nguyễn Duy sinh ra trên mảnh đất xứ Thanh với những
nghèo khổ vất vả, lam lũ nhưng là khúc ruột miền trung nặng tình người, tình đời
Những gì mộc mạc, bình dị, chân chất của quê hương đã thấm sâu vào hồn thơ
Nguyễn Duy Trong trả lời phỏng vấn ở buổi nói chuyện thơ bên Đức năm 2001
ông đã tâm sự: “Tôi sinh ra ở nông thôn, làm ruộng từ bé, đ ằm mình trong đ ất cát
thơ l ục bát ấy hồn vía của thế hệ tôi” [32]
Năm 1965, Nguyễn Duy làm tiểu đội trưởng, tiểu đội dân quân trực tại khu
vực cầu Hàm Rồng - một trọng điểm bắn phá ác liệt của không quân Mĩ bấy giờ
Năm 1966, ông nhập ngũ trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin và làm báo
trong quân đội, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các tuyến đường 9, Khe Sanh,
nam Lào và nhiều mặt trận phía Nam lẫn phía Bắc
Thời gian từ năm 1971 đến năm 1975 ông đã theo học và tốt nghiệp khoa
Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Năm 1976, đất nước thống nhất, ông chuyển ngành về làm ở báo Văn nghệ
giải phóng Từ 1977 cho đến nay, ông là đại diện thường trú của báo Văn nghệ tại
các tỉnh phía Nam Hiện nay, ông đang sống và làm việc tại Tp Hồ Chí Minh
Trang 21b Con đường thơ Nguyễn Duy: Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, từ khi đang
còn là học sinh Thơ ông được in lần đầu năm 1967 Ông thuộc thế hệ nhà thơ thời
chống Mĩ và được biết đến với tư cách nhà thơ khi đã khoác áo lính Năm 1973,
Nguyễn Duy đã đạt giải nhất trong cuộc thi thơ của báo Văn nghệ Từ đây, sự
nghiệp thơ ông bắt đầu gây tiếng vang nở rộ Ông lao động sáng tạo nghệ thuật miệt
mài và hăng say suốt quá trình sáng tác của mình Nguyễn Duy đã tạo nên một sự
nghiệp sáng tạo nghệ thuật đáng nể Ông không chỉ sáng tác nên một khối lượng thơ
lớn có giá trị mà còn viết bút kí, tiểu thuyết Thơ ông không chỉ được đón nhận
trong nước, mà còn đến với bạn đọc quốc tế ở các chặng đường sáng tạo Ông đã
đạt giải A về thơ của Hội nhà văn Việt Nam (1985), giải thưởng nhà nước về văn
học nghệ thuật (2007)
Cho đến nay, Nguyễn Duy đã xuất bản các tác phẩm: “Cát trắng” - tập thơ
đầu tay (NXB Quân đội nhân dân, 1973), “Phóng sự 30475” - thơ phóng sự (NXB
Văn nghệ, 1981), “Em Sóng” - kịch thơ (NXB Kim Đồng, 1983), “Ánh trăng” - tập
thơ (NXB Tác phẩm mới, 1984), “Khoảng cách” - tiểu thuyết (NXB Phụ nữ, 1985),
“Nhìn ra bể rộ ng trờ i cao” - bút ký (NXB Văn nghệ, 1986), “Mẹ và em” - tập thơ
(NXB Thanh Hóa, 1987), “Đãi cát tìm vàng” - tập thơ (NXB Văn nghệ, 1987), “Tôi
thích làm vua” - bút ký (NXB Văn nghệ, 1988), “Đư ờng xa” - tập thơ (NXB trẻ,
1989), “Quà tặng” - tập thơ (NXB Văn học 1990), “Về ” - tập thơ (NXB Hội nhà
văn, 1994), “Sáu & Tám” - tuyển thơ lục bát (NXB Văn học, 1994), “Vợ ơi” - tuyển
thơ tặng vợ (NXB Phụ nữ, 1995), “Tình tang” - tuyển thơ (NXB Văn học, 1995),
“Bụi” - tập thơ (NXB Hội nhà văn, 1997), “Thơ v ới tuổi thơ” - tuyển thơ (NXB
Kim Đồng, 2002), “Thơ tr ữ tình” - tuyển thơ (NXB Hội nhà văn, 2004), “36 bài
thơ” - tuyển thơ (NXB Lao động, 2007) Mới đây nhất NXB Hội nhà văn đã xuất
bản tuyển tập “Thơ Nguy ễ n Duy” năm 2010 Năm 1997, sau khi in tập thơ cuối
cùng (tập thơ “B ụi ) Nguyễn Duy đã tuyên bố ngừng làm thơ là vì không muốn lặp
lại mình trong sự sáng tạo Song không phải vì vậy mà cho rằng ông đã đoạn tuyệt
với thơ Ông vẫn khẳng định mình còn “nặ ng duyên nợ vớ i thơ” [32]
Trang 221.2.2 Nguyễn Duy – Gương mặt thơ độc đáo mà hồn hậu
