1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết của victor hugo

104 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ sự yêu thích văn chương cùng với sự yêu mến con người ông, tôi mạnh dạn chọn đề tài này với mong muốn tìm hiểu thấu đáo, cặn kẽ hơn về một số đặc điểm nghệ nghệ thuật làm nên bút pháp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

LA THỊ NGỌC ÁNH LỚP DH5C1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÀNH NGỮ VĂN

Tìm hiểu một số đặc điểm nghệ thuật

kịch và tiểu thuyết của Victor Hugo

LONG XUYÊN, 5/2008

GVHD: Ths Phùng Hoài Ngọc

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

LA THỊ NGỌC ÁNH Lớp ĐH 5C1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÀNH NGỮ VĂN

LONG XUYÊN, 5/2008

GVHD: Ths Phùng Hoài Ngọc

Trang 3

Từ sự yêu thích văn chương cùng với sự yêu mến con người ông, tôi mạnh dạn chọn đề tài này với mong muốn tìm hiểu thấu đáo, cặn kẽ hơn về một số đặc điểm nghệ nghệ thuật làm nên bút pháp chủ nghĩa lãng mạn trong kịch và tiểu thuyết của V.Hugo Qua đó, giúp người tiếp nhận có được cái nhìn khái quát về tác phẩm cũng như bước vào thế giới nghệ thuật tuyệt diệu của thơ văn V.Hugo

II Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về kịch

và tiểu thuyết của Hugo.Tuy nhiên, việc đi vào tìm hiểu những yếu tố nghệ thuật làm nên bút pháp chủ nghĩa lãng mạn trong kịch

và tiểu thuyết V.Hugo thì hầu như chưa có một công trình cụ thể, chuyên biệt

Nghiên cứu về đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết của V.Hugo là một đề tài khá lí thú, mới mẻ và cũng không đơn giản

Do đó, để hoàn thành luận văn người viết dựa vào một số tài liệu

Trang 4

Trang 2

của các tác giả kể trên và những tài liệu liên quan đến V.Hugo

(được liệt kê ở mục Tài liệu tham khảo)

III Mục đích nghiên cứu

Luận văn này cố gắng chỉ ra một số đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết mà ông thường sử dụng trong quá trình sáng tác

Qua đó tôi muốn tìm hiểu một cách sâu sắc, thấu đáo những yếu tố nghệ thuật mà ông sử dụng để có thể lý giải vì sao tác phẩm của V.Hugo lại có sức mạnh bất diệt, trở nên bất tử trong lòng độc giả bao thế hệ Từ việc nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng nó sẽ là chiếc chìa khóa giúp bạn đọc mở cánh cửa bước vào thế giới nghệ thuật tác phẩm V.Hugo

IV Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là một số đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết của đại văn hào Victor Hugo

Phạm vi nghiên cứu vở kịch “Hernani”, hai bộ tiểu thuyết danh tiếng “Nhà thờ Đức Bà Paris” vá “Những người khốn khổ”

V Đóng góp của khóa luận

Việc đánh giá và tiếp cận văn học nước ngoài là vô cùng khó khăn Do đó, việc tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật để khám phá được nội dung là điều hết sức cần thiết

Tôi hy vọng rằng khóa luận sẽ mang đến một cách tiếp cận mới, có hiệu quả về tác phẩm văn học nước ngoài, nó sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn đồng môn trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy sau này

VI Phương pháp nghiên cứu

Chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu Tất cả chỉ với một nguyện vọng là làm sao nghiên cứu khóa luận đạt kết quả tốt nhất

Trang 5

Trang 3

VII Cấu trúc luận văn

Khóa luận gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận Trong đó, trọng tâm phần nội dung Phần nội dung gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Khái quát về tác giả Victor Hugo

Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết

của Victor Hugo

Trang 6

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

I Chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu như một trào lưu

1 Cơ sở triết học

Về phương diện triết học Chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu đều tìm tới những hệ thống triết học mang tính duy tâm chủ quan để làm cơ sở cho học thuyết của mình Bên cạnh đó, còn kế thừa chủ nghĩa tình cảm, một tư trào văn chương thế kỉ XVIII Chủ nghĩa lãng mạn có hai khuynh hướng lãng mạn tiêu cực và khuynh hướng lãng mạn tích cực:

− Khuynh hướng lãng mạn tiêu cực (hay còn gọi là lãng mạn bảo thủ)

− Khuynh hướng lãng mạn tích cực (hay còn gọi là lãng mạn tiến bộ)

2 Cơ sở mỹ học

Về mặt thị hiếu thẩm mỹ, Chủ nghĩa lãng mạn là sự nổi dậy chống lại mọi ước lệ, mọi quy tắc gò bó của chủ nghĩa cổ điển Các chủ đề về tình yêu, nỗi cô đơn, nỗi buồn, những lý tưởng không đạt được…được sử dụng rộng rãi trong nghệ thuật lãng mạn

Nhân vật lãng mạn là những nhân vật “nổi loạn” chống đối với thực tại tư sản tầm thường Nhân vật lãng mạn thường có kết thúc mang tính bi kịch

Chủ nghĩa lãng mạn ưa sử dụng các thủ pháp nghệ thuật như: tương phản, cường điệu, trữ tình ngoại đề, sự đối lập giữa cái trác tuyệt và cái thô kệch,

Nguyên tắc tự do góp phần trẻ hóa lối hành văn, cách gieo vần, cách sử dụng các biện pháp tu từ, cách lựa chọn các không gian và thời gian nghệ thuật Và do nhiệt tình, sôi nổi muốn tự thể hiện, chia sẻ và thuyết phục, văn chương lãng mạn nói chung thường mang tính hùng biện

Trang 7

Trang 5

II Chủ nghĩa lãng mạn như một phương pháp sáng tác

1 Nguyên tắc sáng tác của Chủ nghĩa lãng mạn

Nguyên tắc 1: Chối từ thực tại

Nguyên tắc 2: Tự do bay lượn trong nghệ thuật

Nguyên tắc 3: Điển hình hóa tâm trạng

2 Đặc điểm thi pháp cơ bản của Chủ nghĩa lãng mạn

2.1 Về phương diện cách nhìn

Về phương diện cách nhìn, Chủ nghĩa lãng mạn cơ bản vẫn

là khuynh hướng chủ quan trong tiếp cận và lý giải hiện thực

2.2 Về phương diện cách viết

Thể loại thơ

Thơ ca lãng mạn đã kế thừa thi pháp của thơ ca cổ điển Nhưng bên cạnh sự kế thừa đó, nó còn có sự cách tân tạo thành những qui luật chung của thi ca khuynh hướng văn học lãng mạn

Kết hợp nhiều hình thức thể hiện đa dạng khác nhau: kể và

tả, triết lí và bình luận, độc thoại và độc thoại nội tâm Đặc biệt, hình thức độc thoại nội tâm được sử dụng rộng rãi và đạt hiệu quả cao Yếu tố xây dựng tâm lý nhân vật giữ vai trò trung tâm Nghệ thuật tương phản như một biện pháp nghệ thuật chính yếu, hệ thống và nhất quán trên nhiều phương diện của tác phẩm

Trang 8

V.Hugo mất ngày 25 tháng 5 năm 1885 Thi hài ông được đưa vào điện Pantheon Hugo là một trong những khổng lồ văn chương hiếm hoi của thế giới Hugo, nhà văn nhân đạo sáng ngời,

là tấm gương tranh đấu không biết mệt mỏi cho nền tự do, dân chủ của nhân loại tiến bộ

Giới thiệu đôi nét về thơ của Victor Hugo

Thơ V Hugo chứa chan lòng yêu thiên nhiên và tinh thần nhân đạo cao cả

Do là một nhà thơ viết kịch và tiểu thuyết nên những trang văn của ông mang đậm chất thơ Đặc biệt, chính niềm cảm thương những số phận bất hạnh và trân trọng những phẩm chất cao quí của những người lao động đã được ông phát triển cao ở lĩnh vực kịch và tiểu thuyết sau này Và để thấy được điều đó trong kịch và tiểu thuyết, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu một số đặc điểm nghệ thuật mà ông sử dụng trong quá trình sáng tác

Trang 9

Trang 7

CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT KỊCH

VÀ TIỂU THUYẾT CỦA VICTOR HUGO

I Kịch drame: vở “Hernani”

1 Giới thiệu cốt truyện

2 “Trận chiến Hernani”, sự chiến thắng của chủ nghĩa lãng mạn đối với chủ nghĩa cổ điển

2.1 Sự phá vỡ qui tắc luật “tam duy nhất” của chủ nghĩa

cổ điển

Sự phản ứng đầu tiên của Chủ nghĩa lãng mạn đó là sự phá

vỡ quy tắc luật “tam duy nhất” đó Trước hết, nguyên tắc thời

gian duy nhất đã bị vi phạm Chúng ta thấy, một vở kịch cổ điển

chỉ được công diễn trong hai tiếng đồng hồ, nhưng ở “Hernani”

nó đã vượt ra khỏi qui phạm đó

Nguyên tắc thứ hai mà ông muốn phá vỡ, đó là địa điểm duy

nhất Trong “Hernani” địa điểm kịch được thay đổi rõ rệt.Địa

điểm không chỉ diễn ra trong nước mà nó còn vượt phạm vi ngoài nước, lúc thì ở Xaragrox (Tây Ban Nha), lúc thì ở Ex-lasapen (Tây Đức)

Địa điểm là nơi để nhân vật diễn ra hành động chính duy

nhất.Tăng thêm hành động chính để chuyển tải các xung đột đan

chéo để hành động được phong phú

Như vậy, linh hồn của kịch chính là cái hiện thực

2.2 Xây dựng kiểu nhân vật phản nghịch

Ở kịch của Hugo chúng ta thường bắt gặp kiểu nhân vật

phản nghịch Con người “phản nghịch”, Hernani, là con người có

những phẩm chất tốt đẹp, ý chí căm thù sâu sắc, tinh thần kiên cường trong đấu tranh, tâm hồn cao thượng trong tình yêu

