Những câu lục bát bất thần của ông cũng khiến ta phải giật mình [7, tr.289] Trần Kiêm Đoàn tìm thấy sự hòa hợp trong thơ Bùi Giáng và mảnh đất Huế nên thơ ở Tưng tửng Quảng gặp tưng tửn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2hiện đại Người ta ca ngợi Sự mất ngủ của lửa- Nguyễn Quang Thiều, nói nhiều tới Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình- Trần Vàng Sao, hay
những vần thơ của Vi Thùy Linh,…Nhưng chính màu sắc tâm linh, hậu hiện
đại, chủ nghĩa siêu thực đó,… đã được Bùi Giáng- kẻ hát rong những chợ
đời viết từ những năm 60 của thế kỉ XX
Bùi Giáng gần như không nằm trong dòng chảy chung của văn học
Việt Nam, ông tạo riêng cho mình một kiểu phong cách ngôn ngữ Bùi
Giáng Bởi vậy mới đầu ông không được công nhận, hầu hết chỉ biết đến
trong văn học miền Nam Nhưng do tiến trình phát triển của thơ ca với những đổi mới, đến nay người ta không thể không nhắc tới Bùi Giáng
M.Gorki từng nói “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Bởi thế,
khi nhắc tới Bùi Giáng ta không thể không nói đến tài hoa điêu luyện trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của ông Ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng đã xóa
nhòa mọi ranh giới để tạo nên những kết hợp những thực tế mới: cổ tồn tại
với kim, mộng hòa lẫn với thực, nghiêm túc đi liền đùa bỡn, đài các sang trọng gắn liền với cách nói nôm na [4, tr.244] Không chỉ vậy, ngôn ngữ thơ
Bùi Giáng còn đầy ma lực, quyến rũ và kì diệu với những ẩn ngữ, mật ngữ
kì cục nhưng tinh tế
Trang 3Các sáng tác, dịch thuật, phê bình,… của Bùi Giáng, nếu xếp lại phải dày cả mét Chỉ riêng thơ thôi cũng phải kể đến mấy ngàn bài Nhưng nói thế vẫn chưa đúng Bùi Giáng chỉ có một bài thơ, bài thơ dài vô tận theo những năm tháng ngao du của cuộc đời Có thể nói, nhắc đến Bùi Giáng, ta
không thể không kể tới Mưa nguồn- một thi phẩm đầu tay nhưng đã đạt đến
đỉnh cao, hoàn toàn tỉnh táo và đi trước thời đại
Chính vì sự hấp dẫn bởi ma lực trong thơ Bùi Giáng đã khiến cho tôi
chọn “Đặc điểm ngôn ngữ trong Mưa nguồn của Bùi Giáng” làm đề tài
nghiên cứu cho mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Bùi Giáng nổi bật như một tài thơ phù thủy trong dòng văn học Việt Nam hiện đại Vì thế có rất nhiều người thích thú nghiên cứu, bình phẩm cuộc đời và thơ ông Riêng về ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng, có những ý
kiến tiêu biểu sau:
Cung Tích Biền trong Bùi Giáng, nhà thơ của ngày tháng ngao du cảm nhận: Bùi Giáng chơi ngôn ngữ thiên tài Ông xài chữ một cách hào
phóng, phung phí Ông tự thân thoát khỏi ý nghĩ ngôn tự, ngữ cảnh nhào lộn, đu bay, không gốc rễ, như cảnh ráp nối người giữa không trung cuộc nhảy dù biểu diễn(…)Bùi Giáng giàu ngôn ngữ như cát biển Mỗi chữ lại ẩn tầng nhiều mặt biểu hiện, đa dung mạo, đa nội lực(…)Ông dùng từ Hán Nôm đến mức tuyệt hảo, và đảo lộn, nói lái, trá hình, ngẫu hứng, ẩn dụ lại rất mực tài tình Đôi khi chữ dùng của ông tuồng như vô nghĩa nhưng là một mật ngữ, mật mã [7,tr.190]
Nguyễn Hoàng Văn với Bùi Giáng, một vùng đất hẹp và một thế giới
lớn nhận xét khái quát: Bùi Giáng đưa thơ vượt qua những chuẩn mực ngôn
ngữ
Trang 4Thanh Thảo trong một lần gặp Bùi Giáng đã chịu ảnh hưởng ngay
phong cách của ông và đặc biệt ấn tượng: Bùi Giáng chơi với thơ lục bát
như kiểu trẻ con chơi với những con giống hay những mẩu gỗ nhỏ- chơi trò xếp đặt Những câu lục bát bất thần của ông cũng khiến ta phải giật mình
[7, tr.289]
Trần Kiêm Đoàn tìm thấy sự hòa hợp trong thơ Bùi Giáng và mảnh
đất Huế nên thơ ở Tưng tửng Quảng gặp tưng tửng Huế và có những cảm nhận giản dị về ngôn ngữ của Bùi Giáng: Bùi Giáng là người làm xiếc trong
ngôn ngữ với một “bút- pháp- không- bút- pháp” Thơ ông đầy những từ đẹp như hoa gấm, những câu tuyệt bút, nhưng cũng không thiếu những đệm
“tầm ruồng”(chữ của chính Bùi Giáng), những câu khó hiểu, những ý mờ
mờ nhân ảnh, nên rất dễ làm hoa mắt những đầu óc quá thông thái mà thiếu cái Tâm thoáng đạt, hồn nhiên, chất phác; thậm chí quê mùa! [7, tr.307]
Bùi Công Thuấn với Ai người chia sẻ? tìm ra ý nghĩa trạng thái điên, giá trị thơ của Bùi Giáng qua việc sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ: Ngôn ngữ
thơ vừa gói kín vừa gợi ra trạng thái mơ hồ, nửa như đùa, nửa như thật, nửa hồn nhiên, nửa thương đau và cô độc của tâm hồn Bùi Giáng(…)Bùi Giáng
đã dùng kiểu diễn đạt “vô ngôn” của Thiền Với kiểu ngôn ngữ này, cà ng bám vào ngôn ngữ, người đọc càng bị mắc bẫy bởi chính tư duy của mình
[7, tr.321- tr.330]
Bùi Vĩnh Phúc trong I Bùi Giáng, bước chân đi tìm hồn nguyên tiêu
và một màu hoa trên ngàn và II Thử thẩm thức vài câu thơ của Bùi Giáng
thấy ngôn ngữ Bùi Giáng dù thế nào cũng hướng về cây cỏ, thiên nhiên Khế Iêm trong bài Một thử nghiệm đọc thơ Bùi Giáng đưa ra một nhận xét chung: Thơ Bùi Giáng là cuộc vận chuyển không ngừng của ngôn ngữ Và
khi chuyển động, nghĩa của chữ chưa kịp xuất hiện thì ngay tức khắc bị chữ
Trang 5khác thay thế Cứ như thế, thơ truy lùng thơ, ngôn ngữ truy lùng ngôn ngữ,
và bài thơ này trùng lấp vào bài thơ khác [7, tr.481]
Ngoài các nghiên cứu trên, còn có những cảm nhận của những người
yêu thơ Bùi Giáng như: Nguyễn Hưng Quốc trong Cuộc hòa giải vô tận:
trường hợp Bùi Giáng, Tạ Tỵ với Bùi Giáng- Người thi sĩ chối bỏ thi ca,
Thụy Khê với Hiện tượng Bùi Giáng, Văn Huyền Nguyên cùng Bùi Giáng-
Người lữ khách cuồng điên và khôn cùng kỉ niệm,
Tuy nhiên, theo tôi, các công trình nghiên cứu, nhận định trên mới chỉ
ra được một số đặc trưng trong thơ Bùi Giáng, còn về vấn đề khái quát đặc
điểm ngôn ngữ trong thơ ông nói chung và Mưa nguồn nói riêng chưa ai đề
cập tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm ngôn ngữ trong Mưa nguồn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập thơ Mưa nguồn của Bùi Giáng, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành
phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2005
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp cấu trúc hệ thống
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ học
- Phương pháp tổng hợp
5 Bố cục của khóa luận:
Khóa luận của tôi ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung gồm ba chương sau:
Chương I: Mưa nguồn trong cuộc đời và sự nghiệp văn học của Bùi Giáng
Trang 6Chương II: Ngôn ngữ biểu thị thế giới nghệ thuật trong Mưa nguồn
Chương III: Phong cách ngôn ngữ Bùi Giáng trong Mưa nguồn
VĂN HỌC CỦA BÙI GIÁNG
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Bùi Giáng
1.1.1 Bùi Giáng với những tháng ngày ngao du
Bùi Giáng hồi nhỏ tên là Bùi Khắc Gián, nhưng sau lớn lên đi học được thầy giáo đổi lại thành tên Bùi Giáng Ông có vài bút hiệu là: Vân Mồng, Bùi Bàng Giúi, Bùi Báng Giùi, Báng Giùi,Trung Niên Thi Sĩ, Đười Ươi Thi Sĩ Ông sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926, tại làng Thanh Châu, nay đổi thành Duy Châu, xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
Thân sinh của Bùi Giáng là cụ Bùi Thuyên, tục danh Cửu Tý, địa chủ giàu có, có chứng cuồng nhẹ, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam Dòng họ Bùi này cách đây gần trăm năm trước ở Hoan Châu, Nghệ
An Nhưng cụ tổ dòng họ Bùi đã theo chân đoàn quân Nam tiến của vua Lê Thánh Tông vào Quảng Nam (hiện nay) để khai khẩn lập làng Ông Bùi Thuyên có hai người vợ Người vợ đầu chẳng may qua đời sớm lúc sinh người con thứ ba Người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiến, cháu cụ Hoàng Diệu Bùi Giáng là con trai của bà Huỳnh Thị Kiến nhưng là con thứ năm, nếu tính tất cả các anh em, nên khi vào Sài Gòn người ta gọi ông là Sáu Giáng
Trang 7Bùi Giáng học tiểu học ở trường Bảo An, thuộc huyện Điện Quảng Nam Năm 1940, Bùi Giáng bắt đầu học trung học, trường Cẩm Bàng, Quy Nhơn Sau đó, từ năm 1941 đến năm 1945, ông ra Huế tiếp tục học trường Tư thục Thuận Hóa Thầy giáo của Bùi Giáng là Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trần Đình Đàn, Lê Trí Viễn,… Trong thời gian này, tình hình xã hội có nhiều rối ren: Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật đảo chính Pháp, và Cách mạng tháng Tám thành công Nhưng Bùi Giáng vẫn kịp lấy bằng Thành chung, sau khi thi hỏng năm trước, và ở lại lớp Tứ niên C
Bàn-Năm 1945, Bùi Giáng về quê, cưới vợ Vợ ông là bà Phạm Thị Ninh nổi tiếng xinh đẹp, sinh trưởng trong một gia đình công chức khá giả, ông bà Phán Trai và cũng là con gái của gia đình mà ông trọ học ở Hội An Cũng khoảng năm 1945, Bùi Giáng lên tận vùng rừng núi Trung Phước thuộc huyện Quế Sơn – tỉnh Quảng Nam, để chăn dê Bùi Giáng rất yêu thương những con dê, ông chỉ nuôi dê để cho vui chứ không bán, không làm thịt bao giờ Quãng đời chăn dê kéo dài được ba năm Khi trả lời phỏng vấn của báo
Thời Văn,1997, Bùi Giáng có tiết lộ: Phải thuận theo ý cha mẹ lấy cô vợ người thành phố Hội An, suốt đời không biết cày sâu cuốc bẫm là gì.[7,
tr.167-tr.168] Nhưng ông rất thương vợ Sáng nào cũng vắt một bát sữa dê đem chưng lên cho vợ uống
Năm 1948, bà Ninh bị bệnh, sinh non và cả hai mẹ con cùng chết Giai đoạn này, Bùi Giáng không thể ở bên cạnh vợ được vì đang theo học tại trường Nguyễn Huệ Bồng Sơn, tỉnh Bình Định Đây là cú sốc lớn đối với nhà thơ, và có lẽ đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến trạng thái tâm
lí không ổn định của nhà thơ sau này
Năm 1949, nhà thơ nhập ngũ làm bộ đội công binh nhưng giải ngũ chỉ hai năm sau đó Năm 1950, Bùi Giáng đậu tú tài hai văn chương trong kì thi
tú tài đặc biệt do liên khu V tổ chức Đi bộ theo đường mòn trên núi hơn một
Trang 8tháng rưỡi trời, Bùi Giáng từ Quảng Nam qua liên khu IV, tới Hà Tĩnh có
thể để học tiếp ban tú tài văn chương [7, tr.167] Nhưng khi ra đến nơi, ngay
trong ngày khai giảng, Bùi Giáng quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam
Ông Bùi Công Luận cho biết, Bùi Giáng từng tâm sự ông không có ý định đi học mà chỉ ra Hà Tĩnh cốt để thăm quê hương Nguyễn Du Theo ông Bùi Văn Vịnh, Bùi Giáng bỏ học trở về vì thấy thất vọng về ông hiệu trưởng
Tháng 5 năm 1952 ra Huế thi lấy bằng tú tài Vì bằng tú tài trước đây
do liên khu V thuộc chính phủ kháng chiến cấp nên Bùi Giáng phải lấy bằng
tú tài tương đương để vào Sài Gòn – khu vực đang thuộc vùng tạm chiến, ghi danh theo Đại học Văn khoa Nhưng một lần nữa ông lại bỏ học khi đọc
danh sách các giáo sư giảng dạy ở đại học vì thấy không tâm phục khẩu
phục Theo Thụy Khê, đây là lần cuối cùng Bùi Giáng bận tâm tới chuyện
học hành Sau sự cố này Bùi Giáng không bao giờ đi học nữa
Sau khi kết thúc chuyện học hành, từ năm 1952 đến năm 1960, Bùi
Giáng về vùng quốc gia- Sài Gòn, chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết
sách và sáng tác thơ Ngoài ra, Bùi Giáng còn đi dạy Pháp văn và Việt văn ở một số trường trung học tư thục: Tân Thịnh, Vương Gia Cần,… Năm 1969, tất cả sách vở cùng với căn gác nhà thơ ở bị cháy hết trong một cơn hỏa hoạn Bùi Giáng sốc nặng, từ đầu tháng 5 năm 1969 trở đi ông là bệnh nhân quen của viện dưỡng trí Biên Hòa
Ra khỏi dưỡng trí viện, Bùi Giáng sống lang thang nay đây mai đó
Từ đầu năm 1973, ông dọn về khu nội xá của Đại học Vạn Hạnh, đường Trương Minh Giảng, có phòng riêng ở lầu 3 Thời gian này, Bùi Giáng thỉnh thoảng dự những buổi đàm luận chính trị với nhóm trí thức chủ hòa hồi đó: Nguyễn Đăng Thục, Tuệ Sỹ, Ngô Trọng Anh,…Nhưng vẫn ăn ngủ đó đây và
Trang 9biểu diễn nhiều trò lạ mắt trong y phục thùng thình trên hè phố Sài Gòn [7,
Từ năm 1985, nhà thơ về ở với gia đình người cháu gái Vợ chồng người cháu giúp ông định cư và định tâm, an dưỡng và sáng tác Từ năm
1992, tâm trí nhà thơ có phần ổn định, ông làm nhiều thơ trong năm 1993 Năm 1996, Bùi Giáng về thăm lại Quảng Nam Giữa tháng 9 năm 1998 trở