Nguyễn Duy luôn say sưa trong hành trình sáng tạo thi ca của mình Sáng tác của ông rất giàu cá tính sáng tạo với chất thơ vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc dân tộc Thơ Nguyễn Duy mang “cái hiền hậu, cái gì rất Việt Nam” [19, tr 383] Thơ ông là sự “dung dị đằm thắm chất dân gian mà vẫn mới lạ, vẫn chân chất, chắc bền sâu kín” [19, tr 384] Tiếng thơ ông có sự đậm đà, ổn định một phong cách, một giọng điệu quen đã luôn hấp dẫn đối với người đọc “Những năm gần đây người đọc như bắt gặp một Nguyễn Duy khác Một Nguyễn Duy thích bông lơn, đùa cợt ngay
cả những lúc cần “trữ tình”, trang nghiêm nhất Cái nồng hậu, rưng rưng cảm động trong thơ ông những năm trước đây dường như nhạt dần Có thể sự thay đổi này tạo nên màu sắc đa dạng trong giọng điệu trữ tình và phong cách thể hiện của Nguyễn Duy” [19, tr 384] Nguyễn Duy đã được khen là người “khéo tay điều khiển từ” Ở các bài thơ về đề tài thời sự xã hội thì những lời nói thường và những thuật ngữ chính trị - kinh tế - khoa học vẫn được xếp vào đúng chỗ có ý nghĩa Chúng không
hề làm cản trở mạch thơ, mà còn tạo nên hiệu quả, gây hứng thú bất ngờ Nguyễn Duy có khả năng ấy nhưng không lạm dụng, đúng hơn là không có khuynh hướng
đi xa hơn vào lối rẽ này “Thơ Nguyễn Duy vẫn hướng theo mạch trữ tình thuần túy, với ngôn ngữ trong sáng của tiếng Việt, tiếng nói người dân” [24, tr 91]
Thơ Nguyễn Duy có vẻ đẹp giản dị trong nội dung và trong cả cách biểu hiện Từ sơn nhận định thơ Nguyễn Duy “viết theo đơn đặt hàng của cuộc sống và của chính lòng anh (…) Những dòng thơ, bài thơ có lúc đã đạt được cái trong veo của nắng mai, cái hào phóng của cơn gió nơi đồng nội, cái ấm áp của lời thổ lộ tâm tình” [31, tr 604, 605] Đọc thơ Nguyễn Duy, ta nhận ra chất liệu làm nên thơ ông chủ yếu là những tình tiết quen thuộc của đời sống và những người, những cảnh
bình dị ta vẫn gặp hằng ngày PGS TS Trần Đăng Suyền cũng nhận định: “Nguyễn
Duy với giọng điệu gần với ca dao chân chất, dân giã, tình tứ đôn hậu mà đằm thắm thâm trầm, sâu sa” [18, tr 387] Thơ ông luôn giữ vững bản sắc và phong cách Ông luôn ý thức: với ngôn ngữ thơ không chỉ đơn giản là độ dâng trào của cảm xúc, mà bắt buộc phải tinh lọc qua lăng kính bác học Đọc thơ Nguyễn Duy, Lê Quang
Trang 23Trang nhận định: “anh không muốn thơ mình chỉ là ly nước ngọt, mà phải chứa chất
men như rượu, càng ngấm, càng say” [31, tr 604]
Nguyễn Duy được đánh giá cao ở thơ lục bát Nhiều người không hiểu vì sao
ông “chuyên trị” thể loại này một cách điêu luyện và vận dụng ca dao vào nó tài
tình đến vậy Đó là do từ nhỏ ông sống nơi thôn quê dân dã Nhà thơ đã hòa vào
máu thịt mình những câu ca dao, điệu hò, điệu lý dân quê từ các bà các mẹ, các chị
Thơ lục bát của ông rất nổi bật bởi nó được viết theo phong cách rất hiện đại, câu
thơ vừa phóng túng lại vừa uyển chuyển, lời thơ chặt chẽ Ông đã được đánh giá là
người có công làm mới thể thơ truyền thống này Nguyễn Duy không những đã
đánh thức thơ lục bát mà ông còn có công làm mới, làm hiện đại thể loại thơ cổ
truyền của dân tộc Nguyễn Quang Sáng nhận xét: “thơ lục bát Nguyễn Duy không
rơi vào tình trạng quen tay, nó có sự chuyển động biến đổi trong câu chữ Phải
chăng đó là do chuyển động trong nội tâm mà ứa ra câu chữ Dù ở đâu Nguyễn Duy
vẫn bắt được cái thần của con người và cái hồn của cây cỏ chỉ là nhờ vào thế giới
nội tâm phong phú và năng động của chính mình” [31, tr 604] Sự gắn bó, gia công
chăm chút thể thơ truyền thống ấy, cho ta thấy hồn thơ Nguyễn Duy là một hồn thơ
nặng ân tình, một hồn thơ mang sự chân chất của một cái tôi “th ảo dân thi sĩ” (theo lời của Chu Văn Sơn trong bài “ Nguy ễn Duy thi sĩ th ảo dân” [38, tr 403])
Tiểu kết:
Như vậy, ngôn ngữ thơ ca có những đặc điểm riêng trong cơ chế bộ máy vận
hành và cơ chế ấy có tính “mở” Dựa trên tính mở ấy, mỗi nhà thơ sẽ nhờ vào đó mà
sáng tạo nên thế giới thơ của riêng mình Song sự sáng tạo đều phải luôn luôn ăn
khớp với cái khung cốt yếu của cơ chế thơ thì thơ đó mới tồn tại được
Nguyễn Duy đã vận dụng được tính “mở” trong vận hành ngôn ngữ thơ của
mình Ông là một cây bút thơ độc đáo Sự nghiệp thơ ông đã là đóng góp quan trọng
cho nền thơ ca nói chung và ngôn ngữ thơ nói riêng Điều này đã được khẳng định
và kiểm nghiệm qua mấy mươi năm “m ắc bệnh thơ” (T ập ru con) của ông
Trang 24CHƯƠNG HAI: ĐẶC ĐIỂM THẨM MĨ CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN TU TỪ
TỪ VỰNG TRONG THƠ NGUYỄN DUY 2.1 Đặc điểm thẩm mĩ của từ vựng trong thơ Nguyễn Duy xét theo nguồn gốc,
phạm vi sử dụng
2.1.1 Từ cũ (từ cổ và từ lịch sử)
Từ cũ hiện nay rất ít dùng, nhưng trong thơ ca lớp từ này vẫn sử dụng Thơ
Nguyễn Duy cũng không ngoại lệ Khảo sát 45 bài thơ trong tuyển tập “Thơ tr ữ tình” của ông, chúng tôi thu được kết quả cụ thể trình bày theo bảng sau:
3 Nhớ bạ n sa (từ từ rơi thẳng xuống)
xưa)
7 Mỗ i thầy đồ (người làm nghề dạy chữ Nho thời
trước)
giao kèo việc mua bán, thuê, vay…)
phong kiến, thực dân)
12 Yêu ưu phiền (buồn xen lẫn lo âu, không yên
trong lòng)
14 Vợ ố m thi nhân (nhà thơ), quốc gia (nước nhà), việc
Trang 25thiên việc địa (nhiều việc lung tung)
(thẩm phán)
Tổng dùng 20 mục từ
Qua kết quả khảo sát trên, chúng tôi tính tỉ lệ phần trăm số bài dùng từ cũ trên tổng số bài khảo sát là 33,33 %; và tỉ lệ phần trăm số từ trên bài là 44, 44% Với những tỉ lệ này cho thấy: Nguyễn Duy đã có khả năng “tận dụng” được cả vốn
từ cũ của dân tộc Chúng đi vào thơ ông không phải là ngẫu nhiên Khảo sát nghĩa của chúng trong ngữ cảnh thơ cụ thể, chúng tôi nhận ra việc nhà thơ vận dụng từ cũ vào thơ không những không hề làm cho câu thơ trở nên khó hiểu, khô cứng; mà ngược lại, chúng có tác dụng mang lại sắc thái tu từ cho sự diễn đạt, diễn tả thành công lớp ý nghĩa mà tác giả muốn đan cài vào Đó là sự tinh tế trong ý thơ, là sự giản dị trong ngôn từ nghệ thuật, sự khéo léo trong điều khiển câu chữ Phân tích một dẫn chứng cụ thể sau, ta sẽ thấy rõ điều này:
ta ân xá tộ i vớ i tình cho ta thờ i gian lư ớt thư ớt quan tòa
(Thờ i gian)
Trong đoạn thơ trên, ta thấy Nguyễn Duy đã dùng kết hợp hai từ cũ là “quan
án, tội) sẽ tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật trọn vẹn Nếu thay chúng bằng những từ
hiện thời là “thẩm phán”, “rồi đây” thì sẽ giảm đi đáng kể cái sắc thái về sự chiêm
nghiệm, sự suy tư lắng đọng về những điều đã qua của bước đi thời gian Việc dùng
từ như vậy khiến ta có cách cảm về đoạn thơ đó là một sự trải lòng, là sự ngẫm suy
về quá khứ xa vắng mà thời gian đã cuốn đi Phải chăng, nhà thơ đang dằn lòng mình, tự an ủi mình, khi đứng ở hiện tại nhìn lại dòng chảy thời gian Có dùng những từ cũ ấy, thì việc diễn đạt này mới thực sự có hồn, mới tạo được không gian thơ cho sự cảm nhận Đồng thời, qua việc cảm nhận những đoạn thơ như vậy từ
Trang 26ngôn từ, ta cũng thấy được nét riêng trong ngôn ngữ thơ ông Đó là lối diễn đạt
động mà tĩnh; tươi vui, lạc quan mà lắng đọng; nôm na, dân dã mà sâu sắc, tình ý
thắm nồng Như vậy, việc đan cài những từ cũ vào thơ của Nguyễn Duy có một
trình độ nghệ thuật khéo léo, hết sức linh hoạt và uyển chuyển theo từng ngữ cảnh;
để mang lại hiệu quả diễn đạt cao hơn
2.1.2 Từ vay mượn (gốc Hán và gốc Ấn - Âu)
Trong kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt, nhân dân ta đã có ý thức vay mượn để
