Một số nhận xét về tính tương thích giữa lời thuyết minh và hình ảnh trong các tập phim của bộ phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng ..... Trong Vấn đề phim tài liệu, Nguyễn Hậu đã nê
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
NGUYỄN UYÊN PHƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THUYẾT MINH PHIM TÀI LIỆU CỦA ĐOÀN HUY GIAO
TRONG TẬP TÂY NGUYÊN – MIỀN MƠ TƯỞNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Đà Nẵng, tháng 05/2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THUYẾT MINH PHIM TÀI LIỆU CỦA ĐOÀN HUY GIAO
TRONG TẬP TÂY NGUYÊN – MIỀN MƠ TƯỞNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Nội dung nêu trong luận văn là trung thực và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong báo cáo là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của báo cáo
Tác giả luận văn
Nguyễn Uyên Phương
Trang 4Công trình này đã hoàn thành trong sự nỗ lực của bản thân tôi và sự giúp
đỡ của những người mà tôi hằng kính trọng Xin được cảm ơn TS Bùi Trọng Ngoãn – người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua và đạo diễn Đoàn Huy Giao – người đã hỗ trợ tôi về nguồn tư liệu liên quan đến đề tài, cảm ơn thầy cô, gia đình và bạn bè đã động viên tinh thần để tôi hoàn thành tốt công việc này
Dù đã rất cố gắng nhưng không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được
sự góp ý từ quý thầy cô và bạn bè
Xin chân thành cảm ơn !
Đà nẵng, tháng 05/2014
Nguyễn Uyên Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục khóa luận 5
NỘI DUNG……… ….6
Chương Một - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 6
1.1 Tổng quan về lời thuyết minh trong phim tài liệu truyền hình 6
1.1.1 Khái niệm phim tài liệu truyền hình 6
1.1.2 Đặc điểm của phim tài liệu truyền hình 10
1.1.3 Ngôn ngữ thuyết minh của phim tài liệu 12
1.2 Đoàn Huy Giao và những thước phim tài liệu 14
1.2.1 Đôi nét giới thiệu về Đoàn Huy Giao 14
1.2.2 Phim tài liệu của Đoàn Huy Giao 16
1.2.3 Phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 17
Chương Hai - KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THUYẾT MINH TRONG BỘ PHIM TÀI LIỆU TÂY NGUYÊN – MIỀN MƠ TƯỞNG 19
2.1 Đặc điểm của hệ thống từ vựng của ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 19
2.1.1 Tổng quan về các lớp từ vựng của ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 19
2.1.2 Một số lớp từ vựng giàu sắc thái tu từ của ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 22
Trang 6Miền mơ tưởng 27
2.2.1 Tổng quan về các kiểu câu được sử dụng trong lời thuyết minh của
phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 27
2.2.2 Các kiểu câu giàu sắc thái tu từ được sử dụng trong lời thuyết minh của
phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 31 2.3 Đặc điểm diễn đạt của lời thuyết minh trong phim tài liệu Tây Nguyên –
Miền mơ tưởng 33
2.3.1 Các biện pháp tu từ được sử dụng trong lời thuyết minh của phim tài
liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 33
2.3.2 Các cách nói hàm ngôn được sử dụng trong lời thuyết minh của phim
tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 38 2.3.3 Các cách nói vòng - uyển ngữ được sử dụng trong lời thuyết minh của phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 41
Chương Ba: BƯỚC ĐẦU NHẬN XÉT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LỜI THUYẾT MINH VÀ HÌNH ẢNH TRONG PHIM TÀI LIỆU 45
3.1 Vai trò của các yếu tố ngôn ngữ đối với hệ thống vấn đề trong phim tài
liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 45
3.2 Vai trò của các yếu tố ngôn ngữ đối với phong cách nghệ thuật Đoàn Huy
Giao qua Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 48
3.3 Một số nhận xét về tính tương thích giữa lời thuyết minh và hình ảnh
trong các tập phim của bộ phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng 51
KẾT LUẬN 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phim tài liệu là một bộ phận không thể thiếu được của chương trình truyền hình Trước đây, phim tài liệu gần như là một mảng riêng và như là dấu gạch nối giữa điện ảnh và truyền hình Nhưng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của truyền hình trong mấy chục năm nay, thì phim tài liệu lại là hoạt động không thể thiếu được của các đài truyền hình, nhất là các đài lớn Do đó, phim tài liệu cũng đã trở thành một đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành báo chí Cấu thành nên phim tài liệu là hai bộ phận lớn: hình ảnh và lời thuyết minh Vì thế, đặc điểm của lời thuyết minh trong phim tài liệu xứng đáng được coi là một đối tượng cần được nghiên cứu sâu
Trong đời sống văn hóa xã hội mấy chục năm nay, thời lượng dành cho phim tài liệu của các đài truyền hình và thái độ của khán giả của thể loại này càng ngày càng tăng Thế nhưng những công trình nghiên cứu sâu về thể loại này chưa có Hầu như những người công tác chuyên môn ở các khoa Báo chí
và các đài truyền hình chỉ tập trung vào quá trình sản xuất phim mà chưa miêu tả chi tiết về:
- Yêu cầu đối với hình ảnh của phim tài liệu truyền hình
- Yêu cầu đối với ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu truyền hình
- Mối quan hệ giữa lời thuyết minh và hình ảnh trong phim tài liệu
- Thời lượng, đề tài, hiệu quả của lời thuyết minh, hiệu quả của hình ảnh trong phim tài liệu truyền hình
Trong hàng loạt những vấn đề gần như còn để trống đó, chúng tôi hướng đến vấn đề ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu truyền hình
Là một sinh viên chuyên ngành văn học, thì hai phương diện tri thức và
kĩ năng đối với người học bao giờ cũng là yêu cầu bắt buộc Vì vậy, chúng tôi
chọn đề tài Đặc điểm ngôn ngữ thuyết minh phim tài liệu của Đoàn Huy Giao
Trang 8trong tập Tây Nguyên – Miền mơ tưởng làm luận văn tốt nghiệp Đây là đề tài
có tính liên ngành Vì thế, giải quyết được đề tài cũng là một cách để giúp chúng tôi củng cố kiến thức ngôn ngữ học, văn học, vừa giúp chúng tôi có thể tiếp cận được sự hiểu biết về một chuyên ngành liên cận