đi, sức khỏe Bùi Giáng đột ngột suy giảm nhanh chóng Trong đêm 23 tháng
9 năm 1998, ông thức khuya, có uống lại chút rượu để gây hưng phấn, trong lúc đang làm việc thì bị ngã quỵ tại nhà riêng (số 489/29 Lê Quang Định, Bình Thạnh) Thân nhân đưa ông vào bệnh viện Chợ Rẫy và ông bị phát hiện đứt mạch máu não, tụ huyết hôn mê sâu Sau khi giải phẫu, tuy đã có những dấu hiệu khả quan, nhưng đến ngày 7 tháng 10 ông đột nhiên suy yếu nhanh chóng, và đến 14 giờ thì ra đi trong trạng thái thanh thản nhẹ nhàng Tang lễ được tổ chức trọng thể tại chùa Vĩnh Nghiêm, có khoảng 600 người tham gia, phần đông là thanh niên, sinh viên và giới văn học Ngày 11 tháng
10 năm 1998, nhà thơ được an táng tại nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Đức
1.1.2 Sự nghiệp văn học
Bùi Giáng đã ra đi nhưng những nét bút của ông vẫn còn mãi với đời
Có thể nói sức viết của Bùi Giáng là vô tiền khoáng hậu Tác phẩm của Bùi
Giáng có thể chia ra làm các loại chính: thơ, nhận định, giảng luận, triết học, tạp văn, dịch thuật
Trang 10Năm 1962, Bùi Giáng xuất bản tập thơ đầu tay và giá trị nhất, Mưa
nguồn Kế tiếp ngay đó là những tập thơ: Lá hoa cồn (1963), Màu hoa trên ngàn (1963), Ngàn thu rớt hột (1963), Bài ca quần đảo (1963), Sa mạc trường ca (1963), Sa mạc phát tiết (1972), Mùi Hương Xuân Sắc (1987), Thơ Bùi Giáng (Montréal, 1994), Thơ Bùi Giáng (California, 1994), Rong rêu (1995), Đêm ngắm trăng (1997), Mười hai con mắt (2001), Thơ vô tận vui (2005), Mùa màng tháng tư (2007)
Năm 1957, một loạt nhận định của Bùi Giáng về văn học được Tân
Việt xuất bản: Nhận xét về Bà Huyện Thanh Quan, Nhận xét về Lục Vân
Tiên, Nhận xét về Chinh Phụ Ngâm và Quan Âm Thị Kính, Nhận xét về Truyện Kiều và truyện Phan Trần
Mảng Giảng luận văn học được xuất bản chủ yếu trong giai đoạn 1957
đến 1959: Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Giảng luận về Chu
Mạnh Trinh, Giảng luận về Tôn Thọ Tường, Giảng luận về Phan Văn Trị
Năm 1962, xuất bản Tư Tưởng Hiện Đại,có thể xem đây là sáng tác
đầu tay quan trọng của Bùi Giáng về mảng triết học Tác phẩm biên khảo về
tư tưởng phương Tây, chủ yếu là Chủ nghĩa Hiện sinh đang thời thượng
Tiếp theo là một loạt sách của nhà thơ về triết học ra đời: Martin Heidgger
và tư tưởng hiện đại I và II (1963), Sao gọi là không có triết học Heidgger?
(1963), Dialoque (viết chung, 1965)
Về Tạp văn, năm 1969 có xuất bản: Đi vào cõi thơ, Thi ca tư tưởng,
Sa mạc phát tiết, Sương bình nguyên, Trăng châu thổ, Mùa xuân trong thi
ca, Thúy Vân Năm 1970 xuất bản: Biển Đông xe cát, Mùa thu trong thi ca
Năm 1971 xuất bản: Ngày tháng ngao du, Đường đi trong rừng, Lời cố
quận, Lễ hội tháng Ba, Con đường ngã ba-Bước đi của tư tưởng…
Bùi Giáng thông thạo các ngôn ngữ: Pháp, Anh, Hán văn và sau 6 tháng tự học đã thông thạo cả tiếng Đức vì thế trong những năm 1966 đến
Trang 111969, Bùi Giáng dịch rất nhiều tác phẩm văn học nước ngoài Về sách dịch,
năm 1966, có: Trăng Tỳ hải, Cõi người ta, Khung cửa hẹp, Hoa ngõ hạnh,
Othello Năm 1967, có: Bạo chúa Caligula, Ngộ nhận, Kim kiếm điêu linh
Năm 1968, có: Con đường phản kháng, Mùa hè sa mạc, Kẻ vô luân Năm
1969, có: Nhà sư vướng luỵ, Ophélia Hamlet, Hòa âm điền dã Năm 1973 và
1974, có: Hoàng tử Bé (1973), Mùa xuân hương sắc (1974)
Vì Bùi Giáng khi viết cứ chạy lan man từ cái nọ sang cái kia nên việc phân chia thành các thể loại như trên là không thật chính xác Có những cuốn sách rất khó xác định thể loại Ông viết rất ngẫu hứng, thích gì viết đó, thậm chí sa đà ngoài những chuyện văn chương Có một điều đáng chú ý là cách viết của Bùi Giáng trong mấy cuốn sách “kì cục” này lại rất hài hước nên cả ngàn tác phẩm của Bùi Giáng, người đọc chưa bao giờ chán
1.1.3 Phong cách nghệ thuật của Bùi Giáng
Không thể dùng một chữ kì dị để đánh giá phong cách nghệ thuật của
Bùi Giáng trong suốt bốn mươi năm sáng tác Như quá trình trưởng thành của con người, văn học nói chung và sáng tác của Bùi Giáng nói riêng cũng phải trải qua nhiều giai đoạn
Trước những năm 60, Bùi Giáng chủ yếu viết những bài phân tích tác
phẩm văn học, bắt đầu với cụm từ Một vài nhận xét về… Văn chương Bùi
Giáng trong những cuốn sách đầu tiên thật giản dị và trong trẻo Người đọc
như có cảm nhận đó là giọng văn của một ông thầy giáo, nghiêm túc và mạch lạc, ai đọc cũng thấy dễ hiểu: Kiều đã sống một cuộc sống giống
chúng ta Nàng đã đau khổ Như mọi chúng ta thôi Nhiều hơn một số, và ít hơn một số Nàng tỏ ra có thiện chí ít nhiều, và nhiều lần tội lỗi Đời nàng tầm thường là hình ảnh kiếp người tầm thường Nhưng khi kể lại đời nàng cho ta nghe, Nguyễn Du đã có một giọng điệu nhặt, khoan, trầm, bổng thế nào, và đã làm sáng ngời bài học luân lý Chúng ta cảm động Khi lắng
Trang 12nghe Nguyễn Du chậm rãi giọng lời, chúng ta thấy bên kia câu chuyện tầm thường, giữa cuộc sống tối tăm, một kiếp người đương vùng vẫy…[17, tr.45-
tr.46]
Ngòi bút của Bùi Giáng lúc này không chỉ trong trẻo mà còn thật sắc
sảo, tinh tế Sau Một vài nhận xét về…, là những cuốn sách cũng có giá trị tương tự, bắt đầu bằng tựa đề Giảng luận về…Nhưng Bùi Giáng không yên
vị với vai trò của ông thầy giáo hay một nhà phê bình văn học, nhà thơ có
hứng thú lạ kì với triết học Và những cuốn sách giới thiệu về tư tưởng, triết
học ra đời Ngoài cuốn Tư tưởng hiện đại (1960) với giọng văn còn tỉnh táo,
còn lại những cuốn sách khác, người đọc rất khó hiểu được Một mê hồn
trận lạ lùng, dài cả mấy chục trang sách, như trong chương Martin
Heidegger và vấn đề hữa thể:Người yêu ta xấu với người/ Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau/ Nỗi niềm tưởng tới mà đau/Hàng rào giun dế gặm sâu cẳng gà/ Con ơi, học lấy nghề cha/ Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm Tại sao một đêm ăn trộm bằng ba năm làm? Bằng ba năm hay bằng hai? Bằng hai hay bằng bốn? Một đêm bằng bốn năm kia ư? Nhiều quá?-Mấy thì vừa?- Hai năm? Ít quá?- Vừa bằng là ấy ấy ấy chính là àà BAAA…[17,