2.3 Sử dụng bút pháp tương phản

Nét nổi bật nhất thể hiện Chủ nghĩa lãng mạn trong kịch của

Hugo là ông đã sử dụng bút pháp tương phản Tương phản là biện

pháp để làm tăng kịch tính và làm nổi bật phẩm chất của nhân vật Trong “Hernani” là sự tương phản giữa vua Tây Ban Nha và

“tướng cướp” Hernani Sự tương phản còn thể hiện ở nội tâm

Trang 10

2.5 Một vài yếu tố nghệ thuật khác

Tăng cường ngôn ngữ bình dân

Về nghệ thuật dẫn dắt hành động kịch, Hugo xen vào những

màn độc thoại nội tâm đầy tính chất lãng mạn ở Hồi I lớp 4, Hồi

IV lớp 2, 5, Hồi V lớp 4

Tóm lại, bằng việc sử dụng một số đặc điểm nghệ thuật của kịch lãng mạn Hugo đã làm cho vở “Hernani” có chỗ đứng vững chắc và gây tiếng vang lớn trên kịch trường lúc bấy giờ Cống hiến của Hugo ở lĩnh vực kịch là ông đã mở toang cánh cửa sáng tạo nghệ thuật để đến với nghệ thuật tự do

II Tiểu thuyết

1 “Nhà thờ Đức Bà Paris”, toà nhà thờ vĩ đại bằng thơ ca 1.1 Nghệ thuật miêu tả và xây dựng cốt truyện

Một trong những biện pháp chủ yếu mà V.Hugo thường sử

dụng trong tác phẩm của mình là miêu tả cảnh thiên nhiên

Sức hấp dẫn của tác phẩm không dừng lại ở đó mà còn ở

nghệ thuật xây dựng cốt truyện hấp dẫn, sinh động Nhà thờ Đức

bà Paris là câu chuyện dài với nhiều cốt truyện được lồng ghép, đan cài hết sức tài tình

1.2 Xây dựng nhân vật lãng mạn

Là một nhân vật mang tính dân gian, Esmeralda xuất hiện như một thiên thần trong thế giới rách nát, nàng là tượng trưng của tâm hồn thanh khiết, lương tâm trong sáng, của hy vọng và

tương lai, là “tia nắng, giọt sương và tiếng chim ca”

Trang 11

Bổ sung cho hình ảnh của Frollot là hình ảnh của Foebus,người mà Esmeralda lầm lẫn trao trọn trái tim yêu cho hắn

Có lẽ, nhân vật thuần lãng mạn nhất trong tác phẩm là Pierre Gringoa Đây cũng là kiểu nhân vật thường gặp nhiều trong tiểu thuyết lãng mạn

1.3 Đề tài tình yêu là đề tài quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn

Xúc động người xem hơn cả đó là bản tình ca tuyệt đẹp của Quazimodo giành cho Esmeralda Quazimodo yêu mà không được đáp trả Kết thúc câu chuyện, hình ảnh mối tình mà cái chết

cũng không thể chia rẽ: “khi người ta muốn kéo gỡ bộ xương

Quazimodo ra khỏi bộ xương y ôm, thì nó vụn ra thành bụi” Sự

đan chéo những yếu tố bi-hài, cái đẹp-cái dị dạng là nét độc đáo tạo nên thiên tình sử bất diệt mang đậm nét lãng mạn này

1.4 Mô típ và cách kết thúc tiểu thuyết mang đậm tính chất lãng mạn

Mô típ “ám hại-che chở-cứu thoát” được ông sử dụng thường xuyên như một động lực để phát triển các tình tiết của cốt truyện, tạo nên sự căng thẳng hồi hộp, làm nhịp điệu của cốt truyện dồn dập thu hút, và qua đó cũng thể hiện quan điểm nhân đạo của ông Mô tip “mẹ con thất lạc-hội ngộ” được cho hóa thân trong cặp nhân vật Gudulier-Esmeralda Đứa con gái mà bà nguyền rủa và kết tội bị xử treo cổ còn người mẹ bất hạnh cũng gục chết Đây cũng là kiểu kết thúc rất tiêu biểu của nghệ thuật lãng mạn Hugo

Và với một cấu trúc độc đáo cùng việc sử dụng một số thủ pháp và phương thức nghệ thuật tài tình cộng với tư tưởng nhân

Trang 12

Trang 10

đạo toát lên từ tác phẩm, tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris trở thành một trong những tiểu thuyết hay nhất của thế kỷ XIX Giá trị tinh thần mà Hugo gửi lại là khúc ca muôn thuở của loài người Tác phẩm tỏa sáng vẻ đẹp chân, thiện, mỹ Cái đẹp lan thấm trong tâm hồn, tâm trí người đọc, vọng hưởng và thúc bách, thay đổi con người, nuôi dưỡng mầm sống lương tri ở mỗi người

2 “Những người khốn khổ”, đỉnh cao Chủ nghĩa lãng mạn Victor Hugo

2.1 Cấu trúc tiểu thuyết

Bộ tiểu thuyết được chia làm năm phần:

Phần thứ năm: Jean Valjean

Những người khốn khổ đã mang trong nó nhiều loại hình

nghệ thuật của văn chương như: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa xen kẽ với những đoạn, chương bình luận ngoại đề Kết cấu tác phẩm như thế, đã phần nào làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng của tác giả: đề cao nhân đạo với tấm lòng thương cảm, yêu mến nhân dân sâu sắc

2.2 Cách đặt tiêu đề trong “Những người khốn khổ”

Tác phẩm đã đi vào lòng độc giả một cách dễ dàng một phần nhờ vào cách Hugo đặt tiêu đề cho bộ tiểu thuyết của mình Bên cạnh cấu trúc, tiêu đề cũng góp phần làm nên tính lãng mạn cho tác phẩm Khảo sát toàn bộ các đề mục, người đọc sẽ phát hiện ra một điều thật thú vị: phần lớn đó là những câu thành ngữ, tục ngữ hết sức cô đọng nhưng lại giàu chất thơ Chẳng hạn:

“Ngựa chết, hết chuyện”.“Một người mẹ gặp một người

mẹ”.“Gửi trứng cho ác” “Một trận bão táp trong đầu” “Đặc cách được vào” “Người cầm quyền khôi phục uy quyền” “Tham thì thâm” “Hai bất hạnh hợp thành hạnh phúc.” “Cẩm thạch chọi

Trang 13

Fantine là một người phụ nữ xinh đẹp, “nàng rất đẹp Nàng

cố giữ cho mình trong trắng Nàng có vàng ngọc làm của riêng như ai, nhưng vàng của nàng xếp trên mái tóc, ngọc của nàng giắt ở sau môi”…Nét đẹp ấy không còn đơn thuần là vẻ đẹp ngoại

hình nữa mà tỏa sáng lấp lánh vẻ đẹp tâm hồn người mẹ

Gương mặt lý tưởng mà ông yêu quý có thể kể đến là Anjonras Câu chuyện kể về anh là một hình ảnh rất đẹp đã đi mãi vào lòng những con người chính nghĩa

Xen kẽ với những trang miêu tả, kể chuyện, Hugo chen vào

đó là những đoạn văn bình luận sắc sảo

Không những là những trang miêu tả, kể chuyện, bình luận riêng lẻ mà đôi khi tác giả kết hợp chúng lại tạo nên đỉnh cao về

nghệ thuật Điển hình ở cảnh “Một người mẹ gặp một người mẹ”

Bằng việc điểm qua một vài bút pháp nghệ thuật đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn, ta thấy được ở Hugo một tài năng văn học đặc sắc với lối văn miêu tả, kể chuyện đầy chất thơ Tất cả những yếu tố đó đã làm nên tính lãng mạn cho tác phẩm của ông

2.4 Kiểu nhân vật lãng mạn đặc trưng của Victor Hugo 2.4.1 Nhân vật Myriel

Nhân vật thuần lãng mạn nhất trước hết có lẽ là giám mục Myriel- nhân vật được tác giả giao phó nhiệm vụ thắp sáng ngọn

nến tâm hồn cho Jean Valjean, con người biểu thị “tình yêu đồng

loại ở ý nghĩa thuần túy nhất của kinh Phúc âm”.Đó là một bài

thơ trữ tình lãng mạn về con người đạt đến tự do sâu thẳm của một nội tâm đầy ắp những mối ưu tư và niềm thương yêu con người

2.4.2 Nhân vật Jean Valjean

Jean là nhân vật lý tưởng của tác phẩm: có một sức khỏe phi thường, một trí tuệ, lòng nhân hậu, trái tim yêu thương, một khả

Trang 14

Trang 12

năng nhẫn nại, một ước muốn vươn lên, một lòng thủy chung với lời hứa… Xây dựng nhân vật có tầm vóc phi thường như thế, Hugo muốn họ sẽ là những hình tượng nghệ thuật phản chiếu niềm hy vọng về sự xuất hiện những cõi lòng từ tâm sẽ đi khắp hang cùng ngõ hẻm để chia sẻ, an ủi, vực dậy những tâm hồn thất vọng, đưa người nghèo ra khỏi cảnh cùng khổ, bênh vực những

kẻ thế cô khỏi tình trạng bị đè nén, bất công.Đây là kiểu nhân vật lãng mạn tiêu biểu của chủ nghĩa lãng mạn

2.4.3 Nhân vật Gavroche

Dưới ngòi bút trìu mến của Hugo, Gavroche hiện ra với tất

cả vẻ đẹp tinh thần của một thiếu niên nảy sinh từ đêm đen của xã hội, em trở thành biểu tượng của sự thanh khiết Hình ảnh Gavroche thể hiện tư tưởng lãng mạn và những rung cảm hướng

về tương lai của nhà văn

2.4.4 Tiểu thuyết “Những người khốn khổ” là tiểu thuyết mang đậm chất thơ

Có thể thấy,“tình thương” là nguyên tắc thẫm mĩ cơ bản mà ông thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm Ngoài ra, ông còn sử dụng tình thương như một giải pháp xã hội, là tư tưởng, là phương tiện đấu tranh nhằm mang lại bình đẳng và hạnh phúc cho mọi người