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cho đến nay, khi nói đến phim tài liệu, nhiều khán giả sẽ liên tưởng đến những thước phim khô khan và kém hấp dẫn với người xem, ví như phim phóng sự về chiến tranh, kí sự hành trình Trước thái độ hờ hững của khán giả như vậy nên các vấn đề nghiên cứu về lời thuyết minh trong phim tài liệu hầu như rất ít
Đầu tiên phải kể đến tác giả Trần Doanh Trung với giáo trình Kịch bản
phim tài liệu Trong đó, ông nhận định về phim tài liệu Việt Nam như sau:
“Phim tài liệu tạo điều kiện tốt chưa từng thấy giúp con người giải phóng tầm mắt, đi khắp mọi ngóc ngách trên các châu lục, xuống đáy đại đương hay vào
vũ trụ, chiêm ngưỡng đến cả thế giới vi mô, đóng góp lớn trong nâng cao dân trí vì sự tiến bộ xã hội” [8, tr.22]
Tác giả Nguyễn Hậu trong bài viết Vấn đề phim tài liệu lại khẳng định
tính chân thật của phim tài liệu là yếu tố quan trọng: “phim tài liệu quan trọng
ở chỗ nào? Câu trả lời là ở bản chất, đặc trưng của nhóm thể loại này, nhóm thể loại mà từ những năm hai mươi của thế kỉ trước, các bậc thầy của điện ảnh
Xô viết đã gọi là điện ảnh mắt hay điện ảnh sự thật Nghĩa là chỉ có sự thật và
sự thật mà thôi Không hư cấu, không dàn dựng, không có sự xuất hiện của diễn viên Hiện thực cuộc sống phải được phản ánh một cách khách quan, trung thực nhất như nó vốn có, không được bóp méo, đảo lộn hay tô vẽ gì thêm Phải vậy chăng, mà cho đến tận bây giờ, vẫn có người còn tranh cãi xem phim tài liệu có phải là tác phẩm nghệ thuật không, hay là báo chí, hoặc
nó là sự giao thoa giữa nghệ thuật (điện ảnh) và báo chí (truyền hình) Nhưng
Trang 9dù vẫn còn những quan niệm khác nhau, người ta vẫn không thể phủ nhận, rằng phim tài liệu, cũng giống như các thể loại tác phẩm báo chí truyền hình đều có chung một gốc, đó là tất cả đều phải xuất phát từ những hình ảnh có thật đã và đang tồn tại trong cuộc sống” [5]
Đặc biệt, lời bình trong phim tài liệu cũng đã được các tác giả quan tâm
Trần Doanh Trung trong giáo trình Kịch bản phim tài liệu đã đánh giá lời bình
là yếu tố quan trọng thứ hai trong phim tài liệu chỉ đứng sau yếu tố hình ảnh
và có khi còn vượt lên trên hình ảnh: “Lời bình là nhân tố quan trọng thứ hai trong phim tài liệu, chỉ đứng sau hình ảnh và có lúc còn vượt lên trên hình ảnh Tuy nhiên, trong kịch bản, thì lời bình mới chỉ mang tính dự kiến, làm rõ những ý mà hình ảnh không nói được hết Thường được hòa tan nhưng lại vô cùng cần thiết, nhất là trong việc đưa ra các chi tiết, số liệu xác thực cần phải có” [8, tr.37]
Trong Vấn đề phim tài liệu, Nguyễn Hậu đã nêu rõ chức năng của lời
bình đối với phim tài liệu: “Lời bình được dùng để giới thiệu nhân vật, bối cảnh, không gian, thời gian; đưa ra các số liệu, dữ kiện; thể hiện thái độ của tác giả, trình bày những ý ngầm; dẫn dắt câu chuyện phát triển; tạo ra các xung đột và mâu thuẫn; xâu chuỗi các sự việc, sự kiện; nhấn mạnh ý nghĩa của vấn đề; thay cho đối thoại, v.v… Nhưng dù thế nào chăng nữa, thì lời bình vẫn phải tuân theo nguyên tắc không lặp lại hình ảnh, mà phải bù đắp, bổ sung những gì mà hình ảnh không thể hiện hết được Và mặc dù chỉ được viết
ra sau khi phim đã được dựng xong, nhưng thật oái oăm, lời bình phải được
dự kiến ngay từ trong kịch bản! Và nó, cái “lời bình dự kiến” ấy, thường được hòa tan, trộn lẫn trong những câu chữ, ngôn từ của kịch bản phim Điều này cũng có nghĩa là, nếu kịch bản viết đúng chuẩn, thì người viết lời bình sẽ có thể nhặt ra từ đó những hạt vàng cho công việc của mình [5]
Trang 10Cũng đề cập đến vai trò của lời bình trong Viết lời bình phim tài liệu
truyền hình – Nghĩ, viết và… thử nghĩ, Bùi Quang Huy nhấn mạnh ba vai trò:
“Lời bình góp phần thể hiện ý đồ tư tưởng – nghệ thuật của đạo diễn (…) Lời bình giúp hình ảnh, ngôn ngữ đặc trưng nhất của tác phẩm, được bộc lộ hết giá trị của nó (…) Lời bình bổ sung cho hình ảnh, âm thanh trong nhiều trường hợp không đầy đủ, hoặc không có được(…)” [6]
Nhìn chung, đến nay những công trình nghiên cứu về lời bình trong phim tài liệu hầu hết đều chưa đi sâu vào tìm hiểu một cách toàn diện hệ thống của lời bình trong một bộ phim tài liệu cụ thể Dựa vào việc tiếp thu những người đi trước, kế thừa những thành tựu nghiên cứu phê bình, luận văn
cố gắng đi sâu nghiên cứu toàn diện về đặc điểm ngôn ngữ thuyết minh trong
phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng Đặc biệt là những bình diện mà
trước đây chưa được làm sáng tỏ hoặc chưa chú ý đầy đủ như: đặc điểm của
hệ thống từ vựng, đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm diễn đạt, vai trò của lời bình đối với hệ thống vấn đề, vai trò lời bình đối với phong cách nghệ thuật Đoàn Huy Giao, nhận xét về tính tương thích giữa lời bình và hình ảnh
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngôn ngữ của lời thuyết
minh trong phim tài liệu truyền hình Tây Nguyên – Miền mơ tưởng của Đoàn
Huy Giao
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là văn bản thuyết minh của bộ phim tài
liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng
4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận văn là một công trình nghiên cứu có hệ thống chỉ ra những nét đặc
sắc riêng của ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu Tây Nguyên – Miền
Trang 11mơ tưởng, góp phần khẳng định vai trò của lời thuyết minh trong phim tài
liệu
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích
6 BỐ CỤC KHÓA LUẬN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được cấu trúc thành ba chương:
Chương I: Một số vấn đề lí luận
Chương II: Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ thuyết minh trong bộ phim tài
liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng
Chương III: Bước đầu nhận xét về mối quan hệ giữa lời thuyết minh và hình ảnh trong phim tài liệu
Trang 12NỘI DUNG Chương Một MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan về lời thuyết minh trong phim tài liệu truyền hình
