Luận án với các mục tiêu nghiên cứu: tổng hợp kết quả nghiên cứu của những người đi trước về thơ chữ Hán Nguyên Du, ghi nhận những nét khái quát đã được nêu ra; bước đầu thể nghiệm hướng tiếp cận mới giúp khám phá hiểu biết sâu hơn và có thể nghiên cứu tiếp thơ chữ Hán Nguyễn Du trên những phương diện khác, mở ra một phạm vi rộng hơn, phục vụ cho việc giảng dạy thơ chữ Hán Nguyễn Du ở trường Đại học. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THU YẾN
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT
Phó Tiến sĩ - Phó Giáo Sư
TP Hồ Chí Minh 1997
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thống kê nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất k ỳ công trình nào khác
Lê Thu Yến
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VĂN BẢN THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU 8
1.1 Quá trình thu thập di cảo thơ chữ Hán Nguyễn Du 9
1.2 Tình trạng các văn bản hiện có 11
1.3 Cách sắp xếp cụ thể từng phần 15
1.4 Sự sai biệt về từ ngữ 20
1.5 Sự khác biệt về vấn đề dịch nghĩa 28
CHƯƠNG II: KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU: HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI, THỜI GIAN NGHỆ THUẬT, KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 41
2.1 Hình tượng nghệ thuật về con người 41
2.2 Thời gian nghệ thuật 81
2.3 Không gian nghệ thuật 97
CHƯƠNG 3 : KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU: NGÔN NGỮ 117
3.1 Câu thơ: 118
3.2 Từ ngữ: 137
3.3 Từ những đặc điểm nghệ thuật trên đi vào phân tích một bài thơ cụ thể: Long thành cầm giả ca 179
PHẦN KẾT LUẬN 183
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thơ chữ Hán là một bộ phận sáng tác quan Trọng của Nguyễn Du, một nhà thơ lớn của dân tộc ta Nghiên cứu, khảo sát về thơ chữ Hán Nguyễn Du là một công việc cần thiết và
là một vinh hạnh cho người đi sau So với truyện Kiều, thơ chữ Hán ít được giới nghiên cứu quan tâm Có một số công trình đã đề cập đến tư tưởng, quan niệm của tác giả qua nội dung thơ chữ Hán Các công trình này thường nhằm mục đích giúp minh hoạ và soi sáng cho cuộc đời của tác giả Truyện Kiều hơn là xem thơ chữ Hán như một đối tượng nghệ thuật cần nghiên cứu Như vậy các công trình trên chủ yếu mới tiếp cận từ góc độ nội dung tư tưởng tập trung ở một số bài thơ tiêu biểu Trong khi con số 250 bài thơ là con số không nhỏ đối với một nhà thơ Hơn nữa Nguyễn Du là một nhà thơ nổi tiếng với lòng nhân ái bao la, yêu đời thương người, mà thơ chữ Hán là những mẫu chuyện tâm tình của chính tác giả, không phải
ai khác,thì chắc chắn những cảm hứng nghệ thuật ấy còn chất chứa bao điều, nếu chúng ta có dịp đi sâu
Việc giảng dạy trong trường Đại học cũng cần phải quan tâm sâu sắc hơn đối với bộ phận sáng tác quan trọng này Nếu chỉ có Truyện Kiều và đôi nét về tác giả qua thơ chữ Hán
có lẽ sẽ còn nhiều thiếu sót Đi tìm một hệ thống giải mã tương đối hữu hiệu cho thế giới nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du nhằm phục vụ trực tiếp cho giảng dạy cũng là vấn đề mang tính cấp thiết
Bên cạnh đó, còn có sự say mê hứng thú của người viết đối với một vùng đất nghệ thuật mênh mông chưa được cày xới bao nhiêu và tham vọng hiểu hết, thấu hết bao điều còn tiềm ẩn trong thế giới nghệ thuật đầy màu sắc kia Tất nhiên khả năng hạn chế trước tham
Trang 6thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du
Hướng đi vào văn bản: hướng này có các bài nghiên cứu như sau :
- "Một vài ý kiến về tập thơ chữ Hán Nguyễn Du" - Trương Chính - Tạp chí Văn học
Các bài viết này tập trung đi sâu vào việc tìm kiếm một văn bản tốt nhất, đúng nhất
Hướng đi vào nội dung: tuy chưa có những công trình lớn nhưng cũng có một số công
trình có giá trị
- Bài viết "Con người Nguyễn Du qua thơ chữ Hán" - Xuân Diệu, trong cuốn "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" nhà xuất bản Văn học năm 1987
Trang 7"Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX", nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp,
- Bài viết "Tìm hiểu thơ chữ Hán" - Nguyễn Huệ Chi Tạp chí văn học số 11-1965,
- Bài viết "Nguyễn Du qua thơ chữ Hán" - Lê Đình Kỵ, Kiến thức ngày nay số
là kiến giải một điều gì đó Một số lượng lớn thơ chữ Hán được ông đề cập đến
Hướng đi vào từng bài thơ cụ thể: có một số bài viết đi theo hướng này
- "Nguyễn Du với Đỗ Phủ" - Mai Quốc Liên - Trong cuốn "Trước đèn" Nhà xuất bản Văn nghệ TP.HCM, 1992
Trang 8Ký mộng, Vọng phu thạch của Lưu Trọng Lư trong tập Tiểu luận về Nguyễn Du "Nhật ký đọc Kiều" Nhà xuất bản Hội Nhà văn Hà Nội, 1995
- "Sự đồng cảm của Nguyễn Du với Thôi Hiệu qua hai bài thơ về lầu Hoàng Hạc" - Nguyễn Huy Quát - Kiến thức ngày nay số 91
- "Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du" - Trần Đình Sử Văn nghệ số 28 (10-7-1993)
- Cần phải tìm hiểu chính xác hơn bài “Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du" - Nguyễn Quảng Tuân - Tạp chí Hán Nôm số 1 - 1994)
- "Về lời dịch Độc Tiểu Thanh ký" - Nguyễn Đình Chú Văn nghệ số 24 (12.6.1993)
Nhìn chung, có thể nói những đặc điểm nghệ thuật của thơ chữ Hán hầu như là một vấn đề chưa được đề cập tới một cách toàn diện, có hệ thống và chưa được khai thác sâu Một
số bài viết trên chỉ một phần nhỏ là tiếp cận đối tượng từ góc độ nghệ thuật
Tiếp thu những công trình trên, người viết đặt vấn đề nghiên cứu những đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du trên một số phương diện nổi bật Tất nhiên không thể khai thác hết vùng đất nghệ thuật mênh mông này đây chỉ mới là bước đầu thể nghiệm Có thể có những công trình lớn lao hơn về sau
Trang 9Luận án khảo sát toàn bộ 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du qua các tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong những vấn đề liên quan đến văn bản trong một số đặc điểm nghệ thuật nổi bật được tìm thấy như: hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật Có những phương diện về nghệ thuật khác như thể loại, kết cấu, giọng điệu người viết chưa có điều kiện để đề cập tới Hy vọng những công trình kế tiếp sẽ thực hiện được đầy
đủ hơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện qua các phương pháp nghiên cứu như phương pháp lịch sử, phương pháp loại hình, phương pháp cấu trúc, phương pháp so sánh kết hợp với các thao tác : phân loại, thống kê, phân tích và đối chiếu so sánh
Các phương pháp này được dùng xuyên suốt ở các chương
Đầu tiên là phân loại đối tượng, tiếp theo là thống kê các yếu tố có tính chất lặp đi lặp lại nhiều lần, tính tỷ lệ các yếu tố đó Sau đó, ở từng loại, khảo sát theo những phương diện khác nhau (hình tượng, ngôn ngữ ) kết hợp phân tích từng đối tượng, khái quát lại để rút ra những luận điểm quan trọng mang tính quan niệm
Trong quá trình khảo sát, nhận xét đánh giá đối tượng, người viết còn so sánh đối chiếu từng phương diện với tác phẩm của các tác giả khác để làm rõ thêm những đặc điểm nghệ thuật của thơ chữ Hán Nguyễn Du
6 Những đóng góp mới của luận án:
6.1 về mặt khoa học:
Thông qua việc thống kê phân loại những điểm khác nhau giữa các văn bản thơ chữ
Trang 10khảo sát từng phương diện trong thế giới nghệ thuật chữ Hán Nguyễn Du rút ra được những nét đặc sắc độc đáo về quan niệm nhân sinh, về sáng tạo nghệ thuật của một tác giả lớn
Chương 1: Những vấn đề liên quan đến văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du