Chất thơ còn thể hiện ở niềm tin và lòng tự hào đối với Cách mạng Cách mạng sẽ giải phóng con người ra khỏi cuộc sống phi nhân bản của xã hội tư sản, mang đến xã hội lý tưởng mà trong đó tình thương sẽ là nguyên tắc cao nhất

Trang 15

Trang 13

PHẦN KẾT LUẬN

Qua quá trình tìm hiểu đôi nét về sự nghiệp văn chương của Victor Hugo, ta thấy ở phương diện nào ông cũng có những đóng quan trọng cho nền văn chương Pháp và văn chương thế giới Đặc biệt ở lĩnh vực kịch và tiểu thuyết

Ở lĩnh vực kịch, tuy chỉ sáng tác trong khoảng thời gian hơn mười năm nhưng với những cách tân nghệ thuật táo bạo ông đã gây tiếng vang lớn trên kịch trường và đưa trường phái lãng mạn

đi tới đỉnh cao của sự toàn thắng Bằng việc phá vỡ qui tắc “tam duy nhất” của chủ nghĩa cổ điển, ông mở đường cho sân khấu tự

do phát triển theo hướng hiện đại Một sáng tạo mới ở đây đó là việc ông đưa vào sân khấu hình ảnh “nhân vật nổi loạn” mà nhân vật này sẽ còn tiếp tục xuất hiện trong các tiểu thuyết sau này của ông

Ở lĩnh vực tiểu thuyết, lĩnh vực mà ông chỉ sáng tác ở giai đoạn cuối nhưng nó đem lại vinh quang rất lớn cho ông với hai kiệt tác “Nhà thờ Đức bà Paris”, “Những người khốn khổ”…Với hàng loạt các thủ pháp nghệ thuật của chủ nghĩa lãng mạn như: sử dụng bút pháp tương phản, đề tài tình yêu, xây dựng nhân vật mang tính cách phi thường, cao cả….ông đã chuyển tải một cách đầy đủ và sâu sắc nội dung tư tưởng chứa đựng trong nó: lòng thương yêu con người, mong muốn xây dựng xã hội tốt đẹp bằng giải pháp tình thương…Tác phẩm đã để lại âm vang trong lòng người đọc không chỉ ở tài năng viết tiểu thuyết độc đáo mà còn ở tấm lòng yêu thương nhân loại cần lao

Nhìn chung, Victor Hugo là nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị lớn của nước Pháp Sự rộng lượng trong tư tưởng của ông, sự ân cần trong cách diễn tả đã làm rung động tâm hồn người đọc Ông

là một nhà thơ bình dân, đã viết văn và làm thơ với đặc tính giản

dị nhưng bao hàm bên trong sức mạnh, đề cập cả niềm vui, nỗi buồn nhiều người Di sản văn học mà ông để lại có giá trị về nhiều mặt, mà nổi bật lên là giá trị nhân đạo lớn lao Với những gì đóng góp cho dân tộc và nhân loại, Hugo xứng đáng với danh hiệu “lương tâm của các dân tộc” Nói đến Hugo là người ta nói đến chủ nghĩa nhân đạo, tấm lòng thương yêu của ông đối với những người lao động nghèo đói, bị áp bức…Dù nhân loại có tiến

Trang 16

Trang 14

bộ đến chừng nào đi chăng nữa thì chủ nghĩa nhân đạo của ông vẫn rất cần thiết cho mọi thời đại Nó làm cho con người xích lại gần nhau, hiểu nhau hơn trong sự hòa nhập nền văn hóa toàn cầu

Hết

La Thị Ngọc Ánh

5C1

Trang 17

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

LA THỊ NGỌC ÁNH Lớp ĐH 5C1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÀNH NGỮ VĂN

LONG XUYÊN, 5/2008

GVHD: Ths Phùng Hoài Ngọc

Trang 18

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn:

1 Ban giám hiệu trường Đại học An Giang, Ban chủ nhiệm Khoa sư phạm đã tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp

2 Các thầy cô bộ môn Ngữ Văn đã hướng dẫn em học tập và nghiên cứu trong suốt khóa học vừa qua

3 Thầy Phùng Hoài Ngọc đã hướng dẫn em hoàn thành luận văn

Long Xuyên, tháng 5 năm 2008 Sinh viên La Thị Ngọc Ánh

Trang 19

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN Trang MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

I Lí do chọn đề tài 1

II Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

III Mục đích nghiên cứu 3

IV Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

V Đóng góp của khóa luận 4

VI Phương pháp nghiên cứu 4

VII Cấu trúc luận văn 5

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7

I Chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu như một trào lưu 7

1 Cơ sở triết học 7

2 Cơ sở mỹ học 9

II Chủ nghĩa lãng mạn như một phương pháp sáng tác 11

1 Nguyên tắc sáng tác của Chủ nghĩa lãng mạn 12

2 Đặc điểm thi pháp cơ bản của Chủ nghĩa lãng mạn 12

CHƯƠNG II: KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ VICTOR HUGO 18

I Cuộc đời 18

II Sự nghiệp sáng tác 19

CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT KỊCH VÀ TIỂU THUYẾT CỦA VICTOR HUGO 26

I Kịch drame: vở “Hernani” 26

1 Giới thiệu cốt truyện 26

2 “Trận chiến Hernani”, sự chiến thắng của chủ nghĩa lãng mạn đối với chủ nghĩa cổ điển 27

II Tiểu thuyết 32

1 “Nhà thờ Đức Bà Paris”, toà nhà thờ vĩ đại bằng thơ ca 32

2 “Những người khốn khổ”, đỉnh cao Chủ nghĩa lãng mạn Victor Hugo 39

PHẦN KẾT LUẬN 54

PHỤ LỤC 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 20

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Cho đến nay, quá trình hình thành và phát triển văn học đã trải qua những bước thăng trầm với nhiều biến động phức tạp của nhiều khuynh hướng, nhiều trào lưu…Văn học phương Tây thế kỉ XIX cũng nằm trong sự vận động đó Bước qua văn học Phục hưng và thế kỉ Ánh Sáng, văn học phương Tây thế kỉ XIX đã đạt được những thành tựu rực rỡ của hai khuynh hướng văn học: chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực Ra đời kế tiếp nhau, hai trào lưu này không thể không ảnh hưởng qua lại và chịu sự chi phối của những điều kiện lịch sử - xã hội cùng thời.Với tính chất vạch trần bản chất

xã hội đương thời, bênh vực cho những con người lao khổ, chủ nghĩa hiện thực đã thực sự phơi bày được bản chất của hiện thực, nâng cao lý trí con người Chính vì thế, chủ nghĩa hiện thực đã được các nhà phê bình, nghiên cứu đánh giá rất cao và coi nó là chuẩn cao nhất trong lĩnh vực sáng tác của các nhà văn

Nhưng ngày nay, với cách nhìn nhận, cách đánh giá mới thì chủ nghĩa hiện thực không hoàn toàn ưu việt đến thế Chúng ta không nên có sự so sánh giữa khuynh hướng văn học lãng mạn hay khuynh hướng văn học hiện thực Bởi vì, bất cứ một khuynh hướng văn học nào, khi ra đời nó đều đáp ứng những nhu cầu bức thiết của con người và làm cho con người thỏa mãn với những nhu cầu đó Nhất là trong thời đại ngày nay - thời đại kinh tế thị trường-thương trường cũng là chiến trường, con người bị cuốn hút vào những guồng máy công nghiệp thương mại, chạy theo đồng tiền Đôi khi con người còn đánh mất cả nhân tính, linh hồn của mình vì lợi nhuận Chính vì thế, chủ nghĩa lãng mạn trong đời sống hiện nay vẫn là vô cùng cần thiết Nó sẽ hâm nóng lại tình người, làm cho cuộc sống này có ý nghĩa hơn Chủ nghĩa lãng mạn một mặt sẽ thỏa mãn tâm hồn con người, mặt khác nó sẽ nuôi dưỡng, bồi đắp, nâng cao tình cảm con người Nói đến chủ nghĩa lãng mạn thì không thể không nhắc đến cây đại thụ tỏa bóng rợp thế kỉ XIX – Victor Hugo Bằng “một hệ thống các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng”, ông đã cho ra đời hàng loạt tác phẩm văn chương kiệt xuất Thành tựu của ông đã đem đến nhựa sống tươi tốt, ương mầm cho tâm hồn bao thế hệ Khảo sát toàn bộ tác phẩm của ông, ta thấy chủ nghĩa nhân đạo bao trùm và xuyên suốt Có thể nói, chủ nghĩa nhân đạo là thứ

“hàng hóa” xuyên quốc gia Nó có thể du nhập bất cứ đâu, bất cứ nơi nào mà

Trang 21

không có một rào cản nào có thể ngăn được Chính điều đó, tư tưởng và nghệ thuật của V.Hugo bao giờ cũng là những hạt ngọc tỏa sáng cho chính dân tộc ông và có những giá trị phổ biến cho các dân tộc khác

Mặc dù kiến thức và tài liệu tham khảo còn hạn chế, nhưng với sự yêu thích văn chương cùng với sự yêu mến con người ông, tôi mạnh dạn chọn đề tài này với mong muốn tìm hiểu thấu đáo, cặn kẽ hơn về một số đặc điểm nghệ nghệ thuật làm nên bút pháp chủ nghĩa lãng mạn trong kịch và tiểu thuyết của V.Hugo Ở đây, tôi sẽ trình bày những nét cơ bản nhất về nội dung tư tưởng và một số đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết mà ông thường sử dụng trong quá trình sáng tác Qua đó, giúp người tiếp nhận có được cái nhìn khái quát về tác phẩm cũng như bước vào thế giới nghệ thuật tuyệt diệu của thơ văn V.Hugo

II Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Với những thành tựu chói lọi trên văn đàn thế giới, V.Hugo cũng như tác phẩm của ông đã thu hút bao tâm trí của các nhà phê bình nghiên cứu trong

và ngoài nước

Ở Việt Nam, sự phổ biến của V.Hugo khá mạnh mẽ Do đó, những công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm của ông xuất hiện rất nhiều Điển hình như:

− Phùng Văn Tửu với “Victor Hugo” (NXBGD 1978)

− Đặng Anh Đào với “Cuộc đời và tác phẩm Victor Hugo” (NXBGD)

− Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm với “Văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán thế kỉ XIX” (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1985)

− Minh Chính, Văn học phương Tây giản yếu (NXB ĐHQG TPHCM 2002)

− Gần đây là cuốn “Văn học phương Tây” nhiều tác giả biên soạn (NXBGD 2002)

− Công trình nghiên cứu mới nhất là “Văn học thế giới tập II” (giáo trình dùng cho Cao Đẳng Sư Phạm, NXB Đại học Sư phạm), Lưu Đức Trung (chủ biên)…

Nhìn chung, các công trình này đã giới thiệu khá đầy đủ về cuộc đời,

sự nghiệp sáng tác của ông Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc đi vào tìm hiểu những yếu tố nghệ thuật làm nên bút pháp chủ nghĩa lãng mạn trong kịch và tiểu thuyết V.Hugo thì hầu như chưa có một công trình cụ thể, chuyên biệt

Trang 22

Nghiên cứu về đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết của V.Hugo là một đề tài khá lí thú, mới mẻ và cũng không đơn giản Do đó, với vốn kiến thức ít ỏi của một sinh viên năm tư chắc hẳn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện Để hoàn thành luận văn người viết dựa vào một số tài liệu của các tác giả kể trên và những tài liệu liên quan đến V.Hugo (được liệt kê ở

mục Tài liệu tham khảo)

III Mục đích nghiên cứu

Như chúng ta đã biết, một tác phẩm văn học có giá trị sẽ bao gồm giá trị nội dung và giá trị hình thức Vì vậy, bất cứ nội dung nào cũng chứa đựng hình thức và bất cứ hình thức nào cũng chứa đựng nội dung Do đó, “công việc tìm ra cái hình thức mang quan niệm”-tức là cái phương thức tư duy nghệ thuật của nhà văn nghệ sĩ đã ngưng kết thành cái hình thức nghệ thuật của tác phẩm nghệ thuật-là công việc hết sức phức tạp, đòi hỏi sự tìm tòi, phát hiện Nhất là với thiên tài văn học V.Hugo thì việc phát hiện ra cái phương thức nghệ thuật để nhà văn chuyển tải quan niệm là điều không dễ dàng chút nào

Nhưng với tinh thần ham học hỏi, qua luận văn này tôi mong muốn tìm hiểu một cách sâu sắc, thấu đáo những yếu tố nghệ thuật mà ông sử dụng để

có thể lý giải vì sao tác phẩm của V.Hugo lại có sức mạnh bất diệt, trở nên bất

tử trong lòng độc giả bao thế hệ Từ việc nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng nó

sẽ là chiếc chìa khóa giúp bạn đọc mở cánh cửa bước vào thế giới nghệ thuật tác phẩm V.Hugo Qua đó, chúng ta có thể nắm bắt được những tư tưởng, những quan niệm độc đáo tác giả đã gửi gắm vào trong đó, mà con người hôm nay cần phải trân trọng, học hỏi và kế thừa

IV Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là một số đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết của đại văn hào Victor Hugo

Để làm nổi bật lên một số đặc điểm nghệ thuật mà ông sử dụng trong quá trình sáng tác, người viết khảo sát tác phẩm của ông ở lĩnh vực kịch và tiểu thuyết Qua đó, người viết có được cái nhìn khái quát, hệ thống về nó Nhưng do sự nghiệp văn chương của ông khá đồ sộ, ở lĩnh vực kịch, tôi chỉ chọn vở kịch đã từng gây tiếng vang lớn trong kịch trường: “Hernani” Ở lĩnh vực tiểu thuyết, tôi chọn hai bộ tiểu thuyết lớn làm nên tên tuổi của ông, đó là:

“Nhà thờ Đức Bà Paris” và “Những người khốn khổ” Bên cạnh đó, tôi còn tham khảo thêm một số tài liệu khác có liên quan để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đạt kết quả cao nhất

Trang 23

V Đóng góp của khóa luận

Khi tiếp nhận tác phẩm văn học, chúng ta không chỉ tiếp cận ở bề mặt câu chữ mà qua đó, phải thấy được những tầng ý nghĩa sâu xa mà tác giả gửi gắm vào nó Để phát hiện ra được điều đó, người đọc phải có cái nhìn trực diện và chiều sâu suy nghĩ Đặc biệt, việc đánh giá và tiếp cận văn học nước ngoài là vô cùng khó khăn, bởi sự cách ngăn của hàng rào ngôn ngữ và những khác biệt về văn hóa Chúng ta chỉ được tiếp xúc với nó thông qua bản dịch chứ không ở nguyên tác Do đó, việc tìm hiểu đặc điểm nghệ thuật để khám phá được nội dung là điều hết sức cần thiết

Victor Hugo, “con người của thành phố Paris hoa lệ”, tuy cách chúng ta nửa vòng trái đất nhưng tư tưởng của ông lại rất gần gũi, phù hợp với truyền thống của dân tộc ta Với cuộc sống xô bồ, bận rộn, thời gian được tính bằng vàng như ngày hôm nay thì mấy ai trong chúng ta bỏ ra một ít thì giờ để đọc lại những câu thơ chứa chan tình người, “Nhà thờ Đức Bà Paris” hay “Những người khốn khổ”, lắng lòng mình lại trước những câu, chữ và chiêm nghiệm

nó Nếu làm được điều đó, tôi tin chắc rằng bạn phải thốt lên rằng: “Ôi! V.Hugo, thật là kì diệu” Sống giữa xã hội tư bản thối nát, đang trên đường suy thoái lúc bấy giờ, V.Hugo có được tinh thần nhân bản quá tuyệt vời Ông

là con người của chủ nghĩa nhân đạo cao cả, của tình thương yêu nhân loại xốn xang Ông không lúc nào không nghĩ đến, không bênh vực, không đấu tranh cho quyền sống, quyền tự do, quyền hạnh phúc của con người cần lao với mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp bằng giải pháp tình thương

Tôi hy vọng rằng khóa luận sẽ mang đến một cách tiếp cận mới, có hiệu quả về tác phẩm văn học nước ngoài, nó sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn đồng môn trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy sau này Và tôi tin rằng, những tư tưởng, ý niệm tốt đẹp mà V.Hugo hoài vọng sẽ mãi là hành trang cho mỗi người chúng ta vững bước vào đời với sự tin yêu, tin tưởng cuộc sống này hãy còn tươi đẹp biết bao! Có được sự đồng cảm, sự thương yêu và tin cậy lẫn nhau thì con người sẽ sống và làm việc với tinh thần thái độ hăng say hơn, góp phần làm cho xã hội ngày càng phồn vinh hơn

VI Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu khóa luận đạt hiệu quả tốt nhất, tôi phối hợp sử dụng nhiều phương pháp

Trang 24

Đầu tiên, tôi dùng phương pháp tổng hợp, tức là đọc một số bài nghiên cứu có liên quan rồi tổng hợp và ghi chép lại những vấn đề cần thiết phục vụ cho bài nghiên cứu của mình

Sau đó, tôi dùng phương pháp khảo sát, xem xét qua tất cả tư liệu rồi phân loại, liệt kê nó, ghi lại những dẫn chứng phù hợp Khi liệt kê dẫn chứng thì phải có phân tích nên phương pháp phân tích được sử dụng để phân tích những luận cứ, luận điểm đưa ra, làm sao để cho vấn đề được nói đến có sức thuyết phục người khác Trong bài viết, đôi khi tôi có sử dụng phương pháp so sánh làm nổi bật vấn đề

Tóm lại, luận văn đã đồng thời sử dụng nhiều phương pháp: tổng hợp, liệt kê, phân tích, so sánh, tất cả chỉ với một nguyện vọng là làm sao nghiên cứu khóa luận đạt kết quả tốt nhất

VII Cấu trúc luận văn

TÌM HIỂU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT KỊCH VÀ TIỂU

THUYẾT CỦA VICTOR HUGO MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài

I Chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu như một trào lưu:

1.Cơ sở triết học

2.Cơ sở mỹ học

II Chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu như một phương pháp sáng tác:

1.Nguyên tắc sáng tác của Chủ nghĩa lãng mạn

2.Đặc điểm thi pháp cơ bản của Chủ nghĩa lãng mạn

Chương II: Khái quát về tác giả Victor Hugo

1.Giới thiệu cốt truyện

2.“Trận chiến Hernani”, sự chiến thắng của Chủ nghĩa lãng mạn đối với Chủ nghĩa cổ điển

Trang 25

II Tiểu thuyết:

1.“Nhà thờ Đức Bà Paris”, toà nhà thờ vĩ đại bằng thơ ca

2.“Những người khốn khổ”, đỉnh cao Chủ nghĩa lãng mạn Victor Hugo

PHẦN KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 26

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

I Chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu như một trào lưu

Chủ nghĩa lãng mạn là thuật ngữ chỉ chung các trào lưu văn học-nghệ thuật ra đời vào khoảng cuối thế kỉ XVIII và phát triển nhất vào thế kỉ XIX ở nhiều nước phương Tây Đến thế kỉ XIX ở Pháp, Chủ nghĩa lãng mạn phát triển thành một trào lưu có hệ thống luận điểm, có phương pháp sáng tác riêng, phổ biến trên mọi lĩnh vực thơ, kịch, tiểu thuyết như trong các tác phẩm của Lamartine, Muyxê, Vigny, V.Hugo

sự hình thành của Chủ nghĩa lãng mạn

Trước hết, chúng ta thấy những nhà tư tưởng của thế kỉ Ánh sáng đã truyền bá những tư tưởng dân chủ và duy vật Họ công kích tôn giáo, châm biếm thần học và ủng hộ tự nhiên thần luận Họ tin tưởng mãnh liệt vào sự tiến

bộ của lịch sử Các nhà tư tưởng Ánh sáng cho rằng đặc quyền và áp bức sẽ nhường chỗ cho những chân lý vĩnh viễn Và theo họ, sự thay đổi chế độ xã hội cốt yếu là nhờ ở việc truyền bá tư tưởng