1.1.1 Khái niệm phim tài liệu truyền hình
Mỗi ngày, trên các kênh truyền hình, phim tài liệu với đủ đề tài khác nhau vẫn đều đặn phát sóng xen kẽ với các tác phẩm báo chí truyền hình khác Nhưng đối với số đông công chúng điện ảnh và truyền hình thì phim tài liệu vẫn còn khá xa lạ Phải chăng là do nhà làm phim chưa kích thích được thị hiếu của người xem Cũng trong tình hình chung đó, cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ nhất về phim tài liệu Xét về mặt thuật ngữ, phim tài liệu là một khái niệm trong điện ảnh nhằm để chỉ một thể loại phim khai thác mọi khía cạnh trong đời sống ở góc độ chân thực và tự nhiên nhất Bên cạnh đó vẫn còn có những quan niệm riêng về thể loại này
Tác giả Trần Doanh Trung trong Kịch bản phim tài liệu, đã phân chia phim tài
liệu truyền hình thành hai khuynh hướng chính:
“Khuynh hướng thứ nhất, đề cao tính chân thực của phim tài liệu
truyền hình, coi tính chân thực là đặc tính chi phối toàn bộ tác phẩm phim tài liệu truyền hình Hầu như báo chí phương Tây chủ yếu theo khuynh hướng này
Khuynh hướng thứ hai, đề cao tính nghệ thuật của phim tài liệu truyền
hình lẫn tính báo chí của nó Phim tài liệu là một thể loại của điện ảnh, không những thế mà còn là thể loại đầu tiên xuất hiện khi điện ảnh ra đời Nó mang trong mình những đặc điểm nghệ thuật của điện ảnh Khi được sử dụng trên truyền hình, phim tài liệu truyền hình làm nhiệm vụ của một thể loại báo chí được biến đổi để phù hợp với đặc trưng của loại hình truyền thông đại chúng Phim tài liệu truyền hình chuyển tải những sự kiện, hiện tượng nóng bỏng của
Trang 13cuộc sống thông qua những thủ pháp nghệ thuật Vì vậy, phim tài liệu truyền
hình thể hiện rõ nét tính chính luận và tính thời sự của báo chí” [8, tr 16-17] Cũng trong Kịch bản phim tài liệu, Trần Doanh Trung đã trích dẫn khái niệm phim tài liệu trong Từ điển bách khoa toàn thư Encarta của Mỹ: “Phim
tài liệu truyền hình là những tác phẩm truyền hình có cấu trúc chặt chẽ nhằm mục đích khám phá sự kiện, hiện tượng, con người trong đời sống hiện thực một cách chi tiết” [8, tr.17] Qua đó Trần Doanh Trung khẳng định mối quan
hệ chặt chẽ giữa phim tài liệu với mọi mặt của đời sống xã hội, từ lịch sử văn hóa, chính trị cho tới thế giới tự nhiên Bên cạnh đó, phim tài liệu truyền hình còn tạo điều kiện tốt cho việc nâng cao dân trí của con người
Trần Doanh Trung còn dẫn định nghĩa của hai tác giả David Bordwell và
Kristin Thompson trong cuốn sách mang tên Nghệ thuật điện ảnh: một giới
thiệt đại cương: “Phim tài liệu là một tác phẩm chứa đựng trong nội dung của
nó những thông tin chân thực về thế giới bên ngoài” [8, tr.17] Qua đó Trần
Doanh Trung cho rằng định nghĩa của hai tác giả trên đã nhấn mạnh vào tính
chân thực của phim tài liệu truyền hình như Từ điển bách khoa toàn thư
Encarta: “Phim tài liệu dùng sự chân thực để thuyết phục người xem thừa
nhận sự tồn tại của những sự vật đó Phim tài liệu có thể đưa ra một cách nhìn, một chính kiến và cách giải quyết vấn đề của người làm phim Tuy nhiên, phim tài liệu của Bordwell và Thompson không tránh khỏi bị rơi vào tự nhiên chủ nghĩa Nhà làm phim tài liệu đưa ra hệ thống luận chứng, luận cứ để chứng minh cho luận điểm mà họ nêu lên trong tác phẩm của mình Và chính hệ thống luận chứng đó sẽ thuyết phục người xem về tính chân thực của tác phẩm tài liệu truyền hình” [8, tr 18]
Ngoài ra, Trần Doanh Trung còn trích dẫn khái niệm phim tài liệu của
tác giả Andrew Britton trong công trình Nghiên cứu điện ảnh đại cương như sau: “Trước hết, một bộ phim tài liệu có giá trị phải phản ánh được những góc
Trang 14cạnh khác nhau của sự thực, một sự thực không đơn giản như chúng ta nhìn thấy mà là một sự thực được đặt trong bối cảnh lịch sử, xã hội đã tạo ra
chúng”[ 8, tr 18 - 19] Dựa trên khái niệm này, Trần Doanh Trung khẳng định
tác giả Britton đã thoát khỏi được tính tự nhiên chủ nghĩa mà nhiều nhà làm phim tài liệu phương Tây mắc phải Sự thực trong phim tài liệu phải được đặt trong bối cảnh đã sinh ra nó, nằm trong mối quan hệ biện chứng với những sự kiện, hiện tượng khác Nói như vậy, tức là bản thân sự kiện chỉ là nguyên liệu cho một bộ phim tài liệu chứ sự kiện không bao hàm trong nó một phim tài liệu Bằng những thủ pháp làm phim đạo diễn tìm kiếm, lựa chọn những chi tiết đắt giá nhất, phục vụ tốt nhất tư tưởng chủ đề của mình để xây dựng tác phẩm phim tài liệu
Cũng trong Kịch bản phim tài liệu, Trần Doanh Trung đã dựa vào quan
điểm của các tác giả và các nhà làm phim, để chia phim tài liệu thành các dạng sau:
-Phim thời sự tài liệu
-Phim tài liệu địa chí
-Phim tài liệu giáo khoa
-Phim tài liệu phân tích
Tất cả những quan niệm trên của các tác giả về phim tài liệu đều thuộc khuynh hướng thứ nhất, nghĩa là phim tại liệu trước hết phải coi tính chân thực là đặc tính quan trọng hàng đầu, chi phối những đặc tính khác của thể loại này Nói như vậy không có nghĩa là tính chân thực hoàn toàn là điểm chủ chốt, là đặc tính quan trọng nhất nhưng phim tài liệu không đơn thuần phản ánh sự kiện như nó diễn ra một cách tự nhiên Tổng hợp từ nhiều quan điểm khác nhau đó, Trần Doanh Trung nhấn mạnh: “Phim tài liệu thông qua những
sự kiện, hiện tượng, con người có thực để nói lên tư tưởng chủ đề Đó cũng là nguyên liệu cho nhà làm phim xây dựng hình tượng trong tác phẩm của mình
Trang 15Việc xây dựng hình tượng là thao tác không thể thiếu của một tác phẩm nghệ thuật Phim tài liệu truyền hình trước hết là một thể loại của nghệ thuật điện ảnh Nó mang trong mình đầy đủ những đặc tính của nghệ thuật thứ bảy Cả phim truyện và phim tài liệu đều phản ánh thế giới hiện thực thông qua việc xây dựng hình tượng nghệ thuật Phim truyện dùng diễn xuất của diễn viên trong những bối cảnh được dàn dựng theo chủ quan của đạo diễn để nói lên tư tưởng của tác phẩm Còn trong phim tài liệu không có diễn xuất của diễn viên
mà nó nói lên chủ đề tư tưởng thông qua những sự kiện, hiện tượng, những