tr.48]
Với sách dịch, Bùi Giáng cũng không từ bỏ giọng văn cà rỡn Đọc sách dịch của Bùi Giáng, lúc đầu độc giả thấy giọng văn vừa khúc chiết, vừa văn hoa và khiến người ta thích thú đọc những trang sau Sau đó, Bùi Giáng
lên đồng, lúc thì ngâm thơ, lúc thì hát, có khi đưa nàng Kim Cương- người
phụ nữ của mình vào Thế là cuốn sách của tác giả đã biến mất trong cái bất
thường của dịch giả tài hoa này Cuốn Nhà sư vướng lụy là một ví dụ tiêu biểu: Tại Bách Việt, về phía Nam bờ biển, có dãy Kim Nhân Sơn nguy nga
dựng sững Những lúc trời quang mây tạnh, ta có thể nhận thấy phía bên dưới sườn núi xanh um ẩn ẩn hiện hiện một mái ngói hồng lóng lánh, lập lòe
Trang 13như lớp vẩy cá kình ngư Đó là ngôi chùa Hải Vân, vẫn còn nguyên như thưở xưa, cái ngày nhà Tống sụp đổ (…) Ôi em Kim Cương ngàn thu một thưở Nương Tử rất mực vô ngần Nam Diện cành Nam màu lan sơn thủy(…)
Anh đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi …[17, tr.52- tr.53]
Đối với những thể loại khác, Bùi Giáng cũng giữ nguyên cái kiểu vui
thôi mà như vậy Với nhà thơ, những điều nghiêm túc nhất cũng biến được
thành chuyện cười và ông luôn tìm cách hài hước
Người ta chú ý đến Bùi Giáng nhiều nhất là thơ vì vấn đề của thơ không phải là hiểu mà cảm Với thơ, Bùi Giáng đem lại cho đời sự vô hạn vượt qua ngoài cái hữu hạn của cuộc đời, của con người, của vũ trụ Thơ Bùi Giáng có một giọng điệu tâm tình đặc biệt, mỗi bài thơ như tự bộc bạch hoặc nói với ai đó Trong thơ ông, sự vật, trời đất, con người hay bất kì một thực thể nào đều tồn tại không có ranh giới, tất cả đều là một và mọi kết hợp đều
có thể:
Tiếng nói xa vang trên đầu ngọn lúa
Ví ngôn ngữ ngày kia em để úa Bỗng lên lời bên mép cỏ như sương Cũng xanh như dòng lệ khóc phai hường
(Biểu tượng sơ nguyên)
Đỗ Lai Thúy nhận xét: Bùi Giáng đã đưa ngôn ngữ quay về thưở hồng
hoang (…), biến ngôn ngữ ký hiệu trở lại thành ngôn ngữ sự vật [7, tr.417]
Lại nói đến ngôn ngữ trong sáng tác của Đười Ươi Thi Sĩ, ai không cảm được thì bảo ông điên, ai hiểu được thì khen tài hoa Chỉ riêng cách nói ngược trong việc sử dụng bút danh: Bùi Bàng Giúi, Bùi Bán Dùi,… đã cho thấy, ở Bùi Giáng, ngôn ngữ không chỉ tồn tại hữu hình như từ xưa đến nay
Tề Thiên ngôn ngữ này rong chơi trong trời chữ nghĩa, biến nghệ thuật chơi
Trang 14chữ của dân tộc thành trò chơi ngôn ngữ của riêng mình Bởi vậy mới thấy sức sáng tác siêu biệt của nhà thơ, lúc nào nhà xuất bản cần, ông đều có thể sáng tác ngay tại chỗ, cả chục, cả trăm bài Bùi Giáng không quan tâm đến kết quả cuối cùng là từng bài thơ, cái mà nhà thơ đi tìm là sự tổng thể trong việc hòa hợp vạn vật, chứ không phải là sự cân đối logic nữa Đó có thể là kết quả từ sự kế thừa tư tưởng triết học Heidegger và triết học phương Tây
Nhà thơ cách tân hàng đầu Việt Nam Thanh Tâm Tuyền có một nhận
xét rất đúng về thơ Bùi Giáng: Nói đến mấy ngàn bài thơ Bùi Giáng là đúng
Mà nói thơ Bùi Giáng chỉ có một bài, vô tận, vô cùng, là đúng hơn [7,
tr.530]
Đọc sáng tác của Bùi Giáng, người ta luôn nghi ngờ: ông có điên hay không? Nhưng tự hỏi, một người điên có bao giờ tự ý thức được việc điên của mình hay không? Bùi Giáng hoàn toàn ý thức là mình điên và càng dấn thân vào cái nghiệp điên này để tạo nên phong cách nghệ thuật của mình
Chỉ một từ điên thôi để nói về phong cách nghệ thuật của Bùi Giáng Mà như Mai Thảo từng nói: Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có thêm được
ít người điên như Bùi Giáng , thơ ca ta văn học ta còn được lạ lùng, được kì
ảo biết bao nhiêu [7, tr.242] Có thể thấy, nhìn từ nghệ thuật đương đại, ta
thấy quan niệm sáng tác và tác phẩm của Bùi Giáng đã vượt qua hiện đại để bước vào hậu hiện đại
1.2 Mưa nguồn trong sự nghiệp thơ của Bùi Giáng
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời và những cảm hứng nghệ thuật trong
Mưa nguồn
Mưa nguồn được xuất bản năm 1962 nhưng nhiều bài thơ được sáng
tác trước đó khá lâu Khoảng năm 1946, Bùi Giáng chăn dê ở miền trung du Trung Phước Có lẽ vì ấn tượng mạnh qua nhiều lần chứng kiến những trận
Trang 15mưa giông lớn ào ạt đổ xuống rất nhanh như vậy mà nhà thơ bắt đầu ý tưởng đặt tên cho tập thơ đầu tay của mình
Lại thêm, Bùi Giáng là người yêu tha thiết những câu ca dao, những làn điệu dân ca, những bài học trong kho tàng ca dao tục ngữ dân tộc nên
những thành ngữ dân gian như chớp bể mưa nguồn gây ấn tượng sâu sắc với nhà thơ là điều khó tránh khỏi Trong Thề Non Nước, Tản Đà có câu: Nước
đi ra bể lại mưa về nguồn Mưa nguồn là mưa móc, ân sủng dội xuống nơi cội nguồn cuộc sống, ào tuôn giáng xuống một lần rồi thôi, nhưng cũng có thể trở lại trong lẽ tuần hoàn [7, tr.399] Chữ nguồn trong Mưa nguồn cũng
có thể xuất phát từ hình ảnh cuộc sống của những người dân tộc thiểu số ở
miền trung du Trung Bộ, mà nhà thơ thường xuyên tiếp xúc Họ thuộc nhiều
chủng tộc, chủ yếu là người Gié Triêng và CaTu, mà cuộc đời hoang dã đã tạo ra và lưu lại nhiều ấn tượng sâu xa trong tâm thức Bùi Giáng Cuộc trao đổi hàng hóa giữa hai miền xuôi ngược- ngày nay gọi là Kinh Thượng - đã
để lại câu ca dao:
Ai về nhắn với nậu Nguồn Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên [7, tr.400]
Đỗ Lai Thúy đưa ra ý kiến: “Mưa nguồn” là mưa ở phía Tây, vùng
rừng núi, nơi xuất phát của những dòng chảy, và của tất cả những gì trôi chảy Nước đầu nguồn thì trong sạch, trinh nguyên, nhưng càng về trung du
và đồng bằng nhất là qua những đô thị, thì càng ngầu đục Con người, cũng như nước, càng xa nguồn thì lại càng khát khao về nguồn, để một lần nữa được hưởng sự thanh thỏa với ý thức trọn vẹn “Mưa nguồn” trong thơ Bùi Giáng bởi thế là một biểu tượng gốc, là trung tâm của một trường nghĩa Chữ “Nguồn” trong “Mưa Nguồn” phái sinh một hệ biểu tượng chỉ những cái nguyên thủy, ban đầu, gốc rễ, những cái tiết trinh và nguyên lành, là bản chất của thế giới tự nhiên khi chưa bị những quan niệm của truyền thống