1.1 Quá trình thu thập di cảo thơ chữ Hán Nguyễn Du
1.2 Tình trạng văn bản hiện có
1.3 Cách sắp xếp cụ thể từng phần trong các văn bản
1.4 Sự sai biệt về từ ngữ trong các văn bản
1.5 Sự sai biệt về vấn đề dịch nghĩa trong các văn bản
Chương 2: Khảo sát một số đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du: hình tượng
nghệ thuật về con người, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật
2.1 Hình tượng nghệ thuật về con người
2.1.1.Con người lãng mạn
2.1.2 Con người âu lo
2.1.3 Con người đau khổ
2.2 Thời gian nghệ thuật
2.2.1 Thời gian úa tàn 2.2.2 Thời gian ký ức
2.2.3 Thời gian - khoảnh khắc
2.3 Không gian nghệ thuật
Trang 112.3.2 Không gian rộng lớn
Chương 3: Khảo sát đặc điểm nghệ thuật thớ chữ Hán Nguyễn Du : ngôn ngữ
3.1 Câu thơ
3.1.1 Câu trần thuật 3.1.2 Câu nghi vấn 3.1.3 Câu cầu khiến 3.1.4 Câu cảm thán 3.1.5 Câu đảo trang 3.2 Từ ngữ
3.2.1 Hư từ 3.2.2 Từ tự xưng 3.2.3 Từ mang sắc thái biểu cảm 3.2.4 .Từ mang ý nghĩa triết lý
3.2.5 Từ đặc biệt thường thấy
3.3 Từ những đặc điểm nghệ thuật trên đi vào phân tích một bài thơ cụ thể: Long
Thành Cầm giả ca
Phần kết luận
Trang 12CHỮ HÁN NGUYỄN DU
Đầu thế kỷ XX, khi giới nghiên cứu nhận thấy cần phải tập hợp lại những trước tác của các tác giả ở các thế kỷ trước để lưu giữ cho người đời sau, thì họ vấp phải khó khăn do những nguyên nhân sau: một là các nhà thơ xưa sáng tác không với mục đích lưu danh Họ sáng tác là để giải trí, để nói chí không phải để trở thành người có tên tuổi Hai là do quan
niệm "văn chương công khí" sách vở được xem như của chung Chuyện "bản quyền", chuyện
"trung thành với nguyên tác", nhiều khi không hệ trọng Một người nào đó ghi chép tác phẩm
của mình hoặc của kẻ khác truyền lại cho thế hệ sau Thế hệ sau tự ý sửa chữa thêm bớt những gì chủ quan cho là cần thiết và truyền lại cho thế hệ sau nữa Cái của người lưu truyền nghiễm nhiên nhập vào cái lưu truyền Với phương thức tiếp nhận lưu truyền như vậy, tên tác giả dễ bị thất lạc hoặc dễ lẫn lộn giữa tác giả này và tác giả khác Có khi còn trở thành công trình của tập thể nhiều thế hệ Ba là văn bản cũ bị hư hỏng, bị hủy hoại mất mát rất nhiều Khi thì do chiến tranh sách vở bị cháy, bị cướp khi thì do hành động trả thù của vua chúa phong kiến như việc thủ tiêu các tác phẩm của Nguyễn Trãi và Cao Bá Quát, lúc hai ông bị hại, thái độ ghét bỏ của triều Nguyễn đối với các sáng tác của họ Trịnh hoặc những người cộng tác với Tây Sơn Cũng có khi công tác lưu trữ chưa tốt… Ngoài ra còn những việc linh tinh như việc các nhà thơ thường không ghi lại năm tháng sáng tác, do đó người đời sau rất khó xác định tác phẩm ra đời vào thời điểm nào, việc sắp xếp thứ tự sáng tác của một tác giả, việc dịch thuật cũng gặp phải rất nhiều khó khăn
Một vấn đề khác nữa có quan hệ đến việc tồn tại của các văn bản, đó là các tác phẩm chữ Hán Công văn giấy tờ hoặc các sáng tác bằng chữ Hán thường
Trang 13được phổ biến rộng rãi Nếp nghĩ "Nôm na là cha mách qué" là một quan niệm đối với người trí thức phong kiến, nhưng đối với nhân dân thì ngược lại cái gì quen thuộc thân thiết sẽ được
họ tiếp nhận một cách ưu ái, bền lâu và nhanh chóng lan rộng Thơ chữ Hán dù được tôn trọng đề cao nhưng nó khá xa lạ đối với đông đảo nhân dân vì thế nó nhanh chóng đi vào quên lãng Điều này cũng cắt nghĩa được vì sao Truyện Kiều và Văn Chiêu Hồn được đông đảo nhân dân biết đến, ca tụng và lưu truyền, trong khi cả ba tập thơ chữ Hán, một công trình quy mô như vậy mà lại ít được quan tâm Thơ chữ Hán của các tác giả khác cũng vậy
Với những nguyên nhân chung đã nói ở trên, thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng không có
được một biệt đãi nào dù ông được tôn vinh là bậc thầy về thơ Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế
kỷ XX thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng vẫn nằm ở dạng bản thảo không ai chú ý đến việc khắc
in lưu giữ Nhiều bài nghiên cứu có nhắc đến việc vua Tự Đức lúc bấy giờ có quan tâm đến những sáng tác của Nguyễn Du nên có xuống lệnh cho quan tỉnh Nghệ An thu thập di cảo đem về kinh đô Nhưng đem về kinh đô cũng chỉ để cho Vua xem riêng chứ Vua không ra lệnh cho khắc bản Sau này tập hợp lại được các sáng tác chữ Hán của Nguyễn Du cũng là nhờ công lao ý thức bảo vệ tài sản dân tộc của một số cá nhân
1.1 Quá trình thu thập di cảo thơ chữ Hán Nguyễn Du:
- Theo gia phả họ Nguyễn Tiên Điền thì Nguyễn Du có để lại ba tập thơ chữ Hán là Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc Hành tạp lục và một quyển sử là Lê quý
kỷ sự Riêng quyển sử về sau người ta biết không phải là của Nguyễn Du mà là của Nguyễn
Thu ở cuối đời Minh Mệnh, do hai chữ Thu ( ) và Du ( ) giống nhau nên người chép
gia phả nhầm là của Nguyễn Du Về ba tập thơ theo cụ Đào Duy Anh thì đã bị thất lạc một
phần, chính nhà họ ở Tiên Điền cũng không giữ được tập nào Cụ nghè Nguyễn Mai là cháu
Trang 14có chép được mấy chục bài thơ của Nguyễn Du cùng với thơ của nhiều người khác trong họ trước Nguyễn Du và đồng thời với Nguyễn Du
- Bảo Đại thư viện là nơi chứa phần nhiều sách vở ở Nội các đem ra cũng không có di
cảo nào là của Nguyễn Du
- Thư viện Viễn Đông bác cổ chỉ có một tập "Bắc Hành tạp lục" gồm những bài thơ Nguyễn Du làm lúc đi sứ
- Hai ông Lê Thước và Phan Sĩ Bàng trong khi đi tìm tư liệu để viết tiểu sử Nguyễn
Du có chú ý đến thơ chữ Hán, tìm trong đó các chi tiết về cuộc đời nhà thơ và các ông đã tìm được một số trong các tập thơ trên Tuy nhiên do không phải mục đích biên soạn lại công trình của Nguyễn Du nên các ông không dịch và công bố
- Tạp chí Nam Phong trong số 161 năm 1931 ở phần chữ Hán có đăng 13 bài thơ chữ
Hán của Nguyễn Du trong bài "Tiên Điền Nguyễn Du tiên sinh di trước"
- Ông Đào Duy Anh được một người bạn ở Vinh cho mượn một tập thơ đề là Thanh
Hiên thi tập, đó là một tập sách chép lại bằng chữ thảo Theo ông, các đề mục ghi trong sách
này không đúng với nội dung, vì trong ấy có 65 bài làm từ khi Nguyễn Du trốn tránh ở quê
vợ tại Quỳnh Côi, sau cuộc cần Vương thất bại đến khi ra làm quan ở Bắc dưới triều Gia
Long có lẽ là thuộc về Thanh Hiên tiền tập, 55 bài làm khi đi sứ sang Trung Quốc thuộc về tập Bắc Hành tạp lục và 11 bài có lẽ là thuộc về Thanh Hiên hậu tập (tất cả là 131 bài)
- Các ông Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh có sưu tầm được một quyển chép tay
ký hiệu HVE - 50 ở tủ sách của Vụ Bảo tồn (Bộ văn hóa) vốn thu thập lại từ nhiều địa phương khác nhau trong thời gian cải cách ruộng đất (1953-1955) Quyển này gồm 3 tác
phẩm Hữu liễu thi tập (chưa rõ tác giả); Minh Quyết thi tập của Nguyễn Hành và Thanh Hiên
thi tập của Nguyễn Du Các ông đã lấy
Trang 15Vân Kiều của Đào Duy Anh để cho ra đời tập thơ chữ Hán Nguyễn Du đầu liên [44]
- Hai ông Lê Thước và Trương Chính đã sưu tầm được một bản sao chụp ảnh do một kiều bào ở Pháp gởi cho gồm 38 bài Nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du, hai ông đã tập hợp lại tất cả sáng tác thơ chữ Hán đã có từ trước đến giờ cùng với 38 bài mà hai ông mới có được để cho ra đời tập thơ chữ Hán Nguyễn Du với số lượng 249 bài với sự có mặt của cả ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắt hành tạp lục Đặc biệt có Nam Trung tạp ngâm bấy lâu chưa tìm thấy chỉ thấy ghi trong Thư viện Khoa học Trung ương mà thôi