quá trình, những con người có thật trong đời sống Nói cách khác, phim truyện là nghệ thuật chủ quan còn phim tài liệu là nghệ thuật khách quan”
[8, tr 20]
Từ những phân tích trên, Trần Doanh Trung đã đưa ra khái niệm về phim tài liệu truyền hình như sau: “phim tài liệu truyền hình là một thể loại báo chí truyền hình nằm trong nhóm thể loại chính luận nghệ thuật Nó nói lên tư tưởng chủ đề, tức là tính chính luận của báo chí, thông qua việc xây dựng hình tượng từ những sự kiện, hiện tượng, con người cụ thể có thật trong đời sống xã hội Nói cách khác, phim tài liệu truyền hình dùng sự thật để xây dựng hình tượng nghệ thuật, qua đó làm nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ và định hướng cách nhận thức sự thật đó cho công chúng” [8, tr 21]
Ngay nay, truyền hình đã chứng tỏ được sức mạnh của mình so với các thể loại truyền thông khác Ngoài khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời như các loại hình báo chí khác, truyền hình còn tác động tới tư tưởng và tình cảm của công chúng một cách mạnh mẽ nhờ sự kết hợp giữa yếu tố thính giác
và thị giác mà chưa một loại hình truyền thông nào sánh kịp Mặc dù có những ưu thế vượt trội nhưng truyền hình không ngường làm mới mình, liên tục làm giàu hệ thống thể loại báo chí bằng cách tiếp nhận các thể loại khác Trong số đó có phim tài liệu Truyền hình tìm thấy những khả năng to lớn của
Trang 16phim tài liệu trong việc định hướng dư luận xã hội Và đồng thời, những nhà làm phim tài liệu cũng tìm thấy ở truyền hình những điều kiện đảm bảo cho phim tài liệu phát huy được hết khả năng của mình
1.1.2 Đặc điểm của phim tài liệu truyền hình
Đặc điểm thứ nhất, về chức năng của phim tài liệu truyền hình Trần
Doanh Trung trong Kịch bản phim tài liệu cho rằng phim tài liệu truyền hình
có ba chức năng cơ bản: chức năng thông tấn báo chí, chức năng giáo dục
nhận thức, chức năng thẩm mỹ và giá trị tư liệu lịch sử [8, tr 24] Trong đó,
theo Trần Doanh Trung chức năng quan trọng nhất là chức năng thông tấn báo chí, bởi nó chi phối toàn bộ quá trình sáng tạo phim tài liệu truyền hình, dẫn tới quan niệm phim tài liệu truyền hình là một thể loại tác phẩm báo chí truyền hình
Đặc điểm thứ hai, về việc tiếp nhận của công chúng So với phim tài liệu điện ảnh thì phim tài liệu truyền hình còn nhiều khó khăn do nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan Nhưng ngược lại, số lượng người xem phim tài liệu truyền hình lại nhiều hơn hẳn phim tài liệu điện ảnh Những bộ phim tài liệu truyền hình thường có nội dung gần gũi với đời sống, sinh hoạt của công chúng, lại không yêu cầu cao về trình độ chuyên môn cũng như nghệ thuật của người xem, nên phim tài liệu truyền hình thường dễ dàng đi vào lòng công chúng
Về các dạng phim tài liệu, Trần Doanh Trung dựa vào công trình nghiên
cứu của hai tác giả Bordwell và Thompson là Nghệ thuật điện ảnh: một giới
thiệu đại cương để chia thể loại phim tài liệu thành một số dạng Tiêu chí
phân chia thành các kiểu dạng chính là đặc điểm nổi bật của chúng:
-Phim tài liệu dựng lại trên cơ sở những nguồn tư liệu lưu trữ (compilation documentary) Đó là những phim gồm toàn hình ảnh tư liệu
Trang 17được ghép nối lại với nhau nhằm chuyển tải ý đồ của tác giả Phim dạng này thường là những phim về đề tài lịch sử
-Phim tài liệu phỏng vấn (interview documentary) Trong dạng phim này, các nhà làm phim ghi nhận một cách trung thực về sự kiện, hiện tượng,
về những biến động xã hội chủ yếu qua lời kể của các nhân chứng
-Phim tài liệu của sự thực (cinema- verite documentary) là dạng phim tài liệu trong đó các nhà làm phim ghi lại sự kiện như nó diễn ra trên thực tế, không mang dấu ấn chủ quan của tác giả Dạng phim này bắt đầu xuất hiện từ khoảng những năm 50, 60 của thế kỷ 20 khi các loại camera gọn nhẹ ra đời, cho phép người quay phim cơ động nhanh, theo kịp diễn biến của sự kiện [8,
tr 18]
Tổng hợp từ các ý kiến rời rạc về phim tài liệu, chúng tôi khái quát các đặc điểm chung nhất của phim tài liệu truyền hình như sau:
(1)Về nội dung, phim tài liệu truyền hình thường chọn đề tài có tính thời
sự Đây chính là yếu tố chỉ ra rằng phim tài liệu truyền hình là một thể loại báo chí Về cách giải quyết vấn đề, phim tài liệu truyền hình thường là nêu vấn đề như một sự khơi gợi hoặc như một giải pháp xã hội Do đó, chủ đề trong phim tài liệu truyền hình thường mang tính chính luận Như vậy, thực chất phim tài liệu truyền hình là một bài báo chính luận khai thác những ưu thế của phim ảnh (hình ảnh + màu sắc + âm nhạc + tiếng động + âm thanh + tính sống động) để chuyển tải nội dung
(2)Về cách thể hiện Gọi là phim tài liệu truyền hình vì rằng phương tiện biểu đạt chủ yếu của nó là kĩ thuật phim ảnh Tuy nhiên, nếu điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp, khiến cho hiện thực đời sống như đang diễn ra trên từng khuôn hình, thì trong phim tài liệu truyền hình bao giờ cũng có lời thuyết minh theo sát từng khuôn hình
Trang 18(3)Về yếu tố con người Nếu ở nghệ thuật điện ảnh con người là hình tượng nhân vật, được xây dựng theo thủ pháp hư cấu thì ở phim tài liệu truyền hình con người là người thật, việc thật có tác dụng bổ sung, nhấn mạnh về tính chân thực hay cùng với lời thuyết minh làm sáng rõ một khía cạnh nào đó
mà tác giả muốn đề cập
1.1.3 Ngôn ngữ thuyết minh của phim tài liệu
Ngôn ngữ thuyết minh giữ vai trò cực kì quan trọng trong tác phẩm báo chí truyền hình nói chung và trong phim tài liệu nói riêng Cấu thành nên phim tài liệu gồm hai bộ phận quan trọng: hình ảnh và lời thuyết minh Trong
đó, hình ảnh là yếu tố khách quan, hàm chứa trong nó sự sống động của cuộc sống có thực, không bị dàn cảnh, không bị khuấy động Nó mang ý nghĩa hết sức to lớn trong toàn bộ “ngôn ngữ” của loại hình báo chí này Còn với lời thuyết minh trong một số loại hình nghệ thuật, nó giữ vai trò không nhỏ Tính chất chủ quan của lời bình trong phim tài liệu là không thể tránh khỏi, mặc dù trong rất nhiều trường hợp, người ta cố gắng giảm liều lượng của nó