Trang 16cưỡng bức, vấy bẩn Không phải ngẫu nhiên mà trước ngày lễ, ngày hội thường có những cơn mưa rửa đền, rửa chùa Sự vật sau khi sinh ra đều phải lăn lóc chốn hồng trần, nên không thể không lấm bụi đời [7, tr.421-
422]
Mưa, nhất là Mưa nguồn là một hành vi, một hiện tượng làm sạch
mang tính vũ trụ, thiêng liêng Vì thế, cảm hứng nghệ thuật bao trùm tập thơ
Mưa nguồn là sự trở về với nguồn cội, với nguyên thủy, với uyên nguyên và
trong sạch nhất
1.2.2 Vị trí của Mưa nguồn trong sự nghiệp thơ Bùi Giáng
Mưa nguồn tuy là tập thơ đầu tay của Bùi Giáng nhưng ngay từ khi
xuất hiện trên thi đàn văn học Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu nghệ thuật, thể hiện độ chín tài năng của nhà thơ Những tưởng Bùi Giáng
tiếp tục sáng tác thơ theo hướng mà Mưa nguồn đã đi nhưng tập thơ đầu tay
xuất sắc này là cái mốc chuyển hướng nghệ thuật của nhà thơ Từ đây, người
ta nhận thấy các thi phẩm in về sau, càng xa Mưa nguồn bao nhiêu thì càng khác Mưa nguồn bấy nhiêu
Ở Mưa nguồn, nghệ thuật chơi chữ được sử dụng như một cơ sở vững
chắc để xây dựng những qui tắc cho trò chơi ngôn ngữ trong những tác phẩm sau này Với thi phẩm đầu tay, Bùi Giáng chú trọng đến thể tính của thi ca, cố gắng đưa ngôn ngữ trở về bản tính nguyên sơ, chân thực của nó Mọi nỗ lực đó tạo nền tảng cho sự vượt thoát ngôn ngữ, vượt qua sự đi tìm
thể tính thi ca ở những gì vĩnh cửu Sau Mưa nguồn, Bùi Giáng không còn
cư ngụ ở ngôn ngữ, không sống với thơ nữa mà tồn tại với sự siêu tuyệt, cái
tổng thể và đi đến cái nhìn, những ứng xử trong trò chơi ngôn ngữ Mưa
nguồn gần như tồn tại với nghĩa là một tập thơ thực thụ, còn ở những tác
phẩm sau, thơ Bùi Giáng còn hàm chứa nhiều thể loại, có những bài thơ thậm chí vô nghĩa
Trang 17Thiết nghĩ, nếu những sáng tạo của Bùi Giáng kể từ sau tập Mưa
nguồn không mang lại kết quả gì, đều vô nghĩa thì nhà thơ vẫn còn có cái để
tự hào với đời Có lẽ, vì độ chín tài năng đạt được ngay từ tập thơ đầu tay nên Bùi Giáng yên tâm tạo ra những sáng tạo nghệ thuật tiếp theo Nếu chỉ
riêng Mưa nguồn thì Bùi Giáng chưa chắc đã bị coi là điên, và cũng chưa chắc đã được ở tầm cao như hiện nay Nếu không có Mưa nguồn thì những
thi phẩm sau này của nhà thơ có thể không được nhìn nhận một cách đúng
đắn Có thể nói Mưa nguồn không chỉ là hậu phương vững chắc cho nhà thơ
trên mặt trận nghệ thuật mà còn là nền tảng để tạo nên sự nghiệp sáng tác đồ
sộ của Bùi Giáng, là ánh đuốc đầu tiên thắp lên phong cách nghệ thuật cho tài hoa dị thường của nhà thơ
Tiểu kết:
Sự thăng trầm trong cuộc đời Bùi Giáng là con đường học hành gian truân, là cuộc sống gia đình không trọn vẹn, là những tháng ngày ngao du phiêu bạt trên đường đời,… Đó có thể là sự bất hạnh đối với bất kì ai trong chúng ta, nhưng lại là sự bắt đầu, khơi nguồn cảm hứng sáng tác bất tận
trong tâm hồn Bùi Giáng Người ta thường nói Tái ông mất ngựa nhưng Bùi
Giáng không may mắn đến thế Nhà thơ không phải là người nghị lực đến quên mọi nỗi đau để sống, chỉ đơn giản, ông cần một nơi để chia sẻ tâm sự,
và rồi ông viết Bắt đầu là niềm đam mê với văn chương từ những bài viết bình luận, đến vận dụng sự hiểu biết rộng lớn, thông minh hơn người trong các sách dịch, nhưng tất cả, chỉ đúng nghĩa và phù hợp nhất khi Bùi Giáng tồn tại trong thơ Thơ Bùi Giáng đóng cánh cửa này và mở ra một khung trời khác rộng hơn với phong cách nghệ thuật kì dị, vừa gần gũi, vừa xa lạ, vừa
tâm tình, vừa khó hiểu Mưa nguồn là khởi đầu cho một chuỗi dài những bài thơ như vậy Ở Mưa nguồn, có thể nói Bùi Giáng vinh quang đến tột đỉnh
mà vẫn tồn tại để tiếp tục cống hiến, một thi phẩm chiếm vị trí không nhỏ
Trang 18trong sự nghiệp sáng tác của Bùi Giáng và giúp người đọc hiểu hơn về nhà thơ tài hoa này
Mưa nguồn gồm không gian tự nhiên, không gian địa lý, không gian tâm
tưởng,…Từ ngữ chỉ không gian chiếm một số lượng khá lớn: 1048 lần
Trong đó chủ yếu là không gian vũ trụ: trời (141 lần), đất (29 lần) và đặc biệt không gian rừng (53 lần), phố thị (28 lần) cứ trở đi trở lại Ngoài ra, còn
có không gian: sông, đường, cầu ,bến, biển,…
So với không gian trời, thì tần số xuất hiện của không gian đất ít hơn
rất nhiều lần Điều đó cho thấy, thơ Bùi Giáng luôn theo chiều hướng lên cao nhưng không làm mất đi sự hài hòa trong tồn tại của vũ trụ Bởi dù có
hướng lên trời nhưng các tổ hợp từ như chân trời, cuối trời lại kéo bề ngang
vũ trụ rộng hơn Không gian trời có khi ở hiện tại, khi ở quá khứ và cả hai thời điểm xuất hiện đều có sự kết nối logic Không gian trời của hiện tại như chết đi vì sự hụt hẫng, thiếu vắng, không gì bù đắp nổi: bầu trời kia còn đó
nhưng màu xanh như mộng ảo đâu mất đâu rồi vẫn còn kia mà không hề giống nhau như một nữa (Kim Trọng tại sao).Vẫn một bầu trời đó nhưng
nhân vật trữ tình không còn cảm giác nguyên vẹn như xưa Nhân vật trữ tình như bị lạc lối trước chính khung cảnh quen thuộc, như mất đi tất cả niềm tin
và hi vọng, và cuộc sống đã mất hết ý nghĩa từ đây: Tại sao?Thôi chết (Kim
Trang 19Trọng tại sao) Không gian hiện tại khiến nhà thơ liên tưởng tới không gian
quá khứ, bầu trời của ngày xưa:
Chiều bên lá lung lay vàng cửa khép Bóng trời xa trùm phủ tiếng em cười
…
Trời thuở đó ngần nào em khổ sở Khóc khi nhìn gió thổi nước sương buông
(Dòng sông)
Không gian trời không chỉ là không gian tồn tại của vật thể mà là một
hình tượng biểu trưng cùng song hành với đất như hai sinh thể của tình yêu
Sắc của trời và hương của đất như giao hòa nhưng còn lưa thưa nhạt hòa
Bùi Giáng cảm nhận trời bao la nhưng vẫn có cái gì đó nhỏ bé đơn côi Một