1.2 Tình trạng các văn bản hiện có:
• "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" của Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh Khổ sách 16
x 24, 152 trang, in tại nhà in Hoàn Cầu, số 12 Nguyễn Thiện Thuật Hà Nội năm 1959 Sách gồm 102 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du được chia theo 3 thời kỳ
- Thời kỳ nhà Lê gồm 28 bài
- Thời kỳ làm quan triều Nguyễn gồm 24 bài
- Thời kỳ đi sứ Trung Quốc gồm 50 bài
• "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" của Lê Thước, Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp; các ông Phạm Khắc Khoan, Ngô Ngọc Can, Vũ Tan Tập, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Hữu Bổng, Trần Thanh Mai, Vũ Mộng Hùng Nguyễn Xuân Tảo, Huỳnh Tạo dịch thơ Nguyễn Sĩ Lâm hiệu đính, Trương Chính giới thiệu Sách khổ 14 x 22, 573 trang, nhà xuất bản Văn học Hà Nội năm 1965 gồm 249 bài thơ chia theo tên của từng tập thơ Riêng tập Thanh Hiên được chia làm 3 giai đoạn: Mười năm gió bụi (1786-1795) gồm 27 hài Dưới chân núi Hồng (1796-1802) gồm 33 bài, Làm quan ở Bắc Hà (1802-1804) gồm 18 bài
Trang 16lục gồm 131 bài Mục lục sách này đề lên bài thơ theo thứ lự A, B, c không ghi theo thứ tự các tập thơ Cuối sách có phần phụ lục chữ Hán
• "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" cũng của Lê Thước, Trương Chính sưu tầm, chú thích, phiên dịch, sắp xếp Các ông Phạm Khắc Khoan, Ngô Ngọc Can, Vũ Tam Tập, Nguyễn Văn
Tú, Nguyễn Hữu Bổng, Trần Thanh Mai, Vũ Mộng Hùng, Nguyễn Xuân Tảo, Hoàng Tạo dịch thơ; Nguyễn Sĩ Lâm hiệu đính Trướng Chính giới thiệu Cuốn này căn bản không khác cuốn trên, được in lại lần thứ hai, nhà xuất bản văn học năm 1978 Khổ sách 13 x 19 Sách cũng gồm 249 bài, 468 trang Cũng được chia theo tên các tập thơ không thay đổi Riêng phần mục lục thì được sắp xếp theo các tập thơ chứ không theo thứ tự A, B, c như bản trước
Và bản in lại lần hai này không có phần phụ lục chữ Hán
• "Tuyển tập thơ Hán Việt" của Đông Xuyên, Nhà xuất bản Cảo Thơm năm 1972 Nguyễn Mưu Lê viết lời tựa Sách chọn lọc một số tác phẩm tiêu hiểu của nhiều nhà thơ Trong đó có thơ chữ Hán Nguyễn Du Tác giả đã dành ra 45 trang, khổ 14 - 20 để trích giới thiệu với độc giả 18 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du Cách sắp xếp: bản chữ Hán, phiên âm, dịch thơ, không có phần dịch nghĩa, 18 bài có rãi rác trong ba tập nhưng chủ yếu là những bài thơ có ở Thanh Hiên
• "Tố Như thi" do Quách Tấn dịch nghĩa và dịch thơ Thi Vũ trình bày bìa Nhà xuất bản An Tiêm, Sài Gòn năm 1973, khổ sách 14x20, 255 trang, sách gồm 72 bài, cũng được chia theo từng tập thơ Thanh hiên thi tập 30 bài, Nam Trung thi tập 20 bài, Bắc Hành tạp lục
22 bài Riêng tập Thanh Hiên thi tập tác giả chia ra ba thời kỳ
- Mười năm đất khách (1786-1975)
- Sáu năm quê nhà (1796-1802)
- Làm quan Bắc Hà (1802-1804)
Trang 17thư viện ở Paris (Thanh Hiên 75 bài, Nam Trung 40 bài, Bắc Hành 130 bài) nhưng do điều kiện này khác nên ông không phiên dịch tất cả mà chỉ lựa chọn một số bài tiêu biểu Các bài thơ được sắp xếp theo trình tự: bản phiên âm, phần chữ Hán, dịch nghĩa, chú thích và dịch thơ
• "Thơ chữ Hán Nguyễn Du" do Đào Duy Anh sắp xếp, dịch nghĩa, chú thích, Nguyễn Kim Hưng hoàn chỉnh bản dịch, biên soạn Các Ông Đào Duy Anh, Ngô Ngọc Can, Nguyễn Huệ Chi, KD, Nguyễn Khắc Hanh, Đỗ Văn Hỷ, Bùi Kỷ, Phạm Khắc Hoan, Trần Thanh Mai, Nguyễn Vũ My, Nguyễn Xuân Tảo, Quách Tấn, Vũ Tam Tập, Lê Thước, Nguyễn Văn Tú, Trần Lê Văn, Phan Võ Các bà Phạm Tú Châu, Kim Hưng, Trần Thị Băng Thanh dịch thơ Xuân Diệu viết lời giới thiệu, Nguyễn Kim Hưng viết lời để dẫn, Đào Duy Anh viết phần phàm lệ Sách khổ 13x19, 452 trang Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 1988 Sách được chia theo từng tập thơ Tập Thanh Hiên gồm 79 bài, Nam trung tạp Ngâm gồm 40 bài, Bắc hành tạp lục gồm 130 bài Sách không có phụ lục chữ Hán Phần chú thích để riêng phía cuối sách Mục lục ghi theo tên từng tập thơ
• "Nguyễn Du toàn tập" gồm 2 tập, Tập I Thơ chữ Hán do Mai Quốc Liên phiên âm, dịch nghĩa, chú thích với sự cộng tác của Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngục, Lê Thu Yến Tập II Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) do Nguyễn Quảng Tuân khảo đính và chú giải Sách khổ 14,5 x 20,5 Cả 2 tập dày 1058 trang Nhà xuất bản Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học 1996 Tập I thơ chữ Hán, phần dịch thơ, ngoài Ngô Linh Ngọc còn có một số bài dịch của Đào Duy Anh, Ngô Ngọc Can, Huy Cận, Bùi Hanh Cẩn, Phạm Tú Châu, Giản Chi, Xuân Diệu, Bảo Định Giang, Nguyễn Khắc Hạnh, Tế Hanh, Dũng Hiệp, Đỗ Văn Hỷ, Phạm Khắc Khoan, Bùi Kỷ, Mai Quốc Liên, Trần Thanh Mai, Hải Như, Viễn Phương, Quách Tấn,
Trang 18gồm 132 bài (Trong tập Bắc Hành có thêm 1 bài do ông Mai Quốc Liên phát hiện, đó là bài Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng Mộ II) Cách sắp xếp: chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú thích Sách có 2 mục lục: một là sắp xếp theo từng tập thơ, hai là theo thứ tự A, B, C Có kèm bản đồ đi sứ, bản tấu trình của Nguyễn Du, niên biểu Nguyễn Du
• "192 Bài thơ chữ Hán của Nguyên Du" do Bùi Hạnh Cẩn biên dịch và chú thích Sách này có đặc điểm là do một người lựa chọn, biên soạn, dịch thuật Sách cũng không theo hướng đi của các tác giả trước Không có phần chữ Hán, không có phần dịch nghĩa, chỉ có phần phiên âm, dịch thơ và chú thích Sách làm chủ yếu để thưởng thức không phải để nghiên cứu Sách in 1000 cuốn, khổ 13 x 19 Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 1996 Mục lục theo thứ tự A, B, C
Qua 8 văn bản trên chúng ta thấy đã khá đầy đủ dựng lên diện mạo của dòng thơ chữ Hán Nguyễn Du Trước đây chúng ta thường nói đến Truyện Kiều và Văn Chiêu Hồn, nay chúng ta có thêm 250 mẫu chuyện tâm tình để hiểu kỹ và sâu hơn con người Nguyễn Du Tuy
số lượng của các văn bản không đồng đều nhưng đã có những dấu hiện cho thấy số lượng hiện có là chính xác, không lẫn lộn với các tác giả khác Ông Đào Duy Anh được một người bạn ở Vinh cho mượn tập thơ đề là Thanh Hiên thi tập gồm 131 bài Ông Lê Thước và Trương Chính thu thập được cả 249 bài Ông Quách Tấn ở miền Nam cũng được người bạn
là Thi Vũ gửi tăng một tập thơ sao chụp được từ Thư viện Paris gồm 245 bài như thế số lượng không chênh lệch nhau nhiều lắm, chúng ta có thể an tâm với nó 249 bài thơ cùng với một bài do PTS Mai Quốc Liên tìm được và công bố lần đầu ở Tập Tiểu luận văn học "Dưới gốc me vườn Nguyễn Huệ " [51:128] Đó là bài "Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng Mộ II" được ghi theo ký hiệu của Bắc Hành tạp lục A.1495- Thư viện KHXH Hà Nội và nó đã góp mặt trong sách "Nguyễn Du toàn tập" để chúng ta có được con số tròn, thật đẹp, 250 bài thơ chữ Hán
Sự
Trang 19mở nhỏ: mười năm gió bụi, Dưới chân núi Hồng, Làm quan triều Nguyễn, Tập Nam Trung tác giả làm vào khoảng 1805-1812 chia theo 2 giai đoạn: 5 năm đầu làm quan ở Huế, 4 năm sau làm Cai bạ ở tỉnh Quản Bình, Tập Bắc Hành làm trong thời gian đi sứ năm 1813 Các giai đoạn này đều ứng khớp với tiểu sử cuộc đời ông còn ghi lại trong gia phả Như vậy, phần thơ chữ hán sẽ giúp chúng ta bổ túc đầy đủ hồ sơ về cuộc đời của một người làm vinh quang thơ, vinh danh con người ( chữ dùng của Mai Quốc Liên)
1.3 Cách sắp xếp cụ thể từng phần trong các tập thơ:
1.3.1 Sự khác nhau giữa các văn bản đã có :