Xuất hiện trong phim tài liệu truyền hình, ngôn ngữ thuyết minh có những đặc điểm như sau:
(1) Chú thích cho hình ảnh Trong phim tài liệu truyền hình, ngoài yếu tố đầu tiên là hình ảnh thì yếu tố xếp thứ hai phải là lời bình, thậm chí có đôi khi lời bình còn vượt lên trên cả hình ảnh, nắm giữ vai trò chủ chốt trong việc chuyển tải nội dung thông tin Đồng hành bên cạnh hình ảnh, lời bình luôn bám sát từng khuôn hình, sử dụng ngôn ngữ để chú thích cho từng khuôn hình, giúp cho hình ảnh trở nên sáng tỏ và sâu sắc hơn
(2) Liên kết hình ảnh Bên cạnh chú thích cho hình ảnh, thì lời bình còn
có vai trò liên kết các khuôn hình lại với nhau Việc liên kết hình ảnh của lời bình là nhằm mục đích dẫn dắt khán giả truyền hình đi sâu vào nội dung của
bộ phim, nắm bắt được các vấn đề mà nhà làm phim muốn truyền đạt
Trang 19(3) Làm nên bộ khung của cả bộ phận Quy trình sản xuất ra một tác phẩm truyền hình được thực hiện như sau: Trước tiên đội ngũ các nhà làm phim sẽ khai thác đề tài, sau đó tiến hành tác nghiệp để khai thác hình ảnh, tiếp theo sau khi đã có đủ hình ảnh sẽ là công việc viết lời bình, và bước cuối cùng là dựng phim Như vậy, dựa trên lời bình, từng khuôn hình sẽ được cắt dán, sắp xếp sao cho phù hợp với kịch bản lời bình Nói như vậy cũng có nghĩa là lời bình chính là bộ khung của cả bộ phận
(4) Nêu những nội dung mà hình ảnh không thể chuyển tải được Trong phim tài liệu truyền hình, có những lúc dưới tác động mạnh mẽ của lời bình
mà người xem chỉ bị thu hút bởi thích giác mà bỏ qua thị giác, đó là những khi lời bình giữ vai trò cung cấp nội dung thông tin như: số liệu, sự vận động phát triển, sự kiện diễn trong quá khứ hoặc ở nơi khác mà không thể liên kết bằng hình ảnh… Đây được xem là một vai trò quan trọng trong phim tài liệu, bởi lúc này lời bình vượt qua cả yếu tố hình ảnh để làm chủ thông tin
(5) Ngôn ngữ trong phim tài liệu truyền hình thực chất là ngôn ngữ của văn bản báo chí chính luận Nó chỉ khác bài báo chính luận ở chỗ mang chức năng thuyết minh cho hình ảnh nên lời thuyết minh này có khi là lời bình của nhà làm phim Cũng vì thế lời thuyết minh phải được diễn đạt sao cho thật hấp dẫn, nghĩa là phải mang tính hình ảnh Ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu có thể thiên về ngôn ngữ văn học hoặc báo chí, nhưng điều đó tùy thuộc vào chủ đề của tác phẩm, cách khai thác, xử lí đề tài của tác giả
Ở mỗi dạng phim tài liệu, có thể có nhiều cách viết khác nhau: tự sự, chính luận thậm chí là miêu tả Viết lời thuyết minh cho phim tài liệu đòi hỏi người viết thông qua cuộc sống thực tế, không chỉ tìm tòi tích lũy kinh nghiệm để biểu hiện cho người xem những sự thật, mà còn giúp họ cảm thụ một cách sâu sắc Cần chú ý khai thác những biểu hiện các khía cạnh của
Trang 20ngôn ngữ, cân nhắc ý nghĩa của từng danh từ, động từ đến việc tạo câu, ngắt đoạn cho sáng nghĩa
Giá trị của lời thuyết minh trong phim tài liệu là nó phải được nói cái gì
đó ngoài sự kiện, ẩn nấp đằng sau sự kiện Để đạt được điều này, người viết lời thuyết minh phải đạt được tính văn học của ngôn ngữ và tính chính luận của báo chí để tạo nên sức mạnh trong lời thuyết minh của phim tài liệu
1.2 Đoàn Huy Giao và những thước phim tài liệu
1.2.1 Đôi nét giới thiệu về Đoàn Huy Giao
Đoàn Huy Giao tên thật là Nguyễn Trì, sinh năm 1946, tại vùng ven biển huyện Bình Sơn, Quãng Ngãi, nhưng lại sinh sống và làm việc tại thành phố
Đà Nẵng Đam mê văn chương nghệ thuật từ nhỏ nên năm 20 tuổi, ông bắt đầu sự nghiệp làm thơ, làm báo, với bút danh Trình - NH (nghĩa là trừ NH đi thì còn Trì) Sau đó, một lần tình cờ biết đến cái tên Đoàn Huy Giao của một người quét rác, ông thấy thích thú liền lấy luôn bút danh này kể từ đó Có lẽ bị
ám ảnh bởi với những mảnh cơ cực như người quét rác nghèo đó mà thơ của Đoàn Huy Giao thường hướng về những số phận nghèo khổ, quẫn bách, những con người chịu ảnh hưởng của chiến tranh mà phải sống nay đây mai
đó Và cũng từ đó, một loạt trường ca phản chiến lần lượt ra đời: Cho con vật
hai chân (1969), Phẫn nộ ca (1970), Bài ca Nam - Bắc mới (1972), Bài ca tình châu thổ (1973), Trường ca Phượng Kiều (1974) … Đến năm 1973,
Đoàn Huy Giao làm xôn xao dư luận văn đàn Việt Nam khi ông cùng nhóm
bạn bè của mình cho ra đời tác phẩm văn thơ đặc biệt Tương lai hướng về
phía những người lao tác
Năm 1980, cũng từ niềm đam mê nghệ thuật văn hóa điện ảnh mà ông được tiếp xúc làm quen và kết hôn với con gái Giáo sư Hoàng Châu Ký là ký giả Hoàng Trung Yên, và từ đây hai vợ chồng đạo diễn Đoàn Huy Giao đã có nhiều đóng góp lớn cho nền báo chí truyền hình Việt Nam Không chỉ làm
Trang 21thơ, viết báo, Đoàn Huy Giao còn là một nhà biên kịch kiêm tổng đạo diễn phim tài liệu truyền hình chất lượng tại Trung tâm truyền hình Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng Ông là tác giả của nhiều tác phẩm truyền hình nổi tiếng
như: Lá hát, Thuận Tình, Tháng ba Sơn Mỹ, Sóng ngầm Trường Giang, Trở
về, Gặp lại mùa cúc quỳ, Tâm Tình Xuman, Người từ đỉnh núi, Tây Nguyên – Miền mơ tưởng…
Là một người yêu nghệ thuật, yêu văn hóa, hơn nữa lại là người làm báo, nhưng Đoàn Huy Giao rất ngại tiếp xúc với báo chí, đám đông, ghét những hình thức tụ họp, dị ứng với những việc tôn sùng thần tượng Vì thế mà dù sáng có sáng tác văn chương, thơ ca…nhưng ông không có tham vọng in ấn hay xuất bản Do đó, mặc dù là đạo diễn của hàng loạt phim tài liệu truyền hình, là chuyên gia uy tín để đánh giá chất lượng các bộ phim tài liệu trong các cuộc thi Liên hoan phim toàn quốc, nhưng những thông tin về ông trên báo chí truyền thông thì lại rất hiếm
Tuy không được phần đông công chúng biết đến, nhưng với nhiều đóng góp cho văn hóa nghê thuật ông đã được nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) Là người say mê hội họa, văn chương, nên sau khi về hưu, đạo diễn Đoàn Huy Giao lại tiếp tục niềm say mê nghệ thuật với