làm giàu vốn ngôn ngữ dân tộc Vốn từ vay mượn của chúng ta bao gồm gốc Hán
và gốc Ấn – Âu Và lớp từ này tồn tại trong tiếng Việt hiện đại ngày nay chiếm tới
hơn 70 % tổng số từ ngữ trong kho từ vựng Trong đó, do nước ta có sự giao lưu lâu
đời với tiếng Hán nên ngôn ngữ vay mượn gốc Hán khá nhiều; còn vay mượn ngôn
ngữ Ấn - Âu thì mới về sau này nên ít hơn Từ vay mượn là lớp từ có vai trò quan
trọng trong sự diễn đạt Cũng vì thế cho nên việc Nguyễn Duy tiếp nhận ngôn ngữ
vay mượn vào thơ là điều dễ hiểu
Khảo sát, thống kê từ vay mượn trong 45 bài thơ ở tuyển tập “Thơ tr ữ tình”
của Nguyễn Duy, chúng tôi trình bày khái quát kết quả theo bảng sau:
Chúng tôi đã tìm ra được tổng số 202 lượt dùng từ vay mượn (chưa kể các từ
dùng ngay ở nhan đề) Trong đó có tới 200 lượt dùng (99%) từ vay mượn gốc Hán
(tra cứu theo “T ừ đi ể n Hán Việ t” của Đào Duy Anh hiệu đính) và 2 từ (1%) vay
mượn gốc Ấn - Âu Như vậy, kết quả khảo sát trên cho thấy Nguyễn Duy đã sử
dụng kha khá từ vay mượn vào thơ mình, đặc biệt là vay mượn gốc Hán Theo kết
quả này thì trung bình cứ một bài thơ ông dùng 4,49 lượt dùng từ vay mượn, riêng
từ vay gốc Hán là 4,44 lượt dùng trong một bài
Trang 27Đối với từ vay mượn gốc Ấn - Âu chúng tôi tìm được khá ít là do phạm vi khảo sát còn hạn hẹp Đọc đầy đủ thơ ông ta thấy không hiếm các từ vay mượn gốc
Ấn - Âu như: áo blu, cao bồi, mốt, tivi, buynđinh,… Nguyễn Duy là nhà thơ hiện đại có “tạng người ưa phiêu lưu” giữa cuộc sống hiện đại, với sự ngoại nhập và xu thế mở cửa hội nhập quốc tế Nên thơ ông có dùng từ vay mượn gốc Ấn - Âu là dĩ nhiên Điều này còn chứng tỏ ông đã có sự am hiểu và bắt kịp tiến trình phát triển ngôn ngữ dân tộc
Khảo sát cụ thể, chúng tôi thấy có những bài Nguyễn Duy sử dụng dày đặc
từ Hán Việt và đã đạt được hiệu quả diễn đạt, sắc thái tu từ đáng chú ý như:
mĩ miều ấy Bằng cách dùng từ Hán Việt, đoạn thơ còn có được có sắc thái trang
trọng Các từ “nhan sắc”, “ giáng trần”, “thanh xuân” như những nét vẽ khái quát
thần tình: vừa gợi lên vẻ đẹp tươi trẻ, tràn đầy sức sống, vẻ ngọc ngà và rất thanh
nhã; vừa gợi lên được sắc thái trân trọng, đề cao trong lời thơ Từ “hà tiện” được
thay cho từ “bủn xỉn” nên lời thơ sẽ tránh được sự thô thiển, vụng về; đảm bảo được cái ý thơ mang ý vị cần có
Hay ở trường hợp sau, các từ Hán việt đã góp phần không nhỏ vào việc sắc thái hóa ý thơ, cảm xúc thơ Chúng như những điểm nhấn ngôn từ trong thơ:
không đề cương không kịch bản không dự báo thời tiết
(Giọ t trờ i)
Trang 28Cũng giống như lớp từ cũ, lớp từ Hán Việt được sử dụng nhuần nhị trong thơ
sẽ không hề gây khó hiểu, mà đã đưa lại các sắc thái tu từ cao hơn về màu sắc phong cách và sắc thái biểu cảm; về sự trang trọng, thanh nhã, bác học cổ xưa, trừu tượng, tĩnh tại,… Từ vay mượn đi vào tiếng ta mang lại hơi thở mới, làm phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc, giúp ta có thêm phương tiện diễn đạt mới Tuy nhiên, việc sử dụng cần phải trong sáng và làm sao cho phù hợp với tâm lí, tính cách người Việt, không làm lu mờ đi truyền thống văn hóa dân tộc Việc vay mượn ngôn ngữ phong phú từ các nước là một việc không dễ Nguyễn Duy đã tỏ ra tài hoa và cao tay trong việc nắm bắt quy luật và cách sử dụng lớp từ vay mượn, để đem lại hiệu quả cho sự diễn đạt trong thơ của mình