nỗi lòng khát khao, mộng ước như có vẻ chỉ là mộng ảo mà thôi:
(…)Tròng con mắt đã mỏi mòn có phải Sắc của trời hương của đất lưa thưa (…)Của réo rắt riêng một lần mãi mãi Gió phương trời ủ mộng giữa hoa tâm
(Chiều)
Không gian rừng xuất hiện với tần suất không nhỏ, bởi nhà thơ đã có
khoảng thời gian hạnh phúc, vui vẻ tuy không dài ở rừng núi với đàn dê Khoảng thời gian ngắn ngủi đó để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong Bùi
Giáng Có lẽ vì vậy mà không gian rừng xuất hiện đầy trìu mến, nhớ thương Vào rừng, nhà thơ tìm lại niềm vui, như trở về chính quê hương mình, rất
thân thuộc:
Hôm nay tôi kiếm củi trong rừng Lạc mất đường về chợt bỗng dưng Sực nhớ răng đây rừng rú thẳm
Trang 20Là quê thân thiết biết bao chừng
Nói tới rừng người ta liên tưởng ngay tới sự nguy hiểm, sợ hãi rừng
thiêng nước độc nhưng qua thơ Bùi Giáng, ta có một cảm nhận, một khám
phá mới lạ hơn Rừng cũng gắn với nhiều kỷ niệm trong cuộc đời nhà thơ,
không chỉ là nơi nhà thơ cảm thấy vui vẻ nhất, thoải mái nhất và hòa cả hồn mình để trở về với sự nguyên sơ, ngây thơ và trong sáng như một đứa trẻ;
mà còn là nơi nhà thơ trút bầu tâm sự, chia sẻ cảm xúc của mình: Thu qua
em khóc bốn mùa sương ướt tóc buồn bàn chân định bước về phía núi xa xanh sớm tím chiều hoang gió dại thu rừng thu rừng em ngó mắt nghe tai nắm cầm năm ngón nhỏ nghe bốn phía lạnh trong trái tim (Xuân xanh)
Ngược lại với tâm trạng ở rừng, mỗi lần nhắc đến phố thị, Bùi Giáng lại bật lên những tiếng tiếc nuối, những nỗi buồn của kẻ lỡ bị hương đồng
gió nội bay đi ít nhiều Đó là nỗi buồn về sự xô bồ ganh đua nơi phố thị, là
sự vội vã sống, không được bình yên nơi tâm hồn, là những trăn trở suy tư
về cuộc đời:
Chiều hôm đếm lá cây rơi Bên đèn phố thị thương đồi núi xa
(Chiều hôm phố thị)
Buồn phố thị cũng xa bay như gió
Cộ xe nhiều cũng nhảy bỗng như hươu
(Những nhành mai) Không gian gắn liền với địa danh cũng thường được nhắc tới nhưng tần số xuất hiện ở các bài thơ không đồng đều Có những bài thuộc giai đoạn trước, từ chỉ địa danh không xuất hiện nhiều vì lúc này, Bùi Giáng chưa đi nhiều nơi Có lẽ kể từ khi rời vùng núi Trung Phước vào Sài Gòn lập nghiệp, nhà thơ được đi nhiều nơi nên từ chỉ không gian địa danh xuất hiện liên tục,
dày đặc, như bài Trời Nam Việt có tới 19 địa danh khác nhau: Tiền Giang,
Trang 21Sa Đéc, Hốc Môn, Vũng Tàu,…Quãng thời gian này, gần như mỗi khi đến
một địa danh nào, nhà thơ cũng để lại một bài thơ Có điều kì lạ, địa danh
Lục Tỉnh (12 lần) thường được nhắc đến nhiều nhất, niềm vui có, nỗi buồn
những cảm nhận chung về nơi đây Địa danh này không chỉ đứng một mình
mà còn xuất hiện với vai trò là định ngữ tạo thành các tổ hợp từ: sầu Lục
Tỉnh, thu Lục Tỉnh, xuân Lục Tỉnh Nếu sầu Lục Tỉnh gắn với nỗi buồn, sự
mệt mỏi, rã dời kéo dài: Sầu Lục Tỉnh sẽ ngày kia dòng dã (Trời Nam Việt) thì thu Lục Tỉnh là sự bao la, tạo cảm giác muốn trở về, hướng về những kỉ niệm đẹp trong Chào thu Lục Tỉnh:
Trời kỷ niệm đi về trong đáy mắt Thổi dư vang từ dĩ vãng xa vời hoặc:
Nằm xuống cỏ nghe tràn lan nước gội Chảy vòng quanh thu Lục Tỉnh bao la
Như đã nói, tiêu đề Mưa nguồn hàm chứa một hệ biểu tượng chỉ
những cái nguyên thủy, ban đầu Vì thế, chiều kích không gian cũng có vai
Trang 22trò thể hiện biểu tượng này với sự xuất hiện của các từ như: nguyên tuyền,
nguyên khê, cổ độ, đất Thượng, rừng ngàn,…
- Nghe trời đổ lộn nguyên khê
- Nước xuôi dòng là cổ độ nhìn theo…
Khi người ta đi xa, có lẽ bất kì ai cũng nhớ về ngôi nhà của mình nhất
nhưng Bùi Giáng lại khác: không gian nhà chỉ xuất hiện 2 lần với cảm giác day dứt, trách mình bạc bẽo, vô tình, bất hiếu vì nhà là nơi nhà thơ sinh ra,
là nơi sinh sống của cha mẹ ông:
Bỏ đô thị bỏ bình nguyên đất ruộng
Bỏ gian nhà cha mẹ nhớ thương con
(Thưa)
Trong khi đó, không gian vườn xuất hiện tới 23 lần mang theo nhiều
tâm trạng của nhà thơ, khi thì thoải mái trong cái thoáng đãng do cây lá
trong vườn mang lại, là nơi tác giả có thể vui mừng mà chỉ cho em khoảnh khắc khu vườn trở nên đẹp lạ kì Dường như không gian vườn còn là không
gian tình cảm, một thời yêu của Bùi Giáng:
Nhìn em nhé bên bờ kia gió thổi
Lá xanh vườn theo cỏ mượt ngân nga
(Bờ nước cũ) Nhưng cũng có khi Bùi Giáng buồn bã nhớ nhung một khoảng vườn nhỏ không ai nhớ tới, và rồi tự trách mình bỏ quên nó Nếu bỏ quên mảnh
vườn, nhà thơ như bỏ quên kỷ niệm ấu thơ, kỷ niệm tình yêu thuở trai
trẻ,…và bỏ quên chính mình Vì thế, khu vườn thực sự có một vị trí quan
trọng trong tiềm thức Bùi Giáng, đến mức ông phải rơi lệ xót xa:
Vườn cỏ lạnh hoa buồn không nói xiết Bước chân dừng nghe rã lệ hai nơi
(Giòng sông)
Trang 23Bỏ nhà cửa, ruộng vườn, nơi chôn nhau cắt rốn của mình lên miền
thượng du ở, và vì thế không gian suối xuất hiện 13 lần trong những ngày
ngao du, thả hồn mình nơi suối đồi, những tháng ngày rong ruổi cùng bày
dê Hình ảnh dòng nước chảy, tiếng suối róc rách cho nhà thơ cảm giác thích thú:
Em đi về như mây núi đầu xuân Gió bay qua nước suối chảy vô cùng
(Ly tao ba)
Suối là một bộ phận của cơ thể hôm nay, là hàm răng, là vẻ đẹp của
nàng thiếu nữ thời gian Suối cũng tồn tại như một thực thể sống:
Hàm răng xanh của suối chảy đêm ngày Hàm răng xanh của sỏi cồn cát bến
(Nhan sắc hôm nay) Bùi Giáng không thích ổn định hay đứng lại một chỗ mà luôn di chuyển Trong cuộc đời mình, nhà thơ đi nhiều nơi và phần lớn thời gian
rong ruổi trên đường nên không gian đường xuất hiện 47 lần, khi chen lấn đông đúc với xe cộ, khi thì bị lạc đường Và khi nào ông cũng như kẻ lang thang, đi trên đường vừa đi vừa tìm mục đích cuộc sống, tìm cái gì đó cho
mình nhưng đi mãi mà vẫn chưa tìm lại được bản thân:
Đường xe nô nức một giờ
Bỏ quên phố thị trên bờ Tiền Giang
(Miền Nam)
Nắm tay nhau em ạ bước về đâu em chỉ dẫn nếu bước lạc đường từ bữa đó hôm nay (Bữa hôm nay)