tư cách là nhà sưu tầm cổ vật, ông là chủ nhân của một bảo tàng mang tên Đồng Đình nằm trên bán đảo Sơn Trà, đây cũng là bảo tàng tư nhân đầu tiên của miền Trung Việc xây dựng bảo tàng tư nhân đối với Đoàn Huy Giao không phải để kinh doanh thu lợi nhuận, mà là để tiếp tục con đường nghệ thuật của mình, giữ gìn văn hóa, lưu giữ những kỉ niệm phẩm từ những thời đi làm phim gắn bó với Tây Nguyên Ở tuổi đôi mươi, ông tìm đến với văn chương, đến tuổi trưởng thành, dày dặn kinh nghiệm ông lại dấn thân nhập cuộc để làm truyền hình, và khi đã không còn sức để băng rừng lội suối ông lại lui về làm nhà sưu tập cổ vật Như vậy, từ chuyện văn chương sang chuyện
Trang 22báo rồi đến chuyện bảo tồn văn hóa, đối với Đoàn Huy Giao đam mê nghệ
thuật không bao giờ là ngừng nghỉ
1.2.2 Phim tài liệu của Đoàn Huy Giao
Là một đạo diễn – phóng viên truyền hình Đoàn Huy Giao đã công hiến cho nền điện ảnh cũng như báo chí Việt Nam hàng trăm tác phẩm truyền hình Khi được hỏi có thể liệt kê ra một con số cụ thể hay không thì ông cho rằng khó lòng mà kể ra hết được, bởi số lượng quá nhiều và đến ông cũng không thể nhớ rõ, chỉ nhớ được khoảng hàng trăm tác phẩm trong đó có nhiều tác
phẩm được khen thưởng: Hòn Đá – Huy chương vàng tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 16, Tháng ba Sơn Mỹ - Huy chương vàng tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 17, Thuận Tình – Huy chương vàng tại Liên hoa Truyền hình toàn quốc lần thứ 18, Sóng ngầm Trường Giang – Huy chương bạc tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 21, Vượt cạn –Huy chương vàng tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 23, Người từ đỉnh
núi – Bằng khen tại Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 23
Ngoài ra, đạo diễn Đoàn Huy Giao còn có khoảng 33 bộ phim tài liệu về
miền đất núi rừng Tây Nguyên như Lá hát, Trở về, Gặp lại mùa cúc quỳ hay
Tâm tình Suman – Huy chương vàng Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần
thứ 15… Đặc biệt, năm 2001, phim tài liệu truyền hình Lá hát của Đoàn Huy
Giao nhận Giải thưởng lớn nhất trong Liên hoan phim môi trường toàn quốc chào đón thế kỷ 21 do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Hội Điện ảnh Việt Nam và Đài truyền hình Việt Nam đồng tổ chức Bộ phim có nội dung
kể về chàng thanh niên dân tộc Gia Rai là Rơ Lăng Đệ, chỉ với một chiếc lá bất kì có thể đưa lên miệng tấu lên mọi bản nhạc, mọi tiếng chim muông, để mang tới tiếng kêu cứu khẩn thiết của rừng xanh, của môi trường đang bị tàn phá
Trang 231.2.3 Phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng
Bộ phim tài liệu truyền hình Tây Nguyên – Miền mơ tưởng do Trung tâm
truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng thực hiện trong vòng 2 năm, dưới sự chỉ đạo của tổng đạo diễn - biên kịch Đoàn Huy Giao Bộ phim gồm 36 tập, mỗi tập dài khoảng 20 phút Nội dung của bộ phim ghi lại một cách sống động và chân thực về nhiều lĩnh vực của một Tây Nguyên anh hùng đang từng ngày thay da đổi thịt với những nhịp sống mới nhờ vào những vườn cây công nghiệp dài ngày trải dài thăm thẳm, làm nên động lực chính của kinh tế Tây Nguyên
Từ 15 năm gắn bó với miền núi rừng Tây Nguyên, đạo diễn Đoàn Huy Giao đã “bắt tay” cùng các cộng sự chính thức bấm máy cho những thước
phim đầu tiên của loạt phim Tây nguyên - miền mơ tưởng Bắt đầu công tác
làm phim, Đoàn Huy Giao xác định không thể lặp lại lối mòn cũ của những người đã làm phim về Tây Nguyên với những hình ảnh về người phụ nữ M’Nông trong tư liệu cũ của người Pháp đã quá quen thuộc với người xem truyền hình Cuối cùng, ông cùng đoàn làm phim đã chọn cách tiếp cận “địa chí” – đó cũng là nguyên nhân ra đời bộ phim tài liệu thuộc thể loại “địa chí”
Tây Nguyên – Miền Mơ tưởng Để rồi, hình ảnh đầu tiên của loạt phim tài liệu
là những hình ảnh cao nguyên bạt ngàn với hoa cỏ, những chú voi khổng lồ
và hòa vào những hình ảnh đó là âm thanh của núi rừng, tiếng nước chảy, tiếng muôn thú rú gầm, líu lo…Tất cả những hình ảnh, âm thanh đó đều là đặc trưng riêng biệt của vùng cao nguyên phía Tây, huyền ảo và uy dũng Nơi sản sinh ra những huyền thuyết và sử thi dài bất tận
Việc lựa chọn hình thức tiếp cận theo địa chí, tức là bằng những sự kiện lịch sử, nhân vật nổi bật… ở từng vùng đất để khai thác làm phim như vậy sẽ làm cho người xem khó lòng mà quên lãng Bởi những chi tiết đặc sắc nổi bật
sẽ được nhấn mạnh qua mỗi tập phim Như câu chuyện về vùng đất được coi
Trang 24là khô hạn nhất Đông Dương, và theo tập tục ở đây, Vua Lửa được tôn giữ vai
trò chính trong lễ hội cầu mưa (Tập 3 – Vựa lúa trên đất Pơtao Apui) Người
xem có thể bỏ qua hoặc lãng quên các chi tiết khía cạnh ở vùng đất này, nhưng câu chuyện về Vua Lửa ở Pơtao Apui lại là những chi tiết ấn tượng khó quên, bởi người xem như được bước vào một không gian huyền bí và khó lòng bước ra được Nhưng rồi như sợ khán giả quá nhập tâm vào thế giới huyền bí tâm linh ấy, đoàn làm phim dẫn dắt người xem đến với những thảo nguyên bao la ở Madrak (Ðắc Lắc), nơi những đàn bò, đàn ngựa không bao
giờ đi hết được cánh đồng (Tập 17 - Lỗ đất bang Andrenh) Người xem cũng
sẽ được đến với vùng đất đỏ bazan với đặc sản là cây cà phê đã trở thành
thương hiệu hàng đầu Việt Nam (tập 22 - Thủ phủ Cà phê Việt)
Bằng nhiều cách lôi cuốn khán giả khác nhau, Tây Nguyên – Miền mơ
tưởng đã mang đến cho người xem truyền hình những hình ảnh đẹp về sự trù
phú của cao nguyên phía Tây, kể lại đầy hấp dẫn những huyền thuyết, sử thi, những câu chuyện về những con người nổi bật trong quá khứ cũng như trong truyền thuyết Ngoài ra, bộ phim còn cung cấp một lượng lớn thông tin về địa
lí, văn hóa, phong tục tập quán của người dân bản địa giúp người xem hiểu sâu và rộng hơn về những con người, cũng như vùng đất Tây Nguyên Tây nguyên với nhiều điều bí mật lâu nay chưa được khám phá sẽ dần hiện ra trong mỗi một tập phim
Trang 25Chương Hai KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THUYẾT MINH