Ở đây chúng ta sẽ không đề cập đến bản A, C, D, E, H (Bản A, viết tắt của bản Bùi
Kỷ, Phan Võ, Nguyễn khắc Hạnh Bản C, Viết tắt của bản Lê Thước, Chương chính in lần 2 Bản D, viết tắt của Đông Xuyên Bản E, viết tắt của Quách Tấn) Vì các bản này đều không
đầy đủ Chúng ta cũng không đề cập đến bản G (Bản G, viết tắt của bản Mai Quốc liên) vì
chúng tôi đã khảo sát các văn bản kia trước khi văn bản G ra đời Hơn nữa quan điểm của
chúng tôi, tất cả là ở bản G nên ở đây chỉ tập trung chú ý vào 2 bản B và F ( Bản B, viết tắt
của bản Lê Thước Trương chính in lần I Bản F, viết tắt của bản Đào Duy Anh) vì đây là hai
văn bản có nhiều hướng nhìn ngược và đồng thời cũng tiêu biểu cho hai cách dịch diễn đạt lưu loát tài hoa và ngắn gọn, chắc, khỏe, sát nghĩa
Bản B của hai cụ Lê Thước và Trương Chính rất chú trọng đến việc sắp xếp vị trí của các bài thơ Hai cụ đã nói "Cách sắp xếp các bài thơ rất quan trọng Mỗi bài thơ có một hoàn cảnh lịch sử riêng Một bài thơ làm trong giai đoạn này mà để vào giai đoạn khác sẽ làm cho người đọc không biết đầu đuôi đằng nào mà mò"[14:13] Vì thế các cụ đã có một sự lưu tâm đáng kể, để xử lý tài liệu tìm được một cách cẩn trọng Ví như tập Nam Trung gồm những bài thơ làm từ năm 1805 đến cuối năm 1812, tức là từ lúc được thăng hàm Đông Các học sĩ vào
Trang 20đã sắp xếp trong Nam trung đều khớp với các thời kỳ này Hầu hết đều nói lên nỗi lòng nhớ quê hương, nhớ bạn, nhớ gia đình, tâm trạng chán nản khi phải chung đụng với những con chim oanh ưa mách lẻo và những dì gió luôn cất giọng chua lè, bản thân thì trôi dạt đó đây
Thử thân dĩ tác phàn lung vật (Tân thu ngẫu hứng) (Thân này đã làm chim trong lồng)
Tha hương thân thế thác phù vân (Thu nhật ký hứng) (Thân thế nơi đất khách gửi đám mây nổi)
Một số bài thơ, ý thơ rất khớp với tâm sự làm việc quan sợ mắc sai lầm, sợ những kẻ hay lên mặt xa nhà, lòng rất muốn cáo quan mà về Như vậy tập Nam trung theo tài liệu tìm được tương đối ổn thỏa không có gì cần phải chấn chỉnh
Đối với Bắc Hành tạp lục, những bài thơ làm trong thời gian đi sứ Trung Quốc, các
cụ Lê Thước, Trương Chính cũng có chú ý đến cuộc sứ trình này trên bản đồ, có sự so sánh
và đối chiếu kỹ lưỡng con đường đi và các bài thơ đã được sắp xếp theo tài liệu tìm được Các ông cho rằng bài mở đầu của tập thơ là bài "Long Thành Cầm giả ca" làm khi đi qua Thăng Long tháng 2/1813 và bài kết thúc tập thơ là "Chu phát" làm khi ông về lại xã Võ Xương cuối năm 1813 Chỉ có một số bài như Dương Phi cố lý, Tần Cối tượng, Vương CHỊ Tượng không thấy khớp với con đường đi sứ trên bản đồ nên các ông còn nghi ngờ Tuy vậy các ông vẫn để nguyên bên cạnh các bài: Kê thị Trung từ, Nhạc vũ Mục mộ, Đồng Tước đài, Thất thập nhị nghỉ trủng, các ông có lưu ý có thể các bài này do nhà thơ nhân nhớ đến các nhân vật ấy mà làm chứ không phải thuộc dạng tức cảnh sinh tình trên đường đi như các bài khác, nhưng cũng chưa rõ lắm Như vậy, theo các ông Trương Chính, Lê Thước thì tập Bắc Hành cũng không có gì đáng phải tra cứu lại
Trang 21thứ tự nào và những bài tiền hoặc hậu tập không phân định được Các ông đã xem xét kỹ, nghiên cứu đời sống và tâm sự nhà thơ, đối chiếu với từng bài thơ cụ thể và các ông đã sắp xếp theo ba giai đoạn cuộc đời Nguyễn Du
1 Giai đoạn "10 năm gió bụi" từ năm 1786, năm Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc cho đến năm Nguyễn Du trở về quê nhà ở Hồng Lĩnh khoảng cuối năm 1795 đến năm 1796
2 Giai đoạn "Dưới chân núi Hồng" từ năm 1796 đến năm 1802
3 Giai đoạn "Ra làm quan ở Bắc hà" từ năm 1802 đến cuối năm 1804
Với cách sắp xếp này, giới nghiên cứu, đa số đồng tình, không có ý kiến phản bác Bản F của cụ Đào Duy Anh xuất bản năm 1988 có những điểm khác biệt so với bản của cụ Lê Thước, Trương Chính
Tập Nam trung không có vấn đề gì nên không có sự thay đổi lớn Thứ tự các bài
tương đối giống bản B Tuy nhiên hai bài "Thủy liên đạo trung tảo hành" và "Vọng Thiên Thai tự" có sự thay đổi vị trí nhưng không đáng kể Và theo cụ Đào Duy Anh 40 bài trong tập Nam trung chưa đủ
Tập Thanh Hiên, Cụ Đào Duy Anh cũng nhất trí các giai đoạn sáng tác theo cách
phân chia của bản B nhưng với bài Độc Tiểu Thanh ký thì cụ cho rằng Nguyễn Du làm bài này khi thăm mộ Tiểu Thanh ở Hàng Châu nên đã đặt bài này vào tập Bắc Hành và ngược lại
ở tập Bắc Hành có 2 bài "Phản chiêu hồn" và "Biện giả" cụ cho rằng không phải do thây cảnh trên đường đi sứ mà làm như các bài khác, mà chỉ là nhân đọc Sở từ mà làm, có thể làm trước khi đi sứ nên đã rút 2 bài này đặt vào cuối tập Thanh Hiên
Tập Bắc hành cụ Đào Duy Anh đã có những thay đổi quan trọng do ông đã phác họa
bản đồ trên đường đi sứ của các bài thơ hầu như được sắp xếp khác biệt
Trang 22là tương đối giống nhau” Ngoài ra hai bài “Bùi Tấn công mộ” và “Dương Phi cố lý” ông ngờ rằng không phải là của Nguyễn Du nên xếp vào cuối tập Bắc Hành
Theo chúng tôi nhận thấy, việc tìm được các sáng tác chữ Hán của Nguyễn Du là điều đáng quý, nó giúp chúng ta rất nhiều trong việc tìm hiểu thêm về cuộc đời và con người ông Việc sắp xếp vị trí các bài thơ theo trình tự thời gian sáng tác cũng là điều quan trọng, cần thiết và rất nên làm vì nếu để lẫn lộn thì việc tìm hiểu tâm tư nhà thơ trong từng giai đoạn của cuộc đời cũng khó mà thấu đáo để đánh giá, nhận xét thật đúng, thật chính xác Tuy nhiên, nếu có cơ sở thật chắc chắn thì chúng ta hãy làm một cuộc sắp xếp hoàn chỉnh, còn nếu như chỉ dựa vào những suy đoán cảm tính cá nhân thì không nên, vì như thế nó sẽ làm xáo trộn và
sự tìm hiểu cũng sẽ rối thêm Hơn nữa, cũng cần phải có sự tôn trọng đối với văn bản đầu tiên tìm được dù chỉ là bản chép tay, vì khi sao chép như vậy người ta cũng đã dựa vào những tiền
đề nhất định và cũng có cái lý riêng của người sao chép Nếu ta chỉ sắp xếp theo sự suy đoán chủ quan thì sẽ giúp ích được gì cho người nghiên cứu? Và con đường đi sứ dù có tài liệu lưu trữ từ đời Thanh ở Bắc Kinh [142: 211] còn ghi lại những trắc trở về mặt giao thông cũng có thể gây nên những thay đổi, trừ những bài ta có thể biết chính xác qua một số địa danh còn lưu lại trong bài thơ như: Quỉ môn quan, Lạng Thành đạo trung, Ninh Mịnh giang chu hành, Thái Bình mại ca giả, Thương Ngô tức sự, Tương âm dạ, Nhiếp khẩu đạo trung, Vũ Thắng quan, Tín Dương tức sự… Chúng ta cũng không nên nghi ngờ bài thơ này hay bài thơ nọ không phải của Nguyễn Du chỉ vì những di tích đó không có trên đường đi sứ, có thể Nguyễn
Du đọc sách cảm hứng mà làm, như ông thường nói: Khách lộ trần ai bán độc thư (Đông lộ) (Thời giờ đi trên đường gió bụi một nửa là đọc sách)
Trang 23có vẻ hợp với phong cách Nguyễn Du ( Theo cụ Đào Duy Anh) còn về mặt đề tài cũng rất quen thuộc và nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Du, đó là đề tài về người đẹp, người tài Chúng ta hiểu Nguyễn Du gần như là người có mối liên hệ chặt chẽ với những con người tài hoa mà số phận nghiệt ngã Dương Quý Phi là một phụ nữ đẹp có thể chinh phục được kẻ ở ngôi cao tối thượng hoặc dũng tướng ngang dọc nơi sa trường nhưng nàng không chiến thắng được số phận của mình Quan niệm hồng nhan đa truân "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" và cái đẹp, bản thân nó không có tội, chỉ có tội ở những kẻ tranh giành chiếm đoạt nó Nguyễn Du thường nói về điều này Vì vậy xét thấy bài "Dương Phi cố lý" không có gì đáng nghi ngờ Cả bài "Bùi Tấn công mộ" cũng vậy Khi chưa có tư liệu chính xác tốt nhất vẫn là sắp xếp theo tài liệu đầu tiên tìm được