là 44,44 % Việc đưa phương ngữ vào thơ của ông cũng là điều đáng bàn Đọc thơ Nguyễn Duy và lắng hồn mình tĩnh tại, ta sẽ cảm nhận được rằng: ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy có cái gì đó chân chất mộc mạc, gần gũi; nhất là đối với các bài lục bát thì nó càng hồn hậu như lời ru, điệu hò của bà, của mẹ mà ta quen tiếng, quen tai Trong các từ ngữ địa phương được dùng, có một số từ có tần suất xuất hiện nhiều lần, có khi lặp lại cả trong một bài Cụ thể, chúng tôi xin trình bày bằng bảng sau:
số xuất hiện
Trang 294 Đư ợc yêu như th ể ca dao y chang
Tổng 25 lượt từ
Nhìn vào bảng trên, ta có thể thấy rằng: Nguyễn Duy tỏ ra am hiểu từ ngữ địa phương, vùng miền và đã vươn tay sử dụng không hề khoanh vùng các phương ngữ trong sáng tác của mình Ta thấy trong thơ ông có cả phương ngữ Bắc - Trung - Nam Tùy từng bài với các không gian vùng miền được tạo dựng trong thơ mà ông
sử dụng phương ngữ đó một cách linh hoạt Khi viết về Hà Nội, dĩ nhiên không lí gì nhà thơ lại dùng phương ngữ Nam Và ngược lại, khi viết về Nha Trang, Đà Lạt, về vùng sông nước miền Nam thì phương ngữ Nam sẽ được ông vận dụng Nhà thơ sử dụng từ địa phương để làm rõ hơn đặc điểm của quê hương, tô thêm màu sắc địa phương của những nơi mà ông đã sống, đã đi qua Nhưng nhìn chung, dấu ấn đậm nét hơn cả vẫn là phương ngữ Trung Mà nổi bật xuất hiện nhiều lần là từ: chi (10 lần) Bằng việc dùng phương ngữ trong thơ, Nguyễn Duy đã tạo được ấn tượng
Trang 30vùng miền đậm nét về không gian phản ánh trong thơ; tạo được những sắc thái ý nghĩa ngoài lời của chủ thể trữ tình Chúng góp phần đáng kể vào việc tăng giá trị biểu đạt trong thơ Hay đó chính là “nét dư” của sự biểu hiện trong ngôn từ nghệ thuật Thử phân tích một dẫn chứng làm ví dụ ta sẽ thấy rõ điều này:
Ở đoạn thơ từ “chi” được dùng kết hợp với phong cách khẩu ngữ (2 từ “chả”) nên
dấu ấn từ địa phương còn nguyên vẹn và rõ nét hơn, không hề biến tấu trăng hoa, bóng bẩy Nhờ thế mà ta lại thấy được cả sự chân thật thuần phác và rất có duyên của anh chàng xứ Thanh này
2.2 Đặc điểm thẩm mĩ của từ vựng trong thơ Nguyễn Duy xét theo phong cách chức năng
2.2.1 Từ khẩu ngữ (từ hội thoại), từ thông tục, tiếng lóng
a Từ khẩu ngữ (từ hội thoại)
Thơ Nguyễn Duy có sự gần gũi, lại có gì đó “bụi bặm” từ hình ảnh đến giọng điệu Đó là gốc lúa bờ tre hồn hậu, là dòng sông, cánh đồng, là câu chuyện đời thường,… Cho nên, ngôn ngữ trong thơ ông được lấy từ lời ăn tiếng nói hằng ngày trong dân gian Cũng chính vì lí do đó mà vốn từ khẩu ngữ khảo sát được trong thơ ông tương đối nhiều Và có thể nói, từ khẩu ngữ được dùng nhiều vào bậc nhất nhì trong các lớp từ khảo sát Chúng tôi trình bày bảng kết quả khảo sát sau:
Trang 31chua loét, không đâu vào đâu
lơ
14 Xuồ ng đ ầy tự dưng, bàng bạc, ước ngọt mơ lành
lượt)
Trang 3225 Chợ ư
ngủn, hội chứng, ngày người
queo, loang toàng, nhoằng, õng ẹo, lòng thòng, loe ngoe, tuầy huầy, hôn hít
30 Vợ ố m mồm, lòng thòng, xất bất xang bang,
vãi…linh hồn
Tổng 100 lượt từ / 31 bài thơ sử dụng
Xét bảng thống kê trên, ta có tỉ lệ số lượt từ khẩu ngữ trên tổng số 45 bài thơ được khảo sát là 222,22 % và tỉ lệ phần trăm số bài sử dụng khẩu ngữ trên số bài khảo sát là 68,89 % Đây là những số liệu đáng chú ý Nhìn vào bảng thống kê ta còn thấy có một số bài sử dụng số khẩu ngữ khá nhiều Đây chính là một đặc điểm khá độc đáo ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy Với việc sử dụng từ hội thoại và việc sử dụng thuần thục các dạng láy của từ vào trong thơ, Nguyễn Duy đã chứng tỏ được ông là nhà thơ hiện đại có những đóng góp tích cực, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa trong thơ ca Xuất thân là dân quê, tham gia kháng chiến, trải qua hết chiến trường này đến chiến trường