Đến đầu thế kỉ XIX, Xanh Xi-mông, Phu-ri-ê, Ô-oen là những nhà xã hội không tưởng vĩ đại Học thuyết của họ đã phê phán những mâu thuẫn của chế độ tư bản chủ nghĩa, đã chứng minh phải thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa bằng chế độ xã hội chủ nghĩa Nhưng họ không nhìn thấy lực lượng giai cấp sáng tạo ra xã hội mới Họ muốn sáng tạo ra hạnh phúc trên trái đất bằng pháp luật, bằng tuyên ngôn, mà không dựa vào bản thân nhân dân.(Stalin toàn tập,

trích Từ điển triết học, NXB Sự thật)

Trang 27

Về truyền thống văn học, Chủ nghĩa lãng mạn đã kế thừa chủ nghĩa tình cảm, một tư trào văn chương thế kỉ XVIII ra đời nhằm cân đối với tính lý trí của văn học Ánh sáng thế kỉ XVIII vốn nặng nề về lý trí

Về phương diện triết học, Chủ nghĩa lãng mạn Tây Âu đều tìm tới những hệ thống triết học mang tính duy tâm chủ quan để làm cơ sở cho học thuyết của mình Mặc dù phủ định thực tại tư sản, thái độ coi thực tại là một cái gì không đáng quan tâm, coi “cái tôi” là đứng cao hơn tất cả, cuối cùng lại dẫn đến thái độ chiêm nghiệm trước thực tại, về thực chất là một thái độ “đầu hàng trước cảnh vô vị tư sản” Âm vang trực tiếp của các tác phẩm của các nhà lãng mạn là mặc cảm bị tước đoạt, ý thức sâu sắc về sự trống rỗng của cuộc đời, về sự cô đơn và thất bại

Đặc điểm chính của thế giới quan lãng mạn là sự lý giải một cách chủ quan về các hiện tượng đời sống, là gán cho đời sống cái mà chủ thể nghệ sỹ

mơ ước, khát vọng Do đó, các nhà lãng mạn không có nhận thức chính xác,

mà có khi tùy tiện bóp méo các quy luật khách quan về sự phát triển của thực tại, đem đối lập cá nhân với xã hội, quá đề cao vai trò của cá nhân trong lịch

sử Bất bình với thực tại, các nhà lãng mạn muốn tìm ra những giải pháp chống lại những xấu xa trong xã hội, nhưng vì không nhận thức đúng đắn quy luật lịch sử cụ thể, nên chủ trương của họ thường xuất phát từ những ý tưởng trừu tượng, thường có tính chất không tưởng Ví như trường hợp Bairơn nhìn

ra phía trước, nhưng không thể nhận ra “đằng sau chốn xa cùng lấp lánh dải đất hứa hẹn của tương lai” (Biêlinxki); hay V.Hugo tuy có cảm tình sâu đậm với những người khốn khổ “nhưng lại đi tìm giải pháp cứu khổ bằng ảo tưởng tình thương”

Chủ nghĩa lãng mạn là thế giới quan, là tiếng nói của thời đại mới sau cách mạng tư sản Pháp và những cuộc đấu tranh thắng lợi của nhân dân châu

Âu chống ách xâm lược của Napoleon Tuy cùng bất mãn đối với thực tại tư sản, nhưng do xuất phát từ những nguyên nhân giai cấp khác nhau, nên khuynh hướng của Chủ nghĩa lãng mạn cũng khác nhau: có khuynh hướng lãng mạn tiêu cực và khuynh hướng lãng mạn tích cực

Khuynh hướng lãng mạn tiêu cực (hay còn gọi là lãng mạn bảo thủ)

− Cơ sở triết học là chủ nghĩa duy tâm: Kant, Béc-xơn, Freud,

− Chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực, đó là tiếng kêu thất vọng, lời than vãn, sự luyến tiếc của tầng lớp phong kiến quý tộc suy tàn về một thời đại vàng son đã qua, về “một thiên đường đã mất” Đặc điểm của khuynh hướng này là chủ nghĩa bi quan, chủ nghĩa thần bí, thái độ đối nghịch với lý trí, sự thoát ly thực

Trang 28

tại, chạy trốn cuộc đời, quay về quá khứ, đi vào tôn giáo, “đi sâu vào thế giới nội tâm với những tư tưởng bí ẩn thiên định của cuộc đời, về ái tình và về cái chết” (M.Gorki)

Khuynh hướng lãng mạn tích cực (hay còn gọi là lãng mạn tiến bộ)

− Cơ sở triết học là chủ nghĩa xã hội không tưởng của Ô-oen và Phu-ri-ê “Họ

đã nhìn vào chiều hướng của sự phát triển thực tại, và thực tế là họ đã đi trước

sự phát triển ấy” (Lênin)

− Chủ nghĩa lãng mạn tích cực hướng về tương lai, tràn đầy nhiệt tình và khát vọng chân lý, nó “tăng cường ý chí con người đối với cuộc sống, thức tỉnh lòng bất phục tùng đối với thực tại, đối với mọi đè nén áp bức” (Gorki) Nó dẫn con người vào những tình cảm đẹp, những say mê lớn, ra sức biểu dương những phẩm chất cao quý, sẵn sàng hy sinh và lập nên những kì tích bất hủ Sáng tác của họ phản ánh những cuộc đấu tranh xã hội hay giải phóng dân tộc, phù hợp với lợi ích nhân dân

Về mặt thị hiếu thẩm mỹ, Chủ nghĩa lãng mạn là sự nổi dậy chống lại mọi ước lệ, mọi quy tắc gò bó của chủ nghĩa cổ điển V.Hugo nói rằng:

“Chính với những lưỡi kéo của những quy tắc tam duy nhất, người ta đã cắt mất cánh của các nhà thơ” Trong bài tựa Crôm-oen của V.Hugo ông cũng đã xác định: “Ba nguyên tắc ? Không, chỉ có một Đó là tự do Tự do trong nghệ thuật và tự do trong cấu trúc” Thật vậy, tự do là nguyên tắc lớn nhất của Chủ nghĩa lãng mạn Với Chủ nghĩa lãng mạn, đã xuất hiện “một nền văn học được giải phóng” trên nhiều bình diện: thơ ca, tiểu thuyết, sân khấu Chủ nghĩa lãng mạn đã giải phóng thơ ca, cách tân sân khấu với vở “Hernani” 1830 Nhờ nguyên tắc tự do, Chủ nghĩa lãng mạn đã đem lại một làn sóng tiểu thuyết cực

kỳ phong phú và đa dạng Với cương lĩnh của Chủ nghĩa lãng mạn, V.Hugo đả

Trang 29

phá sự phân chia nghệ thuật thành các loại hình cao thấp có tính chất đẳng cấp của chủ nghĩa cổ điển, xóa bỏ ranh giới giữa bi kịch và hài kịch, phá tung những quy tắc của thi pháp cổ điển Trong mỹ học, Heghen đã đưa ra nhận xét: “Tinh thần quay trở về mình, có được ở trong bản thân nó cái tinh thần khách quan mà nó vẫn hoài công tìm kiếm ở trong cái thế giới cảm quan bên ngoài; cảm thấy mình và nhận thức rằng mình thống nhất với bản thân mình

Sự nâng cao này làm thành nguyên lý cơ bản của nghệ thuật lãng mạn nhằm vươn tới đời sống nội tâm tuyệt đối”

Các chủ đề về tình yêu, nỗi cô đơn, nỗi buồn, những lý tưởng không đạt được…được sử dụng rộng rãi trong nghệ thuật lãng mạn Những chủ đề quan trọng và quen thuộc của văn học lãng mạn bắt nguồn từ cảm thức về thời đại,

về lịch sử, về thân phận con người Trong đó, con người thất vọng, bàng hoàng trước những cơn lốc lịch sử, trước sự trôi chảy của dòng đời, về định mệnh, về tôn giáo… Họ đã làm phong phú cho nghệ thuật bằng những hình tượng, những chủ đề mới Trong các tác phẩm, họ đã đề cập đến các chủ đề có liên quan đến cuộc đấu tranh của nhân dân, đến quá khứ anh hùng, đến các sự kiện và những chiến công anh dũng của nhân dân Điều đó cho thấy, người nghệ sĩ lãng mạn không phải là người chỉ biết có ước mơ, mà thực tế xã hội đã thức tỉnh người nghệ sĩ tình cảm yêu nước tha thiết và sự phản đối với mọi bất công

Nhân vật lãng mạn là những nhân vật mới không phải là cá nhân hài hòa với tập thể như con người trong thời đại Ánh Sáng Nhân vật lãng mạn là những nhân vật “nổi loạn” chống đối với thực tại tư sản tầm thường Họ là những người thực hiện các suy tưởng lãng mạn, các phản kháng lãng mạn Các thái độ lãng mạn thường giống nhau: nặng chất suy tưởng, thiên về đời sống tình cảm, cô đơn và u sầu, xa cách và nổi loạn, không thỏa hiệp được với thực tại cuộc đời, thường có kết thúc mang tính bi kịch, dù họ là nhân vật lãng mạn hướng nội hay lãng mạn hướng ngoại, tiêu cực hay tích cực

Chủ nghĩa lãng mạn ưa sử dụng các thủ pháp nghệ thuật như: phong vị ngoại lai thể hiện trong cách lựa chọn đề tài, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật không phải là những khung cảnh, con người quen thuộc ở thị thành, cung đình, mà ở những nơi xa lạ, những thời điểm xa xưa, những tập tục khác thường… là một phương thức hữu hiệu đem lại phong vị tươi mới cho tác phẩm Nguyên tắc tự do góp phần trẻ hóa lối hành văn, cách gieo vần, cách sử dụng các biện pháp tu từ, cách lựa chọn các không gian và thời gian nghệ thuật Và do nhiệt tình, sôi nổi muốn tự thể hiện, chia sẻ và thuyết phục, văn chương lãng mạn nói chung thường mang tính

Trang 30

hùng biện Ở từng nhà văn có các thủ pháp riêng Đặc biệt nhất là V.Hugo, người đã thể hiện được cả một hệ thống nghệ thuật riêng của mình với một loạt các thủ pháp nghệ thuật đặc thù như tương phản, cường điệu, trữ tình ngoại đề, sự đối lập giữa cái trác tuyệt và cái thô kệch,

