1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp biến nghệ thuật trong thơ văn nguyễn trãi

76 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 877,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Đăng Na, trong cuốn Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam,tập1, đã phân tích rất chi tiết sâu sắc về thơ văn Nguyễn Trãi, đặc biệt là sự tiếp nhận và sáng tạo trong thơ Nôm: “Tập

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là : Đào Thị Xuân, lớp 09CVH2, khoa Ngữ văn, trường Đại học

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, phòng thư viện trường đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt khóa học và nhất là thời gian thực hiện khóa luâ ̣n

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến ThS Lê An Vinh, người đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt, quan tâm tôi về mọi mặt

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè

đã luôn khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học và hoàn thành khó a luâ ̣n này

Dù đã cố gắng nhưng bài khóa luâ ̣n không tránh khỏi những sai sót, rất mong sự góp ý của thầy cô và bạn bè

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 16 tháng 5 năm 2013

Người thực hiện Đào Thị Xuân

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH TIẾP BIẾN CỦA VĂN CHƯƠNG TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 6

1.1 Văn hóa Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ trong quá trình giao lưu với văn học trung đại Việt Nam 6

1.1.1 Sự giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa 6

1.1.2 Sự giao lưu tiếp biến với văn hóa Ấn Độ 14

1.2 Sự tiếp biến các thể loại văn học 20

1.2.1 Sự du nhập các thể loại văn học nước ngoài 20

1.2.2 Sự tiếp nhận và sáng tạo của các tác giả văn học trung đại 23

CHƯƠNG 2 ĐẶC SẮC TIẾP BIẾN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VĂN NGUYỄN TRÃI 28

2.1 Sự tiếp biến về chất liệu, thi liệu văn học và quan niệm nghệ thuật 28

2.2 Sự tiếp biến về ngôn ngữ 41

2.3 Sự tiếp biến về thể loại văn học 49

2.4 Nguyễn Trãi người phát huy tích cực tính ưu Việt của văn học dân tộc 59

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nguyễn Trãi là một nhà văn, nhà thơ xuất sắc của văn học trung đại Việt

Nam Văn chương của Nguyễn Trãi thật đặc biệt, đó là “thứ văn chương có đủ sức để sửa sang việc đời” như Ngô Thế Vinh đã nói, là một “thanh âm trong trẻo” còn vang mãi đến sau này Nguyễn Trãi để lại cho hậu thế một sự nghiệp

văn học thật đồ sộ cả về chữ Hán và chữ Nôm Mặc cho sự bào mòn của thời

gian, sự “gọt giũa” của độc giả, các nhà phê bình… thì những sáng tác ấy vẫn như những bài ca đi cùng năm tháng và tên tuổi của ông mãi rực sáng như “Sao Khuê” trên bầu trời văn học trung đại Việt Nam

Nếu như văn thơ chữ Hán thể hiện rõ tính chất bác học, tính quy phạm, ngôn ngữ cao quý, giàu chất triết luận của một Nho gia, thì những bài thơ Nôm lại là những hình ảnh, ngôn ngữ rất gần gũi, giản dị Nhưng dù ở thể loại nào Nguyễn Trãi cũng thể hiện được sự toàn tài và khả năng tiếp nhận, sáng tạo vô biên của mình Thơ văn Nguyễn Trãi là một đại diện tiêu biểu cho sự tiếp biến văn học, đặc biệt là sự tiếp biến về mặt nghệ thuật

Nghiên cứu về “Tiếp biến nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Trãi”, cho

chúng ta thấy sự nỗ lực to lớn của thi nhân Nguyễn Trãi trong việc xây dựng nền văn học mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của văn chương Nguyễn Trãi đã khẳng định sự tiếp thu chân chính, uyên bác, tài năng, bản lĩnh của tác gia đối với văn hóa, văn học dân tộc và nước ngoài

Thực hiện đề tài là một thao tác thực nghiệm lại kiến thức đã được học về văn học trung đại, đặc biệt là tác gia Nguyễn Trãi Đồng thời qua đề tài này, chúng tôi cũng mong sẽ có được cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về sự tiếp biến nghệ thuật trong văn chương Nguyễn Trãi Nghiên cứu về một vấn đề mang tính chất khoa học nhằm có được kinh nghiệm cho công việc học tập, nghiên cứu sau này của chúng tôi

Trang 6

Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn “Tiếp biến nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Trãi” làm đề tài nghiên cứu luận văn

Nguyễn Đăng Na, trong cuốn Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam,(tập1), đã phân tích rất chi tiết sâu sắc về thơ văn Nguyễn Trãi, đặc biệt là

sự tiếp nhận và sáng tạo trong thơ Nôm: “Tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi là tác phẩm đầu tiên viết bằng ngôn ngữ dân tộc hiện còn Đây đồng thời cũng là tập đại thành của thơ ca tiếng Việt Với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi là người

“khai sơn phá thạch” người đặt nền móng và xây dựng một thể thơ mới cho văn học dân tộc trên cơ sở tiếp thu và sáng tạo thể thơ Đường luật Trung Quốc”

Nguyễn Phong Nam, trong cuốn Tác gia văn học trung đại Việt Nam,

cũng đã đi vào nghiên cứu: vị trí của Nguyễn Trãi trong lịch sử văn hóa, văn học Việt Nam, và tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề tiếp biến văn hóa, văn học trong

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi: “Quốc âm thi tập là sự khởi đầu ấn tượng của thơ Nôm Việt Nam Đây cũng là kết quả mỹ mãn của những nỗ lực lớn lao trong quá trình tiếp biến khuôn mẫu văn chương Trung Quốc”

Phạm Thị Ngọc Hoa, với bài viết Hệ thống biểu tượng thẩm mỹ trong thơ văn Nguyễn Trãi, thì lại đi vào nghiên cứu sự tiếp nhận và đổi mới của Nguyễn Trãi trong việc sử dụng các biểu tượng thẩm mỹ của thơ Đường Tác giả bài viết khẳng định: “Hệ thống biểu tượng thẩm mỹ trong thơ là kết quả sáng tạo của Nguyễn Trãi dựa trên hai nguồn: kế thừa và chủ động sáng tạo ra cái mới"

Trang 7

Phạm Thị Ngọc Hoa đã so sánh ý nghĩa của các biểu tượng thẩm mỹ như: tùng, trúc, mai trong thơ Nguyễn Trãi với ý nghĩa của các biểu tượng thẩm mỹ ấy trong thơ Đường và nhận định: Biểu tượng thẩm mỹ biểu đạt quan niệm của Nguyễn Trãi về nhà Nho Đó chính là sự tiếp biến có sáng tạo và uyên bác

Nguyễn Tài Cẩn – Vũ Đức Nghiêu, bàn về việc sử dụng ngôn ngữ của

Nguyễn Trãi trong bài Một vài nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Trãi đã nhận xét: “Nói đến ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, điểm đầu tiên nổi bật là sự phong phú của tác giả về mặt dùng từ.” Tác giả bài viết đã thống

kê toàn bộ các bài trong Quốc âm thi tập và phát hiện ra hơn một vạn một ngàn

lượt từ (11.067), trong đó có tất cả 2.235 từ khác nhau Điều đó chứng tỏ khả năng vận dụng từ ngữ phong phú, điêu luyện của Nguyễn Trãi

Hoàng Tuệ với bài viết Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt đã khẳng định: “Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt đó là một cống hiến hết sức lớn lao” [25, tr 826] Nguyễn Trãi trên cơ sở của thái độ quý trọng và

đề cao chất liệu của tiếng Nôm, văn học dân gian truyền miệng đã sử dụng một cách thành công bộ phận từ vựng tiếng Việt, ngữ pháp Việt, đặc biệt là tục ngữ

rõ ràng là vật được quý chuộng Song song với việc sử dụng kho văn liệu Hán

học, Nguyễn Trãi còn cố gắng “xây dựng ngôn ngữ văn học dân tộc trên cơ sở ngôn ngữ của nhân dân và ngôn ngữ của văn học dân gian”

Tác giả Phạm Luận trong bài viết Thể loại thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và thi pháp Việt Nam, sau khi căn cứ vào hình thức loại biệt trong

tổ chức chất liệu ngôn ngữ, tác giả đã chỉ ra ba thể thơ mà Nguyễn Trãi đã sử dụng là thể luật Đường, thể thất ngôn và thể câu 6 chữ xen câu 7 chữ Ngoài ra,

tác giả còn khẳng định “trong quá trình sáng tác thơ bằng tiếng Việt Nguyễn Trãi đã tiếp thu sâu sắc thi pháp thơ luật Đường…” [ 25, tr 856 ]

Bên cạnh nhiều công trình nghiên cứu kể trên thì còn rất nhiều nghiên cứu khác về sự tiếp biến về mặt thể loại, quan điểm thẩm mỹ, tư tưởng… của

văn chương Nguyễn Trãi như: Lê Trí Viễn với bài Chất đại Việt trong Ức Trai

Trang 8

thi tập; Quan điểm văn nghệ của Nguyễn Trãi của Đinh Gia Khánh…

Các công trình nghiên cứu đều đã khẳng định sự ưu tú, đặc sắc của thơ văn Nguyễn Trãi Thơ văn Nguyễn Trãi không chỉ là sự tiếp nhận có chọn lọc

mà đó là sự sáng tạo tinh tế hòa cùng dòng nhiệt huyết yêu dân tộc của một con người tài năng