khác Ông đã lăn lộn, cùng ăn cùng sống với nhân dân Lời ăn tiếng nói của họ đã thấm vào máu thịt, ăn sâu vào tâm hồn ông một cách tự nhiên tự lúc nào Ông đã góp nhặt đưa chúng vào thơ Cái hướng lớn của thơ hiện đại là đi gần tới cấu trúc của lời nói thường, “là sáp mãi vào lời và tiếng đang từng giờ từng phút sinh nở trên cái dòng đời phồn tạp” [38, tr 415] Và Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ thời đại mới cũng không ngoại lệ Gần đây, nhiều nhà thơ mải miết với những cơn thử nghiệm ngôn ngữ ở tầng sâu vô thức để cho ra đời những câu thơ
“tắc tị” hoặc “vọt trào” thì Nguyễn Duy đã khẳng định mình bằng cách khác “Thơ Duy cập nhật rất nhạy những hơi thở hôi hổi của ngôn từ (…) Lời thơ Duy bén
Trang 33duyên với cả lời quê, lời phố, lời bụi hơi bị ngon lành Đôi khi có cảm giác đang
được hưởng thứ gió tươi trên đồng đất, chứ không phải thứ gió lọc qua máy điều
hòa, được chén thứ thực phẩm tươi sống trên sông hồ chứ không phải bảo quản
trong tủ lạnh” [38, tr 415]
Thật không sai khi Chu Văn Sơn gọi ông là “thi sĩ thảo dân”, phải lòng ngôn
ngữ “cơm bụi” Ngôn ngữ thơ ông đã mở cửa cho ngôn ngữ đời sống ùa vào Song
không vì thế mà ta xem nhẹ ngôn từ của thơ ông và cho đó là lời tầm thường, nôm
na đến mức dễ dãi Ngược lại, với tài năng nghệ thuật, cách sắp đặt câu chữ mà
chúng đi vào thơ ông khá hữu dụng Chúng làm cho câu chữ trở nên dễ hiểu, tự
nhiên hơn, gần gũi với thường nhật hơn dạng thơ bác học Nói như Chu Văn Sơn thì
Nguyễn Duy đã “xài thứ ngôn ngữ hồn nhiên”, “hơ hớ chất phônklore của đời” Và
không dễ ai cũng có thể “thấy được rubi trong đất bụi”, chắc gì “đãi cát đã tìm được
vàng” Nhưng với Nguyễn Duy, ông đã tìm được những thứ đó Ấy chính là cái
duyên ngầm, là hồng ngọc của thơ Nguyễn Duy đã thu hút, hấp dẫn bạn đọc
Khen là vậy, nhưng khi đọc, tìm hiểu thơ Nguyễn Duy hẳn chúng ta vẫn sẽ
có những phút “cau mày” Chúng tôi xin đồng ý với nhận xét hết sức khách quan
sau của Chu Văn Sơn: “Song, nói đi cũng cần nói lại, không phải không có những
lúc thơ Duy bụi mù quá ngứa cả mắt, rụi mắt nhìn mãi mà vàng và rubi cứ trốn
biệt tăm (Bia lon thổn thệ người lon/ ễnh ềnh ệnh hỏn hòn hon thùi lùi/ trắng vàng
b Từ thông tục, tiếng lóng
Khảo sát 45 bài thơ trong tuyển thơ trữ tình của Nguyễn Duy, chúng tôi chỉ
tìm thấy 1 từ thông tục trong bài “Em ơi, gió…” là từ: “tồng ngồng” (Em ơi gió r ối
đồng/ hình nhân rơm c ỏ tồng ngồng tả tơi) Lớp từ thông tục là lớp từ có sự thô
thiển, có khi tục tằn Nó trái ngược với tính chất văn hóa của văn học nghệ thuật
Nó không thuộc trong vốn từ vựng của ngôn ngữ văn hóa Nó chỉ xuất hiện trong
lời nói thường Chính vì vậy mà trong thơ mình, Nguyễn Duy hạn chế sử dụng
chúng là điều hiển nhiên Một số trường hợp ông sử dụng trong thơ là nhằm tái
hiện, miêu tả hiện thực khách quan một cách sinh động hơn, nhằm mô phỏng đúng
Trang 34tính chất của sự vật hiện tượng sống động như bản chất vốn có ngoài đời thực của
nó Nên khi chúng xuất hiện trong thơ vẫn không tạo cảm giác thô tục như lời nói
thường Chúng là điểm nhấn giọng trong câu thơ, có tác dụng nhất định cho sự diễn
đạt; mà trong ngữ cảnh cụ thể đó, nếu thay bằng ngôn ngữ văn hóa hay bỏ đi thì
thấy thiếu hụt và giảm sút ý vị trong ý thơ
Đối với hiện tượng tiếng lóng thì người viết đã khảo sát 45 bài thơ trữ tình
Nguyễn Duy, kết hợp với việc tham khảo kết quả khảo sát các bài lục bát trong
cuốn “Thơ Nguy ễ n Duy” ở đề tài khóa luận “Các phương ti ệ n tu từ từ vự ng trong
ĐH Đà Nẵng, thì cũng có chung kết quả là: trong thơ Nguyễn Duy không sử dụng