Ngoài ra những sắp xếp hợp lý theo trật tự đường đi sứ chúng tôi rất tán thành, vì điều
đó góp phần làm sáng tỏ cảm hứng của Nguyễn Du trên đường đi khớp với năm tháng thời tiết
1.3.2 Nhận xét chung về 3 tập thơ:
Đối với tập Thanh Hiên hoàn cảnh sáng tác không rõ lắm, không thể phân định được đâu là tiền đâu là hậu tập, chỉ biết rằng có một số sáng tác ông viết vào lúc làm quan thời Nguyễn Tuy nhiên phần lớn vẫn là giai đoạn sáng tác của thời thanh niên chí cao mộng lớn, nhưng thời vận lỡ làng, số phận long đong đành gửi vào thơ những nỗi niềm tâm sự, triết lý
về cuộc đời hiện thực đầy dẫy khổ đau
Tập Nam trung, con đường làm quan không thênh thang rộng mở mà lắm gian nan rối rắm Con người luôn phải giữ gìn ở chỗ này, thủ thế ở chỗ kia để tránh va chạm Thế thái nhân tình xưa nay vẫn là lời than ở cửa miệng bao người Nguyễn Du cũng không tránh khỏi
Trang 24tấm gương tốt xấu của người đời xưa, lồng vào đó ít nhiều hình ảnh của cuộc sống hiện thực
để phê phán, chỉ trích và thương tiếc Người đời xưa là tấm gương cho người đời nay Thời gian không nhiều (hơn 1 năm) nhưng tập Bắc hành quả đã chứng minh cho tài nhận định tổng kết một cách sâu sắc văn hóa của Trung Quốc và cũng cho thấy một tâm hồn lớn có thể đồng cảm với mọi đau khổ của kiếp người, vượt xa khuôn khổ hạn hẹp của một quốc gia
Ba tập thơ là sự bổ sung trọn vẹn cho nhau
1.4 Sự sai biệt về từ ngữ trong các văn bản thơ chữ Hán Nguyễn Du:
Thống kê về mặt chữ, chúng tôi nhận thấy có quá nhiều điểm khác biệt trong các văn bản Chúng ta không có văn bản gốc, Bắc Hành tạp lục cũng chỉ là bản chép tay (Bắc Hành tạp lục hiện có 2 bản: 1 ở Vụ Bảo tồn bảo tàng, 1 ở Thư viện Viễn Đông bác cổ), các tập khác đều do in, sao từ Paris (Các bản in sao thì cũng từ bản của Viễn Đông bác cổ) Như vậy khó
mà phân định được cái nào đúng, sai Lại thêm các nhà nghiên cứu về sau cũng đã dựa vào cuộc đời, hoàn cảnh đường đi nước bước của tác giả để mà suy đoán Từ một từ này có thể gạt bỏ để thay thế một từ khác vào do ý kiến cá nhân như vậy sẽ không tránh khỏi chủ quan phiến diện Thêm nữa là việc in ấn sai sót nên cũng đã góp phần làm rối thêm việc tìm hiểu Một số bản không có chữ Hán đi kèm, chỉ có phần phiên âm nên dễ nhầm lẫn với những chữ cùng âm khác nghĩa
Chúng tôi đã thống kê được 145 bài và hơn 300 trường hợp khác biệt Có thể chia thành nhiều dạng như sau :
1.4.1 Do in chữ phiên âm sai:
Loại này có rất nhiều, nhất là đối với các bản in về sau này Loại này tuy không gây khó khăn lắm cho việc tìm hiểu nội dung thơ nhưng cũng làm xáo trộn
Trang 25nghĩa thì khác nhau hoàn toàn
Ví dụ : Chung, trung ( ) trong bài Mi trung mạn hứng
Nhàn, nhân ( ) trong bài Bái muộn
Kinh, khinh ( ) trong bài Thu dạ II
Thái, đại ( ) trong bài Ký hữu
Câm, cấm ( ) trong bài Phượng hoàng lộ thượng tảo hành
Đạt, đại ( ) trong bài Tạp ngâm II
Loại in sai này đều xuất phát từ thanh và âm mà ra nên nếu đọc toàn bộ câu thơ thì có
thể hiểu đước từ nào sai từ nào đúng
Ví dụ1 : "Đạt nhân tâm kính quang như nguyệt" (Tạp ngâm II)
Câu này có nghĩa là "Tấm lòng kẻ đạt nhân sáng tỏ như vầng trăng "- Đạt nhân có nghĩa là bậc đạt nhân, thông hiểu lẽ đời rất khác với đại nhân (cách gọi của bậc trướng thường trên trước) Khi đọc câu này người ta có thể hiểu ngay, đạt và đại khác nhau, rật xa
Ví dụ 2: "Ngư long lãnh lạc nhàn thu dạ" (Bát muộn) - Câu này có nghĩa là "Cá rồng
lặng lẽ đêm thu vắng" Chữ nhàn đi với thu dạ Không thể là nhân Đây là đo in đâu sai
1.4.2 Do chữ khác âm nhưng cùng nghĩa :
Dạng này cũng có khá nhiều, chủ yếu là do một chữ mà nhiều âm Dạng này tuy có mặt nhưng không gây rắc rối lắm
Ví dụ : Liệp và lạp : đi săn ( ) trong bài Liệp
Đái và đới : đeo mang ( ) trong bài Mộ xuân mạn hứng
Yến và án : bầu trời xanh ( ) trong bài Sở Kiến hành
Tản và tán : tan ra ( ) trong bài Mạn hứng II
Nẫm và táp: số 30 ( ) trong bài Lưu biệt cựu khế Hoàng
Huyễn và ảo : không có thật ( ) trong bài Đại tác cửu thú tư qui II
Phùng và bổng:bụi đất ( ) trong bài Nam quan đạo trung
Trang 26VD : Tẫn và tận: hết ( ) trong bài Độc Tiểu Thanh ký và nhiều bài khác Bản B thường ghi tận, bản G thường ghi tẫn
Trọng và trùng hoặc trụng : nặng ( ) trong bài Long Thành Cầm giả ca và nhiều bài
khác Bản B thường ghi trùng, bản F thường ghi trọng
Phồn và phiền : nhiều ( ) trong bài Ngẫu thư công quán bích II và nhiều bài khác
Mỵ mỵ, mỹ mỹ, my my : say sưa ( ) trong bài Long Thành Cầm giả ca và nhiều bài
khác
Kệ và Kiệt: tảng đá ( ) trong bài Tam liệt miếu và nhiều bài khác
Tệ và tế: tạnh ( ) trong hài Hoàng Mai đạo trung
1.4.4 Do khác chữ, khác âm, khác nghĩa
Dạng này có khá nhiều, chúng tôi thống kê có 28 trường hợp khác chữ khác âm khác
nghĩa ở bản A và B Bản A và Bản B đều có nguyên bản chữ Hán nhưng vì số lượng cứa Bản
A chỉ có 102 bài nên thống kê so sánh cũng chỉ tương đối Còn với các bản A, B, C, D, E, F thì có 150 trường hợp khác chữ khác âm khác nghĩa Vì bản F không có nguyên bản chữ Hán nên chúng tôi chỉ so sánh dựa vào phần phiên âm và chú thích bản F so với các bản khác là bản in gần đây nhất (1988) có nhiều thay đổi về cách sắp xếp cũng như từ ngữ trong từng bài Bản G, mà chúng tôi có tham gia phiên âm dịch nghĩa thì cũng có chú ý kế thừa những thay
đổi hợp lý của tất cả các bản, nhất là với F Tuy nhiên ở đây chúng ta không đặt ra vấn đề bản nào đúng hoặc bản nào sai, bản nào sai nhiều hoặc sai ít mà chỉ xem xét chữ hợp lý và không hợp lý trong từng bài thơ mà thôi Tất nhiên đây cũng chỉ là những ý kiến đưa ra để tham
khảo
Ví dụ 1 : Bài Xuân nhật ngẫu hứng
Bản A : Thuân tuần hàn thử cố tương thôi
Bản B : Thoan tuần hàn thử cố tương thôi
Trang 27Ba chữ này xét về thanh âm thì chúng có chỗ gần nhau: uân, oan, uấn Có thể do phiên âm na ná nhau mà thành Theo cách ghi âm phiên thiết của tự điển đời Đường, Tống thì
chữ ( ) đọc từ chữ thất, luân ( , ) do đó phải có phiên âm là thuân, lấy âm th của chữa thất và âm uân của chữ luân mà đọc thành
Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu có chữ thuân, nghĩa là: đổ lỗi, chừa… không
có chữ Thoan cũng như chữ Tuấn Từ điển Hán Việt của Nguyễn Quốc Hùng cũng có chữ
( ) Thuân nghĩa là lùi lại, từ chối … không có chữ Thoan chữ Tuấn Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì có chữ thoan nghĩa là rút về, sợ hãi không dám tiến lên nữa
không có chữ Tuấn, chữ Thuân Bản F là bản của cụ Đào Duy Anh có chữ Tuấn khác với bản
A, B, C, D, E nhưng Tự điển của cụ lại không có từ này
Như vậy chữ nào trong những chữ này là hợp lý nhất? Theo ý kiên chúng tôi chữ
Thuân có lẽ xác đáng nhất, đọc âm thuẫn là đúng Và ý nghĩa của cả câu là: "Mùa rét mùa
nóng lần lượt theo nhau trôi qua"
Ví dụ 2 : Bài Lưu biệt Nguyễn Đại Lang
Bản A : Tây phong qui tụ liễu cao lâm
Bản B: Tây phong tiêu táp phất cao lâm
Bản F : Tây phong qui tụ liễu cao lâm
Về 3 chữ tiêu táp phất ( ) hoặc qui tụ liễu ( ) của 3 bản
này chúng tôi rất nhất trí với ý kiến của Ông Đỗ Văn Hỷ trong bài viết "Mấy ý kiến về bản
dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du (147:84) ông cho rằng liễu cao lâm là kết cấu trạng ngữ chỉ nơi chốn được đặt ở cuối câu, nên không thể thay thế chữ liễu bằng chữ phất được Thực vậy nếu đem chữ phất thay thế chữ liễu thì phất không đứng được với cao lâm mà làm động từ cho