Không gian mà Bùi Giáng xây dựng trong Mưa nguồn không mang
tính đơn thuần hay thuần nhất ở một nơi mà trải dài theo nhiều hướng: cao
và thấp, xa và gần, quá khứ, hiện tại và tương lai,… Chính sự mở trong
Trang 24không gian đó làm cho tập thơ nói chung và từng bài thơ nói riêng không bị giới hạn trong trang sách mà đã vượt qua mọi ranh giới, tồn tại tự do như không khí, mây trời,… và như chính tâm hồn phóng khoáng của Đười Ươi
Thi Sĩ
2.1.2 Từ ngữ chỉ thời gian
Trong Mưa nguồn, từ ngữ chỉ thời gian xuất hiện 722 lần, gồm thời gian quá khứ (122 lần) với các từ xưa, thuở, bữa nọ,…, thời gian hiện tại (50 lần) chủ yếu là từ giờ (35 lần) hoặc đi kèm các từ khác tạo thành cụm từ bây
giờ, giờ đây; hôm nay,… , thời gian tương lai (41 lần) với các từ mai sau, hôm sau, thế kỷ sau,…
Thời gian quá khứ chính là thời gian hồi tưởng của nhà thơ Ông chỉ nhớ được mang máng là thời điểm ngày xưa, ngày trước, chứ không thể nhớ được cụ thể từng khoảnh khắc.Vì là thời gian quá khứ nên đi kèm với nó không phải là bức tranh toàn cảnh mà là vài nét về con người, cảnh vật thật
ấn tượng trong trí nhớ nhà thơ:
Người kỹ nữ ngày xưa trên bến nước
Sẽ đi về trong bóng nguyệt quanh năm
vẻ không bằng lòng với hiện tại, lại day dứt, ân hận về quá khứ và thao thức,
vô vọng về tương lai:
Trang 25Một thuở trao tình mùa diễm tuyệt Ngàn thu thâu hận nguyệt nguyên tiêu (…) Thao thức vong hồn về kể lể Đường sau này sẽ… nghĩ mà kinh
(Nhìn cổ lục) Tần số xuất hiện của thời gian cụ thể dù không nhiều như thời gian tương đối nhưng cho thấy Bùi Giáng không thờ ơ với dòng chảy bất tận của thời gian Những khoảnh khắc đáng nhớ, nhà thơ vẫn ghi tạc trong lòng:
Hôm mùng ba mùng bốn theo nhau đẩy lùi mồng một mồng hai của hôm nay
mà đặc biệt là thời gian tháng ba, nhà thơ rất ấn tượng với cánh đồng cỏ
thơm ngát, trải dài, nơi mà tháng ngày ông nằm đọc sách, nằm ngủ khi đàn
dê vui đùa với nhau, khi ngắm đàn bò gặm cỏ Mùi thơm ngai ngái và màu
xanh mượt mà của từng ngọn cỏ tháng ba theo Bùi Giáng trên khắp hành
trình lãng du, trong giấc ngủ và vào thơ ông rất tự nhiên:
Em về rắc cỏ tháng ba Xuống trang hồng hạnh thu già in rêu
(Phượng)
Nội đồng mọc cỏ tháng ba Rừng cô tịch trút nước pha phôi nguồn
(Bây giờ) Nhà thơ thấy thời gian càng trôi đi, cuộc sống của mình càng không được như mong muốn, vì thế ông không muốn hướng tới tương lai để hi vọng những gì viển vông, khó thành sự thật Ngày xưa của nhà thơ gắn bó với nhiều kỉ niệm đẹp nhưng cũng bởi vậy ông ân hận vì mọi thứ đã qua mất rồi Bùi Giáng quan niệm, quá khứ là những cái đã qua và chắc chắn đã từng tồn tại, hiện tại thì sống tới đâu biết tới đó, còn tương lai chắc gì đã như
Trang 26mình nghĩ Mỗi phút giây Bùi Giáng đều chân trọng và sống hết mình, không vẽ ra những viễn cảnh viển vông để ảo tưởng mình
Đất trời có bốn mùa tuyệt diệu Xuân, hạ , thu, đông là đề tài muôn thuở từ cổ chí kim Nó xuất hiện nhiều trong thơ nên mấy ai có được một
mùa cho riêng mình Được như Đây mùa thu tới: với áo mơ phai dệt lá vàng
cũng đã khó rồi Chỉ có một câu thơ mà Xuân Diệu cụ thể hóa mùa thu, còn sắc thu toàn diện được nhận biết nhờ vào tác động của thu tới vạn vật Bùi
Giáng lại khác Xuân trong thơ ông rất cụ thể ở nhiều chiều kích
Trong Mưa nguồn, ngoài những mùa thu (57 lần), đông (6 lần), hạ (4
lần) xuất hiện với tần suất không cao và không mang nhiều ấn tượng sâu sắc
thì Bùi Giáng có hàng loạt bài thơ về xuân: Chào nguyên xuân, Màu xuân,
Và màu xuân đó, Để thấy được xuân cụ thể tới từng chi tiết thì rất khó Xuân (67 lần) xuất hiện trong hầu hết Mưa nguồn nhưng ta chỉ bắt gặp xuân
đường nét, xuân hữu hình rất ít ỏi Ít ỏi thôi cũng đủ để ta thấy xuân Bùi Giáng khác xuân đất trời thường tình Khi xuân đến, cây cối đơm hoa nảy lộc Cả đất trời ngợp một màu xanh Và xuân xanh là lẽ đương nhiên Đó là
xuân thực của đất trời Nhưng ngoài cái màu xanh thực tại ấy, trong chiêm bao, Bùi Giáng còn mơ màng thấy màu xuân trắng Xuân xanh và xuân trắng đều là sắc xuân Bùi Giáng có những bài thơ như Màu xuân, Và màu xuân đó Trong hai bài thơ này, người đọc sẽ tưởng được thưởng thức một
bức tranh xuân nhiều màu Nhưng Bùi Giáng lại làm ta bất ngờ khi không hề
nhắc tới màu xuân Bùi Giáng dẫn người đọc nhập hồn vào thơ để nghe, để cảm nhận thấy màu xuân qua từng câu từng cảnh Và rốt cuộc, màu xuân là
màu của cuộc sống bình dị, chứ không phải là cái gì quá xa xôi bắt ta phải
tìm kiếm Với Màu trời đó, mùa xuân thật đẹp, thật dịu dàng và trong sáng:
Vòng tay đẹp như cành xuân thơ dại
Trang 27Với hình ảnh cành xuân thơ dại cho thấy Bùi Giáng đã hiện đại hơn bất kỳ ai Nếu Bùi Giáng nói cành xuân thơ dại đẹp như vòng tay thì thành
ra cái đẹp quá thừa thãi Bùi Giáng cụ thể hóa thiên nhiên bằng cách đem cái
hữu hình đồng nhất với cái vô hình Xuân trong thơ Bùi Giáng là xuân không mùa, xuân duy nhất và tuyệt đối mà ông gọi xuân đầu, nguyên xuân:
Thưa rằng ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giũa hương màu nguyên xuân Xuân trong thơ Bùi Giáng có vẻ đẹp thuần khiết nhưng không yếu
đuối Xuân trong Chào thu Lục Tỉnh là xuân ngồn ngộn sức sống Không thấy xuân, xuân vô hình nhưng Bùi Giáng vẫn thấy Xuân nghẽn lối Xuân không phải bao giờ cũng đẹp như người ta nghĩ Xuân trong thơ Bùi Giáng rợn ngợp tới mức làm nhà thơ ngột thở Đâu đâu cũng là xuân, một mùa
xuân của đất trời nhưng lại là xuân bốn phía tạo thành Bờ xuân vây hãm nhà
thơ, tấn công hạnh phúc Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa sau mùa xuân
bốn bên trong hiện tại vây hãm tấn công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc nhích Bùi Giáng xây cho mình một bờ xuân để rồi
không thoát ra được nên trong Mưa nguồn, xuân đôi khi xuất hiện không
mang một ý nghĩa đặc biệt nào mà nó xuất hiện chỉ vì không thể thiếu được
Xuân ám ảnh lấy Bùi Giáng Xuân không chỉ đơn thuần là một mùa