Theo nhận xét của các nhà phê bình, nghệ thuật lãng mạn có khả năng dung nạp rộng rãi các phương tiện thể hiện Thẩm mỹ của Chủ nghĩa lãng mạn chú ý sự hỗn hợp chặt chẽ giữa các thể loại với nhau, tạo sự sinh động, tự do “Tinh thần lãng mạn chính là sự nối kết liên tục các yếu tố đối kháng nhau: tự nhiên và nghệ thuật, thơ ca và văn xuôi, sự nghiêm túc và thú vui, kỷ niệm và dự cảm, tư tưởng trừu tượng và những cảm giác sống động, sự sống

và cái chết hòa lẫn với nhau một cách mật thiết trong thể loại lãng mạn” (A W Sleigel)

II Chủ nghĩa lãng mạn như một phương pháp sáng tác

Phương pháp sáng tác là linh hồn của một nội dung hoạt động sáng tạo nghệ thuật, được biểu hiện thành các bình diện mang tính chất các giải pháp thẩm mỹ nhằm khắc phục trở ngại để từ chân lí đời sống tới chân lí nghệ thuật một cách tối ưu

Nghệ thuật lãng mạn là một nghệ thuật không chấp nhận thực tại khách quan, là một nghệ thuật không muốn “mô tả hiện thực có thực”, mà chỉ chú trọng đào xới cảm xúc chủ quan nên trường thẩm mỹ của họ là vùng của “cái tôi nội cảm” (Hêghen), vấn đề lớn nhất đối với họ là vấn đề “tự do tuyệt đối”, nhưng không phải là tự do ở ngoài đời, mà chỉ là thứ tự do trong tâm tưởng, trong mộng ước mà thôi

Mở đường cho lý thuyết lãng mạn thế giới, Kant, nhà mỹ học Đức cuối thế kỉ XVIII tuyên bố: “Vẻ đẹp không ở đôi má hồng của cô thiếu nữ, mà trong con mắt của kẻ si tình” V.Hugo, trong lời tựa của vở kịch đầu tay

“Hernani”, ông cho rằng: “Nghệ thuật không đi giày đỏ, đội mũ đỏ” Tư tưởng sáng tạo nghệ thuật của Chủ nghĩa lãng mạn là một tư tưởng dựa trên chủ nghĩa duy tâm chủ quan, và một thái độ ít gửi gắm hy vọng nhất vào cuộc đời

và vào sức mạnh thực tế của con người Một quan niệm coi nghệ thuật chỉ là nơi để nghệ sĩ giải bày tâm tưởng, nghệ thuật không có nhiệm vụ giải đáp các vấn đề thuộc mâu thuẫn cơ bản của thời đại

Xuất phát từ trường thẩm mỹ và tư tưởng sáng tạo nghệ thuật như trên, Chủ nghĩa lãng mạn đề ra các nguyên tắc sáng tác của mình

Trang 31

1 Nguyên tắc sáng tác của Chủ nghĩa lãng mạn

Chủ nghĩa lãng mạn chủ trương dựa vào các nguyên tắc sau để sáng tác:

Nguyên tắc 1: Chối từ thực tại

Xuất phát từ thái độ “nguyền rũa thực tại”, nghệ sĩ lãng mạn tự cho mình đứng trên hoàn cảnh Do đấy, nghệ thuật này thường không xuất phát từ những yêu cầu cơ bản của cuộc sống để xây dựng hình tượng, mà chủ yếu dựa vào ý muốn chủ quan của nghệ sĩ để sáng tác Vì thế, ngay trong các tác phẩm lãng mạn tích cực, các chi tiết cụ thể, chân thực, sinh động đều bị đẩy xuống bình diện thứ yếu, cốt lõi là dụng công vào việc xây dựng nhân vật lý tưởng

Nguyên tắc 2: Tự do bay lượn trong nghệ thuật

Tách mình ra khỏi cảnh đời thực, chủ trương nghệ thuật chỉ “vị nghệ thuật”, nên nghệ thuật lãng mạn chọn hình thức làm cứu cánh của mình Vấn

đề “tự do cá nhân”, “tự do sáng tác” là vấn đề bậc nhất của họ Họ từ chối

“đơn đặt hàng của xã hội”, chỉ nhận “đơn đặt hàng của trái tim” Nghệ thuật không sống với đời sống mà chỉ sống với mình

Nguyên tắc 3: Điển hình hóa tâm trạng

Vì lấy cái “tôi nội cảm” của mình làm thước đo cho muôn vật, nghệ thuật lãng mạn tước đi vai trò nhận thức khách quan của nghệ thuật Họ cho rằng, nghệ thuật không phải là “tấm gương” phản chiếu đường đời, mà chỉ là phương tiện bộc lộ tâm trạng Nếu chủ nghĩa cổ điển chủ trương hạn chế cảm hứng, thì nghệ thuật lãng mạn lại vung tay thao túng cảm hứng đến mức tùy hứng Họ nhấn mạnh tính khí, chứ không chủ trương tìm mối quan hệ biện chứng giữa tính cách và hoàn cảnh Như vậy, họ đã tự thu hẹp tính cách nhân vật vào phạm vi tâm trạng Từ đó, trữ tình không chỉ là một biện pháp, mà còn

Trang 32

cao cái tôi chủ quan trong phương thức nhận thức và thể hiện cuộc sống bằng hình tượng; lấy cái chủ quan để thay thế hoặc lấn át cái khách quan, lấy mộng tưởng thay thế cho thực tế, lấy cái ngẫu nhiên cá biệt thay cho qui luật Văn học lãng mạn là nơi người nghệ sĩ gởi gắm những giấc mơ có tính chủ quan Khuynh hướng này đã từng có trong thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ca dao nhưng phát triển ở đỉnh cao và trở thành hệ thống lý luận trong Chủ nghĩa lãng mạn Ta có thể bắt gặp cách nhìn này trong “Những người khốn khổ” của V.Hugo ở từng chi tiết, những sự kiện lịch sử, những nhân vật … Tác phẩm đã được viết bằng một trái tim yêu thương và một khát vọng cải tạo xã hội tha thiết và mãnh liệt …

Tóm lại, về phương diện cách nhìn, Chủ nghĩa lãng mạn cơ bản vẫn là khuynh hướng chủ quan trong tiếp cận và lý giải hiện thực

2.2 Về phương diện cách viết

Cách viết là vấn đề hết sức cụ thể, nên trong thực tế, để làm rõ lý thuyết thường ta vẫn phải tách chia ra: thể loại thơ, kịch và tiểu thuyết

Thể loại thơ

Thơ là thể loại mà văn chương lãng mạn luôn luôn tìm đến Bởi đó là

“mảnh đất màu mỡ” có khả năng nhiều nhất trong việc giải bày, bộc lộ cái tôi muôn màu của chủ thể

Nhìn vào hình thức, thơ lãng mạn dung nạp các hình thức đa dạng khác nhau, không bị lệ thuộc vào hệ thống thi luật gò bó của thi ca cổ điển, đã đem đến cho thơ lãng mạn khả năng diễn tả thế giới phong phú và tinh vi của tâm hồn con người

Ở góc độ thi pháp, vấn đề hình thức câu thơ có liên quan hàng loạt đến các vấn đề khác: cách thức cảm nhận của con người về thế giới, về không gian thời gian, về đề tài, về việc lựa chọn ngôn ngữ, vấn đề tổ chức lời thơ, kết cấu nhạc điệu, khả năng bộc lộ cái tôi được cá thể hóa … Trong thơ luôn xuất hiện

“cái tôi” chủ thể với tư cách là trung tâm vũ trụ, là nguồn thi tứ, là nhu cầu được tự biểu hiện, nhu cầu được tận hưởng, được chia sẻ những u uất, nhu cầu được hưởng hạnh phúc riêng tư Chính nhu cầu này làm cho ngôn ngữ thơ gần gũi với ngôn ngữ đời thường, nó bớt đi rất nhiều những tượng trưng, sáo mòn, ước lệ

Thơ ca lãng mạn đã kế thừa thi pháp của thơ ca cổ điển Nhưng bên cạnh sự kế thừa đó, nó còn có sự cách tân tạo thành những qui luật chung của thi ca khuynh hướng văn học lãng mạn

Trang 33

Lí luận kịch

Kịch thường được hiểu vừa theo nghĩa là một loại hình nghệ thuật sân

khấu vừa có ý nghĩa là kịch bản văn học, là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp bao gồm các yếu tố văn học, âm nhạc, vũ đạo….,hội hoạ và điêu khắc

Kịch bản văn học là một trong 4 loại thể cơ bản cuả văn học.(Từ điển

văn học tập III,1984)

Theo Hegel: “Thi kịch (tức là kịch) sử dụng những nghệ thuật khác như

là cơ sở đơn giản và hoàn cảnh cảm quan những vần bị ngự trị bởi lời thơ (tức kịch bản) nó đóng vai trò chủ yếu, song mặt khác, cái buổi đầu chỉ có giá trị guíp cái sau có thể trở thành cứu cánh và không vượt giới hạn cuả mình, có thể

tự nâng mình thành cái đẹp độc tôn”.(Dẫn lại Nguyễn Lương Ngọc, Nguyên lý luận văn học NXB Giáo dục 1962 Tập 2 trang 42) Theo mĩ học cuả Hegel và cuả Bielinski, kịch (trước hết là thể tài bi kịch) đã được khảo sát với tính cách

là hình thức cao nhất cuả sáng tác văn học, là tinh túy cuả thơ ca.(Dẫn lại cuả Nguyễn Văn Trung, Lược khảo văn học Nam Sơn Sài Gòn xuất bản 1996)

Và Hegel khẳng định bản chất cuả phương thức kịch: “Kịch là sự thống nhất có trung gian giữa những nguyên tắc cuả nghệ thuật tự sự và nghệ thuật trữ tình”

Lucien Dubech nhà lịch sử nghệ thuật đã nhận xét về nguồn gốc kịch:

“Kịch, theo qui tắc cuả tất cả những bộ môn cao cấp, đã bắt đầu bằng thi ca, ở khởi đầu mọi ngành nghệ thuật là thơ Asgust Comte cũng cho rằng: “kịch không phải là nghệ thuật đầu tiên, mà chỉ là một hình thức cuả thơ”