Trang 28cao) Rừng cao, cây to không thể xao động bởi gió tây hiu hắt được Còn quy tụ thì chúng tôi
thấy hợp lý hơn bởi có chữ này câu thơ trở nên duyên dáng tình tứ hơn khi hai người bạn chia
xa, cảnh và tình hòa quyện vào nhau làm cho câu thơ sáng đẹp hơn Với chữ quy tụ chúng ta
có thể dịch như sau : "Gió tây thổi vào ống tay áo khi ra về chôn rừng liễu cao"
Ví dụ 2: Bài Ngọa bệnh II
Bản A : Sài phi dạ lĩnh khốn thân ngâm
Bản B : Sài phi dạ tĩnh bế thân ngâm
Bản F : Sài phi dạ tĩnh khốn thân ngâm
Khốn có nghĩa là tai nạn, khổ sở, khốn khổ, mệt mỏi
Bế có nghĩa là đóng lại (cửa), ngưng lại, chấm dứt làm cho lưu thông tắc nghẽn ,
nếu là danh từ thì có nghĩa là cái then cài cửa
Hai từ này có thể do viết tắt mà có sự nhầm lẫn Chữ bế có thể viết tắt là ( ) nên dễ
nhầm với khốn ( ) Ở đây chúng ta có thể thấy hai trường hợp: một là chữ bế đi với thân
ngâm và làm động từ cho sài phi để đối thật chỉnh với câu trên:
Minh kính hiểu hàn khai lão sấu Sài phi dạ tĩnh bế thân ngâm
Khai và bế đều giữ chức năng là động từ Hai là chữ khốn giữ chức năng tính từ bổ
nghĩa cho thân ngân Nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân cho rằng chữ bế không có nghĩa nên không cần đối với câu trên Chữ khốn mới có nghĩa mệt nhọc nằm co thân lại [53:138] Bản F cũng cho rằng chữ khốn mới thông nghĩa hơn [3:384]
Hai trường hợp này đều tạo nghĩa khác nhau cho câu thơ, nếu là bế câu thơ dịch sẽ có nghĩa là: "Cửa sài đóng kín trong đêm vắng nằm rên than" Nếu là khốn câu thơ dịch sẽ
là:"Cửa sài đêm yên tĩnh một thân khốn khó rên than" Xin ghi lại để tham khảo
Ví dụ 3: Bài "Thanh Minh ngẫu hứng"
Trang 29Thiên nhai vô vật đối thanh minh
Bản B : Đông phong trú dạ động giang thành
Thiên nhau vô tửu đối thanh minh Bản F : Đông phong tận dạ động giang thành Thiên nhai vô vật đối thanh minh
Trú có nghĩa là ban ngày (khác với ban đêm) Trú dạ là ngày và đêm Tận có nghĩa là hết, không còn gì Tận dạ là hết đêm, suốt đêm
Hai từ với hai nghĩa trên hoàn toàn khác nhau, ảnh hưởng rất lớn đến câu thơ Một
bên là ngày và đêm, nếu nói rộng hơn là suốt cả ngày đêm, còn một bên là chỉ có suốt đêm
Thực ra đã nói gió đông là nói đến sự kéo dài Gió đông không đến rồi đi ngay mà thường
kéo dài từng đợt, mấy ngày có khi mấy tuần, nên nói suốt ngày đêm có vẻ hợp lý hơn Suốt
đêm e không xác đáng vì câu sau tác giả còn nói "Nhân tự bi thê thảo tự thanh" (người cứ
buồn thương cỏ cứ xanh) Theo mạch văn kéo dài nối tiếp như vậy thì cứ gì chỉ nói về ban
đêm mà không nói cả ban ngày? Hơn nữa chữ trú và tận hình dạng khá giống nhau, có lẽ do
đọc nhầm
Câu thứ hai có chữ tửu rượu và chữ vật chỉ chung một loài (sinh vật, động vật), đồ đạc Cả hai chữ này đều có nghĩa tượng trưng cho những phẩm vật của ngày lễ thanh minh Ở đây tác giả nhìn ngắm khung cảnh trong tiết thanh minh cảm nhận về mùa xuân Ngày xuân là cái gì hết sức tươi trẻ, mới mẽ nhưng tác giả lại cảm thấy mình không còn trẻ, hơn nữa tâm trạng cũng không được vui Xuân đến, tiết thanh minh đến mà không có
gì để mừng, có lẽ trong tâm trạng buồn nên nhà thơ đã không chuẩn bị được gì, hoặc không
có gì để chuẩn bị Chữ vật hay chữ tửu ở đây đều nói lên những phẩm vật của ngày lễ, rượu
Trang 30Bản A : Lũng đầu lạc nguyệt ngọa hàn ngưu
Bản B : Lũng đầu lạc nguyệt ngọa hàn ngưu
Bản E : Lững đầu lạc nguyệt ngọa hàn ngưu
Bản F : Long đầu lạc nhật ngọa hoàng ngưu
Hình ảnh lạc nguyệt (trăng rụng, trăng lặn, trăng xế), lạc nhật (mặt trời rụng, mặt trời lặn, mặt trời xế) thường thấy trong thơ ca Đó là những hình ảnh đẹp tuy có buồn Lạc hoa, lạc diệp, lạc nhạn cũng mang ý nghĩa tương tự Trong câu thơ trên xét về mặt ý nghĩa :
"Đầu ghềnh, bóng trăng xế con trâu mệt nằm nghỉ" Đầu ghềnh, mặt trời lăn con trâu mệt nằm nghỉ? Không gian là đầu ghềnh, thời gian là mặt trăng lặn (hoặc mặt trời lăn) và có sự hiện diện của con trâu (hoặc con bò)
Cách hiểu thứ nhất: do có sự hiện diện của con trâu và khung cảnh đầu ghềnh nên
mặt trời lặn là hợp lý hơn Buổi trưa nắng nhiều con trâu làm việc hoặc ngâm mình dưới nước cho mát, buổi chiều nó lên bờ nghỉ hoặc về chuồng Trăng xế thường vào lúc làn đêm, mà
đêm thì không thể có con trâu nằm lang thang ở đâu ngoài ghềnh bãi Về mặt văn pháp lạc
nhật cũng đối chặt chẽ với tàn lô (đám lau tàn) ở cân trên Hơn nữa câu dưới có lập lại hình
ảnh buổi chiều:"Loạn sơn thúy tiếp cô thành mộ" (Buổi chiều những ngọn núi xanh chơm
chởm tiếp liền thành trơ trọi) do đố mặt trời xế hợp lý hơn
Cách hiểu thứ hai: Đầu ghềnh, dưới bóng trăng xế, con trâu mệt nằm nghỉ - Về mặt
văn pháp: lạc nguyệt cũng đối rất chỉnh với tàn lô ở câu trên Tuy nhiên nếu so với câu dưới
nói về cảnh chiều thì không gian, thời gian trong bài có vẽ tùy tiện không phù hợp Nhưng với tinh thần tôn trọng văn bản đầu tiên nên chúng ta có thể chờ đợi và nghiên cứu thêm
Cũng như "hàn ngưu" được thay thế bằng "hoàng ngưu" thì cần phải xem xét lại Hàn
ngưu là trâu lạnh (vì trâu
Trang 31ngưu và hoàng ngưu và ông đã phiên chữ hàn ngưu [86:94]
Ví dụ 5 : Bài Hán Dương văn diễu
Bên A : Bạch tần hồng liệu mãn đinh châu
Bên B : Bạch tần hồng liễu mãn đinh châu
Bản F : Bạch tần hồng lục mãn đinh châu
Chữ âm là liệu hoặc lục có nghĩa là tên của một loài rau mọc dưới
nước, một loài rau sinh trưởng rất nhanh Chữ này không có âm là liễu Các từ điển Hán Việt đều không thấy có âm liệu Liễu là cây liễu thì viết khác Liễu là một loài cây cành lá
mềm yếu, rũ xuồng rất đẹp Truyện Kiều có câu: "Lơ thơ tơ liễu buông mành" Hai chữ trên hoàn toàn khác nhau, một là loài rau, một là loài cây Nhưng loại rau thích hợp hơn bởi rau thường mọc bên bờ nước nên mới có vế sau "mãn đinh châu" (đầy bãi) Hơn nữa rau tần trắng (bạch tần) phải đi với rau liệu đỏ (hồng liệu) thì mới đúng Thường không ai "sánh đôi"
rau với cây cả Nếu liễu là cây liễu thì trong thơ văn cổ người ta thường dùng: liễu dương (cây liễu và cây dương) hay liễu bồ (cây liễu và cây bồ) Hai loại cây mềm yếu chỉ thể chất người đàn bà) Còn ở đây rau tần phải đi với rau liệu
Nhìn chung các trường hợp sai biệt trên đây xảy ra ở các văn bản Thơ chữ Hán Nguyễn Du rất nhiều Sai biệt về chữ dẫn đến sai biệt về âm và nghĩa, hoặc từ âm dẫn tới khác nghĩa Cần phải có một sự lựa chọn thích hợp để văn bản được thông nhất đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho giới nghiên cứu khi tiếp xúc với văn bản Chúng tôi đã làm thống kê
và bên cạnh đó là ý kiến lựa chọn đề nghị của chúng tôi, góp phần bảo vệ văn bản không bị rối rắm mất trật tự Tất nhiên chúng tôi tôn trọng những trường hợp dị bản và có thể xếp riêng
ở phần dị bản để tham khảo, và dĩ nhiên đây cũng là những ý kiến của cá nhân, rất cần sự chỉ
Trang 32Nguyễn Du:
Dịch nghĩa thơ chữ Hán là một vấn đề khá phức tạp Không riêng thơ chữ Hán Nguyễn Du mà thơ chữ Hán của các tác giả khác cũng là những vấn đề đáng quan tâm Quan niệm dịch thơ xưa nay "Traduttore, traditore" (dịch là phản) theo thành ngữ Latin, vì vậy khó
ai bằng lòng với ai về bản dịch này hay bản dịch khác, trừ người dịch Đụng đến vấn đề này
là đụng đến người dịch, đến quan điểm, đến cách dịch của từng người dịch Cho nên khó mà lấy cái chủ quan này để phê phán cái chủ quan khác, mỗi người đều có cái lý riêng của mình Tất nhiên đối với một lác gia lớn như Nguyễn Du chúng ta có thể mở lòng ra để đón nhận tất