Chính vì vậy việc tìm hiểu “Tiếp biến nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Trãi” là một đề tài hay, mang lại nhiều kiến thức cho chúng tôi trong quá trình

nghiên cứu, học tập

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng chúng tôi nghiên cứu trong đề tài là

Tiếp biến nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Trãi

Phạm vi nghiên cứu: ở đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu:

Quốc âm thi tập do Bùi Văn Nguyên (biên khảo, chú giải, giới thiệu), NXB Giáo dục, 2003

Và các tác phẩm của Nguyễn Trãi trong cuốn Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Văn học Hà Nội, 2001

Là những tác phẩm tiêu biểu cho văn thơ chữ Nôm và chữ Hán của Nguyễn Trãi Từ đó làm nổi bật lên sự tiếp biến và sáng tạo của văn chương Nguyễn Trãi chủ yếu là về mặt thi pháp

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình tìm hiểu đề tài “Tiếp biến nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Trãi” chúng tôi đã chọn phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp đọc tài liệu

Trang 9

5 Bố cục khóa luận

Khóa luận của chúng tôi, ngoài phần mở đầu kết luận và lời cam đoan, mục lục, tài liệu tham khảo, thì nội dung chính gồm:

Chương 1: Qúa trình tiếp biến của văn chương trung đại Việt Nam

Chương 2: Đặc sắc tiếp biến nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Trãi

Trang 10

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 QÚA TRÌNH TIẾP BIẾN CỦA VĂN CHƯƠNG TRUNG ĐẠI

VIỆT NAM

Việt Nam là dân tộc có nền văn hóa rất đặc sắc, chịu ảnh hưởng từ nhiều nền văn hóa khác nhau (Trung Quốc, Ấn Độ…), nhưng nổi bật vẫn là tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc sâu đậm Điều đó được thể hiện đậm nét trong văn chương, đặc biệt là văn chương trung đại Việt Nam

1.1 Văn hóa Trung Hoa và văn hóa Ấn Độ trong quá trình giao lưu với văn học trung đại Việt Nam

Văn học trung đại Việt Nam như một tháp đài vừa trang nghiêm, vừa lộng lẫy, nó được xây dựng nên từ nhiều chất liệu khác nhau, có sự pha trộn của chất liệu Trung Hoa, Ấn Độ, Việt Nam… nhưng nó lại là công trình mang cốt móng

dân tộc, được những người “thợ” Việt Nam chắt lọc, thiết kế theo kiểu dáng Việt

Nam, mang hồn cốt, kiến trúc dân tộc Có được sự thay đổi sáng tạo chính là nhờ

sự giao lưu, tiếp biến của văn học Việt Nam với văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa

1.1.1 Sự giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa

Việt Nam bị nghìn năm đô hộ của phương Bắc nên văn học Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa là một điều hiển nhiên, nhưng cái

hay, cái đặc sắc đó là các nhà văn Việt đã biết “tìm hoa, khai nhụy và hút mật từ những bông hoa” văn chương Trung Hoa biến thành mật ngọt cho văn chương

dân tộc Ở đây chúng tôi chỉ ra một số vấn đề được các nhà văn hóa Việt Nam tiếp thu từ văn hóa Trung Hoa:

vực trong đời sống dân tộc Trước hết là sự thâm nhập của chữ Hán Chữ Hán vào Việt Nam khi nước ta hình như chưa có chữ viết Người Việt tiếp thu chữ Hán dưới nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng việc tiếp thu ấy đã mang lại nhiều hiệu quả cho văn học dân tộc Người Việt đã dùng chữ Hán như một phương tiện văn

Trang 11

hoá trong hoạt động giao tiếp xã hội cũng như trong sáng tác văn học Tuy nhiên người Việt dùng chữ Hán theo cách riêng của mình và đây chính là điều kiện cho chúng ta dần tách khỏi phạm vi ảnh hưởng của văn hoá Hán

Chữ Hán chính là công cụ văn ngôn đầu tiên giúp ta hiểu sâu đạo Nho, đạo Phật, tiếp thu tịch văn của Trung Quốc Tuy dùng chữ Hán làm văn ngôn nhưng lại biểu thị tinh thần yêu nước, cảnh trí, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Nhiều tác phẩm văn học chữ Hán đã thoát khỏi chuyện Nghiêu Thuấn, chuyện Tam Hoàng, Ngũ Đế của Trung Hoa và nói trực tiếp về đất nước Việt Nam ta:

Những tác phẩm xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc như: bài Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận, Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt…

“Vận nước như dây mây leo quấn quýt,

Ở cõi trời Nam cảnh thái bình

Vô vi ở nơi cung điện, Khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh.”

(Tụng giá hoàn kinh sư- Trần Quang Khải)

Cảnh đẹp quê hương đất Việt Nam, những sinh hoạt vui tươi của quê hương:

“Dâu thưa, tằm mới hết tơ, Cũng vừa cua béo, lại mùa lúa thơm

Quê nhà, nghèo vẫn sướng hơn, Giang Nam vui mấy cũng khôn bằng về.”

( Quy hứng – Nguyễn Trung Ngạn)

Trang 12

Và đặc biệt trên cơ sở chữ Hán và bộ chữ Hán đọc theo âm Hán Việt, cha ông ta đã sáng tạo ra loại văn tự dân tộc chủ yếu dùng để ghi âm tiếng Việt, đó là chữ Nôm - được coi là quốc ngữ thời đó Sự Việt hóa từ ngữ Hán đã cho thấy khả năng sáng tạo và ý thức vượt thoát sự ảnh hưởng của nước ngoài và ý thức tạo nên tiếng nói, chữ viết riêng cho dân tộc của ông cha ta

Việc tiếp thu chữ Hán là cần thiết khi nền văn học nước nhà chưa có được một thứ chữ viết chính thức Chữ Hán là nền tảng giúp chữ Nôm ra đời Sự

ra đời của chữ Nôm và sự có mặt của chữ Hán đã tạo nên sự đa màu sắc cho dòng văn học trung đại Việt Nam: văn thơ chữ Hán với những áng văn thơ bất

hủ, mang tính chất bác học, với nghệ thuật tinh túy, cùng song song tồn tại với dòng văn học chữ Nôm với ngôn từ gần gũi, bình dị Bên cạnh đó thì văn học Việt Nam cũng chịu sự ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo

Ảnh hưởng của Nho giáo: tại Trung Hoa, Nho giáo được độc tôn từ

thời Hán Vũ Đế, trở thành hệ tư tưởng chính thống và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, văn chương của Trung Hoa Trong dòng thác của sự đô hộ, Hán hóa của Trung Hoa, dân tộc ta đã chịu sự tác động mạnh mẽ của tư tưởng, văn hóa Nho giáo Nho giáo đã đi vào trong tư tưởng của các nhà nho Việt, được thể hiện rộng khắp trong các quan điểm sáng tác của họ Hàng trăm cây đại thụ của văn chương trung đại đã tiếp thu, học tập tư tưởng của Nho giáo, vận dụng và sáng tạo nó vào sáng tác văn chương, tạo nên những tác phẩm có giá trị lớn cả về mặt

tư tưởng và nghệ thuật Các tư tưởng của Nho giáo Trung Hoa đã được các Nho

sĩ Việt Nam tiếp thu gần như trọn vẹn, nhưng các tư tưởng ấy đi vào các sáng tác

văn học thì đã được làm “mềm” đi, được “cải tạo”, “vun trồng” thành tư tưởng

Nho giáo mang hương vị Việt Tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng dân tộc, tư tưởng hiếu đễ, tư tưởng về trí, nhân, dũng… là những hệ tư tưởng chiếm giữ vị trí quan trọng trong suy nghĩ, sáng tác của con người thời trung đại Nhưng có lẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất và cũng thể hiện rõ nhất sự cách tân, đổi mới trong hệ

tư tưởng Nho Việt là tư tưởng nghĩa nhân và tư tưởng dân tộc

Trang 13

Tư tưởng nhân nghĩa được được các nhà nho trung đại Việt Nam nhắc

đến rất nhiều, với Nguyễn Trãi nhân nghĩa là:

“Việc nhân nghĩa cốt ở an dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

(Bình Ngô đại cáo)

Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười”

(Của nặng hơn người)

Tư tưởng nhân nghĩa là một triết lí sâu sắc cốt lõi của đạo Nho Vẫn trên nền tảng tư tưởng nhân nghĩa của Khổng - Mạnh, nhưng khi được một dân tộc thông minh, giàu truyền thống yêu nước, giàu tình thương yêu con người như Việt Nam tiếp nhận thì nó đã được biến tấu thành những gam màu mang đậm sắc thái dân tộc Tư tưởng nhân nghĩa qua sự tiếp thu, sáng tạo của các nhà nho đã mang ý nghĩa mở rộng và được nâng cao hơn Tư tưởng nhân nghĩa trong Nho

giáo Trung Hoa là đạo về chữ Nhân, tư tưởng cách ứng xử của con người, nó là

một mệnh đề có tính giáo khoa Nhân nghĩa theo Mạnh Tử cũng chỉ nhằm duy trì chế độ đẳng cấp mà thôi, nhưng tư tưởng ấy khi vào Việt Nam, nhân nghĩa đã không còn là đối tượng chung chung, nó đã được gắn với một đối tượng cụ thể, trong môi trường cụ thể và biểu hiện của nhân nghĩa là rất rõ ràng Nhân nghĩa chính là yêu nước thương dân An dân là mục tiêu, phương tiện của nhân

nghĩa.Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam bị xâm lăng thì “Trừ bạo”, đánh giặc

dành lại độc lập, ấm lo cho nhân dân là mục tiêu của nhân nghĩa:

“ Đem đại nghĩa thắng hung tàn Lấy trí nhân thay cường bạo”

(Bình Ngô đại cáo- Nguyễn Trãi)

Mục tiêu an dân đã tạo một nấc thang mới cho sự phát triển nhân nghĩa, thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả, thể hiện tinh thần thân dân Coi trọng nhân dân, biết lấy dân làm gốc là một trong những tư tưởng tiến bộ thể hiện tinh thần

Trang 14

dân chủ, trọng tình của văn hóa nông nghiệp Phương Nam

Nhân nghĩa được đặt trên cơ sở thực tiễn của lịch sử dân tộc, nên nhân nghĩa khi được dùng với kẻ bại trận còn là lòng thương người, sự bao dung, độ lượng với kẻ thù Nó hợp với truyền thống hiếu hòa của nhân dân ta

Tư tưởng nhân nghĩa trong Nho giáo Trung Hoa thường chỉ dùng cho

người quân tử Nó là bậc, là thước đo của người quân tử “Người quân tử có khi phạm điều bất nhân, Chớ chưa từng thấy kẻ tiểu nhân mà làm được điều nhân nghĩa” (Khổng Tử) Trong tư tưởng của Khổng Tử ông không thừa nhận đức

nhân ở người lao động, nhưng trong văn học trung đại Việt Nam, nhân nghĩa - sống cao đẹp, xả thân vì người khác - có mặt trên mọi nẻo đường, có trong tất cả mọi con người, nó trở thành tiêu chuẩn đạo đức của người có đức hạnh, đó cũng

là lối sống của bất cứ ai trọng tấm lòng Tư tưởng nhân nghĩa đó rất phù hợp với

truyền thống cộng đồng của dân tộc Trong tác phẩm Lục Vân Tiên ta thấy một hình ảnh ngư ông - người lao động - thực hiện lòng nhân nghĩa:

“ Ngư rằng lòng lão chẳng mơ Dốc lòng nhân nghiã há chờ trả ơn”

( Lục Vân Tiên- Nguyễn Đình Chiểu)

Như vậy tư tưởng nhân nghĩa – một tư tưởng của đạo Nho khi vào Việt Nam đã được tiếp thu, sáng tạo mang hồn cốt dân tộc, đậm phong vị Việt, phù hợp với cuộc sống, phong tục, quan niệm lối sống của người Việt Hành động nhân nghĩa nhằm hướng tới dân manh lệ, và nhân nghĩa cũng không trừ những người dân manh lệ, khác với dân chung chung của Nho giáo Trung Hoa

Tràn ngập trong rừng hoa văn học trung đại là các sáng tác thể hiện tình cảm yêu nước của các văn nhân Qua các sáng tác có thể dễ dàng nhận thấy sự tiếp thu một cách thông minh tư tưởng dân tộc – tư tưởng tiêu biểu của Nho gia Trung Hoa Tư tưởng dân tộc là một trong những nét độc đáo đã được khúc xạ rất rõ trong văn thơ Việt

Tư tưởng dân tộc đã tràn ngập trong các sáng tác của cha ông ta ngay từ

Trang 15

khi văn học viết mới ra đời, được thể hiện ở tinh thần yêu nước, yêu mến quê hương, lòng tự hào dân tộc Tư tưởng dân tộc được tiếp thu và tỏa sáng vì nó được soi rọi bởi hai chữ nhân dân, trong tư tưởng ấy, Nước - Đất nước không phải là của vua, mà trước hết là của dân, nước gắn với dòng họ, yêu nước là thương dân, yêu dân, trọng dân Dân là nước, nước có thể chở thuyền, nước cũng

có thể lật thuyền, dân là kẻ có ơn với người ăn lộc, cũng như ý dân là ý trời, dân

vi quý Tư tưởng dân tộc của Việt Nam không chỉ là sự trung thành tuyệt đối với

vua:“Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” (Vua xử tôi chết, tôi không chết,

tôi không trung), mà trung quân ái quốc của Nho gia đã có sự biến đổi: trung với

vua chính là yêu nước, yêu nước đồng nghĩa với yêu dân “Vì quốc dĩ dân vi bản”, vua - nước – dân là một Ông vua sáng suốt có đức là người thấy rõ mình

là người che chở, cứu vớt, là thầy, là cha nhân dân Còn với bậc nhà nho tư

tưởng dân tộc là “trí quân trạch dân”, phụng sự cho lý tưởng vì dân vì nước:

“Đã cam chút phận dở dang,

“Trí quân” hai chữ mơ màng năm canh

Đã cam lỗi với thương sinh,

“Trạch quân” hai chữ luống danh ở lòng”

( Ngư tiều y thuật vấn đáp- Nguyễn Đình Chiểu)

Tư tưởng dân tộc của các tác gia văn học trung đại Việt Nam mang nhiều nét độc đáo, tư tưởng đó mang hình thức tư tưởng trung nghĩa, tư tưởng trung nghĩa gắn với ước mơ một xã hội thái bình thịnh trị do vua sáng, tôi hiền đưa lại,

tư tưởng yêu nước dân chủ, tràn đầy lòng tự hào về dân tộc, về truyền thống đoàn kết quân dân, sự đồng lòng vua tôi trong việc gìn giữ và bảo vệ đất nước và văn hiến có từ lâu đời của dân tộc

sách kinh điển Tống Nho nên quan niệm nghệ thuật của các nhà Nho trung đại cũng không tránh khỏi sự ảnh hưởng của Nho giáo Nhưng đó không phải là sự tiếp thu lặp lại, cày bừa lại trên những luống cày cũ, mà các quan điểm văn học,

Trang 16

nghệ thuật của văn chương Trung Quốc khi vào Việt Nam được ví như những mảnh đất giúp thi nhân Việt có thể ươm trồng nên những trái ngọt, mang hương

vị của quê hương, xứ sở

Quan niệm văn học được văn chương trung đại sử dụng nhiều trong các

sáng tác của mình như: quan niệm Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí, quan niệm về con người, về mối quan hệ giữa con người và trời đất… Vẫn tiếp thu quan điểm văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí của Nho giáo, nhưng qua sự nhìn nhận của các bút

Nho trung đại Việt, quan niệm ấy đã được mở rộng hơn nhiều Với Nguyễn Du, văn chương không chỉ chở đạo, nói chí, không chỉ để bày tỏ, biểu hiện mà còn đem lại những điều hiểu biết, những kiến thức có khi rất thiết thực:

“ Thôn ca sơn học ma tang ngữ”

(Dân ca mời mọc lời thôn dã)

Đạo qua sự tiếp nhận của Nguyễn Trãi có tác dụng trừ độc, trừ tham, trừ

bạo ngược:

“Văn chương chép lấy đôi câu thánh,

sự nghiệp tua gìn phải đạo trung

Trừ độc trừ tham, trừ bạo ngược,

Có nhân, có trí, có anh hùng"

(Bảo kính cảnh giới 5)

Đạo đến thời của Nguyễn Đình Chiểu không còn dừng lại ở đạo lý của Nho giáo mà đạo đó là cứu nước thương nòi nói chung, xa lạ với công thức “tải đạo” thường lấy trong văn chương trung đại Trong bài Đạo nghĩa của Nguyễn

Đình Chiểu có nói điều này:

“Mến nghĩa sao đành làm hại nước

Có nhân nào nỡ phụ tình nhà”

Tác dụng của văn chương không chỉ dừng lại ở việc nói đạo, nói chí, thể

hiện tính hiện thực, tính thẩm mỹ, văn chương theo các nhà văn Việt chính là

Trang 17

cái đẹp của nghệ thuật, của cảnh vật, của đời sống và chúng có mối quan hệ khăng khít với nhau Văn chương giúp con người nhìn hiện thực cuộc sống từ

phương diện thẩm mĩ, làm cho cuộc sống trở nên đẹp hơn như: Tân mai kiều ngoạn nguyệt - Phạm Ngũ Dực, với vua Lê Thái Tổ, ông lại nhìn thấy ý nghĩa

của văn chương trong việc giữ gìn biên cương đất nước:

“Đề thơ khắc vào núi đá

Trấn giữ phía Tây nước Việt ta.”