TRONG BỘ PHIM TÀI LIỆU TÂY NGUYÊN – MIỀN MƠ TƯỞNG
2.1 Đặc điểm của hệ thống từ vựng của ngôn ngữ thuyết minh trong
phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng
2.1.1 Tổng quan về các lớp từ vựng của ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng
Nguyễn Thiện Giáp đã phân chia hệ thống từ vựng tiếng Việt theo ba tiêu chí: đối tượng sử dụng, thời gian sử dụng và nguồn gốc
Theo tiêu chí đối tượng sử dụng, ta có các lớp từ: từ vựng toàn dân, tiếng lóng, từ địa phương, từ nghề nghiệp, thuật ngữ khoa học
Theo tiêu chí thời gian sử dụng, ta có các lớp từ: từ ngữ cổ, từ ngữ lịch
ngôn ngữ thuyết minh của phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng Và kết
quả khảo sát cho thấy các loại từ vựng sau đây xuất hiện với tần số cao: Từ toàn dân, thuật ngữ khoa học, từ ngữ lịch sử, từ thuần Việt, từ Hán Việt, từ vay mượn gốc Ấn- Âu
Từ toàn dân là lớp từ chiếm tỉ lệ lớn nhất trong số các lớp từ Lớp từ này
là vốn từ chung, phổ biến nhất vì là lớp từ toàn dân hiểu và sử dụng Đây cũng là lớp từ vựng cơ bản, quan trọng nhất của mỗi ngôn ngữ Là một bộ phim tài liệu địa chí truyền hình, cung cấp những tri thức về mặt văn hóa, lịch
sử, địa lý cho tất cả các tầng lớp xã hội thì hiển nhiên từ vựng toàn dân phải
xuất hiện trong ngôn ngữ thuyết minh của phim tài liệu Tây Nguyên – Miền
Trang 26mơ tưởng Chẳng hạn, khi nói về vùng đất Tây Nguyên, việc sử dụng những
từ chỉ hiện tượng thiên nhiên là tất yếu: “đêm, đất, núi, rừng, sông, củi, sương, cỏ” (Tập 1- Miền mơ tưởng và khát vọng ) Những từ chỉ bộ phận cơ thể người: “thân, chân, đầu” (Tập 1 – Miền mơ tưởng và khát vọng) Những từ
chỉ các sự vật, hiện tượng gắn liền với đời sống của đồng bào vùng cao: “bẫy,
túp lều, rẫy, trồng, tỉa, lễ hội, lễ cúng, lễ tục” (Tập 4 – Cánh chim trở về)
Những từ chỉ những hoạt động của người đồng bào vùng cao: “tháo, gỡ, bắt,
đánh, nhử, nhặt, sấy” ( Tập 6 – Măng Đen huyền thoại)
Lớp từ thuật ngữ khoa học cũng xuất hiện trong Tây Nguyên – Miền mơ
tưởng với tần số cao Là một bộ phim tài liệu truyền hình dài tập về đời sống,
xã hội, kinh tế, văn hóa của vùng đất Tây Nguyên, nên nhiều loại thuật ngữ khoa học thuộc các lĩnh vực như: khảo cổ học, sinh học, địa lí, kiến trúc, vật
lí, kinh tế… được sử dụng nhiều Đơn cử như thuật ngữ về khảo cổ học: “di tích, di chỉ, di vật, cổ đại, tiền sử, mộ táng, hậu kì đá mới, hậu kì đá cũ, sở kì
kim khí, khai quật”(Tập 10 – Từ Lung Leng đến nguồn sáng Xê Xan) Thuật
ngữ về sinh học: “lai ghép, nhà kính, nhân giống, chiết cành, hoa thân mộc,
cấy ghép, ươm trồng, phòng lab, in vitro” (Tập 29 – Phố Hoa) Thuật ngữ về kiến trúc: “Gothique, Romance” (Tập 12 –Câu chuyện Xứ đạo) Thuật ngữ kinh tế: “sản xuất, xuất khẩu, thương mại, dịch vụ, nhập khẩu” (Tập 8 – Ngã
ba Đông Dương Đồi máu và Cửa mở)…Ngoài ra còn có sự xuất hiện của
thuật ngữ về vật lí như: “Siêu trường, siêu trọng, thủy năng”(Tập 10 – Từ
Lung Leng đến nguồn sáng Xê Xan)
Lớp từ lịch sử xuất hiện không nhiều và chủ yếu là khi nội dung đề cập
đến quá khứ Qua khảo sát ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu Tây
Nguyên – Miền mơ tưởng, chúng tôi phát hiện Đoàn Huy Giao đã sử dụng
những từ lịch sử trong các tập phim tài liệu của mình, đó là những tập phim
có những đoạn có tác giả nhắc đến những sự kiện trong quá khứ Như vậy là
Trang 27hoàn toàn hợp lí bởi với vai trò là một bộ phim tài liệu địa chí lịch sử, Tây
Nguyên – Miền mơ tưởng lấy những sự kiện nổi bật trong lịch sử, nhân vật nổi
trội của từng vùng đất để làm nền cho mỗi tập phim Trong Tây Nguyên –
Miền mơ tưởng từ ngữ lịch sử đa số là những từ chỉ tên gọi những chức tước,
phẩm hàm ngày xưa: “Tù trưởng, công sứ, khâm sứ, hoàng triều, thành hoàng
cương thổ, Hoàng thái hậu, thứ phi” (Tập 21- Buôn Ma Thuột) ; “Vua, thủ lĩnh, viên quan, chiến binh, thủ phủ, hạ viện” (Tập 3 – Vựa lúa trên đất
Powtao Apui) Hoặc những từ ngữ lịch sử chỉ đại danh: “thủ phủ, triều đình,
tòa sứ, tòa đại lý ”
Lớp từ Hán Việt xuất hiện dày đặc Từ ngữ trong ngôn ngữ Việt Nam có rất nhiều từ là từ Hán Việt Vì vậy, có sự xuất hiện với tần số rất cao của lớp
từ này trong ngôn ngữ thuyết minh của Tây Nguyên – Miền mơ tưởng Hầu như, ngôn ngữ thuyết minh trong tất cả các tập của bộ phim tài liệu Tây
Nguyên – Miền mơ tưởng đều xuất hiện lớp từ này Vì số lượng quá nhiều,
nên chúng tôi chỉ liệt kê 5 ví dụ điển hình sau:
Tập 1 – Miền mơ tưởng và khát vọng: “giải phóng, trọng pháo, cục diện,
thống nhất, chiến lược, trung tâm, thuộc địa, văn hóa, thiên tai, tài liệu, triển vọng, thế giới, sơn nguyên…”
Tập 2 – Đường xưa tìm Xăm Brăm: “cảm tác, thượng nguyên, địa lí, lịch
sử, hạ lưu, cảm thức, án ngữ, trung tâm, lưu thông, đô thị, quy mô, thương cảng, cư trú, chứng tích, nghiên cứu…”
Tập 5 –Từ nàng hầu Yă Đố đến anh hùng Núp: “khởi nghĩa, thượng đạo,
thập niên, hùng tráng, căn cứ, thế kỉ, tù binh, thân sinh, đồng bào, thiểu số, định cư, lưu truyền, chiến binh, doanh trại, di tích…”
Tập 13 - Ở lại với Klum: “biên ải, thành lập, phục viên, biên giới, giải
phóng, khai hoang, cựu binh, vũ trang, tuyên truyền, hi sinh, tiên phong, tiểu điền, khá giả, thanh niên, vành đai, nông lâm…”
Trang 28Lớp từ vay mượn Ấn Âu cũng được sử dụng nhưng không nhiều Sau tiếng Hán, một số ngôn ngữ Ấn –Âu đặc biệt là tiếng Anh, tiếng Pháp xuất
hiện trong hệ thống lớp từ vựng của ngôn ngữ thuyết minh Tây Nguyên –
Miền mơ tưởng: “violon –Tiếng Pháp: Violon (Tập 4 – Cánh chim trở về),
Tuốc bin – Tiếng Anh: turbine (Tập 10 – Từ Lung Leng đến nguồn sáng Xê
Xan) Cà phê - Tiếng Pháp: café (Tập 13 - Ở lại với Klum) bót - Tiếng Anh:
poste (Tập 14 – phố núi), Bazan - Tiếng Anh: basalt (tập 16 – Đường đến
Buôn Hồ), Mit ting - tiếng Anh: meeting (Tập 21 – Buôn Ma Thuột), Mét-
tiếng Pháp: mètre (Tập 22 – Thủ phủ cà phê Việt), Dích dắc - tiếng Anh: zigzag (Tập 36 – Khúc vĩ thanh)”
2.1.2 Một số lớp từ vựng giàu sắc thái tu từ của ngôn ngữ thuyết minh trong phim tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng
Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng trong ngôn ngữ thuyết minh của phim
tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng có xuất hiện nhiều lớp từ vựng giàu sắc
thái tu từ khác nhau như: từ Hán Việt, từ thi ca, biệt ngữ tôn giáo, từ lịch sử,
từ vay mượn gốc Ấn Âu…
- Lớp từ Hán Việt giàu sắc thái tu từ:
Trong tất cả các lớp từ vựng giàu sắc thái tu từ kể trên, thì đặc biệt từ Hán Việt chiếm một số lượng rất lớn Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên bởi đối với đất nước ta, một đất sau hàng trăm năm chịu đô hộ Bắc thuộc, việc văn hóa Hán xâm nhập và chi phối sinh hoạt xã hội người Việt là khá sâu đậm Về mặt ngôn ngữ, tuy rằng người Việt vẫn có tiếng nói riêng nhưng tiếng Hán, nhất là trong những phạm vi triết học, chính trị và kỹ thuật thì được người Việt chúng ta vay mượn rất nhiều
Trong Tây Nguyên – Miền mơ tưởng xuất hiện nhiều loại từ Hán Việt
mang màu sắc tu từ khác nhau Đặc biệt là những từ Hán Việt mang màu sắc trang nghiêm, trang trọng: “hi sinh, uy tín, uy vũ, uy dũng, tráng lệ, phò trợ,
Trang 29tường minh, cốt tử…” Hay những từ Hán Việt có màu sắc chỉ tình cảm cảm xúc như: “hoan hỉ, hoan lạc, hạnh phúc…” Hay những từ Hán Việt màu sắc tu
từ văn hoa: “cảm tác, thượng nguyên, ngoạn mục…” Và những từ Hán Việt mang màu sắc kì ảo: “Huyền thoại, huyền thuyết, huyền ảo, hoang sơ, hữu linh, tâm linh, nguyên thủy, truyền thuyết, sử thi…” Những từ Hán Việt mang màu sắc tôn giáo: “lễ tục, lễ thức, thần linh, nghi lễ, thượng đạo”
- Lớp từ thi ca (từ ngữ văn chương) giàu sắc thái tu từ
Ngoài lớp từ Hán Việt giàu sắc tu từ, ngôn ngữ thuyết minh trong phim
tài liệu Tây Nguyên – Miền mơ tưởng còn có sự góp mặt của lớp từ thi ca Cù
Đình Tú gọi từ thi ca “là từ ngữ văn chương” [12, tr 229] Và chia từ ngữ văn chương trong tiếng Việt thành ba loại dựa trên sự phân bố của các phạm vi biểu thị sự vật, tính chất, hoạt động: từ ngữ văn chương biểu thị sự vật, từ ngữ văn chương biểu thị tính chất, lớp từ văn chương biểu thị hoạt động Trong đó:
Những từ ngữ văn chương biểu thị sự vật như:
“Vẻ hoang sơ của quê vợ, ca sĩ nhân dân Hơben, đã hút hồn anh Đức
Thịnh, một chàng trai Hà thành chính cống.” (Tập 4 – Cánh chim trở về)
“Lương thảo làm ra cũng sớm ổn định hơn so với các vùng khác trên
cao nguyên.” (Tập 4 – Cánh chim trở về)
“Nàng hầu Yă Đố vận động dân đóng góp cho nghĩa quân 300 thớt voi,
400 ngựa chiến, vừa giúp ông cai quản việc sản xuất lương thảo, như di tích Vườn Mít, cánh đồng Cô Hầu ở xã Nghĩa An, huyện K’bang vẫn còn lưu
truyền cho đến ngày nay.” (Tập 5 – Từ nàng hầu YăĐố đến anh hùng Núp)
“Chàng đẹp như tráng sĩ và cần mẫn bửa củi giúp cô em như thể tôi tớ
của nhà giàu có.” (Tập 16 - Đường đến Buôn Hồ)
Trang 30“Nếu cao nguyên Kontum là vùng giao thoa của ba nước Đông Dương,
thì đô thị Kontum là thủ phủ giữa vai trò bắt nhịp của toàn vùng.” (Tập 11 –
Phố mang tên Đầm Nước)
“Và hình ảnh này đã nhắc nhở đến các chiến binh Ba Na thuở trước trong phong trào khởi nghĩa Tây Sơn, mà chúng tôi sẽ đề cập trong tập phim
tiếp theo (Tập 4 – Cánh chim trở về)
“ Miền sơn nguyên Ea Hleo – Krông Bút được coi là chiếc nôi của nghệ
thuật tấu chiên Ê đê.” (Tập 16 - Đường đến Buôn Hồ)
Những từ ngữ văn chương biểu thị tính chất như:
“Nơi có đến bảy cái hồ thiên tạo được người Mơ Nâm thêu dệt thành
những huyền thoại diễm lệ.” (Tập 6 – Măng đen huyền thoại)
“Vùng sơn nguyên bao la này là nơi sản sinh ra vô số các trường ca uy
dũng và tráng lệ.” (Tập 1 – Miền mơ tưởng và khát vọng)
“Ngay nay, trở lại vùng Tây Sơn thượng đạo bao la này ta thật khó hình
dung được bản lai diện mục của núi rừng căn cứ địa xưa.” (Tập 5 – Từ nàng
hầu Yă Đố đến anh hùng Núp)
“Con sông của nhiều huyền thoại diễm lệ và hùng tráng.” (Tập 11 – Phố
mang tên Đầm Nước)
“Chúng tôi đặc biệt chú ý đến những ngôi nhà Việt cổ kính tại đây, vừa
có dáng dấp của một mái từ đường vùng đồng bằng Nam trung bộ, vừa phù
hợp với không gian vùng cao Tây nguyên.” (Tập 11 – Phố mang tên Đầm
Nước)
Những từ ngữ văn chương biểu thị hoạt động như:
“Bởi anh chàng dễ thương đến kì lạ này thường lang bạt đó đây, ít khi có
mặt ở nhà.” (Tập 7 – Miền củ đắng)
Trang 31“Trên một cao điểm thuận lợi, giữa ngã ba quốc lộ 14 tiếp giáp với quốc
lộ 19, ta có thể chiêm quan một lượt không gian lồng lộng của thành phố
Pleiku.” (Tập 14 – Phố Núi)
“Đối với người say mê khám phá các giá trị tinh thần bản địa thì một chuyến đi vùng sâu đến ĐăkRing, Măng Bút, Ngọc Tem… mới thực sự mục
sở thị được các tập quán gốc của người Mơ Nâm – Xê Đăng.” (tập 6 – Măng
đen huyền thoại)
“Đối với người dân tộc thiểu số bản địa, thì Chư Mom Ray là một thế
giới rừng huyền bí, luôn ngự trị trong tâm thức của họ.” (Tập 9 – Câu chuyện
Chư Mom Ray)
“Trong cơn tuyệt vọng nàng đã gieo mình xuống dòng thác dữ.” (Tập 16
– Đường đến Buôn Hồ)
- Lớp từ ngữ mang màu sắc tôn giáo (Biệt ngữ tôn giáo)
Trong xuyên suốt 36 tập của bộ phim tại liệu Tây Nguyên – Miền mơ
tưởng, những lớp từ ngữ mang màu sắc tôn giáo chỉ xuất hiện ở những hoạt
cảnh đề cập đến vùng đất tôn giáo nào đó Đặc biệt, ở tập 12 – Câu chuyên xứ
đạo là câu chuyện của những người theo đạo Thiên Chúa ở xứ đạo Kontum
Chính vì vậy xuất hiện trong tập phim này nhiều từ ngữ mang màu sắc công giáo như: “Xứ đạo, Thiên Chúa, truyền giáo, truyền đạo, hành đạo, đạo sở, tín
đồ, giám mục,giáo phu, giáo dân, giáo sĩ, giáo hội, linh mục, họ đạo, thừa sai, toàn tòng, phúc âm, thánh đường, nhà thờ chính tòa, mục vụ…”
- Lớp từ ngữ mang màu sắc cổ (Từ lịch sử)
Nguyễn Thiện Giáp gọi từ lịch sử là những từ mang màu sắc cổ, hoặc đã lỗi thời vì đối tượng biểu thị của chúng đã không còn tồn tại [6, tr.127] Những lớp từ mang màu sắc cổ chỉ chức tước, phẩm hàm như: “Vua, thủ lĩnh,
dân biểu hạ viện Sài Gòn” (tập 3 – Vựa lúa trên đất Pơtao Apui); “Tri huyện, quan quản đạo” (tập 11 – Phố mang tên đầm nước); “Bá tước” (tập 12 – Câu