trong năm, là thời gian của đất trời Nó không còn mang cảm giác tươi trẻ,
tưng bừng rộn rã như mọi mùa xuân trong thơ ca nói chung Bùi Giáng khổ
vì xuân hoang sơ man dại của vũ trụ bao la này Bùi Giáng chỉ là một con người nhỏ bé so với sự vô cùng của đất trời nhưng lại ôm trọn nỗi buồn xuân
vô tận nên tâm hồn nhà thơ cũng không cùng từ đó Bởi mùa xuân cũng là
mốc quan trọng trong tình cảm của nhà thơ, là thời điểm không thể nào quên:
Ngày chạm mặt dưới mùa xuân man dại
Trang 28Dịp trùng lai em hẹn với tan lìa
(Màu trời đó)
Xuân tới là khi chim về, hoa nở, là khi người người, nhà nhà sum vầy
hạnh phúc Với Bùi Giáng, xuân trong tình yêu là xuân hẹn ước cũng là xuân chia lìa: Mùa xuân hẹn thu về em trở lại Bùi Giáng cứ chờ xuân về như thế,
vì xuân là thời điểm em hẹn khi ra đi Xuân vẫn là xuân thơ dại như em ngày xưa Tất cả còn nguyên đó nhưng em vẫn chưa về Xuân trong Mưa nguồn trải ra với cả quãng đời nhà thơ Xuân khi rõ ràng với màu sắc đường nét cụ
thể, khi gắn với thời điểm quan trọng của tình yêu và khi mơ màng khó định
Với cái nhìn đa diện, xuân trong Mưa nguồn rợn ngợp đầy ấn tượng
Thời gian trong Mưa nguồn suy cho cùng cũng để thể hiện ý tưởng
nghệ thuật là quay về với bản chất của thế giới tự nhiên Để làm được điều
đó, riêng từ ngữ chỉ thời gian thôi cũng bao gồm nhiều ngọn nguồn khác
nhau: thời gian vũ trụ : nguyên xuân, thời gian trong một năm: ngày, giờ,
phút, mùa, thời gian trong vòng đời một người : tuổi trẻ, tuổi thơ,
2.2 Từ ngữ chỉ thế giới cây con
2.2.1 Thế giới cây cỏ
Đọc Mưa nguồn, ta như bước vào một thế giới vừa quen thuộc vừa mới lạ Trong cái nhìn hiện tượng học, cũng cây cỏ ấy, cũng bờ lúa ấy, cũng những bông hoa ấy nhưng dường như chúng xanh hơn, thắm tươi hơn
[7,tr.422] Từ ngữ chỉ cây cỏ xuất hiện 376 lần, không phải tập trung vào những hoa và cây cao quý đài các như cúc, mai, hồng,… mà bình dị với hàng cỏ, đồng lúa, lách lau,…
Từ cỏ xuất hiện 76 lần, có thể đứng riêng rẽ hoặc là những cụm từ lá
cỏ, hàng cỏ, bờ cỏ, đồng cỏ,…Từ xưa, người ta thường quan niệm cỏ nội hoa hèn, những thứ như cây cỏ bị người đời dẫm đạp lên, coi khinh Nhưng
Bùi Giáng lại rất mực yêu quí Cỏ với Bùi Giáng không phải là một vật thể
Trang 29vô tri vô giác Nhà thơ quan niệm mỗi sự vật đều có cuộc sống, có tình cảm,
thơm ngào ngạt của đất mẹ ươm hương trong thân lúa Từ lúa tuy chỉ xuất hiện 7 lần tạo thành các cụm từ bờ lúa, đồng lúa, ngọn lúa,… nhưng để lại
cảm xúc của kẻ muốn quay về quê hương, khao khát cảm giác thả hồn trên đồng lúa để biết rằng mình chưa quên gốc gác cha ông:
Viết thơ lạc dấu sai dòng Viết trong tức tưởi sợ đồng lúa mong Nước xanh lên đọt đòng đòng
Ngày mai sẽ mất hạt lòng thơ ngây
(Ca dao)
Tuy nhiên, thế giới cây cỏ trong Mưa nguồn không giản đơn như vậy
mà còn khá sinh động và đa dạng với các loại cây, hoa khác Ngoài những cây cỏ gắn bó ngày ngày với người chăn dê, lang thang khắp đồi núi Trung
Phước như sim, rêu, lau lách,…thì thơ Bùi Giáng còn yểu điệu với những nhành liễu, cao sang với một chút mai, cúc, sen,…và tràn ngập tình yêu với những cánh hồng Thế giới cây cỏ trong Mưa nguồn căng tràn sức sống như
một thiên nhiên sau mưa và làm cho mặt trời ló rạng với thứ ánh sáng khác
Trang 302.2.2 Thế giới con vật
Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi Trần gian ôi!cánh bướm cánh chuồn chuồn Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn
(Phụng Hiến) Chỉ trong bốn câu thơ mà đã có tới năm con vật với một tình yêu say đắm, nồng cháy của nhà thơ Như vậy thôi, đã đủ hiểu thế giới con vật trong
thơ Bùi Giáng nói chung và Mưa nguồn nói riêng được nâng niu đến thế nào Từ ngữ chỉ thế giới con vật tuy chỉ xuất hiện 135 lần trong Mưa Nguồn
nhưng mỗi lần lại mang một dáng vẻ khác nhau và giữ nguyên được tình
cảm như cái thuở ban đầu lưu luyến ấy của nhà thơ
Loài chim xuất hiện 36 lần với các loại như chim én, cò, oanh
yến,…giải thích tính cách của nhà thơ, một người không bao giờ chịu ngồi
yên một chỗ, mà phải bay nhảy khắp nơi, kẻ lãng du giữa cuộc đời Hóa thân
vào những cánh chim nhỏ trên bầu trời tự do, nhà thơ thỏa sức sáng tác, thỏa
sức làm những gì mình muốn và được là chính mình hơn bao giờ hết:
Con én liệng mùa xưa xuân nghẽn lối Tâm tình em bối rối lệ lên hồng
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh
(Hư vô và vĩnh viễn)
Trang 31Bùi Giáng có lúc hiện lên với hình dáng của một nhà sư đầy lương
thiện khi yêu biết mấy những loài vật bé bỏng, dễ bị tổn thương như sâu bọ (2 lần), kiến (6 lần), côn trùng (1 lần) Có lúc nhà thơ lại thả hồn lãng mạn theo cánh bướm (4 lần) hay trở về tuổi thơ với những ngày đuổi bướm, bắt
chuồn chuồn (9 lần)
Những hòn sỏi lăn đi rất chậm Chuồn chuồn bay không biết tới nơi nào
(Trò chuyện)
Theo ông Phạm Văn Hòa- em vợ Bùi Giáng: Ông anh rể tôi kì lạ lắm
Hồi đó ổng mua một đàn dê khoảng 100 con và rủ tôi đi chăn cùng(…)Có những buổi ổng lang thang lên tận các quả đồi hái hoa, lá kết vòng thơ thẩn đeo vào cổ cho dê…(…)ông rất yêu những con dê Mỗi con ông đặt cho một cái tên rất kỳ lạ [7, tr.168]
Điều đặc biệt trong Mưa nguồn là Bùi Giáng đã gọi những thứ vô tri
là em Với Nỗi lòng Tô Vũ, những em dê xuất hiện liên tục:
Này em Đen chiếc vàng tươi lắm Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh Này đây em Hoa Cà hỡi! chiếc nâu
Bùi Giáng không coi chúng là những con vật Trong thơ ông, những
em dê như những con người có tâm hồn, tình cảm, có kí ức Em nhớ hay không? hồn hoa dại cỏ Bùi Giáng trong Nỗi lòng Tô Vũ không còn là kẻ
chăn dê bình thường Thi sĩ trong khung cảnh đồi núi, sống với đàn dê như sống với chính những người ruột thịt Bùi Giáng nhớ như in từng khoảnh
khắc với những em dê Vì ông yêu thương chúng như thể một người tình Gọi con thú cưng của mình là em cũng là chuyện bình thường nhưng em dê