(Thân chinh phục lễ châu)

Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí, là đặc điểm, mô hình quen thuộc trong văn thơ trung đại Việt Nam, nhưng nó lại được thể hiện một cách rất đa dạng, phong phú, thể hiện tầm hiểu biết sâu rộng, khả năng sáng tạo, cái nhìn đa diện của các

nhà Nho Việt Nam xưa

văn chương trung đại cũng có nhiều biến đổi khi tiếp nhận các quan điểm về con người, quan niệm về trời, mệnh trời, và quan niệm về mối quan hệ giữa con người với trời đất Theo nhiều tác giả, nhiều nhà nho thời phong kiến thì con người không hoàn toàn bị chi phối bởi mệnh và mệnh trời, trái lại con người có thể cải biến mệnh nhờ vào lỗ lực của bản thân

Từ các quan điểm đã ăn sâu, bám rễ vào trong các sáng tác của văn chương Trung Hoa, khi sang Việt Nam các quan điểm nghệ thuật ấy đã được tiếp nhận và sáng tạo rất độc đáo trong văn chương: vừa có màu sắc thâm Nho, quan điểm khuôn mẫu của Trung Quốc, cộng thêm vào đó là sự gần gũi, quan điểm sống rất đời, rất thực của đời sống xã hội Việt được đúc rút từ cảnh trí Việt, nếp sống Việt, suy nghĩ của con người Việt

Qua các tác phẩm văn học trung đại ta thấy được sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Trung Hoa vào Việt Nam Trong sự tiếp nhận không thể không có

sự dung nạp của nhiều yếu tố tiêu cực, nhưng cái tài tình của ông cha ta đó là đã biết phát huy rất mạnh mẽ những tinh hoa của nước khác, đưa những cái hay của

Trang 18

Trung Hoa vào đời sống, vào văn chương Việt, đồng thời với ý thức dân tộc mạnh mẽ, sự tài hoa, uyên bác của mình, các nhà Nho đất Việt đã biết sáng tạo làm nên nét đẹp riêng của tri thức, của bản sắc Việt Nam Chính sự nỗ lực tiếp nhận và đổi mới ấy đã tạo nên một nền văn chương trung đại rực rỡ và có giá trị

- nền văn chương có cả cái tinh túy của văn học các nước, lại có cả những đường nét, những sản phẩm rất Việt Nam

1.1.2 Sự giao lưu tiếp biến với văn hóa Ấn Độ

Cùng với sự tiếp thu văn hóa Trung Hoa thì văn học, văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là các hệ tư tưởng Phật giáo và các loại hình văn học Phật giáo đã có ảnh hưởng rất lớn đến nền văn học trung đại Việt Nam

Ảnh hưởng các hệ tư tưởng Phật giáo Ấn Độ

Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, có thể từ trước công nguyên và đã nhanh chóng được tiếp nhận, bản địa hóa trở thành tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóa dân tộc Phật giáo đã đi vào đời sống Việt, như luồng gió mát lan tỏa rộng khắp trong văn chương Việt Nam và luôn đồng cam cộng khổ cùng vận mệnh thăng trầm của xứ sở Văn học Việt Nam, đặc biệt văn học thời

Lý – Trần đã tiếp nhận và chịu ảnh hưởng sâu đậm của các tư tưởng đạo lý, các

tư tưởng từ bi bác ái, vị tha, tư tưởng nhân quả và mục đích cứu khổ, cứu nạn… của đạo Phật

khởi, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo… khi vào Việt Nam đã được kết hợp với phong tục, tập quán, nếp sống, tinh thần dân tộc và tâm hồn con người Việt, nên

nó đã mang những màu sắc rất riêng độc đáo Phật giáo Việt Nam là sự kết hợp cao độ giữa Đạo và Đời Những điều như vậy ánh xạ vào văn học làm cho văn học mang nhiều tính tự nhiên:

“Bầu trời cảnh Bụt thú Hương Sơn

Ao ước bấy lâu nay Kìa non non, nước nước, mây mây

Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải?

Trang 19

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái, Lững lờ khe yến, cá nghe kinh

Thoảng bên tai một tiếng chầy kình, Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.”

(Hương Sơn Phong Cảnh - Chu Mạnh Trinh)

Tư tưởng của các Nho gia cũng chịu tác động nhiều của tư tưởng Từ bi đạo Phật:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu Phạt trước lo trừ bạo”

“Đem đại nghĩa thắng hung tàn

Lấy chí nhân thay cường bạo”

( Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Tư tưởng đạo Phật đã được nhà nho Nguyễn Trãi dung hợp cùng với tư tưởng nhân nghĩa của đạo Nho, đây cũng là một nét rất độc đáo của quá trình tiếp thu các hệ tư tưởng ngoại lai của các tác gia trung đại Sự tổng hòa của ba tư tưởng Nho, Phật, Đạo còn được Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh vận dụng nhiều trong các sáng tác của mình: cảnh Phật được miêu tả bằng cái nhìn của Đạo, chất thiền trong thơ thấm đẫm lòng trắc ẩn về nỗi bi kịch nhân thế, thể hiện

được tư tưởng từ bi, bác ái, thể hiện trong các bài như Đề Sùng Hư lão túc - Trần Nguyên Đán, Thiên Thánh Hựu Quốc Bảo tự tảo của Nguyễn Phi Khanh…

Các thiền sư Lý – Trần tiếp thu tư tưởng Phật học rồi kiến giải theo chân

lý, theo chỗ tỏ ngộ của mình, có nhiều vị đã đề ra thuyết lý với những lí giải mới

theo yêu cầu của dân tộc như thuyết Tâm pháp Nhất như của Cửu Chi, Thuyết Tam ban của Ngộ Ấn Tư tưởng giác ngộ về sự sống và cái chết đã được Vạn

Hạnh thiền sư giác ngộ và thể hiện vào văn chương:

“Thân như bóng chớp, có rồi không, Cây cối xuân tươi, thu não nùng

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,

Trang 20

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.”

(Thị đệ tử)

Phật giáo đã đi vào Việt Nam và nhanh chóng ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống, tâm tưởng người Việt Vốn là một dân tộc sống trọng tình, sống chan hòa, bình đẳng nên những tư tưởng, đạo lý nhà Phật đã đi vào nếp nghĩ, vào văn thơ một cách rất tự nhiên Từ những lí thuyết, triết lí có phần khô khan của Phật giáo các tác gia trung đại đã làm “mền” đi bằng cách kết hợp, sáng tạo với tư tưởng của các đạo Nho, đạo Giáo, kết hợp cùng cách diễn đạt rất riêng của phong cách từng tác gia… đã tạo nên những tác phẩm mang đậm màu sắc Phật giáo Việt Nam Những tác phẩm ấy không chỉ là những đứa con lai tạo tinh xảo

mà nó còn mang giá trị nghệ thuật cao, thể hiện được nét rất riêng trong dòng văn học trung đại

Văn học Việt Nam không chỉ ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, mà còn tiếp thu các loại hình văn học phật giáo từ Ấn Độ

Ảnh hưởng các loại hình văn học Phật giáo từ Ấn Độ

Phật giáo Trung Quốc và Phâ ̣t giáo Viê ̣t Nam tiếp thu tư tưởng – giáo lý Phật giáo chủ yếu qua hê ̣ thống Kinh văn Mô ̣t số thể loa ̣i thường gă ̣p trong văn

học Phâ ̣t giáo Viê ̣t Nam mà những thể loa ̣i này có nguồn gốc từ các thể loa ̣i Kinh văn Ấn Đô ̣ như: Kê ̣ (kê ̣ tán, kê ̣ tu ̣ng, kê ̣ ngô ̣ giải), Ngữ lu ̣c, Tu ̣ng cổ, Niêm tu ̣ng

kệ, Luâ ̣n thuyết, Phổ thuyết, Tự thuyết (Tự), Minh, Bi, Ký, Truyê ̣n truyền đăng v.v… Đặc biệt văn học thời Lý – Trần có một dòng văn học mang khuynh hướng Phật giáo - là đỉnh cao của văn học Phật giáo Việt Nam - chính vì vậy, văn ho ̣c Phâ ̣t giáo Lý - Trần chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ và thể hiện rõ nét nhất

sự ảnh hưởng của các thể loại kể trên

Văn ho ̣c Phâ ̣t giáo Lý – Trần, tồn ta ̣i đầy đủ các loa ̣i Vâ ̣n văn, Tản văn, Biền văn… với các thể tài tiêu biểu của văn ho ̣c trung đa ̣i Những thể loa ̣i đó

là những sản phẩm thành văn tuân theo quy luâ ̣t văn - sử - triết bất phân Với hai chức năng chính: chức năng hành chính gồm các thể tài: Chiếu, Chế, Biểu, Hi ̣ch,

Trang 21

Cáo, Văn sách chức năng lễ nghi - tôn giáo gồm các thể tài: Kinh, kê ̣, thơ Thiền, Ngữ lu ̣c, Tu ̣ng cổ, Niêm tu ̣ng kê ̣, bi, Minh, Ký, Văn tế, Luâ ̣n thuyết tôn giáo, truyê ̣n truyền đăng, truyê ̣n các thánh… Sau đây, chúng tôi đưa ra bảng thống kê so sánh để làm rõ sự ảnh hưởng này:

BẢNG THỐNG KÊ CÁC THỂ LOẠI TÁC PHẨM VĂN HỌC PHẬT GIÁO THỜI LÝ - TRẦN

STT Tên thể loa ̣i Văn ho ̣c Phâ ̣t giáo

đời Lý

Văn ho ̣c Phâ ̣t giáo

Trang 22

sự kết hợp ba lối văn: Tản văn, Biền văn và Vâ ̣n văn trong các sách của nhà Phật, hình thức kết hợp ba lối văn thì được sử du ̣ng nhiều trong các tác phẩm thuộc thể loa ̣i Ngữ lu ̣c, Luâ ̣n thuyết, Tu ̣ng cổ, Niêm tu ̣ng kê ̣ của nhà chùa

như tác phẩm Thiền uyển tập anh, Tham đồ hiển quyết của Viên Chiếu, Khoá hư

lu ̣c của Trần Thái Tông, Thượng sĩ ngữ lục của Tuê ̣ Trung Thượng Sĩ Trần

Tung; trong các truyê ̣n truyền kỳ của nhà Nho như Thánh Tông di thảo tương truyê ̀n của Lê Thánh Tông, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ v.v