cả các bản dịch mà nó có thể giúp ta thưởng thức tốt và hiểu cặn kẽ thêm về bản thân tác gia Nguyễn Kim Hưng trong lời đề dẫn cho cuốn thơ chữ Hán Nguyễn Du của Đào Duy Anh đã nói:"Cần có không phải chỉ một bản dịch mà nhiều bản dịch khác nhau mới có thể dần dà truyền đạt hết cái hay, cái nhiều vẻ của thơ chữ Hán Nguyễn Du cho bạn đọc nước ta Hơn nữa cái hay ấy lại không phải là cái hay bất biến đứng im" [3:25] và lời của ông Đào Duy Anh "nếu có ba bản dịch khác nhau cũng chưa lấy gì làm nhiều lắm Có thể là đời sau sẽ còn
có nhiều bản dịch khác nữa, vì mỗi thời, mỗi người dịch có thể góp phần tích cực vào sự tìm hiểu thi phẩm của Nguyễn Du một cách đặc sắc" [3:29] Quan niệm của các nhà nghiên cứu trên rất hay, chúng ta có thể tham khảo của dịch giả này, dịch giả khác để hưởng hết cái tri thức, cái tinh hoa của dịch giả đó đồng thời hiểu kỹ hớn, thấu đáo hơn về nhà thơ lớn của chúng ta Do đó việc một vài nhà nghiên cứu đã đưa ra ý kiến của mình để nhận định về các bản dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng là ý kiến đóng góp với tất cả lòng mong muốn sao cho dịch phẩm tốt hơn, chứ không hề phê phán hoặc vạch trần sai sót của người này, người khác Đó là những ý xây dựng rất cần khi người ta chưa đủ điều kiện để có thể cho ra đời những dịch phẩm mới Nó có tác dụng làm sáng tỏ thêm những
Trang 33cũng xin đưa ra ý kiến của mình với hy vọng góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu một cách thấu đáo tường tận cuộc đời, con người và con người thơ của tác giả
Qua các văn bản có trong tay (ký hiệu A, B, C, D, E, F, G, H theo trật tự thời gian ra đời), chúng tôi nhận thấy có những chỗ dịch chưa xác đáng, chưa thật hợp lý cần phải bổ sung hoặc chấn chỉnh kịp thời Tất nhiên cái chưa xác đáng, chưa hợp lý này chỉ là những sai sót những khiếm khuyết nhỏ trong công trình lớn, giá trị đã được thừa nhận từ nhiều năm nay
Bản A của các tác giả Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyên Khắc Hanh với 102 bài, các Cụ làm rất công phu từ phần nguyên bản đến phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ Nhất là phần dịch nghĩa
và dịch thơ, nhiều bản dịch sau đã dùng lại bài của các cụ Ưu điểm của tập sách này là cách dịch nhẹ nhàng, phóng khoáng mà không mất đi cái chân xác của từ gốc Việc làm của các cụ
đã nêu gương cho đời sau rất nhiều về cách dịch, cách hiểu một bài Có những câu thơ các cụ dịch một cách dễ dàng như lướt trên ngọn chữ , ví dụ câu:"Niên quang ám trục bạch đầu lai" trong bài Đối tửu, các cụ dịch: "Năm tháng vẫn lẵng lặng đưa đầu bạc đến" Câu rất nhẹ nhàng đồng thời mang đầy đủ sắc thái biểu cảm từ nghĩa của câu chữ Hay trong câu "Hồi thủ
cố hương thu sắc viễn" các cụ dịch:"Quay nhìn về phía quê nhà, vẻ thu xa lắc" Nhóm từ "vẻ thu xa lắc" đầy chất thơ và chứng tỏ được bút pháp già dặn, tài hoa
Bản B của các nhà nghiên cứu Lê Thước, Trường Chính vừa công phu vừa rất cẩn thận Từ việc chọn lựa sắp xếp các bài thớ sao cho phù hợp với quá trình hoạt động đi đứng của Nguyễn Du trong các thời kỳ của cuộc đời ông Đến việc chọn lọc các bài dịch thơ hay, các phần chú thích tỉ mỉ và đầy đủ Đó là chưa kể phần dịch nghĩa rất thanh thoát dễ hiểu, câu văn mượt mà óng chuốt, chưa dịch thành thơ đã thấy đẹp, hay, lôi cuốn Ví dụ câu:"Bạch phát
Trang 34Định Viễn rất ghét mái tóc bạc Cứ ở mãi ngoài ải Ngọc Môn, già với gió thu" Nhóm từ "Già với gió thu" nổi bật trong câu thơ, diễn đạt được hình ảnh người lính đem cả cuộc đời mình, đem cả tuổi xuân mình xông pha, giong ruỏi mãi ngoài chiến trường trả nợ núi sông Đồng thời hình ảnh ấy cũng đại biểu cho tầng lớp nho sĩ đỗ đạt trải thân vì sự nghiệp chung Vì thế tác giả vừa nói chuyện Ban Định Viễn lại vừa thể hiện con người cá nhân của mình - một ông quan đang thi hành công vụ - một cách rất rõ nét nhờ hình ảnh "lão thu phong" hay nói đúng hơn là nhờ chữ dùng xác đáng, hợp lý, rõ nghĩa, hình tượng trong câu dịch nghĩa "già với gió thu"
Hay một câu khác trong bài "Hoàng Hà trở tạo" cũng chứng minh được nét bút tài hoa: Long môn tây thượng xích vân phù
Khuynh tận Côn Lôn nhất phiến thu
Dịch nghĩa : Phía Tây dãy núi Long môn màu đỏ nổi lên
Trút hết cả mảnh trời thu trên ngọn Côn Lôn xuống
Câu thơ đã hay, câu dịch cũng rất tài tình Dùng chữ trút hết để dịch chữ "Khuynh tận", chữ mảnh trời thu để dịch chữ: "nhất phiến thu" rõ ràng dịch giả đã cảm được cái cảm của tác giả trước cái cảnh lụt lội của sông Hoàng Hà ngày đó Câu dịch vừa sát nghĩa vừa tạo đường nét, âm hưởng để người đọc có thể hình dung ra khung cảnh của bài thơ
Bản F của ông Đào Duy Anh gần đây nhất (1988) lại có những ưu điểm khác Đó là cách dịch bám sát từ, nghĩa của từ, nắm ý, chắc gọn, dịch cô đọng dễ hiểu, không rườm rà, lan man, chung chung chú thích cũng rất cẩn thận kỹ lưỡng, các bài thơ được sắp xếp theo một trật tự nhất định, nhất là đối với tập Bắc Hành Chủ trương của ông Đào Duy Anh là
"bám sát nguyên tác, cố gắng tái hiện trung thành tư tưởng tình cảm của tác giả bằng cách giữ đúng hình tượng, điển cố và phong cách của nguyên tác" [1:30], do đó có những cân dịch tưởng
Trang 35đi sát tư tưởng tình cảm tác giả hơn Ví dụ trong bài "Ký mộng" có câu:
Mộng lai cô đăng thanh
Mộng khứ hàn phong xuy
Dịch nghĩa: Chiêm bao đến, ngọn đèn cô đơn leo lét
Chiêm bao đi, gió thổi lạnh lùng
Với câu này dịch giả cố gắng giữ đúng sắc thái câu nguyên văn, từ ngữ nghĩa đến thanh điệu, từ ý tướng đến cách sắp xếp câu chữ, giúp người đọc tái lập lại trật tự cũng như
diễn biến tư tưởng của tác giả trước ngoại cảnh Hoặc một câu khác trong bài "Dạ hành":
Nam minh tàn nguyệt phù thiên lý
Cổ mạch hàn phong cộng nhất nhân
Được dịch là: Nơi biển nam mảnh trăng tàn nỗi trôi trong khoảng nghìn dặm
Trên lối xưa chỉ có một người cùng với gió lạnh
Vẫn với cấu trúc ngữ pháp của câu nguyên tác, chỉ thay đổi một ít để làm rõ nghĩa,
vẫn với nghĩa sát thực của từ và chữ dừng đơn giản mà câu dịch hoàn toàn có thể chinh phục người đọc Đây là một phong cách dịch cần được phát huy
Nhìn chung, các bản dịch đã làm rất tốt chức năng của mình trong việc phổ biến cái hay cái đẹp trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Tất nhiên cũng còn một vài chỗ khiếm khuyết mà chúng tôi có thể góp phần làm sáng rõ hờn để bản dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du có điều kiện hoàn hảo hơn Sau đây là một số ví dụ:
Trang 36Bản F dịch : Chốn tha hương giữ sự vụng về để phòng kẻ tục
Với câu này chữ dưỡng chuyết cần được hiểu kỹ hơn Dưỡng là nuôi nấng, sinh đẻ, chữa trị chuyết là vụng về, không khéo léo như chuyết công là thơ vụng, chuyết bút là ngòi bút vụng vậy dưỡng chuyết tức là nuôi dưỡng sự vụng về Những người đọc có thể
thấy lạ, lại sao lại nuôi dưỡng sự vụng về? Sự vụng về coi như một khiếm khuyết cần khắc phục, tại sao lại nuôi dưỡng? Có thể đây là cái lý của Nguyễn Du Vốn là người ngay thẳng, bộc trực lại trầm tính, ít nói Nguyễn Du coi đó là sự vụng về của mình, là cái ít khôn khéo của mình Trong thời buổi nhiễu loạn có khi nói nhiều lại có hại, thẳng thắn quá thì bị người ganh ghét, vụng về, khôn khéo có khi tránh được những điều đáng tiếc Hơn nữa ông lại đang trên đất khách "dị hương" không phải là quê hương quen thuộc của mình vì thế cần phải nuôi dưỡng cái tính vụng về ấy để phòng thói tục Trong bài "Tạp thi" Nguyễn Du đã từng nói "Tiếu đề tuẫn tục can qua tế" (Trong buổi can qua, cười nói đều phải theo thói tục) Vì