bất kì một từ lóng nào Điều này cũng dễ lý giải, bởi vì tiếng lóng vốn khó hiểu,
không rõ nghĩa ngay cả sử dụng trong văn xuôi có hoạt cảnh cụ thể Vậy nên, trong
thơ Nguyễn Duy không sử dụng lớp từ này là điều đương nhiên, không gây bất ngờ,
lạ lẫm Nhà thơ Nguyễn Duy đã nhận được từ giới phê bình một nhận xét là: thơ
ông có “lắm khía cạnh thú vị đến quỷ quái của tiếng Việt đã được đánh thức và truy
nhập vào ngôn từ thơ” [38, tr 415] Vậy nhưng không có nghĩa là ông “lôi” luôn cả
“những giun, những sâu” vào thơ mình Một nhà thơ chân chính như Nguyễn Duy
thì ý thức giữ gìn và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt trong khi sử dung, luôn là
điều khắc cốt ghi tâm Và việc vận dụng các hiện tượng ngôn ngữ vào thơ luôn
được ông ý thức cao Đây cũng chính là điều ta nhận ra ở ngôn ngữ của thơ ông và
cũng là kết luận cho việc Nguyễn Duy không dùng tiếng lóng trong sáng tác thơ
2.2.2 Từ nghề nghiệp
Khảo sát trong phạm vi 45 bài thơ chúng tôi tìm được 41 lượt dùng từ nghề
nghiệp trong các ngữ cảnh thơ cụ thể của 8 bài thơ: “Câu”, “Thách th ức”, “Th ời gian”, “Mỗ i”, “Ch ợ, “X uồ ng đ ầy”, “Rơi và nh ặt”, “V ế t thờ i gian” Nguyễn Duy
có sự am hiểu về một số hoạt động nghề nghiệp trong đời sống xã hội; và ông đã
phản ánh nó vào thơ Trong thơ của mình, tác giả thường vận dụng các từ trong
trường nghĩa về nghề nghiệp như một công cụ mô phỏng đắc lực để khắc họa hình
tượng thơ, chứ không nhằm cung cấp vốn từ
Trang 35Nguyễn Duy được biết đến là gã thi sĩ của “hồn quê, hồn phố” có “tạng người phiêu lưu” Chàng thi sĩ này mải miết đi tìm “bụi dân sinh” trong “đường làng”, trong hành trình phiêu dạt “đường nước”, phiêu du “đường xa” xứ người, rồi nỗi đau đáu tìm “đường về” Trong hành trình sống và sáng tác của mình, thi sĩ đã
cọ sát với đời sống nhân dân nhất là đời sống lao động mưu sinh như “con đẻ, con ruột” Chính vì thế mà cái “chữ nghĩa hồn rơm rạ” của thi sĩ trở nên có hồn hơn
Trong bài thơ sau, tác giả đã khéo léo và rất tài tình khi mượn những từ ngữ nói về hoạt động câu cá mà ví von Cách ví von này là cách nói khá hình ảnh về mối duyên tình như việc đi câu vậy Qua đó ta thấy lời thơ thật ý vị, sâu sắc, kín đáo
cá ăn không giật để lâu mấ t mồi
Mình câu ta giữ a trầ n đ ời
không dây không lưỡi không mồi không phao.”
(Câu)
Trong thế giới muôn màu của cuộc sống được tái hiện, dĩ nhiên sẽ cần phải
có bóng dáng của lao động sản xuất, của các hoạt động nghề nghiệp trong xã hội; thì bức tranh ấy mới đầy đủ, sinh động, có hồn thực sự Nói vậy có nghĩa là bức tranh các hoạt động sống trong thơ Nguyễn Duy sẽ có nhiều “nét cọ vẽ” phản ánh một số nghề nghiệp trong nhịp sống; song nét chủ đạo vẫn là tái hiện những sinh hoạt sinh sống thường nhật của nhân dân lao động Trong thơ, Nguyễn Duy đã dùng các từ thuộc trường nghĩa nghề nông, nghề chài lưới, buôn bán để mô phỏng:
Trang 36“Có món ngon nào giá rẻ không em gạo trắng rau tươi cá bơi tôm nhảy
(Chợ ) Hay, ở bài thơ “Về làng” trong tuyển tập “Thơ Nguy ễ n Duy”, tác giả Nguyễn
Duy cũng đã giúp chúng ta hình dung phần nào ra bức tranh nông nghiệp ngàn đời
nay của thôn quê Việt Nam
từ nghề nghiệp để mô phỏng là: bán, đánh thuế buôn, mua chịu, giá
2.2.3 Từ thi ca
Qua khảo sát tuyển thơ “Thơ tr ữ tình” của Nguyễn Duy gồm 45 bài, chúng tôi thống kê được 19 từ thi ca, được sử dụng với 22 lượt dùng Những từ dường như chỉ thuộc về thế giới văn chương Trung đại bỗng đi vào thơ Nguyễn Duy ngay thời hiện đại, mà không hề thấy sáo rỗng, điệu đàng Kết quả cụ thể như sau:
Trang 378 Thương nh ớ thơ ngây oan trái