Những thể loa ̣i trên đều bắt nguồn từ thể loa ̣i kinh điển nhà Phâ ̣t ở Ấn Đô ̣,

từ các thể loa ̣i văn ho ̣c cổ Trung Quốc và khi tiếp thu rồi sáng ta ̣o, các tác giả

củ a bô ̣ phâ ̣n văn ho ̣c này ít nhiều có cải biên đôi chút cho phù hợp với thực tế

củ a mình Những luâ ̣n thuyết triết lý đời Trần như tác phẩm Khoá hư lục chẳng

hạn, tác phẩm là sự tổng hợp nhiều thể loa ̣i của Kinh văn như Ứng tu ̣ng (Trùng

tụng); Luâ ̣n thuyết (Giải thuyết); đồng thời tác phẩm còn được tôn vinh là mô ̣t

bản Kinh nhật tụng đời Trần Các thể Kê ̣ (kê ̣ tán, kê ̣ tu ̣ng, kê ̣ ngô ̣ giải v.v ) là

bắt nguồn từ thể Phúng tu ̣ng (Kê ̣ tu ̣ng) trong Kinh văn

Nếu so sánh với thể loa ̣i văn bản kinh Phật thì văn ho ̣c Phâ ̣t giáo của ta

còn có thêm thể thơ Thiền, thể tài này chưa thấy trong kinh văn ở Ấn Đô ̣ Các

bậc tiền bối khi xưa đã đánh giá rất cao về thơ chữ Hán thời Lý – Trần, trong đó

có Kệ và thơ Thiền, đây là những vần thơ hay trong bô ̣ phâ ̣n thơ chữ Hán ở Viê ̣t Nam Chỉ riêng trên góc đô ̣ thể loa ̣i, có thể thấy văn ho ̣c Phâ ̣t giáo thời Lý – Trần

bề ngoài là giãi bày giáo lý nhà Phật mà nó còn đạt đến những ý nghĩa và giá trị nhân văn sâu sắc

Kế thừa và phát huy truyền thống “Đạo Phật không rời cuộc sống”, các vị

vua thiền sư thời Trần đã đem đạo Phật đi vào cuộc đời một cách hữu hiệu từ

phương châm hành động: “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” và đã hình thành “tinh thần nhập thế tích cực” nổi bật của lịch sử Phật giáo Việt Nam Vì có nghiệp báo nên hành

Trang 23

giả khuyên mọi người sống có đức, cấy phúc gieo duyên, Thiền sư Vạn Hạnh đã thể hiện điều đó trong bài thơ đưa cho kẻ muốn hại mình:

“Thổ mộc sinh ra cấn cạnh câm (kim) Thù ta toan định sẵn mưu ngầm Tăng này biết chuyện lòng buồn dứt

Cả đến mai sau chẳng oán thầm.”

(Khoá hư lục – Trần Thái Tông)

Thơ Thiền Lí –Trần là một trong những đỉnh cao của thơ ca cổ điển Việt Nam, được ra đời, hình thành và phát triển trong bối cảnh thời đại hào hùng, đầy niềm tự tôn, ý thức bình đẳng và đang cuồn cuộn sức sống Vì thế, nó mang trong mình những mạch nguồn cảm hứng từ giáo lý Thiền tông vô cùng đa dạng

và phong phú Với mạch nguồn cảm hứng này, thơ thiền đã thể hiện rõ vai trò của loại hình thơ chức năng: giải tỏa sự bừng ngộ và tạo ra trợ lực nhằm giác ngộ tha nhân Có thể nói rằng, thơ Thiền là minh chứng phản ánh được những tinh hoa giáo lý Phật giáo tiếp thu từ kinh Phật Ấn Độ kết hợp với sự sáng tạo tài tình của các tác gia đã tạo nên một dòng thơ nội dung mang đậm nét Phật giáo nhưng cũng rất đặc sắc về nghệ thuật

Ngoài ra, sự ảnh hưởng của các tư tưởng và thể loại của văn hóa Ấn Độ còn thể hiện qua: văn học Chăm vẫn còn giữ được nguyên tên trường ca

Ramayana, kể bằng ngôn ngữ Chăm; Chuyện Dạ xoa vương trong Lĩnh Nam chích quái rút ra từ cốt truyện Ramayana của Ấn Độ

kinh Phật đã được nhân dân ta tiếp thu rất trọn vẹn Các tư tưởng Phật giáo đã

Trang 24

đem đến cho văn học dân tộc một hướng tiếp cận mới, cảm nhận mới Tư tưởng cùng với các thể loại du nhập từ Ấn Độ đã mở ra một chân trời mới cho các tác gia thỏa sức sáng tạo, nhào nặn những đứa con tinh thần của mình, tạo nên nét độc đáo rất riêng cho văn học trung đại Việt Nam

1.2 Sự tiếp biến các thể loại văn học

Trong văn chương trung Đại Việt Nam ta dễ dàng nhận thấy những mẫu thơ kiểu Thịnh Đường, những văn khuôn tiền Hán Đó là những mô hình sáng tác du nhập của Trung Hoa Nhưng không phải chỉ rập khuôn trong tiếp nhận,

mà ông cha ta đã rất khéo léo biến nhưng thứ tiếp thu của nước ngoài thành những sản phẩm của riêng mình, những sản phẩm có mẫu mã Trung Hoa, Ấn Độ… nhưng lại là hàng Việt Nam, chất lượng Việt Nam Văn chương các nước

đã ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng sáng tác, quan niệm nghệ thuật, đề tài, hình ảnh, chất liệu thi liệu, thể loại… Nhưng có lẽ sự tiếp nhận về mặt thể loại đã có ảnh hưởng lớn đến văn chương dân tộc

1.2.1 Sự du nhập các thể loại văn học nước ngoài

đã không ngừng tiếp thu và chọn lọc những thể loại ngoại nhập của nước ngoài làm giàu thêm cho kho tàng nghệ thuật của dân tộc mình Các thể loại văn học nước ngoài du nhập vào nước ta từ những điều kiện khác nhau, cách thức khác nhau Nhưng văn học trung đại chịu sự tác động mạnh mẽ nhất và cũng đã tiếp thu nhiều nhất về các thể loại thì đó là các thể loại của văn học Trung Hoa Các thể thơ cổ phong, thơ Đường luật, Văn hịch, Cáo, Văn chiếu, Văn phú… là những thể loại quan trọng, được sử dụng nhiều trong sáng tác và mang lại hiệu quả cao trong văn chương Đặc biệt là thể thơ Đường luật đã được tiếp thu và vận dụng nhiều trong các sáng tác thơ ca Việt Nam trung đại

Thơ Đường luật là thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn được đặt ra ở

thời nhà Đường Trung Hoa Thơ Đường luật đã du nhập vào nước ta từ khá sớm Ngay từ các bài kệ của các vị sư đời Lý đã có ảnh hưởng và chi phối của thơ Đường

Trang 25

Thơ Đường luật là loại thơ mà: “Đi khắp thế giới đâu thấy được một thứ thơ nào so sánh được với thứ thơ đó về cách diễn đạt thanh nhã, tế nhị, về tình cảm dịu dàng, điều độ về sự bình dị và cô đọng của một câu ngắn thôi mà bao chùm được tư tưởng cân nhắc kĩ lưỡng”.( Will Durant)

Chính vì thế mà nhiều văn bản Đường thi vẫn như những suối nguồn không cạn, có sức hút lớn Nền văn học nghệ thuật Việt Nam đã đón nhận và lưu

giữ những tác phẩm Đường thi như Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, Phong kiều dạ bạc của Trương Kế, đồng thời cũng có những ảnh hưởng sâu sắc từ các tác phẩm

ấy, các tác giả lớn ở giai đoạn văn học trung đại Việt Nam cũng đã có nhiều tác phẩm lớn, có giá trị về thể loại thơ Đường này Thơ Đường luật Việt Nam là sự kết tinh thống nhất kì diệu giữa ngôn ngữ , âm nhạc, tình cảm, lí trí, nghệ thuật, đảm bảo niêm, luật, vận, đối Thơ Đường luật Việt Nam là một nền thơ có thi pháp riêng, thi pháp ấy có sức gọi mời thi nhân sáng tạo với sự góp mặt của nhiều tác giả và tác phẩm có giá trị nghệ thuật như: các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du… Bên cạnh các thể thơ, thì Hịch cũng là một trong các thể loại đã được vận dụng nhiều trong sáng tác và mang lại thành công lớn trong quá trình tiếp nhận

Hịch: Hịch là một loại văn bố cáo (thông cáo) công khai như Chiếu, Cáo

nhưng sử dụng trong lĩnh vực quân sự nhằm lên tiếng tố cáo, lên án một đối tượng nào đó Cũng có khi Hịch được dùng để hiểu rụ, răn dạy thần dân và người dưới quyền Hịch thuộc loại văn học chức năng, nên đặc điểm quan trọng

là mục đích chức năng của Hịch Hịch để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh, cũng có khi dùng để răn dạy thần dân và người dưới quyền, nó khích lệ tinh thần,tình cảm của người nghe vì vậy được dùng nhiều trong lĩnh vực chính

trị và quân sự

Hịch là thể văn nghị luận mang tính chiến đấu mạnh mẽ, có kết cấu chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng thuyết phục, giọng văn hùng hồn đanh thép Thể văn này có từ đời Hán - Trung Quốc và nó đã nhanh chóng đi vào văn chương