vậy, trong câu trên, chữ dưỡng có thể là đo Nguyễn Du có ý nhấn mạnh dưỡng chứ không phải giữ càng không phải là giả
Mặt khác đứng về phía triết học mà nói, có thể chữ dưỡng chuyết xuất phát từ câu
nói của Lão Tử: "Chuyết giả thiên chi đạo" ( ): chuyết là đạo của trời Chữ
chuyết ở đây dùng để phản đối lại chữ xảo ( ) nghĩa là khéo léo, tinh xảo, giỏi Bởi vì
Lão Tử chủ trương đạo trời chỉ tự nhiên vô vi chứ không cần trí xảo Phải chăng điều này đã được thấu suốt ở Nguyễn Du - một con người thông hiểu cả tam giáo thời bây giờ và ông đã
thể hiện lại điều đó trong thơ của mình Như vậy chữ chuyết càng sáng rõ hơn, giúp chúng ta
khẳng định chữ dưỡng tức là nuôi dưỡng, nuôi dưỡng cái vụng về, cái tự nhiên ấy để ứng xử với đời Câu này, theo ý nghĩa trên cần dịch đúng là: "Khác quê hương dưỡng cái vụng về để phòng thói đời"
Ví dụ 2 : Bài "Điếu La Thành ca giả"
Trang 37Yên chi bất tẩy sinh tiền chướng Phong nguyệt không lưu lử hậu danh Bản A dịch: Phấn son đã không rửa sạch những nghiệt chương lúc sống
Trăng gió chỉ để liếng lại sau khi đã chết
Bản B dịch: Nghiệp chướng phấn son lúc sống đã không rửa sạch
Sau khi chết chỉ để lại tiếng trăng gió Bản E dịch: Nghiệp phấn son lúc sống không rửa sạch
Tiếng trăng gió sau khi chết vẫn còn lưu Bản F dịch : Phấn son không rửa được nghiệp chướng của kiếp trước
Gió trăng luống để lại cái danh sau khi chết
Về mặt văn pháp, hai câu này là hai câu luận nên đối nhau rất chỉnh Đối từng cặp từ, nhóm từ: yên chi - phong nguyệt (bất tẩy - không lưu), sinh tiền chướng - tử hậu danh (sinh - tử; tiền - hậu; chướng - danh)
Đối về từ loại: danh - danh; động - động; trợ từ - trợ từ Đối về mặt ý nghĩa: nghĩa đen
- nghĩa đen; nghĩa bóng - nghĩa bóng; nghĩa cụ thể - nghĩa cụ thể; nghĩa trừu tượng - nghĩa trừu tượng Với câu có hình thức nghiêm ngặt như vậy thì khi dịch cũng phải dịch sao cho giữ lại được cái đối ấy thì nghĩa của nó mới hoàn toàn phơi bày ra Hơn nữa đây là một trong những câu cổ hình thức phức tạp sử dụng nhiều biện pháp tu từ (ẩn dụ, hoán dụ); cấu trúc câu đảo trang vì vậy khó xác định chủ ngữ, cũng như khó dịch rõ hết nghĩa của nó
Về mặt ý nghĩa, hầu như toàn bộ câu này đều phải được hiểu theo nghĩa tượng trưng, chứ không cụ thể, mặc dù nghĩa của từ rất cụ thể
Yên chi: tên một thứ cây, hột có phấn trắng, đàn bà thời cổ lấy phấn này thoa da mặt;
về sau yên chi chỉ chung phấn thoa mặt của đàn bà Riêng chữ chi nghĩa là mỡ đọng, sáp tô
môi của đàn bà
Trang 38xưa thích cảnh trăng trong gió mát, không ham vật chất gió bụi chốn phồn hoa đô hội Tích xưa Từ Miêu ban đêm thường cùng học trò hội họp, nhân có người khách hỏi về việc quan
Từ Miều nghiêm nghị đáp: "Đêm nay chỉ nói đến cảnh gió trăng mà thôi, không nói đến việc quan" (Theo Tầm Nguyên từ điển) Người xưa cũng thường hay nói: "bán nang phong
nguyệt" (nửa túi gió trăng) Truyện Kiều cũng có câu tương tự: "Đề huề lưng túi gió trăng"
Phong nguyệt lại còn có nghĩa là trai gái tình tự thề thốt với nhau trước cảnh trăng trong gió mát Truyện Kiều cũng có câu theo nghĩa này "Góp lời phong nguyệt, nặng nguyền nước non" Từ đó dẫn tới nghĩa không mấy tốt đẹp: phường trăng gió, thói phong nguyệt Trong Hoa Tiên cũng có câu "Đặt bày phong nguyệt dèm pha cương thường"
Chướng: che lấp, ngăn ra, làm cho cách biệt; cái bức che cửa hay che mặt Các nhà
quý phái đi ra ngoài có tấm bình che trước mặt gọi là bộ chướng hay hành chướng đều là những thứ dùng để che cho đỡ bụi (khác với trướng : bức màn, tấm rèm) Các từ điển
Thiều Chửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Quốc Hùng đều giải thích như vậy Kể cả Từ điển
Trung Việt của Văn Tân cũng giải thích chướng (zhạng) cách trở, che đậy, bình
ngăn cách cái gì che lấp, ngăn cách con người để dẫn tới con người u mê trong kiếp sống
trầm luân khổ ải làm cho con người không thể giác ngộ được thì đó là nghiệp chướng
Trang 39Bất tẩy: bất: không; tẩy : rửa, làm cho sạch, làm cho hết Bất tẩy là không rửa sạch,
không rửa hết
Không lưu: không là không, trống không, hư không, chẳng có gì, nghèo nàn, rảnh
rang Xin nới thêm từ không nghĩa rất phong phú nên các nhà thơ xưa thường dùng vì nó có thể diễn đạt trạng thái cảnh vật hay tâm trạng con người - Thiều Chửu giải thích về từ không :
là vơi vơi, tả cái ý như để lòng thiếu thốn, không tự cho là đầy đủ Theo nghĩa nhà Phật thì
cái không cũng không nốt vì thế chữ không trong thơ chữ Hán thường được dịch không những là không mà còn là vẫn, là chỉ, là luống những
Bài "Đằng Vương các tự" của Vương Bột có câu: Hạm ngoại Trường giang không tự
lưu (Ngoài hiên sông Trường giang vẫn tự trôi đi)
Bài "Trường tương tư" của Lý Bạch có câu: Quyển duy vọng nguyệt không trường
than (Cuộn rèm ngắm trăng, luống những than dài)
Riêng Nguyễn Du, trong thơ chữ Hán, chúng tôi thống kê có 47 trường hợp tác giả sử
dụng từ không Vì vậy với từ này có thể dịch thoát tùy theo văn cảnh từng bài thơ
Lưu : ngừng lại, ở lại, để cho người đời sau
Không lưu: chỉ lưu lại
Về mặt cấu trúc câu, do từ dùng có tính cách tượng trưng nên rất khó xác định thành
phần câu: chứ ngữ, vị ngữ Trong mỗi câu đều có 2 danh từ: yên chi và chướng; phong nguyệt
và danh Vậy từ nào là chủ ngữ? Hoặc yên chi và phong nguyệt làm chủ ngữ còn chướng và
danh thuộc thành phần vị ngữ; Hoặc cả yên chi, chướng; phong nguyệt, danh đều là chủ ngữ
Các từ khác thì rõ hơn sinh tiền và tử hậu là thành phần trạng ngữ chỉ thời gian, bất tẩy và
không lưu là động từ làm vị ngữ
Trang 40Sinh tiền - bất tẩy - yên chi - chướng
Tử hậu - không lưu - phong nguyệt - danh
và khi dịch chúng ta xếp theo trật tự cú pháp tiếng Việt
Sinh tiên - chướng - yên chi - bất tẩy
Tử hậu - danh - phong nguyệt - không lưu
tức là theo trật tự câu : Trạng ngữ - Chủ ngữ - Vị ngữ
Nếu như vậy chúng ta sẽ thấy yên chi là biện pháp tu từ hoán dụ, tác giả dùng để chỉ nghiệp cầm ca của cô gái Yên chi là son phấn mà son phân thì luôn gắn với kỹ nữ, ở đây
hoán dụ tức là lấy cái bộ phận chỉ cái toàn thể, lấy hình thức son phấn của cô gái để nói về cô
gái Phong nguyệt là biện pháp tu từ ẩn dụ, tác giả dùng để chỉ việc tình tự gió trăng mà các
kỹ nữ phải làm, tức là ẩn dụ về cuộc đời không mấy tốt đẹp của cô gái Ở đây có sự so sánh ngầm giữa một bên là cuộc đời người ca nữ và một bên là gió trăng nhưng sự vật so sánh tức
cuộc đời người ca nữ ẩn đi chỉ nêu hình ảnh so sánh tức là phong nguyệt, danh và chướng Danh thì không có vấn đề gì, vì nghĩa của nó khá tập trung ổn định Riêng chữ chướng như
đã nói ở trên có hai nghĩa, một là nghĩa được giải thích trong các tự điển, hai là đo cách hiểu
quen thuộc của từ Nếu chướng là che lắp, ngăn cản hay tấm che mặt đặc biệt khi nó đứng ở
vị trí danh từ thì phải dịch là tấm che mặt mà như vậy nó quá cụ thể không đối trọng với danh
là tiếng tăm nghĩa không cụ thể, vì tiếng tăm nằm ở phạm trù trừu tượng, khó nắm bắt Cho nên dịch chữ chướng là nghiệp chướng có lẽ đúng hơn, vì đây cũng thuộc thế giới mông lung trừu tượng, như vậy đối với danh mới cân xứng
Hơn nữa trong toàn bộ văn cảnh của bài thơ, tác giả đã nhắc đến: bạc mệnh, phù sinh, yên chi, phong nguyệt những từ dễ khiến người ta nghĩ đến nghiệp chướng, duyên nghiệp của người con gái "Kiếp sinh ra thế biết là lại đâu" (Văn