Tổng 22 lượt từ / 16 bài thơ sử dụng
Nguyễn Duy sử dụng từ thi ca đều có tác dụng ước lệ về cái đẹp, khiến tình ý trong thơ trở nên thi vị hơn, có hồn hơn; hoặc làm cho ý diễn đạt trở nên có tính văn chương hơn, tránh lối diễn đạt thô thiển, khô cứng Nhờ thế, câu thơ có được vẻ đẹp, tính trữ tình cao hơn Chẳng hạn, ở các đoạn thơ sau, khi đọc lên và phân tích theo từng không gian trữ tình của chúng, ta sẽ thấy rõ điều đó:
Từ “ban mai” sử dụng trong bài thơ “Bấ t chợ t” đã làm cho không gian trữ
tình trong thơ được thi vị hơn, lãng mạn hơn, tình tứ hơn Dùng từ “ban mai” rõ
ràng có hiệu quả thẩm mĩ cao hơn rất nhiều Trong các trường hợp trên, ta không
Trang 38thể thay thế bằng từ “buổi sáng” Nếu thay vậy thơ sẽ thành lời nói thường mà
không còn là thơ nữa Nó sẽ mất đi tính hình tượng, tính gợi cảm cần có của thơ
“Ban mai” gợi cho ta vẻ đẹp diễm lệ, tinh khiết, thanh sạch, có nắng hồng ấm áp
Đó là cả một bức tranh sinh động, tinh khôi, đẹp đẽ, tràn ngập ánh sáng, sắc hương của thiên nhiên Khung cảnh ấy dễ sinh tình, dễ bộc lộ tình cảm Nhờ vậy, giá trị gợi hình, gợi cảm và chất thơ ở đây sẽ được nâng lên
Từ “ban mai” ở bài “Áo tr ắng má hồng” được sử dụng ngoài giá trị ngữ nghĩa nói trên, thì sẽ còn mang lớp nghĩa phái sinh; nó chỉ thuở ban sơ cắp sách tới
trường Trong trường hợp này thì từ “ban mai” được sử dụng mang giá trị thẩm mĩ
tuyệt đối, đắc địa, không thể thay thế Diễn tả bằng từ này mới nói hết được những
gì về cái buổi đầu thời cắp sách trong kí ức nhà thơ thật đẹp, thật tinh khôi và lắm
mơ mộng; tựa như cảnh ban mai, nắng hồng lãng mạn
Còn từ “mây mưa” trong câu thơ trên không phải là hiện tượng tự nhiên mà
là: “thú vui xác thịt, niềm ân ái nam nữ” Ý này có trong thơ xưa như trong “Truyệ n Kiề u” của Nguyễn Du, “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều Nói về thú lạc thú ân ái nam nữ thì việc sử dụng từ ngữ này sẽ có tác dụng tránh đi sự thô thiển của cách nói trực diện mà vẫn gợi được ngầm ý muốn nói về sự hoan lạc tình ái, nhục dục Điều đó giúp ta khi đọc lên mà không phải sượng sùng, ngượng mặt tím tai
Như vậy, từ thi ca sẽ vẫn có giá trị không thể loại bỏ ngay cả trong thơ hiện đại ngày nay Và giá trị ấy trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy là một minh chứng
2.3 Đặc điểm thẩm mĩ của từ vựng trong thơ Nguyễn Duy xét theo cấu tạo 2.3.1 Từ láy
Khi phân tích ngôn ngữ thơ, chúng ta không thể bỏ qua được các hiện tượng
sử dụng từ láy trong thơ Bởi, từ láy có các giá trị tu từ, giá trị thẩm mĩ rất cao Đó
là sự khái quát hóa về nghĩa, sắc thái hóa về nghĩa, tính tượng thanh, tính tượng hình Việc sử dụng từ láy một cách khéo léo vào thơ là một thành công lớn, không chỉ mang lại nhạc điệu mà còn góp phần không nhỏ vào việc tăng cường sắc thái trữ tình Nắm được bản chất ấy, Nguyễn Duy đã rất tài tình, khéo léo “vận” vào thơ mình rất nhiều từ láy Khảo sát 45 bài thơ với 592 câu thơ, chúng tôi thống kê có tới
Trang 3941 bài sử dụng từ láy với 241 lượt dùng được trình bày cụ thể bằng bảng thống kê sau:
láy
Số lượt dùng
từ láy
Số lượng dòng thơ
Tỉ lệ lượt dùng / dòng thơ
Trang 4023 Mỗ i 9 9 24 0,62
Trong thơ Việt nam hiện đại, Tố Hữu được coi là cánh chim đầu đàn trong
sự ngâm nga thể lục bát truyền thống Dĩ nhiên, phép luyến láy cũng được ông vận dụng để tăng nhạc tính, gợi hình, gợi cảm, cho thơ thêm đậm đà ý vị Song, cái luyến láy ở đây lại bị hòa tan trong nhịp điệu truyền thống (ngắt nhịp chẵn) của thể loại lục bát Còn ở thơ Nguyễn Duy thì ngược lại, ông luyến láy âm vần, phá vỡ