Trang 26

Việt Nam, đã được các tác giả vận dụng sáng tác mang lại hiệu quả nghệ thuật

cao: Dụ chư tì tướng hịch văn – Trần Quốc Tuấn được coi là áng thiên cổ hùng

văn của dân tộc không những ở nội dung mà còn ở hình thức thể hiện Ngoài ra

còn nhiều bài hịch nổi tiếng như Hịch đánh ông của Lãnh Cồ… Nhiều bài hịch ở

Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX được viết bằng chữ Nôm, như các bài hịch của vua

Quang Trung (1753 - 1792), các bài hịch Hịch đánh chuột của Nguyễn Đình Chiểu, Hịch Cần vương ,v.v

Ngoài thơ, Hịch, thì Cáo cũng là một trong những thể loại rất được ưa dùng trong sáng tác thời kì trung đại Việt Nam

Cáo thuộc văn học chức năng nên đặc điểm quan trọng là mục đích chức

năng của Cáo Cáo có mục đích tuyên ngôn hoặc tổng kết một vấn đề, một sự kiện (viết sau khi sự kiện xảy ra) Cáo là thể văn nghị luận nên mang tính hùng biện, kết cấu chặt chẽ, lí luận sắc bén, lời lẽ đanh thép, trang trọng, hào hùng Bài cáo đã đi vào lịch sử văn chương dân tộc, mà ai là người Việt Nam thì hầu

như đều biết, đó là Bình ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi Bình Ngô đại cáo là tác

phẩm văn học mang chức năng hành chính quan trọng không chỉ đối với lịch sử dân tộc mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình phát triển văn học sử Việt Nam Trong tác phẩm này, tác giả đã kết hợp một cách uyển chuyển giữa tính chân xác lịch sử với chất sử thi anh hùng ca qua lối văn biền ngẫu mẫu mực

của một ngọn bút tài hoa uyên thâm Hán học

Một thể loại đã có ảnh hưởng lớn với đất nước không chỉ ở lĩnh vực văn

chương mà còn ở lĩnh vực chính trị, đó là thể loại Văn chiếu, các tác phẩm lớn

như Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ; Chiếu nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng; Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm Văn chiếu đã đi từ văn học Trung Hoa vào

Việt Nam với tư cách là những văn kiện chính trị Chiếu trước hết là thể văn nghị luận, trong đó không chỉ có lí lẽ, mà còn phải thể hiện được hình ảnh của vị thiên tử có tầm nhìn xa trông rộng và tâm hồn cao cả

Bên cạnh các thể thơ, Cáo, Hịch, Văn chiếu thì một thể loại cũng đã được

Trang 27

các nhà văn trung đại Việt Nam ưa dùng đó là Văn phú Văn phú là loại văn

Trung Quốc thịnh hành vào thời Hán, lối văn có nhịp điệu, nhằm miêu tả, trình bày sự vật để biểu hiện tư tưởng, tình cảm của các tác gia Phú có nghĩa phô bày, mô tả (thiên về tả cảnh) và nói về chí, thông qua miêu tả sự vật mà bày tỏ

tình, chí (Trương Hán Siêu - thông qua miêu tả cảnh “giương buồm giong gió chơi vơi, lướt bể chơi trăng mải miết” - để bày tỏ “tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”) Về nghệ thuật, phú chú trọng phô trương văn vẻ, nhiều từ ngữ,

hình ảnh hoa mỹ, chú trọng cái đẹp về thanh điệu, vần điệu… Phú vừa mang chất trữ tình vừa mang tính triết lý Chính vì vậy nó rất phù hợp cho phép thể hiện tình cảm lớn lao hùng vĩ và nó đã giúp các thi nhân diễn tả hết cái chân, cái

tình của cảnh vật và lòng người Các bài phú hay như: Bạch Đằng giang phú - Trương Hán Siêu; Ngọc tỉnh liên phú - Mạc Đĩnh Chi; Thiên thu giám Phú - Phạm Kính Khê Trong Hoàng Việt văn Tuyển tác giả đã tập hợp được 15 bài cổ phú

nhiều thể các thể loại khác như: bia, biểu, kí… và các thể loại từ Ấn Độ (như đã

kể trên)

1.2.2 Sự tiếp nhận và sáng tạo của các tác giả văn học trung đại

Văn chương trung đại là một gam màu rất đặc biệt trong rừng cây muôn màu sắc của văn học dân tộc Nó đặc biệt bởi thứ văn chương ấy không chỉ hay bởi sự tiếp thu mà đó còn là sự sáng tạo rất đặc sắc của ông cha ta Đặc biệt là sự tiếp biến về mặt thể loại đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của văn chương trung đại nói riêng và văn chương dân tộc nói chung Ở đây, chúng tôi lấy một số thể loại tiêu biểu để minh họa cho sự tiếp nhận và sáng tạo của các tác gia văn học trung đại:

Trước hết là thơ Đường luật: Thơ Đường luật là một trong những thành

tựu rực rỡ của văn học Trung Quốc, là đỉnh cao của nền nghệ thuật nhân loại Từ góc độ thể loại, thơ Đường luật là thể thơ hoàn thiện và độc đáo bậc nhất, lựa chọn thơ Đường luật là đối tượng tiếp nhận để sáng tạo nên thơ Nôm Đường luật

Trang 28

là một trong những thành tựu xuất sắc nhất của nền văn học dân tộc Một trong những sáng tạo đỉnh cao của nghệ thuật thơ ca là ông cha ta đã vận dụng thơ Đường luật vào sáng tác, đồng thời cải biến cho loại thơ này nhiều hình thức cấu tạo mới phù hợp với tư duy, thẩm mỹ của dân tộc Thơ song thất và năm chữ của Việt Nam giống thơ thất ngôn và ngũ ngôn của Trung Quốc về mặt câu chữ nhưng thơ song thất của Việt Nam ngắt nhịp lẻ trước, chẵn sau còn thơ Trung Quốc thì ngược lại chẵn trước lẻ sau

thất ngôn của ta vào trong một bài thất ngôn bát cú Đường luật, ví dụ như bài thơ

Hạnh Thiên Trường hành cung của Trần Nhân Tông: hai câu ngũ lục theo điệu

song thất ( lẻ trước chẵn sau)

“Nguyệt vô sự / chiếu nhân vô sự, Thúy hữu thu / hàm thiên hữu thu, Tăng vô sự / chiếu người vô sự Nước có thu / lồng trời vô thu.”

Về sau Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tiếp nhận và sáng tạo sự phối hợp nhịp điệu này Hai câu với nhịp 3/ 4 trong bài

Ngôn chí 7 của Nguyễn Trãi là một ví dụ:

“Bạn cũ thiếu / ham đèn mấy sách

Tính quen chăng / kiếm trúc cùng mai.”

Các tác giả còn Việt hóa bằng cách phối hợp các thể thơ khác nhau để tạo

ra một thể thơ mới Phối hợp thể lục ngôn với thất ngôn Đường luật tạo nên một thể thất ngôn xen lục ngôn (hoặc ngũ ngôn xen lục ngôn) đặc biệt của Việt Nam Xuất hiện khá phổ biến trong thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm

Hơn thế nữa, sự tiếp nhận và sáng tạo của các tác giả văn học trung đại còn thể hiện ở việc phối hợp nhiều thể thơ Trung Quốc với thể thơ Việt Nam Ví

dụ như bài Bồ đề thắng cảnh thi gồm 3 khổ:

Trang 29

Khổ 1: thuộc thể lục ngôn bát cú

Khổ 2: thuộc thể thất ngôn cách luật

Khổ 3: 18 câu lục bát gián thất biến cách (nghĩa là vần câu thất – trắc gieo ở từ thứ 3 chứ không phải ở từ số 5 như thường lệ.)

Đặc biệt là sự phối hợp giữa thể ngũ ngôn hay thất ngôn Trung quốc với thể nói sử và thể lục bát của ta, đó là thể hát nói

Hán, giữa thơ ta và thơ Hán, Nguyễn Công Trứ là một điển hình

Bên cạnh đó thơ cổ phong cũng là một thể thơ được các tác giả trung đại

hay dùng Các tác giả văn học trung đại cũng sáng tác nhiều bài thơ thuộc thể thơ này vì không có quy định luật chặt chẽ về vần, đối, số, câu, số chữ … Tuy nhiên các nhà thơ Việt không những chỉ làm thơ cổ phong bằng chữ Hán mà

còn làm thơ cổ phong bằng chữ Nôm Ví dụ bài Than cùng của Tú Xương:

“Người bảo ông cùng mãi, Ông cũng thế này thôi

Vợ lăm le ở vú, Con tấp tểnh đi bồi’’

Thể phú cũng là một trong những thể loại đã được vận dụng nhiều trong

sáng tác và có những biến đổi đa dạng Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, từ hình thức đến nội dung, Phú chữ Hán Việt Nam đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thể loại Phú trong văn học cổ Trung Quốc Phú Việt Nam

đã tiếp thu, học tập Phú Trung Quốc nhiều về đề tài, thủ pháp nghệ thuật và đã sáng tạo dựa trên những yếu tố vay mượn ấy để diễn tả vẻ đẹp đất nước Việt Nam, vẻ đẹp muôn màu của phong tục, tập quán, tư tưởng, truyền thống dân tộc

Đa phần phú chữ Hán Việt Nam nhỏ, gọn, đơn giản, kết cấu rõ ràng, ngôn ngữ trong sáng, giản dị không hoa mĩ ,cách diễn đạt không cầu kì như Phú Trung