Sheldon Cheney trong bài báo “ Theatre- Three Thousand Year” (New York- 1961- Intro duction) đã viết: “Bất cứ khi nào và ở đâu, loài người đã tiến bộ ngoài việc chiến đấu chỉ vì sự tồn tại, với thần thánh, để giải trí và tự biểu hiện, loài người còn có sân khấu trong một vài ý nghĩa nào đó”

Có mấy cách phân loại kịch:

Nếu dựa trên nội dung tư tưởng và tính chất cuả xung đột, người ta chia

ra hai loại chính: Bi kịch (Tragedy) và hài kịch (Comedy) Đấy là hai thể loại cuả thời cổ Hy Lạp Về sau ra đời thể kịch hỗn hợp cái bi, cái hài và chất anh hùng gọi là chính kịch (drama) là do yêu cầu phản ánh hiện thực phức tạp và

đa dạng Đến thế kỉ XX ở phương Tây nảy sinh một số trào lưu kịch mới như kịch hiện sinh cuả J.P.Xactrơ, A Camus, kịch phi lí cuả Ionexco

Chính kịch trở thành loại chính trên sân khấu thế giới ngày nay, gọi tắt

là kịch

Trang 34

Nếu phân loại kịch theo ngôn ngữ nhân vật, ta có kịch nói, ca kịch (kịch dân ca), vũ kịch (Ballet), nhạc kịch (Opera), kịch câm và kịch thơ

Định nghĩa kịch thơ trong Từ điển văn học 1 ông Nguyễn Xuân Nam viết: “Thể loại kịch thông qua lời thơ để thể hiện nội dung kịch Các diễn viên phải đọc hoặc ngâm thơ khi diễn xuất Kịch thơ có lịch sử lâu đời Trong thời

kì chủ nghĩa cổ điển ở châu Âu, phần lớn các vở kịch là thơ”

Chúng tôi thấy định nghĩa trên dựa theo yếu tố thuần tuý hình thức Có thể cho rằng quan niệm cuả nhà thơ Hoàng Cầm rõ hơn, tuy vẫn chưa chỉ ra đặc trưng cuả kịch thơ “Theo ý tôi một kịch thơ phải đạt hai điều kiện: Trong kịch thơ có thơ và trong thơ là kịch” (Báo người Hà Nội số 85 ngày 1-10-

1988

Sau đây chúng tôi điểm qua mấy yếu tố cơ bản cuả một vở kịch:

− Kịch bản trình bày những biến cố, mâu thuẫn xung đột qua lời nói của nhân vật Tác giả có nhiệm vụ sáng tạo tính cách và điển hình trong sự mâu thuẫn

và xung đột ấy

− Hành động kịch: tức là những diễn biến của mâu thuẫn và xung đột Hành

động kịch phải là hành động tham gia trực tiếp vào xung đột (chứ không phải bất cứ hành vi nào của nhân vật trên sân khấu)

− Hành động kịch phải có kịch tính, tức là nó phải thay làm đổi mối quan hệ

giữa các nhân vật và bộc lộ tư tưởng chủ đề kịch Theo nghĩa đó, hành động kịch bao gồm cả lời nói (Hồ Ngọc, nghệ thuật viết kịch- Văn hóa năm 1973 trang 14 và 15)

Hành động kịch chia ra hai loại-hành động bên trong và hành động bên ngoài-đó là hai hình thức của hành động Các hành động tuân theo qui luật nhân quả “Tiền nhân hậu quả”, hành động này gây ra hành động khác (gián tiếp và trực tiếp)

Kết cấu hành động kịch chính là kết cấu vở kịch, thường theo qui luật

phổ biến sau (5 giai đoạn): 1-Giới thiệu 2- Thắt nút 3- Phát triển 4- Cao trào (điểm đỉnh) 5- Cởi nút (kết thúc)

Ngôn ngữ trong kịch là yếu tố chủ yếu xây dựng tính cách nhân vật, nó biểu lộ bên trong (suy nghĩ); nó gây ra mọi hành động, tạo ra mâu thuẫn và đẩy tới xung đột Vì vậy, ngôn ngữ trong kịch cần phải “tính cách hóa” “động tác hóa” “thi hóa” “hình tượng hoá” (tạo hình, âm thanh, màu sắc) và phải xúc tích, tinh luyện

Trang 35

Đặc trưng nhân vật kịch; đơn giản về thể hiện tâm lí bên trong (trái với

tiểu thuyết) nhưng xúc cảm phải được thể hiện đến độ căng thẳng bằng hành động kịch

Nhiều thế kỉ trước, kịch trường theo qui tắc tam nhất do Aristote đề ra

từ (384-322 trước Công nguyên):

− Thống nhất về hành động kịch (kịch xoay quanh một hành động chính)

− Thống nhất về thời gian (trong 24 giờ/ 1 ngày)

− Thống nhất về không gian (1 địa điểm)

Về tiểu thuyết

Tiểu thuyết là một loại hình tự sự, tiểu thuyết lãng mạn cũng tuân thủ những đặc thù của tiểu thuyết nói chung, nhưng do văn chương lãng mạn có khuynh hướng nghiêng về diễn tả thế giới của khát vọng chủ quan, nên về thi pháp, Chủ nghĩa lãng mạn cũng có những nét đặc thù riêng: đó là chất trữ tình tha thiết, là thế giới nội tâm được khai thác một cách tinh vi, là thế giới thiên nhiên thơ mộng, là tình yêu lứa đôi muôn màu, muôn vẻ Văn xuôi lãng mạn

do đó giàu chất thơ, đầy hấp dẫn, làm say đắm lòng người Văn xuôi lãng mạn kết hợp trong mình nó nhiều hình thức thể hiện đa dạng khác nhau: kể và tả, triết lí và bình luận, độc thoại và độc thoại nội tâm Đặc biệt, hình thức độc thoại nội tâm được sử dụng rộng rãi và đạt hiệu quả cao trong khả năng diễn tả thế giới nội tâm Nó có khả năng đi sâu kích thích những rung động thẩm mỹ sâu xa trong lòng người đọc

Với tiểu thuyết lãng mạn, yếu tố truyện đã không còn giữ vai trò trung tâm như tiểu thuyết cổ điển truyền thống, thay vào đó là yếu tố xây dựng nhân vật, nhất là xây dựng tâm lý nhân vật Tuy nhiên, tiểu thuyết lãng mạn chưa quan tâm đến những chi tiết chân thật của đời sống, những cảnh ngộ đời thường Các tiểu thuyết lãng mạn có khuynh hướng xây dựng những nhân vật

ở trong những cảnh ngộ phi thường, siêu phàm, để trên đó, nhân vật bộc lộ những tính cách phi thường, trác tuyệt Để xây dựng nhân vật như thế, các tiểu thuyết gia thường sử dụng các biện pháp tương phản, cường điệu, lý tưởng hóa… Trong đó, nghệ thuật tương phản như một biện pháp nghệ thuật chính yếu, hệ thống và nhất quán trên nhiều phương diện của tác phẩm Tương phản giữa tính cách và hoàn cảnh, tương phản giữa các nhân vật với nhau, tương phản ngay trong một nhân vật… Ví dụ như trong “Nhà thờ Đức Bà Paris” đó

là sự tương phản giữa cái phần bên ngoài tật nguyền, xấu xí với trái tim cao thượng của gã kéo chuông nhà thờ Đức Bà Quazimodo, hay tương phản giữa

Trang 36

ánh sáng chiếu rọi từ trái tim Jean với cái cống ngầm Paris đen ngòm đầy bóng tối khủng khiếp trong “Những người khốn khổ”

Cái tương phản được gắn liền với thủ pháp cường điệu, phóng đại, của các yếu tố phi thường trong tính cách và hoàn cảnh để đẩy nhân vật tới mức siêu phàm, trác tuyệt trong Chủ nghĩa lãng mạn trở thành một hệ thống thi pháp được Chủ nghĩa lãng mạn xem như nguyên tắc trong sáng tạo nghệ thuật Chủ nghĩa lãng mạn quan niệm: “Cái bình thường là cái chết của nghệ thuật”

D

Trang 37

CHƯƠNG II KHÁI QUÁT VỀ TÁC GIẢ VICTOR HUGO

I Cuộc đời

Victor Hugo là nhà thơ, nhà viết tiểu thuyết, nhà viết kịch danh tiếng nhất của nước Pháp, là nhân vật dẫn đầu phong trào lãng mạn của nền văn chương Pháp.Victor Hugo, cây đại thụ tỏa bóng rợp thế kỉ XIX

ở Châu Âu, từng được xem là “người gây nên bão tố

từ đáy lọ mực”

Ông sinh ngày 26 tháng 12 năm 1802 ở thành phố Bzanson Cha là một chiến binh, sĩ quan cao cấp dưới thời Napoleon đệ nhất tên là Leopaul Hugo Mẹ là bà Tri-buy-sê mang dòng máu xứ Vandet, xuất thân từ tầng lớp bình dân Do sự khác biệt về tư tưởng chính trị, tính tình tương phản nhau nên giữa cha và mẹ V.Hugo đã dần dẫn đến việc ly dị chính thức vào năm 1818 V.Hugo sống nhiều với mẹ và đã từng sang Italia và Tây Ban Nha thăm bố, lúc ấy đang đóng quân ở đó Hugo sớm hấp thụ tinh thần dân chủ và lý tưởng cách mạng thời đại, sáng tác thời kì đầu của ông chịu ảnh hưởng của tư tưởng quân chủ nhưng dần ông thiên về tư tưởng dân chủ

Hugo có khả năng sáng tác rất sớm Năm 15 tuổi, ông được giải thưởng

về thơ của viện Hàn lâm Pháp, hai năm sau với hai món học bổng của triều đình Hugo chuyên tâm vào sự nghiệp sáng tác Nhờ sự khuyến khích của mẹ, V.Hugo đã lập ra tạp chí văn học “Người bảo thủ văn học” (1819-1821) dưới

sự bảo trợ của Satôbriăng Trong cuốn nhật kí của mình ông đã viết: “Tôi sẽ trở nên một Satôbriăng hoặc chẳng ra gì cả” Vào những năm 1820, Hugo tham gia nhóm nhà văn lãng mạn và nhanh chóng trở thành thủ lĩnh của trào lưu này