Quốc Ví dụ như bài Chí Linh sơn Phú của Nguyễn Trãi

Đánh dấu sự thành công lớn và là nét đặc biệt trong văn học thời kì này là

Trang 30

sự ra đời của thể loại Phú chữ Nôm Phú Nôm có nội dung và hình thức nghệ

thuật độc đáo Theo nhà mĩ học Trung Quốc Lưu Trạch Hậu khái quát ‘‘Đối tượng miêu tả của Phú là Sơn, thủy, cây, rừng, chim thú, thành thị, cung khuyết ,mĩ nữ, y phụ, bách nghệ…’’ [40, tr 277] Vậy nhưng đối tượng miêu tả trong

Phú Việt Nam lại rất đa dạng và không theo một khuôn khổ định sẵn như Phú

Trung Quốc Nguyễn Đình Chiểu có phú dạy con ; Trần Nhân Tông có Cư Trần lạc đạo Phú Phú đã không dừng lại ở những lời tán tụng mà nó còn được các thi

nhân Việt thể hiện để phê phán, phơi bày mọi tật xấu xa của xã hội như : Phú giáo huấn, Phú tự trào, Phú dạy con, Phú thế tục

Vang lừng kẻ đỏ nói chua ngoa;

Lẳng lặng người đen ngồi đắng ngắt

( Trần Văn Nghĩa- Bài phú tổ tôm)

Hàng loạt khẩu ngữ dân gian, tiếng lóng được sử dụng để miêu tả chi li, sắc sảo các hiện tượng xã hội Đây là những thước phim phóng sự quay cảnh sát phạt nẩy lửa trong sới bạc

Sự đổi mới của thể Phú chữ Nôm còn thể hiện ở chỗ, một số bài đã thực

sự vượt thoát khỏi công thức “văn” phải “ chở đạo” Nó đã thâu nhặt những câu chuyện vụn vặt, sau đó biến chúng thành bức tranh đời sống với những bộn bề vốn có của nó:

“Chợ Hòe đầm ấp, Phố Ngọc tần vần Trai lanh lẹ đá cầu vén áo Gái éo le rủ yếm dội đầu

Trang 31

Khách Tràng An cưỡi ngựa xem hoa, rợp đường tử mạch ; Chàng công tử ngự xe trường tán rạng mực thanh vấn’’

(Những giàn Thanh, phụng thành xuân sắc phú)

Nhân vật trong Phú không phải là vua, anh hùng chiến trận mà là con người hằng ngày, cảnh sắc bình dị hằng ngày

Trong các thể loại của văn học trung đại ta không thể không nhắc đến Văn tế Văn tế có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng không phát triển thành một

thể quan trọng trong văn học, nhưng sang Việt Nam nó lại là một thể tài quan trọng với những bài văn tế có giá trị cao Con người Việt Nam đã giúp Văn tế được hồi sinh và có nhiều sáng tạo

Văn tế được viết theo thể Phú (là một biến thể của Phú), thể Đường luật, văn xuôi, văn vần nhưng không đối nhau, lối tán, song thất lục bát Trong số các thể loại du nhập từ Trung Quốc thì Văn tế là thể loại được Việt hóa nhiều nhất cả

về nội dung, hình thức và phương tiện bày tỏ tình cảm

Văn Tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái không theo liêm luật của thể

Phú, có thể coi những bài này là mần mống của văn xuôi bằng chữ Nôm trong

lịch sử văn học nước nhà Văn Tế Nghĩa sỹ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu,

cũng là một sự sáng tạo vượt bậc, nó có cái thống thiết của Văn tế nhưng không khí của toàn bài lại hào hùng, sôi nổi

Đặc biệt từ Văn tế bằng chữ Hán người Việt đã sáng tạo ra Văn tế bằng chữ Nôm Văn tế chữ Nôm viết theo thể tài văn học mang tính dân tộc cao, giọng

điệu phong phú, gần gũi với con người Việt Nam, ví như : Văn tế Quang Trung của Lê Ngọc Hân ; Văn Tế Lê Ngọc Hân của Phan Huy Ích ; Tướng trận vong tướng sỹ của Nguyễn Văn Thành

Ngoài ra ta còn có sự đổi mới, sáng tạo độc đáo ở nhiều thể loại văn học khác như thể Cáo, thể Hịch… Đặc biệt là trong quá trình tiếp nhận, sử dụng ông cha ta còn sáng tạo ra thể thơ Nôm, Hát nói, Ngâm khúc – đó là một trong những sáng tạo đáng tự hào của văn học trung đại nói riêng, văn học Việt Nam nói chung Các thể loại này đã góp phần khẳng định tiếng nói riêng của dân tộc và đem lại giá trị thực sự cho văn chương trung đại Việt Nam

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐẶC SẮC TIẾP BIẾN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VĂN

NGUYỄN TRÃI

Nguyễn Trãi - cây Tùng của chốn Nho lâm đất Việt - một nhân vật toàn tài, không chỉ là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc mà ông còn là một tác gia lớn Các tác phẩm của ông luôn là đề tài vô tận cho những người yêu văn học, những nhà nghiên cứu… Thơ Nguyễn Trãi không chỉ hay bởi nội dung mà nghệ thuật trong văn thơ Nguyễn Trãi luôn là ngọc quý cho chúng ta tìm hiểu, khám phá Nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trãi rất đa dạng và phong phú Đó là một thứ hoa quý có

cả sự pha trộn giữa màu sắc Trung Hoa và Việt Nam, nhưng lại đậm hương vị của hồn quê Việt Một thứ hoa được ươm trồng bởi tài năng và tinh thần, ý thức dân tộc mạnh mẽ Sự tiếp biến về mặt chất liệu, thi liệu, quan niệm nghệ thuật;

sự tiếp biến về ngôn ngữ; sự tiếp biến về mặt thể loại là những nét nổi bật trong tiếp biến nghệ thuật văn thơ của Nguyễn Trãi

2.1 Sự tiếp biến về chất liệu, thi liệu văn học và quan niệm nghệ thuật

Văn chương trung đại Việt Nam hình thành khi mà văn học Trung Hoa đang ở đỉnh cao rực rỡ, đặc biệt là thơ Đường luật Chính vì vậy văn chương trung đại chịu ảnh hưởng của văn thơ Trung Hoa là rất mạnh mẽ Đặc biệt nguồn thi văn liệu của Trung Hoa là một chất xúc tác cho văn học trung đại Việt phát triển Trong văn thơ chữ Hán, chữ Nôm, cũng như các bài Phú, Cáo… của Nguyễn Trãi ta cũng thấy rõ sự tiếp thu thi liệu của văn học Trung Hoa, nhưng

với nghệ sỹ lớn như Nguyễn Trãi, ông đã không chịu bó tay trên “bản vẽ” của

tiền nhân, mà ông còn sáng tạo ra những vật liệu mới trong thi công để làm nên những lâu đài nghệ thuật mới hết sức độc đáo

Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi ta thấy rõ sự tiếp thu những mẫu thơ kiểu Thịnh Đường, những văn khuôn tiền Hán, những thi văn liệu của thơ Trung Hoa… Nhưng nếu thơ Trung Hoa miêu tả cái hay cái đẹp của đất nước Trung Hoa, thì Nguyễn Trãi rất độc đáo khi sử dụng các công cụ văn thơ nước ngoài để

Trang 33

nói lên cảnh trí của quê hương, tấm lòng yêu dân tộc… Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi vẫn đầy ắp những hình ảnh mang tính ước lệ, quy phạm của thơ văn xưa như: miêu tả cảnh vật thường sử dụng: tùng, cúc, trúc, mai, núi Bồng Lai, sông Nhược Thủy, tiều ngư, canh , mục

“Bồng Lai Nhược Thuỷ diểu vô nha (nhai),

Tục cảnh đê hồi phát bán hoa

Vân ngoại cố cư không huệ trướng, Nguyệt trung thanh mộng nhiễu sơn gia

Tâm như dã hạc phi thiên tế, Tích tự chinh hồng đạp tuyết sa

Nham huyệt thê thân hà nhật thị?

Thiên môn hồi thủ ngũ vân xa.”

( Họa hữu nhân yên hà ngụ hứng I )

Nguyễn Trãi đã dùng và dùng rất hay những hình ảnh, hình tượng, câu văn đẹp của thơ văn Trung Hoa, những thi liệu ấy tạo cho bài thơ của Nguyễn Trãi sự hàm súc cao

Nét đẹp trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi cũng là điều đáng trân trọng trong thơ ca của ông, đó là bên cạnh việc sử dụng thi liệu nước ngoài, thi nhân

đã sử dụng rất nhiều những hình ảnh, cảnh vật và con người rất thuần túy Việt Nam Dường như Nguyễn Trãi muốn đưa tất cả cảnh vật của núi non Việt vào thơ mình như để tự hào về vẻ đẹp, để khẳng định chủ quyền của đất nước Trong

bài Cáo Bình Ngô và các bài thơ văn chữ Hán, nhiều địa danh, nhiều tên làng tên xã

đã được Nguyễn Trãi nhắc tới với tình cảm thật nồng ấm: một Nhị Khê - tên làng

quê của tác giả - với hình ảnh nón mê vác bừa ra đồng trong bài Tặng hữu nhân:

“Tha niên Nhị Khê ước, Đoản lạp hà xuân sử.”