Năm 1821 mẹ của ông qua đời Đến năm 21 tuổi, V.Hugo kết hôn với người bạn ấu thơ Adèle Foucher và họ đã có với nhau bốn người con

Khả năng sáng tạo của Hugo rất lớn lao, mỗi ngày ông có thể làm một trăm câu thơ hay, viết 20 trang tiểu thuyết Và qua các tác phẩm, ông đã phản ánh các phong trào chính trị, văn chương của thời đại, và bộc lộ rõ niềm tin nơi khoa học, nền dân chủ và tự do

Trang 38

Từ năm 1822, các tập thơ liên tiếp được xuất bản, bắt đầu từ “Đoản thi”

và “Tạp thi” Ở lĩnh vực kịch, Hugo cũng đạt được những thành công nhất định, đặc biệt là vở “Hernani” Ở lĩnh vực tiểu thuyết, năm 1823, Hugo cho ra đời ấn phẩm đầu tiên “Hand’ Islande” Sau đó, hàng lọat các tác phẩm xuất sắc khác ra đời: “Ngày cuối cùng của kẻ bị kết án” (1829), qua đó ông đã phản kháng án tử hình, “Nhà thờ Đức bà Paris” (1831), ca ngợi tình thương yêu của những con người lao động bình thường như: Quazimodo và Esmeralda…,

“Clode Geur” (1834), “Thằng cười” (1869)…

Năm 1841, ông được bầu vào viện Hàn lâm Pháp Năm 1845, ông trở thành nguyên lão của nước Pháp, chấp nhận cuộc sống lưu đày vì tự do Đây

là thời kì đặc biệt nhất của cuộc đời Hugo, và cũng là giai đọan đạt đỉnh cao trong phong độ sáng tác của ông: hàng lọat các tập thơ nối tiếp nhau ra đời Bên cạnh đó, Hugo đã cho hoàn thành pho tiểu thuyết bất hủ: “Những người khốn khổ” (1861)

Năm 1859, Napoleon đệ tam ra lệnh ân xá cho Hugo Ông khước từ với

lí do: “Tôi chịu đến cùng số phận của Tự do Tự do đã bị trục xuất khỏi đất Pháp, khi nào Tự do trở về đất nước, tôi sẽ trở về cùng Tự do”

Năm 1870, Hugo trở về Paris sau khi chế độ Lui Napoleon sụp đổ Cũng trong khoảng thời gian này, công xã Paris nổ ra Năm 1873, ông được bầu vào Thượng viện Những năm cuối cùng của cuộc đời mình, ông đã hòan thành cuốn tiểu thuyết cuối cùng: “Năm chín mươi ba”

V.Hugo mất ngày 25 tháng 5 năm 1885 Thi hài ông được đưa vào điện Pantheon Hugo là một trong những khổng lồ văn chương hiếm hoi của thế giới Hugo, nhà văn nhân đạo sáng ngời, là tấm gương tranh đấu không biết mệt mỏi cho nền tự do, dân chủ của nhân loại tiến bộ

II Sự nghiệp sáng tác

Thiên tài của Hugo bộc lộ từ rất sớm Với khả năng sáng tạo tuyệt vời, ông đã để lại cho nhân lọai một sự nghiệp văn học đồ sộ Thế kỉ XIX với nền văn chương đặc sắc của nước Pháp đã được gọi là “thế kỉ của Victor Hugo”

Sự nghiệp sáng tác của Hugo có thể chia ra làm bốn giai đọan:

− Giai đoạn 1816-1830: đây là giai đoạn sáng tác trong những năm thiếu thời

Năm 1817, ông được giải thưởng về thơ của Viện Hàn lâm Pháp Năm

1819, ông cũng đã đoạt giải nhất trong kì thi thơ phú toàn quốc Năm 1821, V.Hugo cho xuất bản thi phẩm đầu tiên có tên là “Đoản thi và Tạp thi” Năm

1823, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên tên là “Hand’ Islande”, mô

Trang 39

tả sự man rợ của một bộ lạc chặt đầu người bằng búa đá và uống máu kẻ địch Năm 1824, Hugo cho xuất bản tập thơ ngắn “Nouvelles Odes” (các bài thơ ngắn mới), rồi hai năm sau, xuất hiện cuốn tiểu thuyết “Bug-Jargal” Năm

1829, tập thơ “Về phương Đông” ra đời gợi lên các phong vị lãng mạn và màu sắc của phương Đông

Hugo cũng đã làm chấn động kịch trường với kịch bản “Cromwell” xuất bản 1827 Thông qua vở kịch “Cromwell” ông đã phá vỡ các luật lệ, các qui tắc tam duy nhất của chủ nghĩa cổ điển chi phối cách viết kịch từ các thời

kì trước, và chủ trương rằng trong vở kịch phải có cả các sự việc bi hài, có cả

sự tầm thường lẫn sự cao cả Chính điều này đã giúp cho Chủ nghĩa lãng mạn toàn thắng về mọi mặt Năm 1829, vở kịch “Marion de Lorme” cũng được ra đời

− Giai đoạn sáng tác thứ hai từ 1830-1852: đây được coi là giai đoạn sáng tác phong phú của ông

Ngày 25 tháng 2 năm 1830, ông cho trình diễn vở kịch lịch sử

“Hernani” Vở kịch hầu như đã bỏ qua tất cả các qui luật cổ điển của Racine

và Corneille

Năm 1831, ông cho ra đời tác phẩm “Nhà thờ Đức bà Paris” Cuốn tiểu thuyết này đã làm xúc động lương tâm quần chúng hơn cuốn “Ngày cuối cùng của một kẻ bị kết án”

Nhân dịp vua Louis Phillippe trở thành vị vua của thể chế quân chủ lập hiến sau cuộc Cách mạng tháng Bảy, ông đã làm một tập thơ đề cao sự kiện kể trên với tên “Lời thơ sau cuộc Cách mạng tháng Bảy 1830”

Cũng vào thời gian này, Victor Hugo còn cho xuất bản tập thơ “Lá thu” (1831) với các cảm hứng cá nhân, thân thương “Các bài ca Hoàng Hôn” (1835) mang tính chính trị, “Các lời nội tâm” (1837) chứa đựng các ý tưởng cá nhân và triết học, “Tia sáng và bóng tối” (1840)…

Vở kịch “Nhà vua tiêu khiển” (1832) mô tả tình yêu nông nổi của Francis I vào thời kỳ Phục Hưng Pháp Ba vở kịch thơ kế tiếp là “Lu crèce Borgia và Marie Tudor” (1833), “Angello, bạo chúa của thành Padoue” (1835), “Rue Blax” (1838)…

− Giai đọan 1851- 1870: là giai đoạn ông sống lưu vong ở đất Bỉ Đây là giai đoạn ông sáng tác thành công nhất, có nhiều tác phẩm nổi tiếng nhất

Tác phẩm mở đầu cho những kiệt tác của giai đọan này là “Trừng phạt” (1853) Tác phẩm trữ tình lớn nhất của Hugo, tập thơ “Mặc tưởng” (1856)

Trang 40

được chia làm 2 phần “Ngày trước” và “Ngày nay” nói lên nỗi niềm tâm sự riêng tư Tiếp đến là tập thơ “Truyền kỳ các thế kỷ” (1862) Cũng trong năm này, ông cũng đã hoàn thành thiên tiểu thuyết dài nhất và danh tiếng nhất:

“Những người khốn khổ” (1861), cuốn truyện mô tả rõ ràng và kết án sự bất công của xã hội trong thế kỷ XIX

Ngoài tác phẩm lừng danh “Những người khốn khổ”, V.Hugo còn viết các tác phẩm khảo luận có tên là “William Shakespeare” (1864), tiểu thuyết

“Những người lao động trên biển” (1868), “Người cười” (1869) - cuốn tiểu thuyết về người dân nước Anh chống lại chế độ phong kiến của thế kỷ XVII

− Giai đọan 1870 trở về sau, lúc này ông đã trở về Pháp Giai đoạn này ông sáng tác rất ít chỉ tập trung vào các hoạt động chính trị

Hugo không tán thành bạo lực cách mạng nhưng ông rất khâm phục những người chiến sĩ cộng sản Ông viết tập thơ “Năm khủng khiếp” để ca ngợi họ Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông là cuốn “Năm chín mươi ba”, tập trung vào năm 1793 đầy chính biến tại nước Pháp, đề cập tới sự công bằng và bác ái chống lại hậu trường của cuộc cách mạng Pháp Năm 1877, ông viết xong tập thơ “Nghệ thuật làm ông” và “Năm 1883”, phần cuối tập thơ

“Truyền kỳ các thời đại” cũng đã hoàn thành

Nhìn chung, sự nghiệp sáng tác của ông vừa phong phú về thể loại, vừa trác tuyệt về chất lượng Ngoài thơ, kịch, tiểu thuyết ông còn để lại hơn 2000 bức tranh và nhiều tác phẩm khảo cứu và các tùy bút khác…

Giới thiệu đôi nét về thơ của Victor Hugo

Qua quá trình tìm hiểu sự nghiệp văn chương của ông, ta thấy thơ là lĩnh vực mà ông theo đuổi từ khi còn thiếu thời đến lúc cuối đời Nó là mảng sáng tác tương đối lớn, góp phần tạo nên sự nghiệp văn chương đồ sộ của ông

Do có được cảm quan nhạy bén của tâm hồn lãng mạn nên những tâm tư tình cảm, hiện thực cuộc sống đã đi vào thơ ông một cách tự nhiên

Đối với Hugo, gia đình, con và các cháu luôn là đề tài gây được cảm hứng để nhà thơ sáng tác

Làm cha, Hugo rất mực thương con, ông luôn thể hiện cái nhìn âu yếm, thấy cái khía cạnh tốt đẹp nhất của con mình:

“Dù tóc con tôi đã chải hay sù,

Dù trái tim tôi buồn hay vui sướng

Bao giờ tôi cũng tấm tắc nhìn

Ngày đăng: 01/03/2021, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w