( Hẹn Nhị Khê mai nữa, Nón nan ta cuốc đồng.)

Đó là hình ảnh thân thuộc của Quảng Ninh: núi Yên Tử (Đề Yên Tử sơn

Trang 34

hoa Yên Tự); Cảnh đẹp của Ninh Bình với núi non nước, và của biển Đại An (Vọng Doanh)… Cảnh quê hương còn gắn với những chứng tích lịch sử đầy hào

hùng Những bài thơ của Nguyễn Trãi khắc họa những phong cảnh hào hùng vĩ đại của đất nước với bút lực cuồn cuộn Cảnh ấy, tình ấy gắn với niềm tự hào dân tộc lớn lao với những anh hùng mà nhà thơ ngưỡng vọng: núi Long đại - núi

ở địa phận Thanh Hóa đã từng phá vỡ sào huyện của quân Minh, cõi thế anh

hùng đó gắn với những bậc anh hùng họ Lê, họ Phạm (núi Đại Long); Bạch Đằng với những chiến công hiến hách trong Bạch Đằng hải khẩu là niềm tự hào

với truyền thống yêu nước của cha ông, với địa linh nhân kiệt:

“Biển rung gió bấc thế băng băng, Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc, Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt, Hào kiệt công danh đất ấy từng

Việc nước quay đầu ôi đã vắng, Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.”

Niềm tự hào về danh thắng đất nước, về những vùng đất thấm đẫm chiến

công của cha ông còn được Nguyễn Trãi thể hiện rõ trong Bình Ngô Đại cáo:

“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc trẻ tro bay”

“ Ngày mười năm, trận Chi Lăng Liễu Thăng thất thế”

“ Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước”

Thiên nhiên kỳ vĩ, hoành tráng nhưng cũng rất mỹ lệ, thi vị; thiên nhiên gắn với những địa danh như một cuốn nhật kí gắn với cuộc đời phong phú từng trải của Nguyễn Trãi; qua đó ta nhận ra một tâm hồn cao rộng, khoáng đạt, phong tình và tinh tế

Trang 35

Nếu như các bài thơ Đường của các thi nhân Trung Hoa thường gắn với các đề tài lớn, chối từ đưa vào thơ ca những hình ảnh tầm thường thì trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi ta lại thấy ông đã không ngại đưa vào thơ ca mình những loại thực vật, động vật tầm thường nhất, những hình ảnh rất mộc mạc, bình dị, nhưng lại rất Việt Nam Đây là một nét độc đáo, phá cách thể hiện rõ sự vượt thoát của Nguyễn Trãi Sự xuất hiện của chữ Nôm cùng với sự táo bạo và một trí tuệ uyên bác của Nguyễn Trãi đã giúp những hình ảnh thơ hết sức giản dị, quê

mùa, chân chất lần đầu tiên được bén duyên với vườn thơ cao quý Đó là “cơn gió lạ” giữa những hình ảnh ước lệ tượng trưng, cao sang quý phái, hào hùng, vĩ

đại của thơ trung đại nói chung

Những hình ảnh thân thuộc về các loài cây như núc nác, mồng tơi, kê, khoai,

rau muống, dưa muối, vầu, bèo, chuối, sen, muống, cần, chuối…hình ảnh những con vật như đòng đong, niềng niễng… được Nguyễn Trãi mang vào thơ với

những tình cảm nồng đượm và trân trọng nhất

“Ao cạn vớt bèo cấy muống,

Đìa thanh phát cỏ ương sen”

(Thuật hứng – bài 24) Hoặc:

“Ngày tháng ngô, khoai những sản hằng,

Tường đào, ngõ mận ngại thung thăng.”

(Mạn Thuật - bài 1)

Chúng ta có thể tìm thấy những hình ảnh này trong rất nhiều bài thơ khác

của Nguyễn Trãi như Thuật hứng – bài 23; Ngôn chí 9; Ngôn chí 10…

Chỉ là những thứ rau cỏ thường ngày thôi, ấy vậy mà bước vào thơ ca nó trở nên thi vị, ý nghĩa biết nhường nào

Song song với những loài cây của làng quê là hình ảnh lao động cũng thân quen rất giống với những hình ảnh ta bắt gặp trong ca dao

Ca dao có câu:

Trang 36

- Lao xao gà gáy rạng ngày Vai vác cái cày, tay dắt con trâu

thì Nguyễn Trãi viết:

“Một cày một cuốc thú nhà quê Áng cúc lan chen vãi đậu kê”

(Thuật hứng – bài 3)

Không chỉ nói cảnh lao động của nhân dân, trong thơ Nôm của mình, Nguyễn Trãi còn khắc họa cuộc sống đạm bạc, bình dị, quê kiểng, những hình ảnh rất thực, rất đời:

“Cơm ăn chẳng quản dưa muối

Áo mặc nài chi gấm thêu”

tỏ sâu sắc Nguyễn Trãi đem những thi liệu, những chất liệu dân gian (ca dao, tục ngữ) kết hợp vào thơ Nôm đã tạo ra được những hiệu quả đặc biệt, có thể nói với Nguyễn Trãi hình ảnh nghệ thuật được xây dựng trực tiếp từ chất liệu cuộc sống

Khi sử dụng hình ảnh thiên nhiên, cây cỏ, cầm thú… Nguyễn Trãi cũng thường chú trọng nhiều tới giá trị thực của nó hơn là chú ý đến khía cạnh biểu trưng, biểu đạt của chúng Có khi cần liên tưởng thì ông cũng chú ý liên tưởng tới những nét tươi tắn, bình dị của cuộc sống thường nhật Ví như nói cây chuối, cái nhìn của nhà thơ hướng tới những dấu hiệu sinh động của đời sống phàm trần: “Tình thư một bức phong còn kín / Gió nơi đâu gượng mở xem…”

Sự độc đáo trong việc tiếp biến thi văn liệu của Nguyễn Trãi là ông vẫn

Trang 37

dùng những chất liệu quen thuộc trong thơ ca để sáng tác nhưng đồng thời lại mang đến các hình tượng mới đó là những giá trị nghệ thuật và tư duy thẩm mỹ hoàn toàn mới Hình tượng sen trong văn chương bác học thường được dùng để

ví von với người đẹp như Tây Thi, Dương Quý Phi Ca ngợi sen các tác giả cũng

thường đề cao vẻ đẹp thanh tao của hoa, tiêu biểu là hình tượng Hoa sen giếng ngọc (Thơ Hàn Dũ)

“Thái họa phong đầu ngọc tỉnh liên

Hoa cao thập trượng ngẫu như thuyền”

(Cây sen giếng ngọc trên núi thái hoa Hoa cao mười trượng ngó to như thuyền) Còn với Nguyễn Trãi lại là cảm hứng họa về vẻ đẹp của một loài hoa sống trong bùn nhơ vẫn ngát hương thơm, vẫn một màu trắng trinh nguyên thanh khiết, là cảm hứng bắt nguồn chủ yếu từ văn học dân gian Và ông mượn hình tượng hoa sen để nói về sự thanh sạch của người quân tử:

“Thế sự dù ai hay buộc bện Sen nào có bén trong lầm”

(Thuật hứng - bài 25)

“Lầm nhơ chẳng bén tốt hóa thanh Quân tử kham khuôn được thửa danh”

(Hoa sen) Coi hoa sen là thứ hoa tươi tốt, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, chỉ

có người quân tử mới bắt chước được cái danh của hoa sen Một trong những đặc trưng thẩm mỹ rất quan trọng của hình tượng thiên nhiên trong thơ thiên

Nguyễn Trãi là thiên nhiên mang vẻ đẹp của sự “tôi luyện”, của sự vượt lên và

Trang 38

Để nói lên cái sâu hiểm của lòng người mà không một cây thước nào đo nổi, Nguyễn Trãi đã vận dụng nhiều câu ca dao, tục ngữ vào thơ, làm nên những tuyên ngôn sống mãi cùng thời gian Những vần thơ ấy chính là những đúc kết, chắt lọc của đôi mắt thấu đời, thấu người, từng làm quan dưới triều đại phong kiến đầy thăng trầm và mục sở thị những gian manh, xảo trá, hiểm độc của lòng người Nếu trong ca dao có câu :

- Sông sâu còn có kẻ dò Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng

Nguyễn Trãi viết:

“Ngoài chưng mọi việc đều thông hết Bui một lòng người cực hiểm thay”

(Mạn thuật – bài 4) Còn nói về sự tráo trở của lòng người, của lời nói, “lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”, nếu ca dao có câu:

- Mai mưa, trưa tạnh, chiều nồm Trời còn luân chuyển huống mồm thế gian thì đại thi hào cũng không ngần ngại thẳng thắn viết nên những dòng thơ mang đầy sức tố cáo, chỉ trích:

“Thấy biển triều quan đã ngại vượt Trong dòng phẳng có dòng phong ba”

(Bảo kính cảnh giới – bài 41)

Cuộc đời gian nan lắm thử thách, con người có vượt qua được thì mới khẳng định được chính mình Phẩm chất, bản lĩnh của con người vượt qua gian khổ cũng giống như vàng thử lửa, như cây chịu bão…Ý nghĩa nhân sinh, nhân văn ấy

đã được Nguyễn Trãi đưa vào thơ hết sức tự nhiên, nhẹ nhàng

“Khi bão mới hay là cỏ cứng”

(Bảo kính cảnh giới – bài 4)

Ngày đăng: 26/06/2021, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w